“ĐỪNG NGHĨ LÀ DÂN KHÔNG BIẾT GÌ”

Nhà văn. NGUYỄN KHẮC PHỤC

Trên diễn đàn Quốc hội vừa qua, người dân được nghe không ít đại biểu nói đến hai từ  “Kiểm soát quyền lực” và “độc lập” – hai từ không mới, đã có sẵn trong ngôn ngữ dân tộc ta từ lâu, nhưng tại diễn đàn Quốc hội, trong thời điểm hiện nay, điều đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Nói như thế, vì cơ quan quyền lực cao nhất  nước lại đặt vấn đề “kiểm soát quyền lực”, chứng tỏ sự lạm quyền, độc quyền trong nhiều lĩnh vực thời gian qua là rất nghiêm trọng và cơ chế giám sát quyền lực chúng ta đang áp dụng không hiệu quả. Không cần phải chứng minh dài dòng, chỉ riêng tình trạng tham nhũng với bao nhiêu là tuyên bố và nghị quyết mạnh mẽ vẫn như là bệnh ung thư di căn, đã là bằng chứng hiển nhiên. Việc đòi hỏi sự “độc lập” của một số tổ chức (như cơ quan chống tham nhũng, kiểm toán…) cũng chứng tỏ sự minh bạch, công bằng, tránh mọi sức ép của mọi thế lực và “lợi ích phe nhóm” của những cơ quan làm nhiệm vụ “cán cân công lý” đã bị vi phạm nghiêm trọng. Những con số “khủng” thua lỗ của các tập đoàn, việc khiếu kiện đất đai kéo dài và vượt cấp là sự thật chứng minh cơ chế – cần nói rõ hơn là cách thức tổ chức, bố trí con người làm nhiệm vụ kiểm soát quyền lực – mà chúng ta thực hiện lâu nay không thích hợp.

Như vậy, vấn đề đặt ra đã rõ như ban ngày: Phải thay đổi cơ chế “kiểm soát quyền lực”. Chúng ta đều biết, ở bất cứ chế độ nào, quyền lực nếu không được kiểm soát, ắt sẽ dẫn đến lạm quyền và tha hóa. Nhân loại, qua đấu tranh và đúc rút kinh nghiệm hàng ngàn năm, đã xây dựng “cơ chế” kiểm soát quyền lực, có thể chưa hẳn là tối ưu, nhưng đã góp phần quan trọng hạn chế, ngăn chặn sự lạm quyền. Còn chúng ta thì chắc là đang đi tìm một “cơ chế” ưu việt hơn và đang thử nghiệm, những tiếc rằng chưa thành công!

Hẳn là đã nhận thức được điều đó, đại biểu Trần Đình Nhã, Phó Chủ nhiệm ủy ban Quốc phòng  – An ninh Quốc hội, trong ý kiến phát biểu khi thảo luận về nội dung bản Hiến pháp sửa đổi, đã nói: “Đảng ta đã đặc biệt nhấn mạnh nguyên lý quyền lực phải được kiểm soát, phải dùng quyền lực để kiểm soát quyền lực. Đáng tiếc là trong dự thảo sửa đổi Híến pháp 1992 nguyên lý trên chưa được triển khai mạnh mẽ.”… Ông đề nghị Hiến pháp cần bổ sung công cụ, thiết chế độc lập giúp Quốc hội thực hiện chức năng giám sát mà thực chất là kiểm soát quyền lực.” (Theo “Tuổi trẻ” ngày 17-11).

(more…)

KHỦNG HOẢNG NHÂN VĂN?

Khủng hoảng kinh tế có thể đánh mất một nhiệm kỳ, khủng hoảng nhân văn có thể đánh mất rất nhiều thế hệ – Civillawinfor

ĐOÀN ĐẠT

Chỉ trong một thời gian rất ngắn, dư luận liên tiếp rung động vì rải rác trên khắp cả nước đã diễn ra hàng loạt vụ cướp bóc thảm sát man rợ. Nếu không tính riêng lẻ từng vụ án mà gộp chung lại, các vụ thảm sát ấy có thể chẳng kém gì những vụ xả súng giết người hàng loạt ở nước Mỹ. Điều gì đang ngấm ngầm diễn ra?

Dậy giặc cướp

Chưa hết bàng hoàng vì những vụ chặt tay cướp xe, cướp điện thoại, người dân lại kinh hoảng vì mức độ tàn bạo của các vụ cướp đã được đẩy lên ở mức cắt cổ, đập đầu đến chết toàn bộ thành viên của một gia đình thuần lương… Sự bất an của người dân cả nước dường như đã lên đến đỉnh điểm, ai cũng nơm nớp lo sợ khi đi ra đường buổi tối.

Qua hàng loạt vụ án từ TP.HCM đến Bình Dương, Gia Lai, Hà Nội, Thái Bình… người ta có thể lấy ra một mẫu số chung: các tên tội phạm mới này không liên kết thành băng đảng, và các vụ án không được thực hiện bởi những tên tướng cướp hay những tội phạm chuyên nghiệp như thời trước, mà hầu hết là do bột phát; nhưng với thủ đoạn vô cùng tàn độc, mất hẳn nhân tính… Một điểm chung nữa giữa nhiều vụ án gần đây là kẻ thủ ác thường lạm dụng lòng tin yêu của nạn nhân để gây tội. Trong vụ án ở TP.HCM và Thái Bình, hung thủ đã giết chết người yêu và cả gia đình của người tình. Còn trong vụ thảm sát ở Gia Lai, một trong hai thủ phạm chính là con nuôi một người thân trong gia đình bị hại.

Do khủng hoảng kinh tế?

Vụ án dùng chân tủ đánh chết cả nhà người bạn gái mới quen của kẻ thủ ác Lê Thanh Đại ở Thái Bình có nét gợi nhớ đến một vụ án nổi tiếng trên văn đàn thế giới, vụ chàng sinh viên Raskolnikov giết chết hai chị em bà già cho vay nặng lãi trong tác phẩm Tội ác và hình phạt. Bối cảnh để văn hào Dostoievski lấy chất liệu viết nên tiểu thuyết đó, theo các nhà phân tích, chính là những điều kiện kinh hoàng của cuộc khủng kinh tế tiền tệ của Nga vào năm 1865. Trong tác phẩm, giải thích về nguyên nhân sa đoạ của “một bộ phận văn minh nhất của chúng ta”, một nhân vật đã nói: “Đó là do những thay đổi về kinh tế”.

(more…)

THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT: TIỆC CƯỚI PHẢI TRÌNH GIẤY CHỨNG NHẬN KẾT HÔN = vô lý?

Việt Nam đang kêu gọi thế giới công nhận là nước có nền kinh tế thị trường, nhưng cách quản lý xã hội của chúng ta dường như đang đi ngược lại cái mà chúng ta mong muốn thế giới công nhận – Civillawinfor.

VŨ TÙNG

"Nhà hàng chỉ tổ chức tiệc cưới khi có giấy đăng ký kết hôn" – một tiêu chuẩn “tréo ngoe” vừa được Sở VH-TT&DL TP.HCM đưa ra lấy ý kiến vào ngày 1/12, khiến người dân, doanh nghiệp, chuyên gia pháp luật phải thốt lên: quy định “trời ơi”!

“Cưới là cưới, kết hôn là kết hôn”

Đem cái tạm gọi là “dự thảo tiêu chuẩn cưới” trò chuyện với Thu Vân (quận 4, TP.HCM), cô bạn sắp làm đám cưới, cô thốt lên với vẻ đầy kinh ngạc: “Có vụ này nữa hả? Hôm bọn mình đi đặt tiệc ở nhà hàng có thấy đòi hỏi giấy tờ gì đâu. Mà có đòi thì bọn mình cũng đã lấy được giấy đăng ký kết hôn đâu mà trình chứ”. Tôi vờ hỏi: “Phải có giấy đăng ký kết hôn rồi mới làm đám cưới chứ?”. Cô bạn trợn mắt nhìn tôi như thể “người trên trời rơi xuống”: “Ủa, chuyện bọn tôi có đăng ký kết hôn hay không là chuyện riêng của chúng tôi. Tiệc cưới là tiệc cưới! Là dịp chúng tôi ra mắt gia đình họ hàng, bạn bè, đồng nghiệp… Còn chuyện đăng ký kết hôn là chuyện hoàn toàn khác, luật có bắt chúng tôi làm đám cưới thì phải đăng ký kết hôn trước đâu?”.

Cũng với “đề tài” này, anh Hoàng Ngọc (nhà ở quận 7, TP.HCM), vừa nghe qua đã phì cười, bảo: “Chuyện này nghe chẳng khác gì chuyện ngày trước một số nơi quy định bắt các đôi nam nữ vào khách sạn phải trình giấy đăng ký kết hôn. Đúng là chẳng hiểu họ quy định như vậy nhằm mục đích gì nữa”. Theo anh Ngọc, đúng là hiện nay có nhiều đám cưới “chóng vánh”, kiểu các cô gái miền Tây thông qua môi giới lấy chồng Hàn Quốc, Đài Loan… ít nhiều để lại hậu quả xấu. “Nhưng đòi hỏi nhà hàng phải bắt người đặt tiệc cưới xuất trình giấy đăng ký kết hôn là rất vô lý. Bởi cho dù những cô gái và những chàng rể ngoại có “yêu chóng vánh, cưới vội vàng” thì cũng chỉ là vấn đề cá nhân của họ, vì luật cũng đâu có cấm?”.

(more…)

CHÍNH CHỦ LÀ AI, CHÍNH CHỦ LÀ TA . . .

ĐÔNG KINH

Thật là phiền toái, khi bạn phải đi xe không chính chủ, và vì thế, bạn cảm thấy hơi bực bội hoặc ghen tị với cái gã đứng tên chính chủ trên giấy tờ xe mình. Vì cái tên gã đó mà bạn sẽ phải bỏ ra cỡ vài trăm ngàn đến dăm bảy chục triệu, kèm theo một chuỗi các thủ tục hành chính rắc rối khác để được thay thế hắn trong ngôi “chính chủ”.

Thế nhưng, bạn có bao giờ tự hỏi, có thể ở đâu đó, một người đi xe không chính chủ khác cũng đang bực mình vì cái tên của bạn cũng chình ình trên giấy tờ xe của người đó. Bạn đã đứng tên bao nhiêu cái xe, và giờ nó đang ở đâu, liệu có một mối liên hệ gì giữa nó với bạn không?

1. Người xưa có câu “Khuyển mã tri tình”. Con chó mình nuôi, con ngựa mình cưỡi, qua bao nhiêu lần đổi chủ, nhưng nếu vô tình gặp lại, rất có thể chúng vẫn nhận ra chủ cũ, và rỏ nước mắt trước cố nhân.

Người hiện đại không cưỡi ngựa nữa, mà cưỡi xe. Sau vài lần đổi xe, theo chiều hướng đi lên (tức lên đời xe), tôi nghiệm ra rằng, khi mình cưỡi xe thì ân cần với nó, nhưng khi đổi xe rồi thì quên phắt nó đi ngay. Có mới nới cũ mà. Nếu bạn có nhu cầu mua xe cũ, thì hời nhất là tìm được anh nào có xe cũ muốn bán để lên đời xe mới, và anh ta đã tìm được cái xe mới ưng ý rồi. Lúc đó, tâm lý của anh ta là chỉ muốn bán tống bán táng cái xe cũ đi cho khuất mắt.

Tôi nhớ hồi anh trai tôi, đi cái xe Cub 79 suốt 4 năm liền, từ năm 1995 (thời kỳ rộ lên xe bãi của Nhật nhập về) đến 1999. Quãng thời gian đó, anh giữ cái xe như vàng, đến tôi mượn đi đón bạn gái một tí cũng khó. Nhưng đến khi anh gom đủ tiền, sang nhà bạn chơi, trông thấy con DD đỏ đẹp long lanh của bạn đang cần bán, anh thậm chí vứt ngay con Cub 79 “cóc ghẻ” của mình lại nhà bạn, cưỡi con DD đỏ về luôn. Hôm sau anh cũng không tự đi lấy con Cub 79 về, mà vứt trong ví ra cái Giấy đăng ký xe, sai tôi đi lấy, rồi bảo “gán” nợ luôn cho mày (anh vay tôi số tiền chỉ bằng 2/3 giá trị của chiếc xe). Tất nhiên, vì là anh em ruột, nên giấy tờ chẳng phải sang tên đổi chủ, mà nếu có phải thì lúc đó làm gì đã có Nghị định 71 đâu mà… sợ.

(more…)

KHÔNG BIẾT VÀ PHẢI BIẾT

Nhà văn NGUYỄN VĂN HIẾU

Có lẽ chưa bao giờ tình hình kinh tế, xã hội nước ta xảy ra nhưng vụ động trời như hiện nay. Nhưng đáng tiếc khi hậu quả ghê gớm của những vụ này đã và đang hiển hiện trước mắt mọi người thì không ít các cá nhân, các tổ chức quản lý khi được hỏi đều trả lời “không biết, chưa được báo cáo”. Câu trả lời dửng dưng và vô cảm này lâu nay đã trở thành một hội chứng xói mòn lòng tin và gây tác hại lớn.

Xin đơn cử một vài vụ việc:

Đầu tiên là các vụ liên quan đến người nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam. Vụ ngưòi Trung Quốc nuôi cá trái phép trên vịnh Cam Ranh đã diễn ra hàng năm trời. Khi bị phát giác, UBND tỉnh Khánh Hoa trả lời nhẹ tênh “không biết”. Vụ Công ty Nguyên Long Sơn thuộc tập đoàn kinh tế Nguyên Hinh, cũng của Trung Quốc, mua 1,2 héc ta đất trồng lúa ở Hàm Đức, rồi 59,7 héc ta đất trồng cây ở Hàm Chính, cùng thuộc huyện Hàm Thuận ở tỉnh Bình Thuận để chuyển đổi thành đất trồng thanh long, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận ỡm ờ trả lời “không minh bạch”. Vụ người Trung Quốc lộng hành thành lập các cơ sở buôn bán, rồi dựng biển hiệu tiếng Trung Quốc, gây ra hàng loạt sự kiện bức bối ở hàng loạt xã dọc QL 1A thuộc huyện Kỳ Anh (Hà Tĩnh), ông Nguyễn Đức Thắng, Chánh văn phòng UBND huyện khi được hỏi đã trả lời tỉnh khô: “chúng tôi không biết, vì huyện chỉ chủ trương giải phóng mặt bằng..”. Rồi hàng loạt cơ sở y tế do người Trung Quốc lập ra hoặc trực tiếp tham gia khám chữa bệnh với giá cắt cổ tràn lan ở các tỉnh trong cả nước, đặc biệt dày đặc ở TP. Hồ Chí Minh và Thủ đô Hà Nội, trong đó không ít cơ sở đã gây ra tử vong cho bệnh nhân. Nhưng ngành Y tế cũng lại “không biết”… Chỉ đến khi vụ việc đáng tiếc xảy ra mới đi giải quyết hậu quả bằng những biện pháp nửa vời… Rồi vụ 31.000 lao động người nước ngoài (tương đương 3 sư đoàn) đang hoạt động trái phép ở hầu hết các tỉnh thành nước ta, ngành Lao động Xã hội cũng lại trả lời “không biết vì không kiểm soát nổi”…

(more…)

ĐỂ CHÍNH SÁCH KHÔNG BỊ “MƯA ĐÁ DƯ LUẬN”

CHÍ HIẾU

Bộ trưởng Giao thông vận tải Đinh La Thăng than rằng, cứ mỗi lần Bộ này đề xuất chính sách hoặc ban hành chính sách là y như rằng dư luận phản ứng rất mạnh. Mạnh đến mức có lúc ông Thăng gọi đó là “những trận mưa đá dư luận”.

Kể ra không ít những quy định của Bộ Giao thông vận tải bị dư luận phản ứng mạnh ngay khi vừa ban hành, Bộ trưởng Đinh La Thăng thừa nhận quá trình chuẩn bị (nhằm) tạo sự đồng thuận xã hội khi ban hành một chính sách vốn là điểm yếu của Bộ Giao thông vận tải. Và ông kỳ vọng điểm yếu đó sẽ được khắc phục sau khi thoả thuận hợp tác giữa Bộ Giao thông vận tải và viện Khoa học xã hội Việt Nam được ký kết vào giữa tuần qua. “Một trong những mục đích quan trọng của thoả thuận hợp tác này là để chuẩn bị dư luận, nghiên cứu tác động nhiều chiều (trước khi ban bành chính sách) mà trước nay Bộ Giao thông vận tải làm chưa tốt, thậm chí là kém”, ông Thăng nói. Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam Nguyễn Xuân Thắng, người được ông Thăng giới thiệu như là “kiến trúc sư” của thoả thuận hợp tác này, cũng cho rằng thực tế nhiều chính sách của ngành giao thông khi triển khai vấp phải những phản ứng xã hội rất gay gắt, vì thế, ông hy vọng thoả thuận sẽ đặt nền móng cho “việc trao đổi thông tin, tăng cường thẩm định, phản biện về mặt chính sách của Bộ Giao thông vận tải (từ phía các chuyên gia của Viện)”.

Không thể không ghi nhận nỗ lực “nhằm khắc phục” nói trên của Bộ Giao thông vận tải nhưng thực ra, để một chính sách đi vào cuộc sống, tránh được những “cơn mưa đá dư luận” mà Bộ trưởng Đinh La Thăng đã nói, nếu chỉ dừng ở mức “tăng cường trao đổi và thẩm định, phản biện” như ông Thắng hy vọng thôi, e là chưa đủ, bởi để có một chính sách phù hợp với yêu cầu của cuộc sống, khâu quan trọng nhất chính là điều tra, khảo sát, thu thập thông tin, dữ liệu từ thực tế làm cơ sở cho việc nghiên cứu, hình thành các chính sách, các quy định phù hợp. Việc thẩm định, phản biện chỉ là một khâu trong quá trình hình thành chính sách; nên nếu mới chú trọng khâu này mà chưa chú ý đúng mức đến khâu điều tra, khảo sát thực tế trước khi soạn thảo chính sách thì rốt cuộc, cũng chỉ mới giải quyết được phần ngọn của vấn đề.

(more…)

NHỮNG SAI LỆCH, KHIẾM KHUYẾT CỦA CÁC BÁO CÁO TÀI CHÍNH VIỆT NAM

TRẦN XUÂN NAM – Phó Giám đốc Câu lạc bộ CFO Việt Nam

Từ năm 2001 đến cuối năm 2006 Bộ Tài Chính đã ban hành gần 30 Chuẩn Mực Kế Toán Việt Nam (VAS) và các thông tư hướng dẫn các chuẩn mực. Đó là một sự nỗ lực rất đáng được biểu dương của các nhà làm chế độ kế toán, Bộ Tài Chính. Các VAS về cơ bản giống như các chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) vì nó được dịch từ các IAS (việc nên làm) nhưng sau đó nó được sửa đổi, bổ sung, cắt bớt và kết quả là đôi khi nó làm mất đi tính nhất quán của toàn bộ hệ thống. Đặc biệt có một số hướng dẫn chuẩn mực cũng như các chế độ chế toán hiện hành còn có mâu thuẫn với một số VAS. Hơn thế nữa các họat động tập huấn, đào tạo các VAS mới còn nhiều hạn chế nên báo cáo tài chính của các công ty vẫn còn nhiều điều bất cập chưa đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư và các nhà quản lý. Trong phạm vi bài viết, tác giả xin trình bày một số sai lệch và khiếm khuyết lớn thường thấy trên các báo cáo tài chính của các công ty Việt Nam (do chế độ kế toán hoặc do thực tế) và cách khắc phục nó.

1.Tổng quan sự khác nhau của hệ thống báo cáo tài chính Việt Nam và Quốc tế.

Khác với VAS, IAS mặc dù đưa ra rất chi tiết các định nghĩa, phương pháp làm, cách trình bày và những thông tin bắt buộc phải có trong các báo cáo tài chính nhưng họ không đưa ra những biểu mẫu báo cáo bắt buộc tất cả các công ty phải tuân theo vì họ hiểu các công ty có quy mô, đặc điểm ngành nghề kinh doanh rất khác nhau. Chế độ kế toán Việt Nam không những đưa ra một hệ thống tài khỏan kế toán thống nhất bắt buộc mà còn đưa ra các biểu mẫu báo cáo tài chính thống nhất bắt buộc cho tất cả các doanh nghiệp áp dụng (hầu hết các quốc gia trên thế giới không làm như vậy).

2. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Lãi từ hoạt động kinh doanh không đúng. Lãi từ hoạt động kinh doanh (Operating Profit/ Income) của một công ty rất quan trọng, nó là nguồn lãi quan trọng nhất và ổn định nhất của một doanh nghiệp. Khác với các nguồn lãi từ các hoạt động tài chính hay các hoạt động khác về nguyên tắc thường không ổn định và khó có thể dự đoán. Chính vì vậy trong chuẩn mực và thông lệ kế toán quốc tế lãi kinh doanh là các khoản lãi lỗ từ các họat động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, không bao gồm các khoản thu nhập và chi phí tài chính (chi phí lãi vay). Tuy nhiên theo VAS 21 “Trình bày các báo cáo tài chính” thì “Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh” bao gồm cả lợi nhuận và chi phí tài chính.

Để dễ hiểu hơn chúng ta hãy xem ví dụ sau. Công ty X trong năm 2008 có doanh thu bán hàng là 100 tỷ đồng, giá vốn hàng bán là 60 tỷ, chi phí bán hàng và chi phí quản lý chung tương ứng là 12 tỷ và 8 tỷ. Trong năm công ty có hoạt động bán cổ phiếu lãi 50 tỷ và chi phí lãi tiền vay là 10 tỷ. Với các thông tin trên, báo cáo kết quả kinh doanh năm 2008 của công ty X được trình bày theo chuẩn mực (thông lệ) quốc tế và Việt Nam như sau.

(more…)

QUẢN TRỊ CÔNG VÀ QUẢN TRỊ TƯ

LS. NGUYỄN TIẾN LẬP

Năng lực chịu trách nhiệm của một người quản trị công, dù là một bộ trưởng, làm sao có thể tương thích với các sai lầm và hậu quả của một chính sách mà người dân phải chịu.

Đề xuất thu phí đánh vào phương tiện giao thông của bộ Giao thông tiếp tục hâm nóng dư luận qua các phát biểu của bộ trưởng Đinh La Thăng với giới báo chí chiều 3.4 vừa qua. Đặc biệt khi một lần nữa, Bộ trưởng tỏ rõ sự thẳng thắn, chân thành cũng như bản lĩnh “tư lệnh” của mình bằng nói lời “xin lỗi những người đi ôtô” và khẳng định sẽ “chịu trách nhiệm cá nhân” về đề xuất chính sách này.

Với góc nhìn và tư duy pháp lý, tôi cảm nhận ngay một điều bất cập, đó là hình như bộ trưởng Thăng đã có sự lầm lẫn ở đây giữa hai lĩnh vực hành xử: quản trị công và quản trị tư?

Đành rằng, phải khách quan đánh giá cao phẩm chất cá nhân của bộ trưởng như xông xáo, quyết đoán và khả năng dám đột phá trong suy nghĩ và hành động, là điều rất nên có nếu xét trên phương diện một người chủ hay lãnh đạo doanh nghiệp. Bởi đó là lĩnh vực “quản trị tư”, nơi mà quyền lực sở hữu và thẩm quyền quản lý được phân định rất rành mạch, và đi liền với nó là các vấn đề về lợi ích, trách nhiệm cũng được xác định rõ ràng. Chẳng hạn, nếu là chủ một doanh nghiệp (hay một tổ chức tư nhân), quyền lực gắn liền với lợi ích của nhà đầu tư hay cổ đông; còn nếu là nhà quản lý (ví dụ một tổng giám đốc), việc chịu trách nhiệm luôn luôn được làm rõ theo cơ chế hợp đồng với chủ doanh nghiệp, v.v. và v.v.

Tuy nhiên, đối với “quản trị công” (chẳng hạn quyền hạn và trách nhiệm của một bộ, ngành) thì bản chất vấn đề lại hoàn toàn khác. Trước hết, quản trị công được hình thành trên cơ sở sự tín nhiệm và trao quyền của nhân dân.

“Tín nhiệm” được hiểu không chỉ là niềm tin vào phẩm chất và năng lực của người được giao quản trị công (ví dụ bộ trưởng một bộ hay chủ tịch một tỉnh) khi được lựa chọn vào cương vị đó, mà còn là niềm tin vào động cơ hành động của anh ta với sự khẳng định rằng anh ta luôn luôn hành động vì lợi ích của nhân dân. Còn “trao quyền” lại gắn với một cơ chế rất trừu tượng và phức tạp, không giản đơn như một hợp đồng quản lý hay uỷ nhiệm, do đó không thể dễ dàng cho việc quy trách nhiệm cũng như rút quyền, một khi sự tín nhiệm nói trên không còn. Nói như vậy có nghĩa rằng nhân dân, là người trao quyền, sẽ luôn luôn là bên chịu rủi ro một khi có sự lựa chọn nhầm lẫn đối với người quản trị công, bởi tối đa thì phải sau một nhiệm kỳ năm năm, sai lầm ấy (nếu có) mới có cơ hội sửa chữa.

(more…)

“THIẾU PHỤ NỮ ĐỂ KẾT HÔN” LÀ THIẾU THẾ NÀO?

ĐOÀN QUỐC QUÂN – Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí

Vấn đề mất cân bằng giới tính đang có vẻ "nóng". Mới hôm rồi một tờ báo đưa tin “Việt Nam đang thiếu hụt 139.000 phụ nữ trưởng thành” , nghe hết cả hồn. Sợ như thế chưa đủ làm người ta khiếp vía, một bài báo khác hù tiếp “Hàng triệu nam giới Việt có nguy cơ… ế vợ”.

Sự tình là, theo thống kê của Tổng cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình thì tỷ số giới tính khi sinh của nước ta hiện ở mức 111 trai/100 gái, tại một số địa phương thậm chí lên đến 130/100. Các chuyên gia lo ngay ngáy, cứ cái đà này thì chả mấy chốc hàng triệu nam giới Việt có nguy cơ ế vợ và phải  nhập khẩu cô dâu.

Nhập khẩu cô dâu cũng tốt, làm phong phú nguồn gien và văn hóa, tuy nhiên dù đó là một đề tài rất thú vị nhưng để dịp khác ta sẽ bàn luận cho rôm rả. Ở đây người viết chỉ muốn nêu ra câu hỏi: Thiếu phụ nữ để kết hôn là thiếu thế nào?

Dường như các chuyên gia nhìn vấn đề kết hôn theo kiểu “chia phần” rất đơn giản thế này: Luật Hôn nhân và gia đình quy định chế độ một vợ một chồng, nên tiêu chuẩn của mỗi nam giới độc thân đến tuổi kết hôn là được chia một phụ nữ cũng đến tuổi kết hôn và đang độc thân (hoặc ngược lại – mỗi phụ nữ được chia một nam giới). Thế cho nên, hễ phe nào đông hơn phe kia bao nhiêu người thì có nghĩa là chừng đó người rơi vào nguy cơ mất phần, tức là ế.

Các chuyên gia này có lẽ đã quên hết kiến thức về lý thuyết tập hợp mà họ được học ở trường phổ thông.
Theo lý thuyết này thì nam giới đủ điều kiện lấy vợ tạo nên tập hợp A có a phần tử, tương tự nữ giới tạo nên tập hợp B với b phần tử. Khi đó, mỗi phần tử của tập hợp A (hoặc B) có không chỉ 1, mà b (hoặc a) khả năng kết hợp với 1 phần tử của tập hợp B (hoặc A).

Lấy ví dụ đơn giản cho dễ hình dung. Nếu xã hội chỉ có 2 chàng và 1 nàng, thì không nhất thiết một nửa số đàn ông trong xã hội sẽ ế vợ. Kể cả khi cấm ngặt chế độ đa phu 1 nàng 2 chàng (như cổ tích về 3 hòn đầu rau trong bếp), thì mỗi chàng vẫn có thể có 1 vợ, chỉ có điều phải luân phiên nhau.

(more…)

ĐỂ TIỀN LƯƠNG TRỞ THÀNH ĐỘNG LỰC ĐỔI MỚI VÀ PHÁT TRIỂN

TS. NGUYỄN MINH PHONG – Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế – xã hội Hà Nội

Những bức xúc trong tiền lương…

Chính sách tiền lương ở Việt Nam sau nhiều lần cải cách, nhất là từ năm 1993 đến nay, đã từng bước đổi mới theo hướng thị trường, tách dần tiền lương khu vực sản xuất kinh doanh với khu vực hành chính nhà nước và khu vực sự nghiệp cung cấp dịch vụ công; chính sách tiền lương với chính sách bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công; tiền tệ hóa tiền lương; mở rộng và làm rõ trách nhiệm, quyền tự chủ của đơn vị, doanh nghiệp trong việc xếp lương, trả lương gắn với năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả. Nhờ vậy, tiền lương và thu nhập của người làm công ăn lương có xu hướng tăng từ 10  – 20%/năm, đảm bảo từng bước ổn định đời sống và có phần được cải thiện…

Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, chính sách tiền lương của nhà nước ở các khu vực còn chậm đổi mới và thể chế hóa, không theo kịp cơ chế kinh tế thị trường, thiếu công bằng xã hội và chưa tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Hiện nay, ở nước ta chỉ có 1 Luật Doanh nghiệp chung, nhưng lại có tới 3 cơ chế phân phối tiền lương khác nhau giữa các loại hình doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn một thành viên nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân. Cơ chế thương lượng, thoả thuận về tiền lương chưa đảm bảo đúng nguyên tắc thị trường và còn hình thức, vai trò công đoàn trong bảo vệ quyền lợi người lao động còn mờ nhạt, dẫn đến đình công tự phát có xu hướng gia tăng. Tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức rất thấp và thấp hơn khu vực sản xuất kinh doanh, chưa bảo đảm cho cán bộ, công chức, viên chức  sống chủ yếu bằng tiền lương; thu nhập ngoài lương lớn, là một trong những nguyên nhân của tiêu cực, tham nhũng; quan hệ tiền lương chưa hợp lý, các mức lương theo hệ số tiền lương gắn quá chặt với tiền lương tối thiểu chung; tiền lương chưa gắn thật chặt với vị trí, chức danh và hiệu quả công tác, chất lượng cung cấp dịch vụ công (lương của một tiến sỹ, một trưởng phòng nghiên cứu khoa học có thâm niên ngót 30 năm cũng chỉ bằng lương của một ôsin trong gia đình trung lưu hiện nay và thấp hơn lương trung bình của một lái xe taxi ở Hà
Nội; còn lương của một thợ may trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ đủ nuôi sống mình người đó ở mức kham khổ).  Thu nhập ngoài lương từ biếu xén, xin – cho, ăn chia, tạo sân sau… nhất là ở các ngành và vị trí gắn với con dấu và chữ ký đang có xu hướng gia tăng và gắn liền với tệ nạn tham nhũng, chạy chức chạy quyền rất công khai,  để lại các di hại hàng thế hệ… nữa, nếu như lương trong  mỗi công ty tư nhân thì ai biết của người đấy, còn mỗi lần nhà  nước tăng lương tối thiểu lại một lần tạo làn sóng tăng giá “đón đầu” và “ăn theo” diễn ra trên phạm vi toàn quốc và nhanh chóng tước đi những lợi ích danh nghĩa mà người nhận lương được hưởng từ tăng lương danh nghĩa này, khiến lương thực tế và mức sống thực tế thậm chí đôi khi lại kém đi so với thời điểm tiêu lương cũ…

(more…)

TẠI SAO NGƯỜI TA THÍCH DANH XƯNG?

NGUYỄN VĂN TUẤN

Đối với cuộc sống, người ta không thể lấy học hàm, học vị để trả lời câu hỏi: Tôi là ai? – CIVILLAWINFOR

Tôi khổ tâm nhất là chuyện danh xưng, hay phải nói đúng hơn là “vấn đề danh xưng”. Tôi thỉnh thoảng viết báo và không bao giờ sử dụng đến danh xưng, thế nhưng những người biên tập vẫn chêm vào những danh xưng trước tên tôi, làm tôi rất khổ với Ba tôi lúc sinh tiền. Ba tôi mỗi lần đọc được một bài báo với tên tôi tác giả và có kèm theo mấy chữ nhí nhố trước tên là ông nói xa nói gần rằng có người hám danh, thiếu tự tin, nên dùng đến những danh hiệu phù phiếm. Tôi biết Ba tôi nói ai, và tôi thấy mình oan lắm. Có nhiều người như tôi, không bao giờ dùng danh xưng trước tên mình, nhưng vì ban biên tập thêm vào để — nói theo họ — là tăng trọng lượng của bài báo! Tôi không hiểu tại sao ý kiến của một giáo sư hay tiến sĩ phải có trọng lượng hơn ý kiến của một người bán vé số? Thật là vô lí! Người khôn nói 100 điều cũng có ít nhất một điều dại dột, còn người dại dột nói 100 điều chắc cũng có ít nhất là 1 điều khôn. Ý kiến phải bình đẳng.

Nhưng trong thực tế thì ở Việt Nam, danh xưng đóng vai trò quan trọng, hay rất quan trọng. Có một lần, khi về làm việc ở một tỉnh thuộc vùng miền Tây, sau bài nói chuyện tôi được một vị cao tuổi ân cần trao cho một danh thiếp với dòng chữ tiếng Anh: “Senior Doctor Tran V. …”. Đây là lần đầu tiên tôi thấy một danh xưng như thế trong đời. Tìm hiểu một hồi tôi mới biết ông là một cựu quan chức cao cấp trong ngành y tế của thành phố (đã nghỉ hưu), nhưng vẫn còn giữ chức vụ gì đó trong một hiệp hội chuyên môn. Tôi nghĩ danh xưng “Senior Doctor” (có lẽ nên dịch là “Bác sĩ cao cấp” hay nôm na hơn là “Bác sĩ đàn anh”). Nhưng tại sao lại cần một danh xưng phân biệt “giai cấp” như thế? Tôi đoán có lẽ vị đồng nghiệp này muốn phân biệt mình với “đám” bác sĩ đàn em chăng?

Một lần khác, khi xem qua chương trình hội nghị tôi thấy ban tổ chức viết tên diễn giả bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Những người có danh xưng tiếng Việt ví dụ như “TS BS Trần Thị …” được dịch sang tiếng Anh là “Dr. Dr. Tran Thi …”. Tôi không khỏi cười thầm trong bụng vì chưa thấy nơi nào trên thế giới có cách viết lạ lùng như thế. Tôi sợ nhất là trong hội nghị có đồng nghiệp ngoại quốc mà họ đọc được cái danh xưng “Dr Dr” này chắc tôi tìm lỗ mà chui xuống không kịp quá! Tôi đề nghị cách viết “đơn giản” hơn là chỉ “Dr” thôi là đủ, nhưng cũng phải vài phút thảo luận người ta mới chịu đề nghị này!

Tôi vẫn còn giữ một danh thiếp khác với dòng chữ: “Dr Specialist II Nguyễn M”. Một anh bạn người Úc tôi có lần tình cờ thấy danh thiếp trên bàn nên thắc mắc hỏi tôi “Specialist II” là gì vậy. Lúc đó tôi cũng chẳng biết, nên đành nói: “I have no idea”, nhưng tôi nói thêm rằng tôi đoán đó là bác sĩ chuyên khoa gì cấp 2 gì đó. Anh bạn đồng nghiệp cười nói mỉa mai (rất dễ ghét) rằng: ước gì tao cũng được cấp II nhỉ?
Không nghi ngờ gì nữa: người Việt rất sính dang xưng. Những gì Dạ Lan viết đều đúng, nhưng … chưa đủ. Còn nhiều chuyện cười ra nước mắt về những nhầm lẫn về danh xưng (honorific), tước hiệu, và nghề nghiệp ở Việt Nam mà tôi từng chứng kiến trong các hội nghị. Nghe những lời giới thiệu dài lòng thòng như “Giáo sư, tiến sĩ, nhà giáo nhân dân, anh hùng lao động, bác sĩ Nguyễn Văn …” nó khôi hài làm sao!

Tôi vẫn tự hỏi tại sao người ta thích danh xưng trước tên mình? Kinh nghiệm của tôi, khi tiếp xúc với những người hay sử dụng danh xưng cho thấy họ thường dùng danh xưng với những động cơ sau đây:

(more…)

TRANH CÃI TỪ BIỂN ĐẢO: VIỆT NAM CẦN THẬN TRỌNG TRÊN MẶT TRẬN VĂN HÓA

Áo dài trong APEC LƯ QUANG VINH

Xem ra câu nói “nhập gia tùy tục” cũng biến thiên theo thời cuộc. Việc ăn mặc xưa nay được coi là một biểu tượng văn hóa của các quốc gia, thậm chí người ta còn nghĩ đến các cuộc bình chọn quốc phục đề tôn vinh bản sắc văn hóa riêng của quốc gia mình. Minh chứng cho điều đó là tại các kỳ hội nghị thượng đỉnh ASEAN, APEC,… nguyên thủ quốc gia các nước bao giờ cũng có một buổi ăn mặc “tùy tục” với đầy đủ các sắc màu của nước chủ nhà.

Tuy nhiên, trong lúc “dầu sôi lửa bỏng” này mà diễn viên Lã Thanh Huyền mặc áo xường xám dạo chơi trên đất nước Trung Quốc lập tức bị hàng vạn cư dân mạng trên các diễn đàn mở phản ánh gay gắt là điều không thể tránh khỏi. Thậm chí, có người còn lên tiếng đòi người đẹp này trả lại danh hiệu “Phụ nữ Thế kỷ 21”, tuy có phần hơi quá nhưng cũng dễ cảm thông cho họ. Song, nói gì đi nữa, Lã Thanh Huyền cũng chỉ là một cá thể trong một cộng đồng quốc gia nhiều dân tộc như Việt Nam chúng ta thì cũng không nên can thiếp quá sâu vào thị hiếu thẩm mỹ của riêng họ.

Theo thiển ý của tôi, trong thời điểm nhạy cảm giữa Việt Nam và Trung quốc hay khu vực biển đông hiện nay thì mặt trận văn hóa là điều hết sức cần được phát huy và tập trung bảo vệ. Trong các phương thức truyền thông, thì phương tiện truyền thông phát sóng có một lợi thế ưu việt của riêng nó. Trong đó, phương tiện truyền hình (báo hình) là một trong những phương thức thể hiện sự tối ưu đó của sức mạnh văn hóa đối với mưu đồ xâm lược.

Trước khi lên sóng truyền hình, các hình ảnh đã được sắp xếp theo một chủ đề nhất định. Được xây dựng trước theo một kịch bản nhất quán nên dễ cuốn hút khán giả nghe nhìn. Khi xây dựng kịch bản phim truyện truyền hình, các nhà biên kịch càng tối ưu hóa những hình ảnh này để thu hút khán giả nghe nhìn bằng các phân đoạn quay hình công phu và kỹ xảo hậu trường. Qua đó, ít nhiều các cung bậc tình cảm văn hóa địa phương của các quốc gia cũng được truyền tải và thẩm thấu vào khán giả nghe nhìn một cách thầm lặng và rất khó nhận diện để cưỡng lại. Điển hình là phong trào chiếu phim Hàn quốc rầm rộ vài năm trở lại đây đã tạo ra một làn sóng thời trang trong cách ăn mặc của thanh thiếu niên Việt Nam mà báo chí đã từng lên tiếng, hay các hành vi lệnh lạc do ảnh hưởng của các phim hành động,…

(more…)

VỤ ÁN “MY SÓI” NHÌN TỪ GÓC ĐỘ XÃ HỘI HỌC TỘI PHẠM: ĐỪNG VỘI QUY KẾT TRÁCH NHIỆM CHO NGÀNH GIÁO DỤC

LƯ QUANG VINH

Vụ án My “sói” tạm thời khép lại với tổng mức hình phạt lên đến 161 năm tù cho 8 bị cáo là một sự ray rứt không hề nhỏ cho toàn xã hội. Hệ quả của vụ án còn là tiếng chuông rè trong một hồi chuông dài các nổi đau của tội phạm vị thành niên. Vấn đề đặt ra là không chỉ người chưa thành niên phạm tội mà trong hầu hết các vụ án, bất kể đối tượng phạm tội có được học hành hay không người ta cũng quy kết trách nhiệm cho ngành giáo dục như một cách tốt nhất để chối bỏ trách nhiệm của chính mình vậy. Có chăng, chính những tiếng nói oang oang quy kết ấy lại là hành vi phản giáo dục, góp phần không nhỏ trong việc phát tán hay tô đậm hơn phương thức phạm tội cho các nhóm nguy cơ phạm tội khác noi theo mà thôi!

Trong khi hướng dẫn của Liên hiệp quốc về phòng ngừa tội phạm người chưa thành niên (gọi tắt là Hướng dẫn Riyadh) đã được thông qua năm 1990 chỉ rõ ra rằng các thành tố giáo dục bao gồm cả việc xem xét vai trò của gia đình, nhà trường và cộng đồng, các cơ quan thông tin đại chúng, chính sách xã hội, luật pháp và hệ thống tư pháp đối với đời sống người chưa thành niên (NCTN).

Công bằng mà nói, môi trường giáo dục hiểu một cách chỉnh thể phải bao gồm các thành tố nêu trên. Song, trong phạm vi thu hẹp “người chưa thành niên phạm tội” thì chúng ta cần chia tách từng thành tố để xem xét như môi trường, hoàn cảnh cụ thể để xác lập đúng trách nhiệm của từng thành tố trong nhóm giáo dục. Không phải ai vi phạm pháp luật đều do ngành giáo dục không làm tròn trách nhiệm mà không loại trừ các trường hợp người phạm tội chưa từng đi học, bỏ học do hoàn cảnh gia đình khó khăn hoặc bướng bỉnh vì quá đủ đầy,…

Một nghiên cứu của Bộ Công an chỉ ra nguyên nhân phạm tội của người chưa thành niên xuất phát từ gia đình: 49% NCTN phạm tội phàn nàn về cách cư xử của cha mẹ là không công bằng, áp đặt, ngược đãi, đánh đập,… Mặt khác, sự quá nuông chiều, thỏa mãn mọi nhu cầu con cái của cha mẹ cũng tạo nên thói quen dựa dẫm, không ý thức về trách nhiệm, luôn đòi hỏi được phục vụ, được hưởng thụ cũng là một tác nhân thúc đẩy trẻ phạm tội không kém.

Nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, Violence Against Women Fachtsheet No. 239) thực hiện ở Hoa Kỳ cho thấy bạo lực gia đình chống lại phụ nữ đồng thời cũng chất gánh nặng lên hệ thống các cơ quan tư pháp. Bởi lẽ pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xếp các hình thức bạo lực gia đình (ở phạm vi, mức độ khác nhau) là những hành vi vi phạm pháp luật và vì vậy, mỗi khi các hành vi bạo lực gia đình xảy ra, các cơ quan tư pháp sẽ phải điều tra, truy tố, xét xử. Đồng thời cũng chất gánh nặng lên hệ thống giáo dục. Bạo lực gia đình có thể gây ra cho học sinh – những nạn nhân trực tiếp hoặc phải chứng kiến cảnh người nhà là nạn nhân của bạo lực gia đình dẫn đến những rối loạn về tâm lý, sự sa sút trong học tập và tỷ lệ học sinh bỏ học vì lý do bạo lực gia đình là rất cao.

Qua đó cho thấy, nhà trường chỉ đóng vai trò nhất định trong việc giúp hoàn thiện các kỹ năng về ngôn ngữ, kiến thức cũng như các giá trị tinh thần cho những người được đến lớp trước một hệ thống giáo dục hành vi gồm các mắt xích như môi trường sống, nhân cách của cha me, ông bà, bạn bè, phương thức truyền thông, chính sách xã hội, luật pháp và hệ thống tư pháp đối với đời sống của NCTN.

(more…)

CÔNG HAY TƯ?

HUỲNH THẾ DU

Điểm khác nhau giữa thu nhập 30 triệu và thu nhập 3 triệu là gì? Nói chung, người có thu nhập 30 triệu biết chắc rằng giá trị gia tăng mà họ làm ra sẽ hơn 30 triệu đồng, còn khó có thể biết giá trị gia tăng của người có thu nhập 3 triệu cao hơn bao nhiêu so với thu nhập của họ.

Trong thời bao cấp, sẽ bị xem là có vấn đề nếu đặt câu hỏi nên chọn khu vực công hay khu vực tư để làm việc vì chỉ có kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể được công nhận chính thức. Hơn thế, mọi quyền lợi tiêu chuẩn đều gắn với một chỗ làm trong khu vực công. Làm việc trong khu vực công được đồng nhất với sự ổn định và có tương lai. Tư tưởng này hiện vẫn còn tồn tại ở một số người, nhất là những nơi mà các quan hệ thị trường chưa thực sự đi vào mọi ngóc ngách của cuộc sống. Tuy nhiên, theo thời gian, tư tưởng trên đã thay đổi ở rất nhiều. Hơn thế, hiện đang có không ít người (kể cả những người ở vị trí khá cao) rời Nhà nước để làm việc cho khu vực kinh doanh hay nhiều người sau khi học xong ở nước ngoài không muốn trở về nước làm việc.

Tại sao vậy?

Nhiều người lên tiếng chỉ trích những người bỏ công làm cho tư chỉ vì tiền, không vì cái chung và không có tinh thần yêu nước. Do vậy, giải pháp là cần phải tăng cường giáo dục tinh thần yêu nước và yêu nghề để con người bớt vị kỷ hơn. Ở đây có hai điều nên bàn về cách tiếp cận này.

Thứ nhất, khoa học hành vi chỉ ra rằng, vị kỷ thuộc về vấn đề bản chất của con người. Ai không vì lợi ích cá nhân, không ích kỷ thì người đó sẽ là thánh. Trên thực tế, số người được coi là thánh rất ít. Hầu hết mọi người khi đi làm chỉ mong muốn hai điều, đó là thu nhập cao và cơ hội thăng tiến. Nói rộng ra một chút là hầu hết mọi người tồn tại trên cõi đời này đều mong muốn có một cuộc sống sung túc và được xã hội công nhận hay tôn vinh. Việc lựa chọn hay quyết định làm việc ở đâu đó phụ thuộc vào công thức:

Việc làm = Thu nhập + Cơ hội thăng tiến

Điểm khác nhau giữa thu nhập 30 triệu và thu nhập 3 triệu là gì? Nói chung, người có thu nhập 30 triệu biết chắc rằng giá trị gia tăng mà họ làm ra sẽ hơn 30 triệu đồng, còn khó có thể biết giá trị gia tăng của người có thu nhập 3 triệu cao hơn bao nhiêu so với thu nhập của họ.

(more…)

SAO CỨ KIỆN VÒNG VO

GS.TS. NGUYỄN VÂN NAM

Tối nay đi uống cà fê hả?“ tôi rủ người bạn luật sư và bị từ chối ngay: “Chịu thôi, trời mưa đường ngập, lỡ sụp hố là tiêu đời ông ơi”. “Dũng cảm lên, sụp hố thì ông kiện làm gương đi”. “Còn lâu mới tìm ra mấy công ty làm cống thì kiện thế nào được”. Sao lại kiện công ty? Tôi hỏi và bị hỏi vặn: Chứ kiện ai?

Ai cũng từng nghe “Nhà vua không bao giờ sai” . Không phải vì Vua là thiên tài, hiểu biết tất cả, mà chỉ đơn giản vì đó là Vua. Nhà Vua ban hành luật lệ, nhưng không bị ràng buộc hay hạn chế bởi luật lệ. Chế độ quân chủ được thay thế bởi chế độ cộng hòa. Thoạt đầu, Nhà nước thay thế vị trí của Vua và cũng không bao giờ sai, vì hiển nhiên Nhà nước không thể sai. Chỉ có nhân viên Nhà nước làm sai mà thôi.

Cùng với sự hình thành Nhà nước pháp quyền là sự xuất hiện ý thức, triết lý pháp lý mới. Bản chất Nhà nước pháp quyền là sự ràng buộc Nhà nước và việc sử dụng quyền lực Nhà nước bằng pháp luật. Như vậy Nhà nước có thể sai, có thể vi phạm pháp luật. Theo nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước phải chịu hoàn toàn trách nhiệm- kể cả trách nhiệm bồi thường thiệt hại-đối với những hành vi vi phạm pháp luật của mình như mọi thành viên khác trong xã hội.

Điều 2 Hiến pháp 1992 của nước CHXHCN Việt nam (sửa đổi năm 2001), nêu rõ Nhà nước là của dân, do dân, vì dân, toàn bộ quyền lực Nhà nước là của dân. Chính điều này xác định rõ quan hệ giữa Nhà nước với người dân (công dân). Người dân trao quyền lực Nhà nước cho 03 cơ quan hiến định là Quốc hội, Chính phủ và Tư pháp sử dụng. Vì vậy, các cơ quan này phải chịu trách nhiệm trực tiếp với người dân về việc sử dụng quyền lực Nhà nước đúng mục đích vì dân, trên cơ sở và trong khuôn khổ pháp luật.

Cùng với sự phát triển quan niệm về quyền lực Nhà nước, người ta cũng chứng kiến sự thay đổi quan niệm về người phải chịu trách nhiệm khi sử dụng sai quyền lực công. Trước kia, công chức nào nào làm sai, người đó phải chịu trách nhiệm, vì Nhà nước không thể sai. (Chẳng hạn như Luật nước Phổ – nước Đức xưa – năm 1794 qui định). Ngày nay, khi quyền lực Nhà nước bị sử dụng sai, người chịu trách nhiệm là người trực tiếp nhận quyền lực ấy từ người dân: 03 cơ quan hiến định. Trên nguyên tắc, ngay cả khi cá nhân công chức làm sai thì Nhà nước cũng phải là người chịu trách nhiệm, vì công chức chỉ là người được Nhà nước ủy quyền thực hiện quyền lực Nhà nước cho những trường hợp cụ thể. Trong ý nghĩa pháp lý, điều đó có nghĩa là người dân có thể và trước tiên cần khởi kiện trực tiếp Chính phủ khi Chính phủ không hoàn thành nhiệm vụ của mình.

Trong Nhà nước pháp quyền, quyền lực được trao là để hoàn thành những nhiệm vụ xác định. Người dân trao cho 3 cơ quan hiến định (Quốc hội, Chính phủ, Tòa án) quyền lực Nhà nước là để hoàn thành những nhiệm vụ vì dân được qui định trong Hiến pháp (những nhiệm vụ cơ bản chung), trong đó có nhiệm vụ bảo đảm an ninh trật tự công cộng, bảo đảm các điều kiện sống tối thiểu …Điều 3 Hiến pháp CHXHCNVN còn qui định nhiệm vụ cao hơn thế cho Nhà nước: Nhà nước phải đảm bảo thực hiện mục tiêu cho „mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện…“. Các cơ quan hiến định phải trực tiếp chịu trách nhiệm trước dân khi không hoàn thành những nhiệm vụ cơ bản chung này.

(more…)

CỦA 1%, DO 1% VÀ VÌ 1%

JOSEPH E. STIGLITZ  – Người dịch: BÙI ĐẠI DŨNG

Người Mỹ đã và đang chứng kiến những phản kháng [ở các nước như Ai Cập, Libya, …] chống lại sự áp đặt của chính quyền nhằm thâu tóm một khối lượng lớn của cải vào tay một nhóm ít người. Tuy nhiên trong bản thân xã hội dân chủ của Mỹ, gần một phần tư tổng thu nhập quốc dân tập trung vào tay của 1% dân số – tình trạng bất bình đẳng tới mức ngay cả những người giàu cũng có lý do để lo ngại.

Thật vô ích nếu cứ giả vờ rằng điều đã hiển nhiên xảy ra là còn chưa thật xảy ra. Nhóm thượng lưu 1% dân số của Mỹ hiện đã chiếm hữu gần một phần tư tổng thu nhập quốc dân hằng năm của nước Mỹ. Về mặt tài sản thì nhóm ấy sở hữu 40%. Thu nhập và tài sản của họ thời gian vừa qua đã tăng lên đáng kể. Hai mươi lăm năm trước đây, phần thu nhập của họ mới là 12% và tài sản là 33%. Có thể có lời giải thích tán dương về tài năng và cơ may của những người này và cho rằng triều lên thì mọi con thuyền đều được nâng lên (nước nổi thì bèo nổi). Cách giải thích này có thể là lầm lẫn. Khi mà thu nhập của nhóm 1% giàu nhất tăng thêm 18% trong thập kỷ vừa qua thì thu nhập của nhóm trung lưu lại giảm. Đối với những người chỉ có bằng trung học, mức suy giảm này rất tệ hại: giảm 12 % trong riêng một phần tư cuối của thế kỷ vừa qua. Tất cả tăng trưởng trong những thập kỷ gần đây và có thể cả trước đó nữa đều tập trung vào tay của nhóm thượng lưu. Về bất bình đẳng thu nhập, Mỹ còn tệ hơn bất cứ quốc gia nào thuộc châu Âu già cỗi mà Tổng thống George W. Bush thường chế giễu. Đồng hành gần gũi nhất với Mỹ về mặt này còn có Nga và Iran. Trong khi những nơi có truyền thống về bất bình đẳng ở Mỹ-Latinh như Brazil đã nỗ lực trong nhiều năm và khá thành công trong việc cải thiện hoàn cảnh khốn khổ của người nghèo và giảm bớt khoảng cách về thu nhập thì Mỹ lại cho phép sự bất bình đẳng tăng lên.

Biện minh và thực trạng

Các nhà kinh tế từ lâu đã cố gắng biện minh cho tình trạng bất bình đẳng nghiêm trọng với nhiều vấn đề tồi tệ thời kỳ giữa thế kỷ 19 – mức độ bất bình đẳng của thời kỳ đó chưa thấm vào đâu so với mức độ bất bình đẳng mà chúng ta đang thấy ở Mỹ hiện nay. Lý lẽ họ đưa ra để biện minh cho tình trạng này được gọi là “lý thuyết năng suất cận biên” (marginal productivity theory). Điểm cốt lõi của lý thuyết này là mối quan hệ giữa mức thu nhập cao với mức năng suất cao và đóng góp lớn cho xã hội. Đây là một lý thuyết luôn được người giàu yêu thích. Tuy nhiên, bằng chứng của lý thuyết này rất mong manh. Giới quản lý công ty, những người góp phần đem lại sự suy thoái trong ba thập kỷ qua với những đóng góp tiêu cực lớn lao cho xã hội chúng ta và cho công ty của họ vẫn tiếp tục nhận được những khoản tiền thưởng kếch xù. Trong một số trường hợp, các công ty xấu hổ khi gọi những khoản tiền đó là “tiền thưởng thực thi nhiệm vụ” mà thực ra họ cảm thấy cần phải đổi tên gọi ấy thành “tiền thưởng giữ chân” (thậm chí cái duy nhất giữ lại được chỉ là sự thực thi nhiệm vụ kém cỏi). Những người đã có những sáng tạo lớn lao và tích cực cho xã hội chúng ta, từ những người tiên phong trong nghiên cứu về gene di truyền cho đến những người tiên phong trong tin học thì chỉ nhận được khoản thù lao rẻ mạt so với những người chịu trách nhiệm về các sáng kiến tài chính trong khi những sáng kiến ấy đã đưa nền kinh tế toàn cầu tới miệng vực thảm họa.

Những người đã có những sáng tạo lớn lao và tích cực cho xã hội chúng ta, từ những người tiên phong trong nghiên cứu về gene di truyền cho đến những người tiên phong trong tin học thì chỉ nhận được khoản thù lao rẻ mạt so với những người chịu trách nhiệm về các sáng kiến tài chính trong khi những sáng kiến ấy đã đưa nền kinh tế toàn cầu tới miệng vực thảm họa.

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 515 other followers

%d bloggers like this: