TÒA ÁN ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN CÓ PHÙ HỢP QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT?

THS. THÁI CHÍ BÌNH – Tòa án nhân dân Thị xã Châu Đốc, An Giang

Ông N.V.T. và bà L.T.C đang xây nhà tại số 10, đường Nguyễn Hữu Cảnh, khóm A, phường L, thị xã T, tỉnh B (theo Giấy phép xây dựng số 322/2012/GPXD ngày 30/7/2012 do Ủy ban nhân dân thị xã T cấp) nhưng bị phần mái hiên, máng xối, rèm cửa của nhà ông T.H.A tại số 12, đường Nguyễn Hữu Cảnh (cạnh nhà ông T., bà C.) lấn sang phần đất thuộc quyền sử dụng của ông T., bà C. nên ảnh hưởng đến việc xây nhà của ông T., bà C. Mặc dù, đã được ông T., bà C. yêu cầu khắc phục nhiều lần nhưng ông A. không thực hiện. Phần đất mà ông T., bà C. được cấp phép xây dựng đã được Ủy ban nhân dân thị xã T. cấp quyền sử dụng cho ông T., bà C. vào năm 2006. Do đó, vào ngày 10/11/2012, ông T., bà C. khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã T buộc ông A phải cắt bớt phần máng xối, mái hiên, rèm cửa lấn sang phần đất thuộc quyền sử dụng của ông T., bà C.

Ông A. không chấp nhận yêu cầu của ông T., bà C. vì cho rằng giữa nhà của ông T., bà C. với nhà ông A có 01 con hẻm sử dụng chung với chiều ngang 0,6m, chiều dài chạy dọc theo phần đất thuộc quyền sử dụng của 02 nhà (mỗi nhà sử dụng chiều ngang 0,3m). Khi ông T., bà C. làm thủ cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2012 đã xin cấp quyền sử dụng đối với phần con hẻm chung này. Nhà của ông A đã cất trước thời điểm ông T., bà C. được cấp quyền sử dụng và khi ông T., bà C. làm thủ tục cấp quyền sử dụng đất ông A. không biết, không ký tứ cận cho ông T., bà C. cho nên ông A. không chấp nhận yêu cầu kiện của ông T., bà C.

Trong quá trình giải quyết vụ án, do ông A. yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân thị xã T cấp cho ông T., bà C. vào năm 2006 nên Tòa án đã ra Thông báo yêu cầu Ủy ban nhân dân thị xã T tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 32a Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong thời gian Tòa án thụ lý giải quyết, do đã thuê nhân công và không thể chờ Tòa án giải quyết nên ông T., bà C. đã xây dựng hoàn thành căn nhà của mình. Sau khi xây dựng nhà xong, ông T., bà C. đến Tòa án rút lại đơn khởi kiện vì ông A. không còn cản trở việc ông T., bà C. xây dựng nhà.

Do ông A không có yêu cầu phản tố nên Tòa án đã áp dụng điểm c khoản 1 Điều 192, khoản 3 Điều 193, Điều 194 và khoản 2 Điều 245 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án mà không đề cập gì đến yêu cầu của ông A. đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho ông T., bà C.

Đọc tiếp

TRANH CHẤP VỀ THỰC HIỆN QUYỀN TRONG BẢO ĐẢM NGHĨA VỤ DÂN SỰ: NGÂN HÀNG TỰ Ý BÁN TÀI SẢN THẾ CHẤP

HỒNG TÚ

Thay vì kiện người vay tiền ra tòa để tài sản thế chấp được xử lý theo đúng quy định, một ngân hàng đã tự lập hội đồng định giá và bán luôn tài sản thế chấp.

Theo phản ánh của ông Trương Nhân Tiến, người vay tiền, tài sản thế chấp là gần 29.000 m2 đất (trong đó có 400 m2 đất thổ cư) cùng một số tài sản trên đất tại xã Tân Hà, huyện Lâm Hà, Lâm Đồng.

Tự xác định người vay bỏ trốn

Ông Tiến cho biết: Năm 2000, ông có vay của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn – Chi nhánh huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng (viết tắt là Agribank Lâm Hà) 50 triệu đồng để dùng vào việc chăm sóc cây cà phê. Thời hạn vay được tính từ thời điểm ký kết hợp đồng cho đến khi gia đình ông Tiến trả hết nợ cả gốc và lãi. Để đảm bảo việc trả nợ, ông thế chấp số tài sản trên.

Sau đó, do gặp khó khăn trong việc trồng cà phê như nhiều hộ gia đình khác, ông không tiếp tục trồng cà phê nữa mà đến Cam Ranh (Khánh Hòa) buôn bán. Tháng 4-2013, khi có đủ điều kiện kinh tế, gia đình ông liên hệ Agribank Lâm Hà để thanh lý hợp đồng tín dụng thì mới biết hợp đồng tín dụng trên đã được thanh lý và ngân hàng đã thu hết nợ (!).

Tìm hiểu thêm, ông được biết vào năm 2003, Agribank Lâm Hà đã lập bốn biên bản xác minh việc gia đình ông đang còn nợ vay ngân hàng nhưng bỏ trốn khỏi địa phương. Tháng 9-2005, căn cứ vào các biên bản xác minh người vay bỏ trốn, Agribank Lâm Hà đã tự tiến hành kê biên tài sản. Đến tháng 7-2008, Agribank Lâm Hà tự lập hội đồng định giá tài sản thế chấp và bán luôn cho một người khác với giá 50 triệu đồng. Ngoài người này thì còn có một nhân viên của ngân hàng cùng khai thác và sử dụng đất từ năm 2006.

Ông Tiến không hài lòng: “Đúng là tôi còn mắc nợ nhưng nếu muốn bán đất của tôi, ngân hàng phải kiện ra tòa. Đã vậy, trong biên bản bán tài sản thế chấp, phía ngân hàng còn đưa ra giấy ủy quyền thể hiện gia đình tôi đã ủy quyền cho ngân hàng xử lý tài sản thế chấp. Thật là vô lý!”.

Đọc tiếp

RÚT KINH NGHIỆM VỀ VỤ ÁN “YÊU CẦU BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI VỀ SỨC KHỎE”

HẢI YẾN

Ngày 12/9/2012, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã mở phiên toà phúc thẩm xét xử và tuyên huỷ vụ án “Yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khoẻ ” giữa: Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Nam, trú tại Thôn 3, xã Ea Kpam, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thêm, trú tại số 34 Bà Triệu, thị trấn Quảng Phú, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk. Và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Mai Văn Thụ, trú quán: Thôn Mậu Tài, thị trấn Nga Sơn, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Ngày 19/9/2012, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk có Thông báo rút kinh nghiệm số 763/TB -VKS – P5 đối với vụ án nói trên.

Nội dung vụ án:

Ngày 26/12/2010, Bà Nguyễn Thị Nam điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47H1 – 1931 trên đường liên xã đi theo hướng từ xã Ea H’Ding đến xã Ea Kpam, huyện Cư M’gar. Khi đi đến đoạn đường thôn 6, xã Ea Kpam thì bị Mai Công Hậu (sinh năm 1995) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47FB – 0098 chạy ngược chiều không đúng phần đường đâm vào. Hậu quả bà Nam bị gãy xương đùi phải, thiệt hại 30% sức khoẻ. Sau khi bị tai nạn, bà Nam điều trị thương tích tại bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk 10 ngày (từ 26/12/2010 đần 05/01/2011).Ngày 31/12/2010, bà Nguyễn Thị Thêm (mẹ đẻ của Mai Công Hậu) đã bồi thường cho bà Nam 3.000.000đ (ba triệu đồng). Hành vi gây tai nạn cho bà Nam của Hậu chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cư M’gar chỉ xử lý hành chính đối với Hậu. Do hai bên không thoả thuận được việc bồi thường thiệt hại về sức khoẻ cho bà Nam, nên ngày 14/4/2011, bà Nam khởi kiện dân sự tại Toà án nhân dân huyện Cư M’gar, yêu cầu gia đình Mai Công Hậu phải bồi thường cho bà toàn bộ chi phí điều trị thương tích và tiền sửa chữa xe máy là 85.755.000đ.

Đọc tiếp

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: RỐI RẮM THỤ LÝ TRANH CHẤP TÀI SẢN CHUNG

THANH TÙNG

Do vụ án phức tạp nên hai năm sau TAND TP Tân An mới xử sơ thẩm và tuyên bác toàn bộ các yêu cầu của nguyên đơn.

Theo chỉ đạo, tòa cấp sơ thẩm thụ lý nhưng sau đó tòa cấp phúc thẩm lại hủy án, đình chỉ giải quyết…

TAND tỉnh Long An vừa tuyên hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ tranh chấp tài sản chung giữa bà M. cùng các nguyên đơn với ông S. vì chưa đủ điều kiện thụ lý vụ án nhưng TAND TP Tân An vẫn nhận đơn giải quyết. Trong vụ này, trước đây tòa án cấp sơ thẩm từng lừng khừng chuyện nhận đơn, còn TAND tỉnh và TAND Tối cao từng chỉ đạo xem xét thụ lý theo đúng quy định.

Kiện đòi chia thừa kế

Theo hồ sơ, sau khi cha mẹ chết, năm 1990 bà M. cùng bốn anh chị em khác giao toàn bộ nhà, đất cho người anh là ông S. quản lý, làm nơi thờ cúng.

Năm 2000, ông S. đi hợp thức hóa nhà, đất rồi bảy năm sau ông chuyển tài sản sang cho hai con gái đứng tên. Tháng 6-2009, bà M. phát hiện nên cùng các anh chị em khác khởi kiện yêu cầu chia thừa kế ngôi nhà cha mẹ để lại. Theo bà, năm 1990, khi giao tài sản cho anh quản lý, người anh soạn sẵn văn bản thể hiện bà và các anh chị em khác khước từ nhận tài sản thừa kế. Vì chuyện đã lỡ nên tất cả cùng ký với điều kiện phải ghi thêm dòng chữ: “Ngôi nhà chỉ dùng để làm nhà thờ, không được bán”. Tuy nhiên, dòng chữ này sau đó bị công chứng viên xóa bỏ. Đây là việc làm khuất tất nên bà khởi kiện đòi lại quyền lợi…

Tuy nhiên, yêu cầu này bị tòa từ chối giải quyết vì thời hiệu khởi kiện không còn. Đầu năm 2008, anh em bà M. lại khởi kiện yêu cầu tòa hủy bỏ hợp đồng cho tặng nhà giữa ông S. với hai con. Các nguyên đơn (bà M. làm đại diện) cũng nhờ tòa tuyên bố ngôi nhà là tài sản chung của cha mẹ để lại và phải chia đều cho sáu anh chị em.

Ban đầu TAND thị xã Tân An (nay là TP Tân An) trả lại đơn kiện vì cho rằng không đủ điều kiện thụ lý. Suốt hai năm sau đó, phía nguyên đơn làm nhiều đơn khiếu nại nhưng không có kết quả.

Bảo nhận đơn rồi lại đình chỉ

Tháng 11-2009, TAND tỉnh Long An chỉ đạo TAND TP Tân An thụ lý giải quyết vụ án của bà M. vì thấy có cơ sở… Thấy vậy tòa án cấp sơ thẩm đã gọi các đương sự lên và ra quyết định thụ lý vụ án chia tài sản chung. Tuy nhiên, do tính chất phức tạp nên hai năm sau TAND TP Tân An mới xử sơ thẩm và tuyên bác toàn bộ các yêu cầu của nguyên đơn. Bà M. kháng cáo toàn bộ bản án.

Đọc tiếp

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI ĐƯỢC GIÁM HỘ GÂY RA: CON TÂM THẦN ĐÂM NGƯỜI, CHA MẸ PHẢI BỒI THƯỜNG?

PHÚC TÂN

Do có mâu thuẫn từ trước vì tranh chấp đất đai, sáng 31-7-2010, giữa gia đình bà DTDT và vợ chồng ông NHM (cùng ngụ huyện Mang Thít, Vĩnh Long) đã xảy ra cự cãi, xô xát.

Trong lúc hai bên xô xát, con gái của ông M. đã dùng dao đâm bà T.

Theo kết quả giám định, bà T. bị tổn hại sức khỏe 45%. Tuy nhiên, Công an huyện Mang Thít không khởi tố con gái của ông M. vì người này bị bệnh tâm thần, chỉ áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Sau đó, TAND huyện Mang Thít cũng ra quyết định tuyên bố con gái của ông M. bị mất năng lực hành vi dân sự.

Tháng 5-2011, bà T. đã gửi đơn đến TAND huyện Mang Thít khởi kiện vợ chồng ông M. đòi bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại. Theo bà T., thương tật của bà do con gái của ông M. gây ra nhưng người này bị mất năng lực hành vi dân sự nên vợ chồng ông M. (người giám hộ của người bệnh) phải bồi thường tổng cộng gần 80 triệu đồng.

Trong các buổi hòa giải, vợ chồng ông M. không chịu bồi thường, nại rằng bà T. có lỗi là đánh con gái của ông bà trước. Việc con gái của ông bà có dùng dao đâm bà T. hay không vợ chồng ông bà cũng không biết. Hơn nữa, con gái của ông bà đã hơn 18 tuổi nên ông bà không phải chịu trách nhiệm với hành vi của con. Mặt khác, cô này lại bị mất năng lực hành vi dân sự nên phải được miễn trách nhiệm bồi thường mới đúng…

Mới đây, TAND huyện Mang Thít đã đưa vụ kiện ra xử sơ thẩm. Theo tòa, công an đã xác định việc con gái của ông M. dùng dao đâm vào ngực bà T. gây thương tật 45% là có thật. Xét việc bà T. yêu cầu vợ chồng ông M. phải bồi thường thiệt hại cho bà là có căn cứ. Bởi lẽ tại thời điểm gây thương tích cho bà T. cũng như hiện nay, con gái của ông M. là người bị mất năng lực hành vi dân sự, chưa có chồng và cũng không có tài sản riêng. Theo quy định thì vợ chồng ông M. là người giám hộ nên phải chịu trách nhiệm dân sự với hành vi của con mình.

Tuy nhiên, trong số tiền mà bà T. yêu cầu vợ chồng ông M. phải bồi thường có những khoản chi phí chưa phù hợp nên tòa chỉ chấp nhận các khoản chi phí hợp lý, tổng cộng là hơn 60 triệu đồng.

Đọc tiếp

TRANH CHẤP VỀ QUYỀN NUÔI CON SAU LY HÔN: BỊ GIÀNH CON SAU BỐN NĂM LY HÔN

THANH TÙNG

Đã có đủ yếu tố để khởi tố tội bắt cóc – Một độc giả của Báo Pháp luật TPHCM

Gia đình bên nội giữ lại đứa bé, không cho mẹ tiếp tục nuôi dưỡng vì cho rằng cháu đã lớn, cần sự chăm sóc của họ.

Những ngày này chị Phan Thị Lợi (xã Phước Thạnh, huyện Củ Chi, TP.HCM) đang cầu cứu khắp nơi vì phía gia đình chồng cũ quyết giữ đứa con gái mà tòa án đã giao cho chị nuôi dưỡng khi ly hôn. Không chỉ thế, khi đến đòi con chị còn bị phía gia đình chồng cũ dọa nạt…

Ban đầu để vợ nuôi con…

Sau gần 10 năm chung sống, đầu năm 2008 do mâu thuẫn gia đình, chị Lợi chủ động làm đơn xin ly hôn. Xử sơ thẩm, TAND huyện Củ Chi chấp nhận yêu cầu. Về phần con chung, tòa ghi nhận sự thỏa thuận, giao cho chị tiếp tục nuôi con, chồng chị phải cấp dưỡng cho cháu. Theo tòa, bé còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ và cũng để ổn định tâm sinh lý nên cần thiết phải giao cho mẹ.

Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực thi hành.

Theo trình bày của chị Lợi, từ năm 2008 đến nay chị luôn hết lòng dốc sức nuôi con. Mặc dù kinh tế không khá giả nhưng chị vẫn đảm bảo đủ điều kiện cho cháu bé sinh hoạt học hành và bản thân cháu cũng rất gắn bó thương yêu chị. Hai mẹ con ở bên nhà ngoại nhưng chị vẫn tạo điều kiện cho chồng cũ thực hiện quyền thăm nuôi bé. Thậm chí mỗi khi rảnh rỗi hay đến dịp nghỉ hè chị đều chở con về cho bé thăm gia đình bên nội vài ba ngày.

Sau bắt lại cháu

Bốn năm sau ngày ly hôn mọi việc vẫn diễn ra êm đẹp, quan hệ giữa hai bên cũng không có biến cố. Nhưng chị Lợi cho biết đầu tháng 6-2012, như thường lệ, chị cho con về bên nội chơi nhưng gần một tuần chị quay lại đón con về thì bị nhà chồng cũ kiên quyết ngăn cản.

Đọc tiếp

TRANH CHẤP VỀ QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN: KIỆN BẠN HỌC CỦA CON VÌ CON BỊ GỌI LÀ “GAY”

THANH BÌNH

Nguyên đơn cho rằng bị đơn gọi con trai bà là “gay” (đồng tính nam) là đã xúc phạm tới danh dự của cả con trai bà và bản thân bà…

Bà G. (54 tuổi, ngụ huyện Hóc Môn, TP.HCM) có một con trai tên T. 17 tuổi. Giữa năm 2011, con trai bà theo học nghề mộc tại một trung tâm đào tạo nghề. Trong lớp, T. chơi khá thân với Q. (hơn 19 tuổi) và đưa về nhà chơi nhưng không hiểu vì lý do gì, Q. thường xuyên gọi T. là “gay”…

Gọi bạn là “gay”…

Cách gọi này lọt đến tai người mẹ khiến bà G. vô cùng tức giận, nhiều lần nhắc nhở Q. thay đổi cách gọi và yêu cầu không được gán ghép từ “gay” với con trai bà. Tuy nhiên, sau đó bà G. vẫn loáng thoáng nghe Q. gọi con trai bà như trên. Dò hỏi bạn bè trong lớp của con, bà còn biết tại trường, hay mỗi lần đi chơi, trò chuyện với mọi người xung quanh khi nhắc tới T. thì Q. đều gọi là T. “gay”, thậm chí còn khắc lên bàn học của con trai bà hai chữ T. “gay”.

Bà nhắc nhở Q. không thành nên dọa sẽ tố cáo với trung tâm đào tạo và yêu cầu xin lỗi bà và con trai với hình thức: Xin lỗi công khai tại trung tâm đào tạo nghề, viết đơn xin lỗi gửi tới bạn bè trong trường, đồng thời bồi thường danh dự cho cả hai mẹ con bà tổng số tiền 10 triệu đồng.

Tuy nhiên, yêu cầu này của bà không được Q. chấp nhận vì lý do “chỉ nói bâng quơ cho vui, không hề ám chỉ và không gây ảnh hưởng hay thay đổi bản chất sự thật giới tính của con bà”…

Do không được đáp ứng yêu cầu xin lỗi và bồi thường nên đầu tháng 5-2012, bà G. đã gửi đơn kiện ra TAND một huyện tại TP.HCM khởi kiện Q. vì cho rằng đã xúc phạm danh dự, nhân phẩm của con trai bà, làm ảnh hưởng tới tâm lý của con trai. Cách xưng hô thiếu tế nhị này đã làm tổn hại danh dự của bà và con trai.

Mất danh dự cả hai mẹ con

Theo đơn khởi kiện, bà G. trình bày: “Tôi đơn thân nuôi con khôn lớn. Ngay từ mới sinh nó là con trai, giấy chứng sinh tại bệnh viện xác định giới tính của con tôi là nam. Giấy khai sinh cũng chứng thực là nam, toàn bộ giấy tờ học hành, hộ khẩu đều xác định có chứng nhận là nam. Vậy mà nó đổi trắng thay đen nói con tôi là “gay” là không chính xác”.

Đọc tiếp

TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO TÀI SẢN BỊ XÂM PHẠM: HƯ BẢY QUẢ TRỨNG CHIM, ĐÒI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CẢ VẬT CHẤT VÀ TINH THẦN

DƯƠNG HẰNG

Hiện chưa có quy định bồi thường tổn thất tinh thần đối với thiệt hại về vật nuôi. Bị đơn chỉ đồng ý bồi thường trứng theo giá bán ngoài thị trường.

Đầu năm 2010, ông D. (62 tuổi, ở Thanh Hóa) được bạn tặng bảy quả trứng chim quý nên ông quyết định ươm giống. Theo quan niệm dân gian nơi ông sinh sống, muốn trứng chim nở dễ dàng thì phải đem trứng vùi vào cám gạo để bên cạnh chim mẹ trong vòng một ngày sau đó mới đưa cho chim mẹ tự ấp…

Trứng thối, chim rụng lông

Do gia đình không có cám gạo nên ông D. đem bảy quả trứng chim kèm con chim kiểng của mình (làm chim mẹ) sang nhà ông B. (hàng xóm) gửi nhờ. Sau khi dặn dò kỹ lưỡng cách thức, công đoạn “tiền ấp trứng”, ông về và hẹn sang ngày mai đến lấy trứng và chim.

Đến hẹn, ông D. sang nhà hàng xóm thì được ông B. cho biết đã đem trứng cho chim mẹ ấp. Lúc này ông D. tỏ ra gay gắt cho rằng bạn làm sai công thức và có nguy cơ làm hỏng cả chim lẫn trứng. Lời qua tiếng lại một lúc, ông D. đành phải đưa chim và trứng về nhà.

Một tuần sau, bảy quả trứng chim bốc mùi thối còn con chim kiểng bắt đầu rụng lông đầu và đuôi. Xót của, tiếc chim, ông D. liền chạy qua nhà ông hàng xóm bắt đền. Tuy nhiên, cả hai bên không tìm được tiếng nói chung, thậm chí còn xung đột dẫn đến cãi vã…

Mọi chuyện bẵng đi hơn một năm, mới đây đầu tháng 4-2012, ông D. khởi kiện ra tòa.

Đòi phi lý, không chấp nhận

Theo đơn kiện, ông D. giãi bày bản thân ông rất yêu chim và muốn ươm thật nhiều giống quý. Bảy quả trứng chim trên cũng là giống quý nên ông không muốn đem ra lò ấp vì sợ khi trứng nở, chim non bị bắt trộm. Do vậy ông quyết định tự mình ươm giống.

Đọc tiếp

THỰC TIỄN THI HÀNH BỘ LUẬT DÂN SỰ: RẮC RỐI KHÔNG BIẾT NGƯỜI ỦY QUYỀN ĐàCHẾT

THANH TÙNG

Theo luật, việc ủy quyền của cá nhân chấm dứt khi người ủy quyền chết. Tuy nhiên, thực tế lại không đơn giản như vậy. Nhiều tình huống rắc rối đã phát sinh vì người ủy quyền chết nhưng không ai biết…

Đầu năm 2009, trước khi sang Mỹ, ông TVV đã ủy quyền cho một người bạn thân là ông Q. tham gia một vụ kiện đòi nợ tại TAND tỉnh T. Theo nội dung giấy ủy quyền hợp pháp giữa hai bên, ông Q. được toàn quyền quyết định các vấn đề liên quan trong vụ kiện, kể cả trong giai đoạn thi hành án.

Chết nhưng không biết tin

Sau khi ra nước ngoài, ông V. không hề chủ động liên lạc với ông Q. để hỏi diễn tiến sự việc. Ông Q. cũng không có cách nào trao đổi với bạn vì mọi cách liên lạc từ ngày xưa đều không có kết quả. Vì thế, ông luôn tự quyết các vấn đề liên quan đến vụ kiện theo ý của mình như nội dung ủy quyền. Phía tòa án cũng chỉ làm việc với ông mà không quan tâm đến sự có mặt của ông V.

Cuối năm 2010, tòa đã ra quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa ông Q. và phía bị đơn, nội dung ông Q. đồng ý bớt 1/3 số nợ gốc với điều kiện phía bị đơn phải trả tiền một lần. Sau đó, các bên cũng đã thực hiện thỏa thuận nên vụ việc được khép lại.

Gần đây, ông Q. nghe loáng thoáng được vài thông tin rằng bạn mình đã chết vì tai nạn giao thông ở Mỹ. Rồi ông nhận được hồ sơ từ Mỹ gửi về xác thực đúng là ông V. đã chết từ giữa năm 2010 tại Mỹ.

Vụ việc bắt đầu trở nên rắc rối: Theo luật, việc ủy quyền giữa ông V. và ông Q. đương nhiên chấm dứt khi ông V. chết. Ông V. chết vào giữa năm 2010, tức trước thời điểm ông Q. thỏa thuận thành với bị đơn trong vụ kiện đòi nợ (cuối năm này). Vậy quyết định công nhận sự thỏa thuận của tòa có hiệu lực pháp luật hay không khi mà bản thân ông Q. đã mất tư cách đại diện theo ủy quyền? Nếu quyết định của tòa không có căn cứ pháp lý thì khắc phục sai sót này ra sao? Phía bị đơn trong vụ kiện cũng đã thanh toán 2/3 số nợ gốc cho ông Q., phải giải quyết lại cho họ thế nào?

Đọc tiếp

THỰC TIỄN THI HÀNH BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ: CÔNG TY CÓ THÀNH VIÊN NGƯỜI NƯỚC NGOÀI, TÒA NÀO XỬ?

HỒNG TÚ

Bà T. khởi kiện công ty tranh chấp về tiền lương và các khoản bảo hiểm chứ không tranh chấp với cá nhân từng thành viên trong hội đồng thành viên công ty.

Thực tiễn đã phát sinh không ít vụ tranh chấp liên quan đến công ty có thành viên hội đồng là người nước ngoài. Trường hợp nào thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa cấp huyện, trường hợp nào thuộc tòa cấp tỉnh?

Tháng 3-2011, bà LTHT đã nộp đơn khởi kiện Công ty TNHH DV TM ĐT (viết tắt là Công ty ĐT) ra TAND quận Phú Nhuận để yêu cầu tòa buộc phía Công ty ĐT giải quyết tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho bà với tổng số tiền hơn 260 triệu đồng.

Tòa quận: Có yếu tố nước ngoài

Theo đơn khởi kiện, bà T. vào làm tại Công ty ĐT (trụ sở tại phường 9, quận Phú Nhuận) từ năm 2003. Từ đó đến tháng 8-2010, bà T. đã làm việc cho Công ty ĐT với nhiều chức vụ khác nhau. Tháng 9-2010, do đến tuổi nghỉ hưu theo luật định, bà T. đã viết đơn xin nghỉ việc với lý do hết tuổi lao động và yêu cầu Công ty ĐT thanh toán tiền lương, tiền phụ cấp, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và trợ cấp thôi việc nhưng phía công ty không thanh toán. Hòa giải không thành, bà T. buộc lòng phải khởi kiện công ty ra tòa.

Tháng 3-2011, TAND quận Phú Nhuận đã thụ lý vụ kiện. Sau khi xem xét hồ sơ, tòa phát hiện trong hội đồng thành viên của Công ty ĐT có ông Michael B.L. là người đang định cư tại nước ngoài (California, Mỹ). Theo tòa, bà T. khởi kiện Công ty ĐT nên ông Michael B.L. được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ kiện. Xác định là vụ án có yếu tố nước ngoài và thẩm quyền xét xử thuộc về TAND TP.HCM, tháng 9-2011, tòa đã ra quyết định chuyển hồ sơ vụ án lên TAND TP.HCM để xét xử theo đúng thẩm quyền.

Đọc tiếp

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DÂN SỰ LIÊN QUAN ĐẾN NGƯỜI THỨ BA CHIẾM HỮU KHÔNG CÓ CĂN CỨ PHÁP LUẬT: TÒA BÁC YÊU CẦU ĐÒI LẠI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT LÀ CHƯA HỢP LÝ?

BÙI ĐỨC ĐỘ

Lấy đất cùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) của người cầm cố chuyển nhượng lòng vòng được Tòa nhận định là hợp đồng vô hiệu, nhưng vẫn bác yêu cầu chuộc lại. Vì sao?

Có giấy tờ thuê đất, Tòa án vẫn bác yêu cầu chuộc lại (?)

Bà Thị H là một nông dân Khmer nghèo ở xã Bàn Tân Định, huyện Giồng Riềng, Kiên Giang có 5.500m2 đất ở xã Thạnh Đông A, huyện Tân Hiệp do cha mẹ cho vào năm 1989. Bà H canh tác đến năm 1991 thì cho vợ chồng ông N, bà Q thuê lấy 100 giạ lúa. Vì tin tưởng, hai bên chỉ làm giấy viết tay, giao hẹn đến khi nào có lúa thì sẽ lấy lại đất. Sau khi được UBND huyện Tân Hiệp cấp QSDĐ (năm 1993), bà H giao Giấy chứng nhận QSDĐ cho ông N quản lý. Làm được một thời gian, ông N chuyển nhượng cho ông T lấy 100 giạ lúa và 8 chỉ vàng 24k. Ông T canh tác đến năm 1999 thì chuyển nhượng (cũng bằng giấy tay), đồng thời giao Giấy chứng nhận QSDĐ của bà H cho ông D, bà M với giá 40 chỉ vàng 24k. Khi lo đủ 100 giạ lúa, bà H đến ông N đòi chuộc lại thì mới biết đất của mình đã bị bán lòng vòng qua nhiều chủ như vậy.

Việc tranh chấp hợp đồng cầm cố và hợp đồng chuyển nhượng trên được TAND huyện Tân Hiệp nhận định không có cơ sở cho thuê đất giữa bà H và vợ chồng ông N. Tại phiên tòa, ông N khai rằng đã mua đất này của bà Năm T (mẹ của bà H) từ năm 1993 bằng 100 giạ lúa; giấy tờ cho thuê viết tay bà H chỉ gạch thập, có chữ ký của ông N, nhưng ông N lại không thừa nhận và giấy này cũng không được bà H yêu cầu giám định nên Tòa đã bác yêu cầu của bà H đòi chuộc lại 5.500m2 đất, công nhận quyền sử dụng đất cho ông D, bà M.

Không trả đất vì giao dịch ngay tình

Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử và luật sư bảo vệ cho bà H (do Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh cử) đều có chung nhận định cấp sơ thẩm tuyên bác đơn của bà H, chấp nhận lời khai nại của vợ chồng ông N là không phù hợp. Bởi, mặc dù ông N, bà Q không thừa nhận tờ giấy cho thuê đất, nhưng tại biên bản hòa giải ngày 19.4.2006 của ấp Thạnh Trị, bà Q xác nhận tờ cho thuê đất là đúng sự thật, nhưng do ông N say rượu nên mới ký (bút lục 11). Hơn nữa, ông Danh Tr, Danh R, Danh L là anh em ruột của bà H cũng đều xác định khi cha mẹ còn sống có cho bà H phần đất này để canh tác, đến năm 1991 thì cho vợ, chồng ông N thuê. Mặt khác, ông N, bà Q cũng không xuất trình được giấy tờ bán đất mà ông đã khai mua của mẹ bà H. Như vậy, vợ chồng ông N vẫn biết 5.500m2 đất là của bà H, nhưng lại chuyển nhượng cho ông T.

Đọc tiếp

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ THỪA KẾ: VỤ TRANH CHẤP DI SẢN “1000” TỶ ĐỒNG – TÀI SẢN TÍCH TỤ TỪ BÚN VÀ BẤT ĐỘNG SẢN

PHƯƠNG LOAN

Người con nuôi đương nhiên được thừa kế dù bên chị em người chết cho rằng họ đã góp vốn tạo ra tài sản. Hai bên cùng gửi ở ngân hàng trong khi chờ phán quyết của cơ quan chức năng.

Mấy ngày nay dư luận xôn xao về việc bà TKP chuyên nghề làm bún bị đột tử để lại tài sản trên “1.000 tỉ” đồng. Số tài sản trên hiện đang bị tranh chấp giữa những người anh em ruột của bà và người con nuôi. Vấn đề là số tài sản quá lớn làm ngay chính những người thân cũng ngỡ ngàng. Chúng tôi đã liên hệ với các bên có liên quan để tìm hiểu thông tin.

Một trong hai chị em của bà P. ở VN là ông TVPh. đã cho biết bà P. là chị thứ năm trong gia đình 10 anh chị em. Bà P. sống cùng hai người chị em, bảy người khác định cư ở Đức từ những năm 1980. Cha mẹ họ là người Hoa, chuyên làm bún gạo. Anh chị em đa số theo nghề cha mẹ. Bà P. sống rất kín tiếng, giản dị, ăn chay trường, hay giúp đỡ hàng xóm, người nghèo.

Giàu nhờ bán bún và bất động sản?

Nghề bún cần nhiều sân phơi. Nhiều lần các anh em ở Đức chuyển tiền về để bà P. mua đất làm sân phơi bún. Ngoài việc tận dụng làm ăn, xem như là của để dành khi về già cho anh em đoàn tụ. Theo ông Ph., từ nguồn vốn tự tạo lập và nguồn tiền chị em đóng góp, bà P. đã kinh doanh bất động sản. Do tích tiểu thành đại, khối bất động sản bà tậu được khá nhiều. “Sống gần mộ phần cha mẹ, về quê hương xứ sở khi già là mong ước của mấy anh chị em tôi. Đi đi về về mang tiền về cho chị đầu tư, không gửi qua ngân hàng. Mấy chục năm sống hòa thuận, chị em yêu thương nhau, giờ nảy sinh tranh chấp, tụi tôi rất buồn” – ông Ph. nói. Ông Ph. cũng đưa ra một số giấy tờ được cho là những chứng từ việc chuyển tiền cho bà P. trước đây.

“Năm 1987 mẹ tôi mất, chị tôi 41 tuổi vẫn chưa có chồng con và có ý định xin con nuôi. Lúc này gia đình cũng đã có nhiều cháu nhưng chị tôi nói nuôi cháu, mốt lớn nó cũng về với mẹ nó. Thôi thì con lạc loài mới là con mình. Từ đó, chị xin một em bé cha mẹ bỏ rơi trong BV Hùng Vương” – ông Ph. kể tiếp.

Đọc tiếp

NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN PHÁP LÝ: TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN VẢI

NGUYỄN THU PHƯƠNG (Sưu tầm)

Nguyên đơn: Công ty May Xuất khẩu Việt Nam ( Người mua )
Bị đơn: Công ty Hàn Quốc ( Người bán )

CÁC VẤN ĐỀ ĐƯỢC ĐỀ CẬP:

- Mua hàng theo mẫu;
- Giá trị pháp lý của mẫu hàng;
- Nghĩa vụ cung cấp mẫu hàng;
- Giá trị pháp lý của chứng thư giám định.

TÓM TẮT VỤ VIỆC:

Nguyên đơn và Bị đơn ký hai Hợp đồng mua vải. Trong các điều khoản của Hợp đồng, đáng lưu ý có các điều khoản sau:
- Chất lượng của hàng hóa sẽ dựa theo mẫu LABDIP ( Điều 2 Hợp đồng );
- Giám định trước khi gửi hàng do nhà sản xuất thực hiện là cuối cùng và có giá trị pháp lý ràng buộc hai bên ( Điều 7 Hợp đồng ).
Sau khi nhận hàng của Bị đơn, Nguyên đơn đã chuyển số vải cho một đơn vị gia công hàng của Nguyên đơn để kiểm tra chất lượng trước khi đưa vào gia công.Tuy nhiên, do lỗi vải quá nhiều nên đơn vị gia công đã từ chối nhận vải của Nguyên đơn. Nguyên đơn đã mời đại diện của Bị đơn là ông A (Trưởng văn phòng đại diện của Bị đơn ) đến kiểm tra chất lượng vải. Sau khi kiểm tra vải đại diện Bị đơn đồng ý để Nguyên đơn mời Công ty X giám định chất lượng vải của Hợp đồng. Sau đó, Nguyên đơn nhận được kết quả giám định của Công ty X với nội dung “toàn bộ lô hàng không sử dụng được trong công nghệ cắt may công nhiệp hàng loạt”.
Do hai bên không giải quyết được tranh chấp về chất lượng nên Nguyên đơn khởi kiện Bị đơn ra Trọng tài, yêu cầu Bị đơn hoàn trả lại cho Nguyên đơn 44.089,2USD gồm các khoản sau:

- Trị giá Hợp đồng : 31.669,2USD
- Chi phí nhận hàng : 300USD
- Lãi suất đến ngày khởi kiện : 675,61USD
- Tiền phạt mà Nguyên đơn bị khách hàng phạt do không có hàng để giao : 11.445USD.

Đọc tiếp

CUỘC CHIẾN THƯƠNG QUYỀN BÓNG ĐÁ: CÁCH ỨNG XỬ NÀO HAY HƠN?

NGUYÊN TẤN

Cuộc chiến về thương quyền bóng đá giữa VFF, VPF và VAG dù căng thẳng và đầy kịch tính nhưng rồi sớm muộn cũng sẽ có kết cục. Điều đọng lại rất đáng để suy gẫm trong vụ việc này có lẽ là ở cách hành xử của các bên.

Thói quen hành chính hóa

Bất đồng giữa các thế lực trong làng bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam về bản hợp đồng chuyển giao quyền khai thác các giải bóng đá kéo dài 20 năm giữa VFF và AVG thực chất đã âm ỉ từ hơn một năm nay, kể từ khi các bên đặt bút ký kết vào hồi tháng 12-2010.

Tuy nhiên, cuộc chiến chỉ thực sự nổ ra khi VPF bất ngờ bằng một công văn “bật đèn xanh” cho phép hệ thống đài truyền hình VTV được phát lại các trận bóng đá thuộc các giải đấu chuyên nghiệp Việt Nam.

Đáng nói là sau đó đài truyền hình VTC cũng nhập cuộc phát lại trận bóng đá thuộc một trong các giải đấu nêu trên với lý do đã được VPF “cấp phép”. Thậm chí, trả lời báo chí về việc này, ông Vũ Quang Huy, Phó giám đốc VTC khẳng định  rằng “VTC truyền hình trực tiếp có sự chấp thuận của đơn vị tổ chức giải là VPF và chúng tôi đã làm đúng theo chỉ dẫn phối hợp với VTV chọn trận phát sóng. Nếu AVG muốn kiện thì cứ kiện VPF” (Pháp Luật TPHCM, 9-1-2012).

Trong quá trình tranh chấp, VPF đã gửi công văn đến ba bộ Tư pháp, Thông tin Truyền thông và Văn hoá Thể thao Du Lịch nhờ giải quyết. Tương tự, AVG cũng gửi đơn cầu cứu lên Bộ Văn hoá Thể thao Du Lịch. Và mới đây, Bộ Văn hoá Thể thao Du Lịch đã phải lập một đoàn thanh tra để xem xét bản hợp đồng nói trên.

Của Caesar hãy trả cho Caesar!

Trước hết nói về hành động “bật đèn xanh” đơn phương của VPF cũng như hành vi hưởng ứng nhanh nhảu của VTC. Theo một số ý kiến thì những cách ứng xử này chưa phải thật khôn ngoan, thậm chí có thể gây nên những rủi ro không đáng có.

Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 647 other followers

%d bloggers like this: