NHÂN NGÀY 20/11: MỘT CÁCH LÝ GIẢI VỀ SỰ HỌC VÀ TÌNH THẦY TRÒ

LẠI NGUYÊN ÂN

Lâu nay trong xã hội ta, nhất là trong đời sống ở các đô thị, đề tài về sự ứng phó với giới nhà giáo không còn chỉ là chuyện của học sinh sinh viên mà đã thành mối bận tâm thường trực của các bậc cha mẹ, của toàn xã hội. Những gương giáo viên tận tụy với nghề thì vẫn có, song, những lời kêu ca từ cha mẹ học sinh về những khoản đóng góp có tên và không tên cho nhà trường và thầy cô, những tin tức về mua điểm, về chạy lớp chạy trường, v.v…lại nổi trội hơn. Lương giáo viên nhìn chung vẫn thấp nhưng không ít thầy cô đã giàu hẳn lên, nhờ những nguồn thu ngoài lương như luyện thi hoặc tham gia các vụ chạy điểm chạy trường chạy lớp…

Trong mắt người dân, nhất là dân đô thị, nghề giáo viên từ chỗ là nghề  “ốm  đói”, “lương ba cọc ba đồng”, trở nên nghề dễ kiếm tiền, và do đó trở nên nghề cao giá hơn trước, nhưng trong cư dân cũng thấy giảm dần niềm tin vào tính mô phạm, vào đức độ của giới nhà giáo; khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” thường gặp nơi khuôn viên các trường học, đang lộ ra những nét mỉa mai…

Vậy thì nên nghĩ thế nào về người thầy, về nghề giáo viên? về quan hệ thầy trò trong đời sống hiện tại?

Tôi muốn nêu lại một sự lý giải − mà theo tôi rất đặc sắc tuy không dễ nghe − về sự học và về điều vẫn được gọi là “tình thầy trò” trong xã hội.

Sự lý giải này là của Phan Khôi (1887-1959), một tác gia vốn nổi tiếng về sự thẳng thắn, “thiết diện vô tư” trong ngôn luận.

Quan hệ thầy trò nảy sinh là do ở xã hội con người nảy sinh sự học, − tức là hoạt động   tiếp nhận, đào luyện tri thức và kỹ năng; “sự học” trong ý niệm của các lớp người trước  còn mang nghĩa rộng hơn, trỏ hoạt động học thuật, tức là hoạt động nghiên cứu, phát minh, sáng chế, bổ sung và làm giàu các nguồn tri thức và kỹ năng.

Continue reading

TẢN MẠN VỀ LẬP LUẬN

GS.TS. NGUYỄN ĐỨC DÂN

Một nguyên lý sư phạm cho nền giáo dục tiên tiến: cấp cần câu chứ không cho cá. Cái cần câu cấp cho người học là phương pháp độc lập tư duy, đánh giá, phát hiện và giải quyết vấn đề. Trước hết, đó là phương pháp tư duy phản biện mà cốt lõi là lý thuyết lập luận. Khi có thói quen tư duy phản biện, hiện tượng được nhìn nhận, đào sâu tới gốc rễ của nó. Hơn ai hết, giới nghị sĩ phải rèn luyện về lập luận.

Lập luận là gì?

Xuất phát từ tiền đề (những sự kiện, chân lý được mọi người thừa nhận), dựa trên những lý lẽ chúng ta đi tới những kết luận – đó là lập luận. Có hai loại lập luận: lập luận để chứng minh một chân lý và lập luận để thuyết phục.

Loại lập luận thứ nhất thuộc lôgích hình thức. Đó là toán chứng minh trong hình học, đại số, vật lý, hoá học… dạy trong trường học. Lý lẽ trong loại này là những định lý, định luật, quy tắc… đã biết.

Trong đời thường còn có loại lập luận để thuyết phục, tạo niềm tin, nói sao cốt để người nghe thấy “lọt lỗ tai” rồi tin theo điều mình nói hoặc từ bỏ những xác tín cũ. Lý lẽ chủ yếu ở loại lập luận này là những lôgích đời thường: “ở hiền gặp lành” là lý lẽ về quan hệ nhân quả, “trời kêu ai người ấy dạ” là lý lẽ về số mạng, “con nhà tông không giống lông cũng giống cánh” là lý lẽ về dòng dõi. Đó là những lẽ thường hay lý lẽ “hiển nhiên là thế”. Loại lập luận này thuộc lôgích phi hình thức. Ở đây lý lẽ có tầm quan trọng hàng đầu. Chất vấn, trả lời, tranh luận trước Quốc hội là những lập luận để thuyết phục.

Lý lẽ trong lập luận

Những kết luận không chứng minh, không có lý lẽ là loại lập luận quyền uy chẳng thuyết phục được ai. Tiếc thay, loại này thường thấy trong diễn đàn Quốc hội.

“Chân lý thuộc về số đông” là loại lý lẽ về số lượng. Nó loại trừ lý lẽ “ta làm theo cách của ta”. Dùng lý lẽ này, GS Hoàng Tuỵ viết: “Yếu kém nhất của nền giáo dục đại học Việt Nam hiện nay là đi lạc con đường chung của thế giới đang đi. Lạc hậu còn có thể khắc phục được nhưng lạc đường thì mãi mãi khó đuổi kịp các nước” (Sài Gòn Tiếp Thị, 14.10.2011).

Continue reading

PHẬN ĐÀN BÀ NGÀY NAY

 BS. NGUYỄN KHẮC VIỆT

Sinh thời, ngoài những vấn đề liên quan đến lịch sử, văn hoá, giáo dục…Đời sống phụ nữ và trẻ em cũng là chủ đề được nhà văn hoá lớn, BS. Nguyễn Khắc Viện đặc biệt quan tâm và dành nhiều tâm huyết. Nhờ tấm lòng nhân ái bao la, vốn kiến thức khoa học xã hội, tâm lý…uyên bác và phong phú, dẫu trải qua nhiều thời gian, không ít bài viết của BS. Nguyễn Khắc Viện cho đến nay vẫn còn mang tính thời sự. Bài Phận đàn bà ngày nay được BS. Nguyễn Khắc Viện viết từ thập kỷ 60, thế kỷ trước là một thí dụ điển hình.

                         Đau đớn thay phận đàn bà
                                                                  Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung

                                                   (Kiều – Nguyễn Du)

Thế nào là phận? Phận đàn ông, phận đàn bà, phận làm con, làm tôi, làm vua; đó là cái phận mà cuộc sống trong xã hội dành cho mỗi người. Có thân phận, bổn phận, danh phận, chức phận, phận sang, phận hèn, và nếu có ngẫu nhiên chen vào là số phận.

Phải chăng Nguyễn Du đã đúc kết với hai câu thơ cái phận khổ đau của đàn bà trong xã hội cũ, của mọi người phụ nữ xưa? Cái phận đàn bà xưa là phận của một con người suốt đời là vị thành niên, làm con, làm vợ, làm mẹ để phục vụ cha, chồng, con. Mà không riêng gì ở các nước phương Đông hay Nho giáo; ở Đức ngày xưa người ta cũng chỉ giao phó cho đàn bà ba nhiệm vụ, với khẩu hiệu 3k đó là: Kinder (con), Kuche (bếp) và Kirche (nhà thờ). Không có phận làm công dân, giữa làng, giữa nước. Đàn bà cũng không được làm linh mục, giáo hoàng.

Tôi không bàn đến cái khổ cực của người đàn bà nhà nghèo chịu hai tầng áp bức bóc lột; người đàn bà trung lưu con nhà khá giả, như cô Kiều, cô Vân thì sao? Kiều thì khổ, Vân thì không. Vân rất an phận làm người đàn bà, cả một nền giáo dục, lễ nghi tín ngưỡng đã tạo cho Vân một tâm lý an phận, gặp được bố mẹ nhân từ, chồng thành đạt, con ngoan là thoả mãn không ước mơ gì hơn.

Vì Vân không có tài như Kiều, chắc học hành cũng không được bao nhiêu. Xã hội cũ phân chia phần, xếp ghế đâu đấy cho mỗi người, ai chấp nhận cái tôn ti trật tự ấy là sống yên ổn, không dằn vặt, trăn trở. Chỉ có những người đàn bà có học, có tài mới khổ, mà phải thốt lên

Thân này giả sử làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu?

(Hồ Xuân Hương)

Continue reading

BÀN THÊM VỀ MỐI QUAN HỆ VĂN HÓA VÀ VĂN MINH

PGS.TS. BÙI ĐÌNH PHONG

Sự phát triển của một quốc gia ở bất kỳ thời đại nào đều có dấu ấn khai sáng của văn hóa. Không phải văn minh, mà chính văn hóa mới thật sự là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội; là sức mạnh nội sinh, nguồn lực xã hội to lớn. Văn hóa thấm sâu vào quá trình phát triển, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội.

Ở phương Đông, từ “văn hóa” đã có trong đời sống ngôn ngữ khá sớm. Người sử dụng từ “văn hóa” sớm nhất có lẽ là Lưu Hướng (năm 776 tr. CN), thời Tây Hán với nghĩa như một phương thức giáo hóa con người, đối lập với vũ lực. Phương Đông bàn về văn hóa nghiêng về cái đẹp, cái giá trị (văn là vẻ đẹp, hóa là trở thành): những gì trở thành cái đẹp, cái giá trị, cái nhân bản là văn hóa. Còn từ “văn minh” được hiểu văn là cái đẹp, minh là sáng, chỉ tia sáng của đạo đức, biểu hiện ở chính trị, pháp luật, văn học, nghệ thuật.

Ở phương Tây, từ “văn hóa” xuất phát từ gốc latinh là chữ cultus animi là trồng trọt tinh thần (tiếng Anh, Pháp là culture). Theo đó, văn hóa được hiểu với hai khía cạnh: thích ứng, khai thác tự nhiên và giáo dục, đào tạo cá nhân hay cộng đồng để họ xa rời trạng thái nguyên sơ, không còn là con vật tự nhiên và có được những phẩm chất tốt đẹp. Còn từ “văn minh” có từ căn gốc la tinh là civitas  (tiếng Anh, Pháp là civilisation) với nghĩa gốc là đô thị, thành phố và các nghĩa phái sinh là thị dân, công dân. Nói chung khái niệm văn minh có nhiều cách hiểu, chẳng hạn để chỉ sự sáng tạo văn hóa hoặc theo nghĩa tổ chức xã  hội bởi các biện pháp kỹ thuật cải thiện, xếp đặt hợp lý tiện lợi cho cuộc sống của con người. Theo F.Ăngghen, văn minh là chính trị khoanh văn hóa lại và sợi dây liên kết văn minh là Nhà nước.

Tuy vậy, việc xác định và sử dụng các khái niệm văn hóa, văn minh không đơn giản. Vẫn còn sự lẫn lộn hoặc sử dụng đồng nghĩa hai thuật ngữ để chỉ toàn bộ sự sáng tạo và các tập quán tinh thần và vật chất riêng cho các tập đoàn người. Riêng thuật ngữ văn hóa, các nhà nhân loại học thế kỷ XIX sử dụng gần như khái niệm văn minh, theo đó văn hóa được hiểu theo tiêu chuẩn trí lực, có văn hóa từ trình độ thấp nhất đến cao nhất. ở thế kỷ XX, văn hóa không xét ở mức độ thấp cao mà ở góc độ khác biệt. Cũng có quan điểm cho rằng “văn hóa là một quan hệ. Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại. Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân khác”.

Continue reading

TẬP TỤC TRINH TIẾT: CHỮ TRINH KIA CŨNG CÓ BA BẢY ĐƯỜNG

 PHAN CẨM THƯỢNG

Năm 2013, vẫn có những đại gia dù đã qua nhiều đời vợ, vẫn tuyên bố chỉ lấy “gái trinh”, đủ để thấy sự ám ảnh của hai chữ “trinh tiết” lên đời sống của người Việt như thế nào.

Khi khảo sát đời sống của các sắc tộc trong nước, tôi (Phan Cẩm Thượng) nhận thấy dường như chỉ có người Kinh (Việt) trong khoảng 500 năm qua đề cập nhiều đến vấn đề trinh tiết của người phụ nữ. Các sắc tộc khác không có những quy định ngặt nghèo về chuyện này. Họ có những tập quán khác để giữ gìn bản sắc và đời sống gia đình tốt đẹp, và quan trọng nhất là đời sống sau lễ thành hôn, hầu như không có gia đình nào sứt mẻ cả, chuyện ngoại tình và ly hôn cũng vô cùng hiếm hoi. Điều này còn kéo dài đến những năm 1980, và ngày nay đương nhiên có thay đổi.

Việc nêu cao đức hạnh người phụ nữ ở đâu cũng thế thôi, nhưng trở thành lý thuyết, quy chế có lẽ chủ yếu bởi Nho giáo, với các yêu cầu về thân phận của từng giai tầng trong xã hội. Những sắc tộc không du nhập Nho giáo có quan niệm khác, đời sống cởi mở và chặt chẽ theo chiều hướng khác, ví dụ các tộc người Thái (bao gồm cả người Thái Lan, Lào, người Thái Việt Nam, người Lự, người Tày, Nùng… những tộc nói tiếng Thái – Tày), các sắc tộc Tây Nguyên không biết đến Tam giáo Nho Lão Phật. Chúng tôi từng nói chuyện với các già làng người Cơ Tu, họ nói rằng trước 1975, ở đây không có tôn giáo, hay bất cứ đạo nào, ngoài tín ngưỡng bản địa sơ khai, đời sống đó không vì thế mà kém văn minh hơn chỗ khác.

Đọc trong lịch sử, vấn đề trinh tiết cũng rất ít được đề cập ở xã hội thời Lý Trần, ngay cả vấn đề chính thất và thứ thất (vợ cả và vợ lẽ) cũng rất lơ mơ. Ví dụ như vua Đinh Tiên Hoàng lập tới bốn bà hoàng hậu. Cho đến tận thế kỷ 17, khi vua Lê Thần Tông lập bà Trịnh Thị Ngọc Trúc làm chính cung hoàng hậu, trước đó bà đã từng có chồng và bốn con, thì cũng là điều vượt ra khỏi các quy ước xã hội. Có thể coi những quy chế và tập tục về thân phận người phụ nữ có từ thời Lê sơ thế kỷ 15 khi Nho giáo có địa vị độc tôn trong tư tưởng thời đại. Cuốn sáchThọ Mai gia lễ được biên soạn trong thế kỷ 17 – 18, dựa theo Chu Công gia lễ bên Tầu, chứng tỏ các quy chế chính thức về tang ma, hôn nhân du nhập vào làng xã cũng khá muộn.

Continue reading

ĐẠO LUẬT VÀ ĐẠO LÝ

TRẦN XUÂN HOÀI

Hiến pháp là đạo luật gốc của xã hội vì vậy khi xây dựng Hiến pháp phải lấy Đạo lý làm tiêu chí khởi thủy. Đạo lý không phải và không thể là ý chí của một người, một nhóm người, một tổ chức. Nó phải được toàn nhân loại thừa nhận. Đó là đạo lý phổ quát.

Luật pháp là chuyện trọng đại hàng đầu của một nhà nước. Chỉ riêng thuật ngữ thôi cũng đã phải cân nhắc kỹ lưỡng. Các sinh viên luật trẻ tuổi đang tranh luận kịch liệt về phân biệt thuật ngữ "luật", "bộ luật" và "đạo luật". Điều này xin dành cho các vị hàn lâm áo mão cũng như các cây đa cây đề về luật pháp trả lời cho các bạn trẻ, và cũng là để các vị tự vấn mình.
Tìm trong tiếng Việt, có hai thứ văn bản được gọi là “Đạo”. Thứ nhất là Đạo sắc phong của vua. Ví như bản hiệu “Tiết hạnh khả phong” vua ban cho bà góa trẻ thờ chồng trọn đời. Cái thứ hai là Đạo luật. Chữ “Đạo” ở cả hai trường hợp cùng một ý, có lẽ xuất phát từ chữ Đạo(*), gốc Hán-Việt là cờ tiết, biển hiệu nhà vua. Chắc các cụ nhà ta ngày xưa ghép từ gốc Hán tạo ra hai thứ văn bản có chữ Đạo này với ý cái văn bản nào được vua ban, thì gọi là đạo. Như vậy, đạo luật phải chăng là hàm ý của vua ban luật cho dân. Điều suy đoán đó có thể đúng, có thể sai. Nhưng trên thực tế thì cung cách làm luật, tư duy làm luật, cách thảo luận và thông qua luật của nước ta ngày nay vẫn mang đậm dấu ấn của việc ban cho dân cái luật. Nói khác đi, luật là để cho đối tượng bị luật điều chỉnh chấp hành, còn người thảo ra và thi hành luật đó thì không thể bị ràng buộc. Chỉ lấy một thí dụ nhỏ, luật đã soạn ra, được thông qua rồi, mà còn phải chờ thông tư, nghị định mới thi hành được là một kiểu ban luật như vậy.. Đọc văn bản luật giấy trắng mực đen rồi nhưng hiểu luật thế nào, giải thích thế nào… thì không được phép, nếu không có văn bản dưới luật của bên thực thi luật ban hành.. Chưa nói đến việc thực thi hay không, thực thi thế nào, có đúng luật hay không là hoàn toàn tùy thuộc vào bên thực thi luật, cho thế nào dân được thế ấy.
Chẳng hạn đã có phán quyết về việc người dân phạm “tội lợi dụng sơ hở của pháp luật để…”. Rõ ràng phải xử người tạo ra sơ hở của pháp luật, sao lại xử người sử dụng nó!

Continue reading

“ĐỪNG NGHĨ LÀ DÂN KHÔNG BIẾT GÌ”

Nhà văn. NGUYỄN KHẮC PHỤC

Trên diễn đàn Quốc hội vừa qua, người dân được nghe không ít đại biểu nói đến hai từ  “Kiểm soát quyền lực” và “độc lập” – hai từ không mới, đã có sẵn trong ngôn ngữ dân tộc ta từ lâu, nhưng tại diễn đàn Quốc hội, trong thời điểm hiện nay, điều đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Nói như thế, vì cơ quan quyền lực cao nhất  nước lại đặt vấn đề “kiểm soát quyền lực”, chứng tỏ sự lạm quyền, độc quyền trong nhiều lĩnh vực thời gian qua là rất nghiêm trọng và cơ chế giám sát quyền lực chúng ta đang áp dụng không hiệu quả. Không cần phải chứng minh dài dòng, chỉ riêng tình trạng tham nhũng với bao nhiêu là tuyên bố và nghị quyết mạnh mẽ vẫn như là bệnh ung thư di căn, đã là bằng chứng hiển nhiên. Việc đòi hỏi sự “độc lập” của một số tổ chức (như cơ quan chống tham nhũng, kiểm toán…) cũng chứng tỏ sự minh bạch, công bằng, tránh mọi sức ép của mọi thế lực và “lợi ích phe nhóm” của những cơ quan làm nhiệm vụ “cán cân công lý” đã bị vi phạm nghiêm trọng. Những con số “khủng” thua lỗ của các tập đoàn, việc khiếu kiện đất đai kéo dài và vượt cấp là sự thật chứng minh cơ chế – cần nói rõ hơn là cách thức tổ chức, bố trí con người làm nhiệm vụ kiểm soát quyền lực – mà chúng ta thực hiện lâu nay không thích hợp.

Như vậy, vấn đề đặt ra đã rõ như ban ngày: Phải thay đổi cơ chế “kiểm soát quyền lực”. Chúng ta đều biết, ở bất cứ chế độ nào, quyền lực nếu không được kiểm soát, ắt sẽ dẫn đến lạm quyền và tha hóa. Nhân loại, qua đấu tranh và đúc rút kinh nghiệm hàng ngàn năm, đã xây dựng “cơ chế” kiểm soát quyền lực, có thể chưa hẳn là tối ưu, nhưng đã góp phần quan trọng hạn chế, ngăn chặn sự lạm quyền. Còn chúng ta thì chắc là đang đi tìm một “cơ chế” ưu việt hơn và đang thử nghiệm, những tiếc rằng chưa thành công!

Hẳn là đã nhận thức được điều đó, đại biểu Trần Đình Nhã, Phó Chủ nhiệm ủy ban Quốc phòng  – An ninh Quốc hội, trong ý kiến phát biểu khi thảo luận về nội dung bản Hiến pháp sửa đổi, đã nói: “Đảng ta đã đặc biệt nhấn mạnh nguyên lý quyền lực phải được kiểm soát, phải dùng quyền lực để kiểm soát quyền lực. Đáng tiếc là trong dự thảo sửa đổi Híến pháp 1992 nguyên lý trên chưa được triển khai mạnh mẽ.”… Ông đề nghị Hiến pháp cần bổ sung công cụ, thiết chế độc lập giúp Quốc hội thực hiện chức năng giám sát mà thực chất là kiểm soát quyền lực.” (Theo “Tuổi trẻ” ngày 17-11).

Continue reading

KHỦNG HOẢNG NHÂN VĂN?

Khủng hoảng kinh tế có thể đánh mất một nhiệm kỳ, khủng hoảng nhân văn có thể đánh mất rất nhiều thế hệ – Civillawinfor

ĐOÀN ĐẠT

Chỉ trong một thời gian rất ngắn, dư luận liên tiếp rung động vì rải rác trên khắp cả nước đã diễn ra hàng loạt vụ cướp bóc thảm sát man rợ. Nếu không tính riêng lẻ từng vụ án mà gộp chung lại, các vụ thảm sát ấy có thể chẳng kém gì những vụ xả súng giết người hàng loạt ở nước Mỹ. Điều gì đang ngấm ngầm diễn ra?

Dậy giặc cướp

Chưa hết bàng hoàng vì những vụ chặt tay cướp xe, cướp điện thoại, người dân lại kinh hoảng vì mức độ tàn bạo của các vụ cướp đã được đẩy lên ở mức cắt cổ, đập đầu đến chết toàn bộ thành viên của một gia đình thuần lương… Sự bất an của người dân cả nước dường như đã lên đến đỉnh điểm, ai cũng nơm nớp lo sợ khi đi ra đường buổi tối.

Qua hàng loạt vụ án từ TP.HCM đến Bình Dương, Gia Lai, Hà Nội, Thái Bình… người ta có thể lấy ra một mẫu số chung: các tên tội phạm mới này không liên kết thành băng đảng, và các vụ án không được thực hiện bởi những tên tướng cướp hay những tội phạm chuyên nghiệp như thời trước, mà hầu hết là do bột phát; nhưng với thủ đoạn vô cùng tàn độc, mất hẳn nhân tính… Một điểm chung nữa giữa nhiều vụ án gần đây là kẻ thủ ác thường lạm dụng lòng tin yêu của nạn nhân để gây tội. Trong vụ án ở TP.HCM và Thái Bình, hung thủ đã giết chết người yêu và cả gia đình của người tình. Còn trong vụ thảm sát ở Gia Lai, một trong hai thủ phạm chính là con nuôi một người thân trong gia đình bị hại.

Do khủng hoảng kinh tế?

Vụ án dùng chân tủ đánh chết cả nhà người bạn gái mới quen của kẻ thủ ác Lê Thanh Đại ở Thái Bình có nét gợi nhớ đến một vụ án nổi tiếng trên văn đàn thế giới, vụ chàng sinh viên Raskolnikov giết chết hai chị em bà già cho vay nặng lãi trong tác phẩm Tội ác và hình phạt. Bối cảnh để văn hào Dostoievski lấy chất liệu viết nên tiểu thuyết đó, theo các nhà phân tích, chính là những điều kiện kinh hoàng của cuộc khủng kinh tế tiền tệ của Nga vào năm 1865. Trong tác phẩm, giải thích về nguyên nhân sa đoạ của “một bộ phận văn minh nhất của chúng ta”, một nhân vật đã nói: “Đó là do những thay đổi về kinh tế”.

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT: TIỆC CƯỚI PHẢI TRÌNH GIẤY CHỨNG NHẬN KẾT HÔN = vô lý?

Việt Nam đang kêu gọi thế giới công nhận là nước có nền kinh tế thị trường, nhưng cách quản lý xã hội của chúng ta dường như đang đi ngược lại cái mà chúng ta mong muốn thế giới công nhận – Civillawinfor.

VŨ TÙNG

"Nhà hàng chỉ tổ chức tiệc cưới khi có giấy đăng ký kết hôn" – một tiêu chuẩn “tréo ngoe” vừa được Sở VH-TT&DL TP.HCM đưa ra lấy ý kiến vào ngày 1/12, khiến người dân, doanh nghiệp, chuyên gia pháp luật phải thốt lên: quy định “trời ơi”!

“Cưới là cưới, kết hôn là kết hôn”

Đem cái tạm gọi là “dự thảo tiêu chuẩn cưới” trò chuyện với Thu Vân (quận 4, TP.HCM), cô bạn sắp làm đám cưới, cô thốt lên với vẻ đầy kinh ngạc: “Có vụ này nữa hả? Hôm bọn mình đi đặt tiệc ở nhà hàng có thấy đòi hỏi giấy tờ gì đâu. Mà có đòi thì bọn mình cũng đã lấy được giấy đăng ký kết hôn đâu mà trình chứ”. Tôi vờ hỏi: “Phải có giấy đăng ký kết hôn rồi mới làm đám cưới chứ?”. Cô bạn trợn mắt nhìn tôi như thể “người trên trời rơi xuống”: “Ủa, chuyện bọn tôi có đăng ký kết hôn hay không là chuyện riêng của chúng tôi. Tiệc cưới là tiệc cưới! Là dịp chúng tôi ra mắt gia đình họ hàng, bạn bè, đồng nghiệp… Còn chuyện đăng ký kết hôn là chuyện hoàn toàn khác, luật có bắt chúng tôi làm đám cưới thì phải đăng ký kết hôn trước đâu?”.

Cũng với “đề tài” này, anh Hoàng Ngọc (nhà ở quận 7, TP.HCM), vừa nghe qua đã phì cười, bảo: “Chuyện này nghe chẳng khác gì chuyện ngày trước một số nơi quy định bắt các đôi nam nữ vào khách sạn phải trình giấy đăng ký kết hôn. Đúng là chẳng hiểu họ quy định như vậy nhằm mục đích gì nữa”. Theo anh Ngọc, đúng là hiện nay có nhiều đám cưới “chóng vánh”, kiểu các cô gái miền Tây thông qua môi giới lấy chồng Hàn Quốc, Đài Loan… ít nhiều để lại hậu quả xấu. “Nhưng đòi hỏi nhà hàng phải bắt người đặt tiệc cưới xuất trình giấy đăng ký kết hôn là rất vô lý. Bởi cho dù những cô gái và những chàng rể ngoại có “yêu chóng vánh, cưới vội vàng” thì cũng chỉ là vấn đề cá nhân của họ, vì luật cũng đâu có cấm?”.

Continue reading

CHÍNH CHỦ LÀ AI, CHÍNH CHỦ LÀ TA . . .

ĐÔNG KINH

Thật là phiền toái, khi bạn phải đi xe không chính chủ, và vì thế, bạn cảm thấy hơi bực bội hoặc ghen tị với cái gã đứng tên chính chủ trên giấy tờ xe mình. Vì cái tên gã đó mà bạn sẽ phải bỏ ra cỡ vài trăm ngàn đến dăm bảy chục triệu, kèm theo một chuỗi các thủ tục hành chính rắc rối khác để được thay thế hắn trong ngôi “chính chủ”.

Thế nhưng, bạn có bao giờ tự hỏi, có thể ở đâu đó, một người đi xe không chính chủ khác cũng đang bực mình vì cái tên của bạn cũng chình ình trên giấy tờ xe của người đó. Bạn đã đứng tên bao nhiêu cái xe, và giờ nó đang ở đâu, liệu có một mối liên hệ gì giữa nó với bạn không?

1. Người xưa có câu “Khuyển mã tri tình”. Con chó mình nuôi, con ngựa mình cưỡi, qua bao nhiêu lần đổi chủ, nhưng nếu vô tình gặp lại, rất có thể chúng vẫn nhận ra chủ cũ, và rỏ nước mắt trước cố nhân.

Người hiện đại không cưỡi ngựa nữa, mà cưỡi xe. Sau vài lần đổi xe, theo chiều hướng đi lên (tức lên đời xe), tôi nghiệm ra rằng, khi mình cưỡi xe thì ân cần với nó, nhưng khi đổi xe rồi thì quên phắt nó đi ngay. Có mới nới cũ mà. Nếu bạn có nhu cầu mua xe cũ, thì hời nhất là tìm được anh nào có xe cũ muốn bán để lên đời xe mới, và anh ta đã tìm được cái xe mới ưng ý rồi. Lúc đó, tâm lý của anh ta là chỉ muốn bán tống bán táng cái xe cũ đi cho khuất mắt.

Tôi nhớ hồi anh trai tôi, đi cái xe Cub 79 suốt 4 năm liền, từ năm 1995 (thời kỳ rộ lên xe bãi của Nhật nhập về) đến 1999. Quãng thời gian đó, anh giữ cái xe như vàng, đến tôi mượn đi đón bạn gái một tí cũng khó. Nhưng đến khi anh gom đủ tiền, sang nhà bạn chơi, trông thấy con DD đỏ đẹp long lanh của bạn đang cần bán, anh thậm chí vứt ngay con Cub 79 “cóc ghẻ” của mình lại nhà bạn, cưỡi con DD đỏ về luôn. Hôm sau anh cũng không tự đi lấy con Cub 79 về, mà vứt trong ví ra cái Giấy đăng ký xe, sai tôi đi lấy, rồi bảo “gán” nợ luôn cho mày (anh vay tôi số tiền chỉ bằng 2/3 giá trị của chiếc xe). Tất nhiên, vì là anh em ruột, nên giấy tờ chẳng phải sang tên đổi chủ, mà nếu có phải thì lúc đó làm gì đã có Nghị định 71 đâu mà… sợ.

Continue reading

KHÔNG BIẾT VÀ PHẢI BIẾT

Nhà văn NGUYỄN VĂN HIẾU

Có lẽ chưa bao giờ tình hình kinh tế, xã hội nước ta xảy ra nhưng vụ động trời như hiện nay. Nhưng đáng tiếc khi hậu quả ghê gớm của những vụ này đã và đang hiển hiện trước mắt mọi người thì không ít các cá nhân, các tổ chức quản lý khi được hỏi đều trả lời “không biết, chưa được báo cáo”. Câu trả lời dửng dưng và vô cảm này lâu nay đã trở thành một hội chứng xói mòn lòng tin và gây tác hại lớn.

Xin đơn cử một vài vụ việc:

Đầu tiên là các vụ liên quan đến người nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam. Vụ ngưòi Trung Quốc nuôi cá trái phép trên vịnh Cam Ranh đã diễn ra hàng năm trời. Khi bị phát giác, UBND tỉnh Khánh Hoa trả lời nhẹ tênh “không biết”. Vụ Công ty Nguyên Long Sơn thuộc tập đoàn kinh tế Nguyên Hinh, cũng của Trung Quốc, mua 1,2 héc ta đất trồng lúa ở Hàm Đức, rồi 59,7 héc ta đất trồng cây ở Hàm Chính, cùng thuộc huyện Hàm Thuận ở tỉnh Bình Thuận để chuyển đổi thành đất trồng thanh long, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận ỡm ờ trả lời “không minh bạch”. Vụ người Trung Quốc lộng hành thành lập các cơ sở buôn bán, rồi dựng biển hiệu tiếng Trung Quốc, gây ra hàng loạt sự kiện bức bối ở hàng loạt xã dọc QL 1A thuộc huyện Kỳ Anh (Hà Tĩnh), ông Nguyễn Đức Thắng, Chánh văn phòng UBND huyện khi được hỏi đã trả lời tỉnh khô: “chúng tôi không biết, vì huyện chỉ chủ trương giải phóng mặt bằng..”. Rồi hàng loạt cơ sở y tế do người Trung Quốc lập ra hoặc trực tiếp tham gia khám chữa bệnh với giá cắt cổ tràn lan ở các tỉnh trong cả nước, đặc biệt dày đặc ở TP. Hồ Chí Minh và Thủ đô Hà Nội, trong đó không ít cơ sở đã gây ra tử vong cho bệnh nhân. Nhưng ngành Y tế cũng lại “không biết”… Chỉ đến khi vụ việc đáng tiếc xảy ra mới đi giải quyết hậu quả bằng những biện pháp nửa vời… Rồi vụ 31.000 lao động người nước ngoài (tương đương 3 sư đoàn) đang hoạt động trái phép ở hầu hết các tỉnh thành nước ta, ngành Lao động Xã hội cũng lại trả lời “không biết vì không kiểm soát nổi”…

Continue reading

ĐỂ CHÍNH SÁCH KHÔNG BỊ “MƯA ĐÁ DƯ LUẬN”

CHÍ HIẾU

Bộ trưởng Giao thông vận tải Đinh La Thăng than rằng, cứ mỗi lần Bộ này đề xuất chính sách hoặc ban hành chính sách là y như rằng dư luận phản ứng rất mạnh. Mạnh đến mức có lúc ông Thăng gọi đó là “những trận mưa đá dư luận”.

Kể ra không ít những quy định của Bộ Giao thông vận tải bị dư luận phản ứng mạnh ngay khi vừa ban hành, Bộ trưởng Đinh La Thăng thừa nhận quá trình chuẩn bị (nhằm) tạo sự đồng thuận xã hội khi ban hành một chính sách vốn là điểm yếu của Bộ Giao thông vận tải. Và ông kỳ vọng điểm yếu đó sẽ được khắc phục sau khi thoả thuận hợp tác giữa Bộ Giao thông vận tải và viện Khoa học xã hội Việt Nam được ký kết vào giữa tuần qua. “Một trong những mục đích quan trọng của thoả thuận hợp tác này là để chuẩn bị dư luận, nghiên cứu tác động nhiều chiều (trước khi ban bành chính sách) mà trước nay Bộ Giao thông vận tải làm chưa tốt, thậm chí là kém”, ông Thăng nói. Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam Nguyễn Xuân Thắng, người được ông Thăng giới thiệu như là “kiến trúc sư” của thoả thuận hợp tác này, cũng cho rằng thực tế nhiều chính sách của ngành giao thông khi triển khai vấp phải những phản ứng xã hội rất gay gắt, vì thế, ông hy vọng thoả thuận sẽ đặt nền móng cho “việc trao đổi thông tin, tăng cường thẩm định, phản biện về mặt chính sách của Bộ Giao thông vận tải (từ phía các chuyên gia của Viện)”.

Không thể không ghi nhận nỗ lực “nhằm khắc phục” nói trên của Bộ Giao thông vận tải nhưng thực ra, để một chính sách đi vào cuộc sống, tránh được những “cơn mưa đá dư luận” mà Bộ trưởng Đinh La Thăng đã nói, nếu chỉ dừng ở mức “tăng cường trao đổi và thẩm định, phản biện” như ông Thắng hy vọng thôi, e là chưa đủ, bởi để có một chính sách phù hợp với yêu cầu của cuộc sống, khâu quan trọng nhất chính là điều tra, khảo sát, thu thập thông tin, dữ liệu từ thực tế làm cơ sở cho việc nghiên cứu, hình thành các chính sách, các quy định phù hợp. Việc thẩm định, phản biện chỉ là một khâu trong quá trình hình thành chính sách; nên nếu mới chú trọng khâu này mà chưa chú ý đúng mức đến khâu điều tra, khảo sát thực tế trước khi soạn thảo chính sách thì rốt cuộc, cũng chỉ mới giải quyết được phần ngọn của vấn đề.

Continue reading

NHỮNG SAI LỆCH, KHIẾM KHUYẾT CỦA CÁC BÁO CÁO TÀI CHÍNH VIỆT NAM

TRẦN XUÂN NAM – Phó Giám đốc Câu lạc bộ CFO Việt Nam

Từ năm 2001 đến cuối năm 2006 Bộ Tài Chính đã ban hành gần 30 Chuẩn Mực Kế Toán Việt Nam (VAS) và các thông tư hướng dẫn các chuẩn mực. Đó là một sự nỗ lực rất đáng được biểu dương của các nhà làm chế độ kế toán, Bộ Tài Chính. Các VAS về cơ bản giống như các chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) vì nó được dịch từ các IAS (việc nên làm) nhưng sau đó nó được sửa đổi, bổ sung, cắt bớt và kết quả là đôi khi nó làm mất đi tính nhất quán của toàn bộ hệ thống. Đặc biệt có một số hướng dẫn chuẩn mực cũng như các chế độ chế toán hiện hành còn có mâu thuẫn với một số VAS. Hơn thế nữa các họat động tập huấn, đào tạo các VAS mới còn nhiều hạn chế nên báo cáo tài chính của các công ty vẫn còn nhiều điều bất cập chưa đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư và các nhà quản lý. Trong phạm vi bài viết, tác giả xin trình bày một số sai lệch và khiếm khuyết lớn thường thấy trên các báo cáo tài chính của các công ty Việt Nam (do chế độ kế toán hoặc do thực tế) và cách khắc phục nó.

1.Tổng quan sự khác nhau của hệ thống báo cáo tài chính Việt Nam và Quốc tế.

Khác với VAS, IAS mặc dù đưa ra rất chi tiết các định nghĩa, phương pháp làm, cách trình bày và những thông tin bắt buộc phải có trong các báo cáo tài chính nhưng họ không đưa ra những biểu mẫu báo cáo bắt buộc tất cả các công ty phải tuân theo vì họ hiểu các công ty có quy mô, đặc điểm ngành nghề kinh doanh rất khác nhau. Chế độ kế toán Việt Nam không những đưa ra một hệ thống tài khỏan kế toán thống nhất bắt buộc mà còn đưa ra các biểu mẫu báo cáo tài chính thống nhất bắt buộc cho tất cả các doanh nghiệp áp dụng (hầu hết các quốc gia trên thế giới không làm như vậy).

2. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Lãi từ hoạt động kinh doanh không đúng. Lãi từ hoạt động kinh doanh (Operating Profit/ Income) của một công ty rất quan trọng, nó là nguồn lãi quan trọng nhất và ổn định nhất của một doanh nghiệp. Khác với các nguồn lãi từ các hoạt động tài chính hay các hoạt động khác về nguyên tắc thường không ổn định và khó có thể dự đoán. Chính vì vậy trong chuẩn mực và thông lệ kế toán quốc tế lãi kinh doanh là các khoản lãi lỗ từ các họat động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, không bao gồm các khoản thu nhập và chi phí tài chính (chi phí lãi vay). Tuy nhiên theo VAS 21 “Trình bày các báo cáo tài chính” thì “Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh” bao gồm cả lợi nhuận và chi phí tài chính.

Để dễ hiểu hơn chúng ta hãy xem ví dụ sau. Công ty X trong năm 2008 có doanh thu bán hàng là 100 tỷ đồng, giá vốn hàng bán là 60 tỷ, chi phí bán hàng và chi phí quản lý chung tương ứng là 12 tỷ và 8 tỷ. Trong năm công ty có hoạt động bán cổ phiếu lãi 50 tỷ và chi phí lãi tiền vay là 10 tỷ. Với các thông tin trên, báo cáo kết quả kinh doanh năm 2008 của công ty X được trình bày theo chuẩn mực (thông lệ) quốc tế và Việt Nam như sau.

Continue reading

QUẢN TRỊ CÔNG VÀ QUẢN TRỊ TƯ

LS. NGUYỄN TIẾN LẬP

Năng lực chịu trách nhiệm của một người quản trị công, dù là một bộ trưởng, làm sao có thể tương thích với các sai lầm và hậu quả của một chính sách mà người dân phải chịu.

Đề xuất thu phí đánh vào phương tiện giao thông của bộ Giao thông tiếp tục hâm nóng dư luận qua các phát biểu của bộ trưởng Đinh La Thăng với giới báo chí chiều 3.4 vừa qua. Đặc biệt khi một lần nữa, Bộ trưởng tỏ rõ sự thẳng thắn, chân thành cũng như bản lĩnh “tư lệnh” của mình bằng nói lời “xin lỗi những người đi ôtô” và khẳng định sẽ “chịu trách nhiệm cá nhân” về đề xuất chính sách này.

Với góc nhìn và tư duy pháp lý, tôi cảm nhận ngay một điều bất cập, đó là hình như bộ trưởng Thăng đã có sự lầm lẫn ở đây giữa hai lĩnh vực hành xử: quản trị công và quản trị tư?

Đành rằng, phải khách quan đánh giá cao phẩm chất cá nhân của bộ trưởng như xông xáo, quyết đoán và khả năng dám đột phá trong suy nghĩ và hành động, là điều rất nên có nếu xét trên phương diện một người chủ hay lãnh đạo doanh nghiệp. Bởi đó là lĩnh vực “quản trị tư”, nơi mà quyền lực sở hữu và thẩm quyền quản lý được phân định rất rành mạch, và đi liền với nó là các vấn đề về lợi ích, trách nhiệm cũng được xác định rõ ràng. Chẳng hạn, nếu là chủ một doanh nghiệp (hay một tổ chức tư nhân), quyền lực gắn liền với lợi ích của nhà đầu tư hay cổ đông; còn nếu là nhà quản lý (ví dụ một tổng giám đốc), việc chịu trách nhiệm luôn luôn được làm rõ theo cơ chế hợp đồng với chủ doanh nghiệp, v.v. và v.v.

Tuy nhiên, đối với “quản trị công” (chẳng hạn quyền hạn và trách nhiệm của một bộ, ngành) thì bản chất vấn đề lại hoàn toàn khác. Trước hết, quản trị công được hình thành trên cơ sở sự tín nhiệm và trao quyền của nhân dân.

“Tín nhiệm” được hiểu không chỉ là niềm tin vào phẩm chất và năng lực của người được giao quản trị công (ví dụ bộ trưởng một bộ hay chủ tịch một tỉnh) khi được lựa chọn vào cương vị đó, mà còn là niềm tin vào động cơ hành động của anh ta với sự khẳng định rằng anh ta luôn luôn hành động vì lợi ích của nhân dân. Còn “trao quyền” lại gắn với một cơ chế rất trừu tượng và phức tạp, không giản đơn như một hợp đồng quản lý hay uỷ nhiệm, do đó không thể dễ dàng cho việc quy trách nhiệm cũng như rút quyền, một khi sự tín nhiệm nói trên không còn. Nói như vậy có nghĩa rằng nhân dân, là người trao quyền, sẽ luôn luôn là bên chịu rủi ro một khi có sự lựa chọn nhầm lẫn đối với người quản trị công, bởi tối đa thì phải sau một nhiệm kỳ năm năm, sai lầm ấy (nếu có) mới có cơ hội sửa chữa.

Continue reading

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 619 other followers

%d bloggers like this: