XÂY DỰNG LẠI HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM NGHĨA VỤ TRÊN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VẬT QUYỀN VÀ TRÁI QUYỀN

PGS,TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN – Trường Đại học kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh

1. Một cơ sở lý thuyết lạ lẫm

Bảo đảm nghĩa vụ là một quan hệ nghĩa vụ. Trong suy nghĩ của người làm luật Việt Nam, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là mối quan hệ pháp lý được thiết lập giữa một bên là người cam kết bảo đảm và bên kia là người thụ hưởng biện pháp bảo đảm. Đó là một quan hệ nghĩa vụ đích thực, nghĩa là, ở góc nhìn của luật latinh, có tác dụng tạo ra một trái quyền mà người thụ hưởng biện pháp bảo đảm được phép thực hiện chống lại người cam kết bảo đảm.

Tính chất đối nhân của quan hệ bảo đảm nghĩa vụ được ghi nhận cả trong trường hợp biện pháp bảo đảm được xác lập trên các tài sản đặc định, gọi là thế chấp hoặc cầm cố. Chủ nợ có bảo đảm bằng cầm cố, thế chấp được thừa nhận có quyền ưu tiên được thanh toán nợ bằng giá bán tài sản cầm cố, thế chấp; tuy nhiên, tính chất ưu tiên của của quyền không được làm rõ trong mối quan hệ với người cầm cố, thế chấp, người mà theo giả thiết là chủ sở hữu tài sản. Riêng trong trường hợp bảo đảm bằng thế chấp tài sản, thì để thực hiện quyền ưu tiên đó, chủ nợ cần có sự hợp tác của chủ sở hữu tài sản: một khi nợ được bảo đảm không được trả, thì chủ nợ nhận thế chấp phải làm động tác yêu cầu chủ sở hữu giao tài sản cho mình xử lý (Bộ luật Dân sự -BLDS- Điều 351 khoản 5). Nếu chủ sở hữu không chịu giao, mà điều này lại thường xảy trong thực tiễn, thì chủ nợ chỉ còn mỗi cách ứng xử phù hợp với pháp luật là gõ cửa toà án để yêu cầu cưỡng chế theo thủ tục chung về tố tụng dân sự, chứ không có cách nào khác.

Trong trường hợp bảo đảm nghĩa vụ bằng cầm cố tài sản, thì luật thừa nhận cho chủ nợ nhận cầm cố một số quyền có thể khiến người ta liên tưởng đến người có vật quyền trong luật latinh[1]. Chẳng hạn, nếu nợ không được trả, thì chủ nợ nhận cầm cố có quyền yêu cầu xử lý tài sản cầm cố theo phương thức đã thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật (BLDS Điều 333 khoản 2), nghĩa là không cần đến vai trò của chủ sở hữu. Tuy nhiên, sự thừa nhận đó không hề có nghĩa rằng, chủ nợ nhận cầm cố có quyền năng tác động trực tiếp lên vật như người có vật quyền. Đơn giản, trong tình huống đặc thù, chủ nợ đang nắm giữ, kiểm soát tài sản về phương diện vật chất và việc nắm giữ đó là hợp pháp, được nhà chức trách bảo vệ. Tình trạng đó làm hình thành lợi thế tự nhiên của chủ nợ trong mối quan hệ với chủ sở hữu tài sản trong việc xử lý tài sản bảo đảm để thực hiện việc thu hồi nợ. Người làm luật, về phần mình, chỉ làm mỗi việc là trao cho chủ nợ một số quyền để phát huy lợi thế tự nhiên đó, nhằm giải quyết vấn đề thu hồi nợ theo cách giản đơn và ít tốn kém nhất.

Thực ra, người làm luật Việt Nam không thể bị trách móc chỉ với mỗi lý do là không chịu vận dụng các lý thuyết vật quyền và trái quyền của luật phương Tây một cách hợp lý để xây dựng hệ thống luật pháp của mình. Nếu nếu quá trình độc lập tìm kiếm mô hình thích hợp cho Việt Nam dẫn đến việc thiết lập một khung pháp lý chặt chẽ với các giải pháp hợp lý và thoả đáng, phát huy được tác dụng tích cực trong việc thúc đẩy giao lưu dân sự, thì thậm chí người làm luật còn phải nhận được những lời khen tặng và sự tôn vinh xứng đáng.

Đáng tiếc là sự loay hoay trên một nền tảng học thuyết pháp lý không vững chắc rốt cuộc chỉ cho ra những chế định rối rắm với nhiều giải pháp kỳ lạ, khiến cho luật nhiều khi trở nên phản tác dụng về phương diện thực hiện chức năng tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển giao lưu minh bạch và sòng phẳng trong cuộc sống dân sự.

2. Các vấn đề nổi cộm

Các vấn đề rắc rối đáng chú ý nhất xoay quanh chế định thế chấp tài sản. Lý do chính là tài sản thế chấp được dùng để bảo đảm việc trả nợ, nhưng vẫn nằm trong tay người thế chấp (đồng thời là chủ sở hữu). Một cách tự nhiên, chủ nợ lo lắng về việc tài sản có thể bị sử dụng dẫn đến suy giảm giá trị, có thể đem thế chấp tiếp cho người khác dẫn đến xung đột quyền lợi giữa các chủ nợ có bảo đảm, thậm chí được chuyển nhượng cho người khác và người được chuyển nhượng không biết gì về việc tài sản được đem thế chấp, rồi gây nhiều khó khăn cho việc thực hiện quyền đòi nợ sau này.

Quyền lực của chủ nợ nhận thế chấp có vật quyền. Trong các hệ thống pháp lý có xây dựng chế định vật quyền, vấn đề được giải quyết bằng cách thừa nhận cho chủ nợ có bảo đảm đầy đủ các quyền năng của một người có vật quyền đối với tài sản thế chấp[2]. Đặc biệt, với quyền đeo đuổi, chủ nợ có thể thực hiện quyền của chủ nợ có bảo đảm ở thời điểm thích hợp, bao gồm, tiến hành kê biên và bán tài sản, bất kể lúc đó tài sản đang nằm trong tay ai và thuộc về ai. Tất cả mọi người, kể cả chủ sở hữu, người quản lý, người chiếm hữu tài sản, đều phải tôn trọng các quyền đó của chủ nợ có bảo đảm. Với quyền ưu tiên, chủ nợ có quyền bảo đảm được xác lập trước là sẽ được phép lấy trước tiền trả nợ từ tiền bán tài sản, chủ nợ có quyền bảo đảm được xác lập sau phải chấp nhận lấy sau từ những gì còn lại trong giá bán tài sản.

Tất nhiên, để quyền của chủ nợ có bảo đảm được bảo vệ tốt, thì điều kiện tiên quyết là quyền đó phải được xã hội nhận biết. Luật các nước đặt ra chế định đăng ký để tổ chức việc công bố và xếp thứ tự ưu tiên đối với các chủ nợ có bảo đảm[3]. Chế định đăng ký có đối tượng là tất cả các vật quyền chứ không chỉ quyền của các chủ nợ có bảo đảm bằng thế chấp tài sản.

Chủ nợ nhận thế chấp không có vật quyền: người canh giữ tài sản đơn thuần. Trong điều kiện thiếu vắng lý thuyết vật quyền, chủ nợ luôn phải ở trong tình trạng cảnh giác đối với hành vi của chủ sở hữu tác động lên tài sản. Người làm luật, về phần mình, xây dựng các biện pháp bảo vệ hơi “thủ công” dành cho chủ nợ có bảo đảm, chủ yếu mang ý nghĩa hỗ trợ cho chủ nợ trong việc giám sát hành vi của chủ sở hữu tài sản liên quan.

Chẳng hạn, bằng việc thế chấp, chủ sở hữu không còn được thừa nhận có quyền tự do định đoạt đối với tài sản. Trên nguyên tắc, việc định đoạt theo ý chí của chủ sở hữu thậm chí bị cấm (BLDS Điều 348 khoản 4) và hành vi chuyển nhượng bi coi là trái pháp luật[4]. Trong chừng mực nào đó, có thể thừa nhận rằng việc thế chấp tài sản trong luật hiện hành có tác dụng “treo” quyền định đoạt của chủ sở hữu cho đến khi biện pháp thế chấp được dỡ bỏ đúng luật. Luật cũng nói rằng, chỉ có chủ nợ nhận thế chấp mới có quyền giải toả lệnh treo đó trong thời gian thế chấp. Trong trường hợp thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ cùng một lúc, thì theo luật Việt Nam hiện hành, chủ sở hữu tài sản có trách nhiệm thông báo cho các chủ nợ sau của mình về tình hình thiết lập các biện pháp bảo đảm trước đó (Điều 324 khoản 2). Trong khi đó, ở các nước tiền tiến, người ta dựa vào hệ thống đăng ký: việc đăng ký tự nó có tác dụng thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản cho người thứ ba, nói chung cho toàn xã hội. Thay vì ràng buộc người bảo đảm vào nghĩa vụ thông báo, luật đòi hỏi chủ nợ phải tự tìm hiểu bằng cách tiếp xúc với cơ quan đăng ký để yêu cầu cung cấp thông tin. Trên cơ sở xử lý các thông tin được cung cấp, chủ nợ có thể tự đánh giá được các khả năng thu hồi nợ từ tài sản liên quan, từ đó, có thể quyết định chấp nhận hay không việc xác lập biện pháp bảo đảm bằng tài sản ấy.

Luật Việt Nam hiện hành không chỉ đòi hỏi người bảo đảm phải thông báo cho chủ nợ có bảo đảm về tình trạng pháp lý của tài sản. Sự đòi hỏi đó còn được hình dung, trong trường hợp thế chấp tài sản, như một nghĩa vụ quan trọng mà nếu người bảo đảm không làm trọn, thì chủ nợ có bảo đảm có quyền huỷ hợp đồng thế chấp và yêu cầu bồi thường thiệt hại (Điều 348 khoản 2). Nói khác đi, việc không thông báo bị coi như một hành vi gian dối, bất chính; người thực hiện hành vi đương nhiên có lỗi và phải chịu trách nhiệm dân sự.

Trường hợp một tài sản được dùng để bảo đảm nhiều nghĩa vụ. Một điểm bất hợp lý đặc biệt nữa liên quan đến việc dùng một tài sản để bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ: theo BLDS Điều 324 khoản 1, một tài sản có thể được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự, nếu có giá trị tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm lớn hơn tổng giá trị của các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Có thể hiễu nỗi lo của người làm luật: bảo đảm quá nhiều nghĩa vụ có giá trị lớn, thì tài sản có nguy cơ không đủ sức để “gồng gánh” tất cả. Suy cho cùng, nỗi lo ấy rất bình thường; nhưng điều không bình thường là nó xuất hiện ở người làm luật chứ không phải ở chủ nợ.

Nói khác đi, khi xác lập một quan hệ nghĩa vụ, thì chính trái chủ (chủ nợ) là người phải đặt và giải quyết các vấn đề liệu nghĩa vụ có cần được bảo đảm hay không và nếu cần thì bảo đảm đến mức độ nào. Nợ tư nhân là chuyện riêng của tư nhân, Nhà nước không cần và cũng không nên can thiệp vào, đặc biệt là không nên can thiệp theo kiểu làm cho một bên mạnh hơn và bên kia yếu hơn trong quan hệ tay đôi.

Trong điều kiện các biện pháp bảo đảm có tác dụng nhân tạo ra các vật quyền như trong luật của nhiều nước, người làm luật cũng thừa nhận khả năng dùng một tài sản để bảo đảm nhiều nghĩa vụ cùng một lúc. Mối quan hệ giữa giá trị của tài sản và tổng giá trị của các món nợ vẫn được chú ý đến, nhưng người làm luật chỉ quan tâm đến việc làm thế nào tổ chức hành vi ứng xử của các chủ thể theo các tiêu chí trật tự và công bằng, chứ không tìm cách hạn chế quyền tự do của người này, người kia để phòng ngừa rủi ro.

Trên nguyên tắc, tất cả các vật quyền thế chấp đều phải đăng ký mới có hiệu lực đối với người thứ ba. Một khi được đăng ký, các vật quyền được thừa nhận với đầy đủ đặc tính, bao gồm quyền ưu tiên và quyền theo đuổi. Trong điều kiện nhiều vật quyền cùng tồn tại và có đối tượng là cùng một vật, tự nhiên hình thành thế cạnh tranh, thậm chí xung đột giữa các vật quyền. Luật giải quyết vấn đề bằng cách dựa vào hệ thống đăng ký: vật quyền đăng ký trước được ưu tiên thực hiện so với vật quyền đăng ký sau.

Về mặt lý thuyết, ngay cả trong trường hợp tổng số nợ được bảo đảm lớn hơn giá trị của tài sản, thì cũng không hẳn vật quyền đăng ký sau cùng không còn cơ may được thực hiện trọn vẹn bằng giá trị của tài sản bảo đảm. Không loại trừ khả năng chủ nợ có bảo đảm được đăng ký trước thu hồi được nợ do người mắc nợ chủ động trả nợ mà không cần phải xử lý tài sản bảo đảm. Khi đó, biện pháp bảo đảm liên quan cũng chấm dứt và được xoá đăng ký; các biện pháp bảo đảm đăng ký sau tự động được nâng hạng ưu tiên và khả năng thu hồi nợ dựa vào tài sản bảo đảm cũng được nâng lên. Chính khả năng đó là lý do khiến chủ nợ chấp nhận xác lập biện pháp bảo đảm, dù biết rằng giá trị của các món nợ có bảo đảm đã vượt quá giá trị thị trường của tài sản.

Do thiếu vắng lý thuyết vật quyền, luật Việt Nam hiện hành đã không mở ra được cơ hội giao dịch cho các bên theo phương thức như trên. Thay vào đó là sự kiểm soát chủ động của nhà chức trách bằng những quy định mang tính khống chế, bao biện và giám hộ, như đã nói. Tất cả những điều đó càng trở nên đáng tiếc trong điều kiện Việt Nam đã xây dựng được hệ thống đăng ký tương đối hoàn chỉnh cho phép ghi nhận các biện pháp bảo đảm bằng tài sản đặc định./.


[1] Về lý thuyết vật quyền: xem, cùng tác giả, Lợi ích của việc xây dựng chế định vật quyền đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật tài sản, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (NCLP) số 2+3 (187+188), tháng 01+02 (2011), tr. 92 – 96. Để có được cái nhìn sâu và rộng hơn: xem, chẳng hạn, F.Terré và Ph. Simler, Droit civil. Les biens, Précis Dalloz (Paris – Pháp), 2006, tr. 30 đến 36.

[2] Xem, ví dụ, F. Terré và Ph. Simler, sđd, tr. 34.

[3] Về đăng ký bất động sản: cùng tác giả, Đăng ký bất động sản, các vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 6(214), tháng 3/2012), tr.48 đến 53. Để tham khảo kinh nghiệm của các nước: Ph. Malaurie et L. Aynès, Droit civil – Les biens. La publicité foncière, Cujas (Paris – Pháp), 1998, tr.367 đến 385; J. Gray, Brendan Edgeworth, Nell Foster, Scott Grattan, Property Law in New South Wales, Lexis Nexis Butterworths (Australia), 2007, tr. 282 đến 351.

[4] Ở góc độ pháp luật hình sự, việc chuyển nhượng tài sản thế chấp còn bị ghi nhận là hành vi tẩu tán tài sản nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ mang tính chất lừa đảo và người chuyển nhượng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo tội danh tương ứng. Trên thực tế đã có nhiều người bị vướng vào vòng lao lý do hành vi này.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ

Trích dẫn từ: http://www.nclp.org.vn/ban_ve_du_an_luat/kinh-te-dan-su/xay-dung-lai-he-thong-phap-luat-ve-bao-111am-nghia-vu-tren-co-so-ly-thuyet-vat-quyen-va-trai-quyen

CÁC BÀI VIẾT CÙNG TÁC GIẢ

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 638 other followers

%d bloggers like this: