BÌNH LUẬN SƠ THẢO PHẦN NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG BỘ LUẬT DÂN SỰ (SỬA ĐỔI)

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Trọng tài viên VIAC

1. Về nội dung nói chung:

2.1. Cần xác định rõ quan điểm soạn thảo, cần đưa những nội dung nào vào Bộ luật Dân sự, tránh tình trạng trùng lặp quá nhiều với các đạo luật khác, mà điển hình là Luật Hôn nhân gia đình.

2.2. Ngược lại, nếu là vấn đề cơ bản, cần thiết làm nền tảng cho hệ thống pháp luật dân sự thì trùng lặp cũng phải đưa vào và cần thể hiện nội dung chi tiết để tiến tới thay thế, xoá bỏ những quy định tương tự trong các đạo luật khác, tránh tình trạng bên cạnh Bộ luật Dân sự lại ban hành mấy chục đạo luật khác cụ thể hoá, thì đương nhiên dẫn đến tình trạng xung đột, mâu thuẫn và vô hiệu hoá Bộ luật Dân sự.

2. Về áp dụng các quy định liên quan của pháp luật:

2.1. Nếu bảo đảm được các quy định trong Bộ luật Dân sự chỉ bị ngăn cấm hay hạn chế theo quy định của luật, thay vì quy định của pháp luật như trước đây là một cuộc cách mạng, một điều vô cùng quan trọng, có ý nghĩa lớn, bảo đảm hiệu lực của luật không bị vô hiệu hoá bằng đủ thứ thông tư, nghị định. Ví dụ các quy định sau trong bản Sơ thảo:

- Đoạn 1, Điều 4 “Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận” quy định: “Quyền tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.”;

- Khoản 3, Ðiều 20 “Năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên” quy định: “Trong trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp luật có quy định khác.”

2.2. Tuy nhiên, có một vướng mắc lớn trên thực tế đối với hành lang pháp lý của ngành Ngân hàng, chủ yếu thực hiện theo các Thông tư của Thống đốc NHNN. Ví dụ như điều kiện cho vay, bảo lãnh (3 người ký), lãi suất (trong hạn và quá hạn),…

3. Về hạn chế năng lực hành vi dân sự:

Điều 23.1 dự kiến quy định về “Năng lực hành vi của người do tuổi cao hoặc do tình trạng thể chất và tinh thần mà họ có sự hoang tưởng, thường xuyên không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình nhưng chưa ở mức mất năng lực hành vi dân sự”. Đề nghị xem xét quy định các trường hợp giao dịch dân sự của người khiếm thị, người không biết chữ, người không viết được (mất vĩnh viễn hoặc tạm thời khả năng viết) và những hạn chế khác về thể chất, tinh thần, dẫn đến không thể thực hiện được các giao dịch dân sự bình thường trên cơ sở giấy tờ, văn bản. Đây là những vướng mắc đã và sẽ xảy ra rất nhiều trong giao dịch gửi tiền tại ngân hàng.

4. Về một số quy định về độ tuổi của cá nhân:

4.1. Đề nghị xem xét thay đổi độ tuổi “từ đủ 15 tuổi” xuống “từ đủ 14 tuổi” liên quan đến năng lực hành vi của cá nhân. Vì mốc từ đủ 14 tuổi trở lên đang được lấy làm căn cứ xác định tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự năm 1999; quản lý, định đoạt tài sản riêng của con theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; bị bắt, tạm giữ, tạm giam theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; khai báo việc lưu trú theo Luật Cư trú năm 2006; xác minh về nhân thân theo Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008; bị xử phạt vi phạm hành chính theo Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012; học nghề, tập nghề theo Bộ luật Lao động năm 2012. Và căn cứ pháp lý để thực hiện các việc này, là người từ đủ 14 tuổi trở lên được cấp Chứng minh nhân dân theo Nghị định số 05/1999/NĐ-CP. Nếu Bộ luật Dân sự quy định mốc từ đủ 15 tuổi trở lên, thì một loạt quy định về độ tuổi 14 này trở thành rất vô lý.

4.2. Tuy nhiên, do Bộ luật Dân sự hiện hành quy định mốc 15 tuổi, cho nên có một số đạo luật khác đã dựa vào đây để quy định là độ tuổi để trở thành đương sự trong vụ án lao động theo Điều 57 “Năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự của đương sự”, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, để hưởng trợ cấp tuất theo Điều 64 “Các trường hợp hưởng trợ cấp tuất hằng tháng”, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006, để có thể là người lao động theo Điều 3 “Giải thích từ ngữ”, Bộ luật Lao động năm 2012,…

4.3. Ngoài ra, cần có những quy định về năng lực dân sự của một số độ tuổi khác, chẳng hạn như của người từ đủ 9 tuổi trở lên, để làm cơ sở cho quy định về việc “phải có sự đồng ý của người đó” tại khoản 2, Điều 27 “Quyền thay đổi họ, tên” trong Bộ luật Dân sự và các quy định liên quan đến đối tượng này trong 6 điều tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

5. Về quyền nhân thân:

Điều 25 “Bảo vệ quyền nhân thân” quy định “Pháp nhân bị xâm phạm về tên gọi, hình ảnh, uy tín hoặc các quyền khác phù hợp với tính chất của pháp nhân cũng được bảo vệ quyền theo quy định ở Điều này.” (hay tương tự tại phương án 2) là không thể chấp nhận, vì Điều thuộc Chương “Cá nhân” và Mục “Quyền nhân thân”, trong dó Điều 24 “Quyền nhân thân” quy định: “Quyền nhân thân của cá nhân bao gồm các quyền về tính mạng, thân thể, sức khỏe, tự do, họ tên, danh dự, nhân phẩm, uy tín và những lợi ích về nhân thân khác.” Như vậy, phần lớn các nội dung trong đó không liên quan đến pháp nhân.

6. Về các cơ quan, tổ chức:

Rất nhiều quy định của Bộ luật Dân sự nói riêng (như Điều 25, Điều 30, 60.1,…), hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nói chung đề cập đến cơ quan, tổ chức, vậy cần phải giải thích nó là gì. Nếu cơ quan, tổ chức là pháp nhân thì không cần nhắc đến với một tên gọi khác (trừ trường hợp thật đặc biệt). Nếu cơ quan, tổ chức không phải là pháp nhân thì cần phải quy định rõ gồm những loại nào, đặc điểm và tư cách, trách nhiệm tham gia quan hệ dân sự ra sao.

7. Về người giám hộ và người giám sát người giám hộ:

7.1. Các quy định tại Mục 4, Chương III “Cá nhân” về người giám hộ và người giám sát, ngoài một số trường hợp được Toà án hoặc UBND công nhận, thì còn một số trường hợp không có văn bản của cơ quan có thẩm quyền. Do đó không có bằng chứng pháp lý để chứng minh đó là người giám hộ, như đối với người giám hộ đương nhiên (nhất là khi người giám hộ không phải là bố mẹ, mà là anh chị em, ông bá, cô dì chú bác) hay là người giám sát người giám hộ. Trên thực tế gặp vướng mắc đối với các trường hợp giao dịch rút tiền gửi và cầm cố, thế chấp tài sản tại ngân hàng của người được giám hộ. Vì vậy cần quy định rõ các thủ tục và giấy tờ làm căn cứ pháp lý trong các trường hợp này.

7.2. Khoản 2, Điều 69 “Quản lý tài sản của người được giám hộ” quy định: “Người giám hộ được thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản của người được giám hộ vì lợi ích của người được giám hộ. Việc bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cọc và các giao dịch khác đối với tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.” Điều này có mấy điểm cần quy định rõ, nếu không thì sẽ không thể thực hiện được trên thực tế. Chẳng hạn, khi mang tài sản của người được giám hộ đi thế chấp để vay tiền ngân hàng nhằm góp vốn kinh doanh hay mua cổ phiếu hay dùng toàn bộ số tiền để thanh toán tiền du học cho người được giám hộ thì có phải là “vì lợi ích của người được giám hộ” hay không? Và thế nào là “tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ”. Trên thực tế các ngân hàng không biết phải xử lý thế nào cho đúng luật.

8. Về người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú:

Ngoài việc xác định người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú và người mất tích như Bộ luật hiện hành, cần đề cập đến vai trò của một số tổ chức đặc biệt như ngân hàng là nơi thường xuyên quản lý tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng. Theo quy định hiện hành thì ngân hàng không phải người quản lý tài sản của các đối tượng này, do đó sẽ không biết phải làm thế nào, vì không có “Nghĩa vụ của người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú” theo Điều 76 và “Quyền của người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú” theo Điều 77, không có quyền và nghĩa vụ “Quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích” theo Điều 79.

9. Về Tên gọi của pháp nhân:

9.1. Khoản 1, Điều 84.9 “Tên gọi của pháp nhân”quy định: “Pháp nhân phải có tên gọi bằng tiếng Việt, thể hiện rõ loại hình tổ chức của pháp nhân và phân biệt với các pháp nhân khác trong cùng một lĩnh vực hoạt động. Trong trường hợp pháp nhân ngoài việc sử dụng tên gọi bằng tiếng Việt có sử dụng tên gọi bằng tiếng nước ngoài thì phải tuận thủ các quy định của các luật có liên quan.” Điều này cần mở rộng hơn, tránh không khả thi và bị vi phạm phổ biến trên thực tế. Vì chưa kể đến việc cần cho phép sử dụng một phần tiếng nước ngoài, ngay trong nước, thì ngoài tiếng Việt cũng còn phải chấp nhận hàng chục tiếng dân tộc, từ tên riêng cho đến địa danh, không phải là tiếng Việt. Khoản 1, Điều 31 “Tên doanh nghiệp”, Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định “Tên doanh nghiệp phải viết được bằng tiếng Việt, có thể kèm theo chữ số và ký hiệu, phải phát âm được…” mặc dù đã mở rộng hơn quy định trên, nhưng vẫn gặp vướng mắc trước số lượng hàng trăm nghìn, tiến tới hàng triệu doanh nghiệp và trước xu thế hội nhập cao, cho nên đã phải lách luật mở rộng hơn nữa tại Điều 13 “Tên doanh nghiệp, Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15-4-2010 của Chính phủ về Đăng ký doanh nghiệp: “Tên doanh nghiệp phải viết được bằng các chữ cái trong Bảng chữ cái tiếng Việt, có thể kèm theo các chữ cái F, J, Z, W, chữ số và ký hiệu, phát âm được…”.

9.2. Khoản 2, Điều 84.9 nói trên quy định “Pháp nhân phải sử dụng tên gọi của mình trong giao dịch dân sự.” Cũng không rõ ràng, vì trong giao dịch có thể và được phép sử dụng tên giao dịch, tên viết tắt. Và tên gọi là tiếng Việt nhưng nhiều giao dịch dân sự có thể là tiếng nước ngoài.

10. Về cơ quan điều hành:

10.1. Điều 84.10 “Điều lệ của pháp nhân”, Điều 84.12 “Cơ quan điều hành của pháp nhân” đề cập đến “đại hội thành viên” và “cơ quan điều hành” thì cần phải được giải thích, vì không trùng lặp với các khái niệm trong các đạo luật khác. Chẳng hạn Luật Doanh nghiệp thì quy định công ty không có “cơ quan điều hành”, mà có “người điều hành” và “cơ quan quản lý”. Vậy “cơ quan điều hành” của pháp nhân giống và khác “người điều hành” của công ty như thế nào?

10.2. Khoản 1, Điều 84.18 “Điều hành hoạt động của pháp nhân” quy định: “Hoạt động của pháp nhân được điều hành thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân”. Nếu người đại diện theo pháp luật của pháp nhân” là giám đốc công ty, thì cũng chính là người điều hành. Nhưng nếu người đại diện theo pháp luật của pháp nhân” lại là chủ tịch công ty, thì chủ tịch sẽ không phải người điều hành công ty.

11. Về trụ sở của pháp nhân:

Đề nghị xem xét theo hướng công nhận trụ sở của pháp nhân (Điều 84.11) có thể chỉ là trụ sở về pháp lý, là nơi đăng ký (văn phòng ảo), mà không nhất thiết phải là nơi đặt “cơ quan điều hành” và tiến hành các hoạt động của pháp nhân.

12. Về pháp nhân có mục đích lợi nhuận:

Đoạn 2, Điều 84.14 “Pháp nhân có mục đích lợi nhuận” quy định “Quy định về doanh nghiệp được thành lập có mục đích công ích được áp dụng theo quy định tại Điều này.” Đề nghị xem lại, theo quy định hiện hành, không còn khái niệm doanh nghiệp công ích, mà tất cả đều là doanh nghiệp kinh doanh như nhau, chỉ khác nhau khi thực hiện các dự án, sản phẩm, dịch vụ công ích theo đặt hàng.

13. Về hộ gia đình, tổ hợp tác:

Để nghị bỏ 2 loại chủ thể này trong Bộ luật Dân sự vì rắc rối, phức tạp, không rõ ràng, không cần thiết, nhất là với hộ gia đình không xác định được các thành viên của hộ.

14. Về khái niệm bất động sản:

Cần xem lại một trong những đặc điểm của bất động sản là tại khoản 1, Điều 164 “Bất động sản” là “nếu di chuyển chúng thì không thể không làm thiệt hại đến giá trị sử dụng của chúng”, vì trong một số trường hợp, khi tách vật ra khỏi đất (di chuyển) còn làm tăng “giá trị sử dụng” như cây cảnh, khoáng sản,…

15. Về thời hiệu khởi kiện:

Đề nghị xem xét tăng thời hiệu khởi kiện nói chung, thời hiệu khởi kiện yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu (Điều 136) nói riêng từ 2 năm lên 3 năm, nhằm khuyến khích việc giải quyết tranh chấp bằng thoả thuận, tăng thêm thời hạn tự nguyện thực hiện giải quyết tranh chấp trước khi buộc phải khởi kiện, đồng thời bảo đảm tốt hơn quyền khởi kiện. Thời hiệu 2 năm là quá ngắn so với quy định của nhiều nước.

16. Về kỹ thuật soạn thảo:

16.1. Lý do tham gia:

Vì trong giai đoạn sơ thảo, nên xin góp ý sớm để giúp ích cho cả quá trình soạn thảo, mong được lưu ý xem xét. Những vấn đề không đáng có này đã tồn tại rất phổ biến trong Bộ luật Dân sự hiện hành nói riêng và trong cả hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nói chung, chứ không phải chỉ là vấn đề của riêng Sơ thảo. Tôi cũng xin được sẵn sàng tham gia va hỗ trợ trong bất kỳ giai đoạn soạn thảo này để xử lý những vấn đề này.

16.2. Về bố cục chương, mục:

Đề nghị không tạo ra bố cục tiểu mục, làm cho bố cục của Bộ luật quá phức tạp, rắc rối và không phù hợp với quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Ví dụ Mục 5 “Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, tuyên bố mất tích, tuyên bố chết”, Chương III thay vì được chia thành 3 Tiểu mục là 5 “Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú”, “Tuyên bố mất tích” và “Tuyên bố chết”, thì nên bỏ các Tiểu mục và chia luôn thành 3 Mục.

16.3. Về bố cục khoản, điểm:

Cần tăng cường việc chia nhỏ khoản, điểm, để bảo đảm sự rõ ràng, mạch lạc cho nội dung các điều luật. Ví dụ khoản 1, Điều 164 “Bất động sản và động sản” của bản Sơ thảo dưới đây:

1. Bất động sản là đất đai và tất cả những gì gắn chặt với đất, có nghĩa là những vật mà nếu di chuyển chúng thì không thể không làm thiệt hại đến giá trị sử dụng của chúng, bao gồm cả nhà, công trình xây dựng. rừng, cây trồng lâu năm.

Đối với tàu bay, tàu biển, tàu nội địa thì áp dụng các quy định về bất động sản, trừ trường hợp luật có quy định khác.

Các tài sản khác cũng có thể là bất động sản theo quy định của luật.

Nên được bố cục như sau:

1. Bất động sản gồm:

a) Đất đai và tất cả những gì gắn chặt với đất, có nghĩa là những vật mà nếu di chuyển chúng thì không thể không làm thiệt hại đến giá trị sử dụng của chúng, bao gồm cả nhà, công trình xây dựng. rừng, cây trồng lâu năm;

b) Tàu bay, tàu biển, tàu thuỷ nội địa,[1] trừ trường hợp luật có quy định khác.

c) Các tài sản khác theo quy định của luật.”

16.4. Về bố cục đoạn và khoản của điều luật:

Nên tăng cường việc bố cục các điều thành các khoản, hạn chế tối đa việc phân chia các điều thành các đoạn, để bảo đảm sự rõ ràng, cụ thể, hợp lý, tiện lợi trong trích dẫn. Ví dụ như 3 đoạn tại Điều 3 “Áp dụng tập quán” thì nên phân thành 3 khoản như sau:

“1. Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thoả thuận thì có thể áp dụng tập quán.

2. Trong trường hợp pháp luật có quy định, nhưng chủ thể tự nguyện áp dụng tập quán trong thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình thì việc áp dụng tập quán được ưu tiên.

3. Tập quán áp dụng trong các trường hợp quy định tại khoản 1 và 2 của Điều này không được vi phạm điều cấm của luật.Nghĩa vụ phát sinh đồng nghĩa với việc không được phép trì hoãn”. (bổ sung một đoạn in đậm).

Hoặc 2 đoạn tại Điều 4 “Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận”, nên được phân thành 2 khoản:

1. Quyền tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

2. Cam kết, thỏa thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng.

16.5. Về bố cục không thuộc khoản:

Đề nghị loại bỏ toàn bộ các đoạn nội dung không thuộc khoản nào trong các điều luật được bố cục theo điều khoản, vì như vậy là phi lô-gic và có phần trái với quy định tại khoản 3, Điều 5 về “Ngôn ngữ, kỹ thuật văn bản quy phạm pháp luật”, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008. Theo đó, “Văn bản quy phạm pháp luật có phạm vi điều chỉnh rộng thì tùy theo nội dung có thể được bố cục theo phần, chương, mục, điều, khoản, điểm; đối với văn bản có phạm vi điều chỉnh hẹp thì bố cục theo các điều, khoản, điểm”. Ví dụ như Điều 60 “Điều kiện của cá nhân làm người giám hộ”, Điều 61 “Người giám hộ của người chưa thành niên”, Điều 62 “Người giám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự”,… Xin đề xuất 3 cách cơ bản để khắc phục như sau:

- Cách thứ nhất: Bỏ đoạn văn dẫn dắt, giữ nguyên các nội dung khác. Ví dụ: Điều 68 ”Quyền của người giám hộ”, cần phải bỏ đoạn ”Người giám hộ có các quyền sau đây:” ở ngay dưới tên Điều và viết thẳng vào các khoản 1, 2, 3 người giám hộ có những quyền gì;

- Cách thứ hai: Bỏ đoạn văn dẫn dắt không thuộc khoản nào, đồng thời đổi tên điều cho phù hợp. Ví dụ: Điều 72 ”Chấm dứt việc giám hộ”, cần phải bỏ đoạn ”Việc giám hộ chấm dứt trong các trường hợp sau đây:” ở ngay dưới tên Điều, đồng thời sửa tên Điều thành ”Các trường hợp chấm dứt việc giám hộ” và viết thẳng vào các khoản 1, 2, 3 về các trườn hợp chấm dứt việc giám hộ.

- Cách thứ ba: Chuyển đoạn văn dẫn dắt không thuộc khoản nào thành một khoản chung, các khoản còn lại sẽ trở thành một hoặc một số khoản quy định cụ thể. Ví dụ: Điều 61 ”Người giám hộ của người chưa thành niên”, cần chuyển đoạn dẫn dắt và các khoản (gọi là khoản trong trường hợp này không thật chính xác) dưới đây:

Người giám hộ của người chưa thành niên mà không còn cả cha và mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc … thỏa thuận về người giám hộ cho người chưa thành niên. Trong trường hợp không có thỏa thuận, người giám hộ cho người chưa thành niên được xác định như sau:

1. Trong trường hợp anh ruột, chị ruột…

2. Trong trường hợp không có anh ruột, chị ruột…”

thành bố cục 2 khoản như sau:

”1. Người giám hộ của người chưa thành niên mà không còn cả cha và mẹ,…”.

2. Trong trường hợp không có thỏa thuận, người giám hộ cho người chưa thành niên được xác định như sau:

a) Trong trường hợp anh ruột, chị ruột…

b) Trong trường hợp không có anh ruột, chị ruột…”

16.6. Về tên chương, điều:

Tên điều luật không thể trùng với tên chương hoặc, mục, trừ trường hợp chương, mục chỉ có duy nhất 1 điều (thì bắt buộc phải trùng). Ví dụ tên Mục 2 “Quyền nhân thân” Chương III hiện nay đang trùng với tên Điều 24 “Quyền nhận thân” là không hợp lý.

1.1. Về viết số trong văn bản:

Hiện nay có 3 cách viết con số bằng chữ (như “năm năm” trong Bộ luật Hình sự năm 1999, “ba mươi ngày” trong Luật Công chứng năm 2006, 2/3 trong Luật Bảo hiểm y tế năm 2008, “sáu tháng” trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sư năm 2012), bằng số (như “03 năm” trong Luật Thi hành án dân sự năm 2008, “90 ngày” trong Luật Khiếu nại năm 2011, “15 tuổi” trong Bộ luật Lao động năm 2012, “một phần hai” trong Luật Quảng cáo năm 2012). Ngoài ra còn dạng ghi bằng con số, sau đó mở ngoặc thêm chữ (như “9 (chín) người” trong Nghị định số 24/2009/NĐ-CP ngày 05-03-2009 của Chính phủ Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật) và ngược lại ghi bằng chữ, sau đó mở ngoặc thêm con số rất vô lý (như “ba mươi (30) ngày” trong Nghị định số 90/2011/NĐ-CP ngày 14-10-2011 về Phát hành trái phiếu doanh nghiệp”.

Quy định hiện hành về việc viết số trong văn bản thì không hợp lý và không thống nhất. Điều 10 “Trình bày số trong dự thảo văn bản”, Nghị quyết số 1139/2007/UBTVQH11 ngày 03-7-2007 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định: “Số trong dự thảo văn bản phải được thể hiện bằng chữ”, trừ các trường hợp: “Số ở phần mở đầu, phần kết thúc văn bản; số là số thứ tự của đơn vị bố cục mục, điều, khoản; số chỉ độ dài của thời hạn, số chỉ thời điểm, số chỉ số lượng của đơn vị đo lường được thể hiện bằng số Ả Rập. Số chỉ khóa Quốc hội, đơn vị bố cục chương được thể hiện bằng số La Mã.” Điều 23 “Trình bày số trong văn bản”, Thông tư số 25/2011/TT-BTP ngày 27-12-2011 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về Thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và văn bản quy phạm pháp luật liên tịch quy định “Số trong văn bản phải được thể hiện bằng số Ả Rập và được chú thích bằng chữ ngay sau phần số”, trừ các trường hợp “Số ở phần mở đầu, phần kết thúc văn bản; số chỉ độ dài của thời hạn, số chỉ thời điểm, số chỉ số lượng của đơn vị đo lường được thể hiện bằng số Ả Rập.”

Đề nghị chọn cách viết thống nhất bằng chữ số Ả-rập, không chú thích bằng chữ. Như vậy vừa đơn giản, ngắn gọn, lại rất dễ theo dõi.

17. Về một số nội dung khác:

17.1. Điều 30 “Quyền được khai tử” quy định “Trẻ sơ sinh, nếu chết sau khi sinh thì phải được khai sinh và khai tử; nếu chết trước khi sinh hoặc sinh ra mà chết ngay thì không phải khai sinh và khai tử”. Cần quy định rõ ngay là trong thời hạn nào, tránh hiểu thế nào cũng được hoặc lại phải có văn bản giải thích.

17.2. Điều 35.1 “Thỏa thuận về hiến, nhận cơ thể người, bộ phận cơ thể người, sản phẩm từ cơ thể người”. Xem lại sản phẩm từ cơ thể người là khái niệm rất rộng, nhiều thứ không liên quan gì đến việc hiến.

17.3. Ðiều 38 “Quyền riêng tư” quy định “Thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.” mâu thuẫn với Dự thảo Hiến pháp sửa đổi.

Trân trọng tham gia!

——————————————-

Địa chỉ liên hệ:

Luật sư Trương Thanh Đức

Maritime Bank, 88, Láng Hạ, Đống Đa, Hà Nội

ĐT: 090.345.9070 – E-mail: truongthanhduc@yahoo.com


[1] Cần xem lại khái niệm “tàu nội địa”, vì: Khoản 7, Điều 3 “Giải thích từ ngữ “, Luật Giao thông đường thuỷ nội địa năm 2004 quy định: “Phương tiện thuỷ nội địa (sau đây gọi là phương tiện) là tàu, thuyền và các cấu trúc nổi khác, có động cơ hoặc không có động cơ, chuyên hoạt động trên đường thuỷ nội địa.”. Ngoài ra có để cập đến tàu biển, tàu khách, tàu cá. Và khoản 9, Điều 2 “Giải thích từ ngữ”, Luật Thuỷ sản năm 2003 quy định “Tàu cá là tàu, thuyền và các cấu trúc nổi khác chuyên dùng cho khai thác, nuôi trồng, bảo quản, chế biến thuỷ sản.”.

SOURCE: SOURCE: HỘI THẢO BÌNH LUẬN VỀ ĐỊNH HƯỚNG VÀ NỘI DUNG SƠ THẢO PHẦN “NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG” – BỘ LUẬT DÂN SỰ (SỬA ĐỔI). BỘ TƯ PHÁP VÀ QUỸ IRZ (CHLB ĐỨC) PHỐI HỢP TỔ CHỨC. HÀ NỘI, NGÀY 18-19/1/2013.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 664 other followers

%d bloggers like this: