THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN: 14 NĂM KHÔNG THỂ THI HÀNH ÁN

HỒNG TÚ

Các cơ quan liên quan đã nhiều lần ngồi lại tìm hướng gỡ nhưng 14 năm nay vẫn còn bế tắc. Trước đây, tại Bình Định, ông Nguyễn Đưa cùng đồng phạm thường xuyên mua hàng điện tử nhập lậu bằng đường biển, đưa vào nội địa bán lại kiếm lời. Tháng 7-1993, tàu hàng của ông Đưa đã bị đội tuần tra Công an tỉnh Bình Định bắt quả tang khi đang vận chuyển một số lượng lớn hàng điện tử lậu.

Ông Đưa cùng bảy đồng phạm bị TAND tỉnh Bình Định phạt lần lượt từ hai đến bốn năm tù về tội buôn lậu (ông Đưa bị phạt ba năm tù treo). Về phần xử lý vật chứng, tòa tuyên tịch thu sung công quỹ chiếc tàu BĐ 0243-TS2 của ông Đưa. Sau khi các bị cáo kháng cáo xin giảm án, tháng 4-1995, Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Đà Nẵng đã tuyên y án sơ thẩm.

Vật chứng “biến mất”

Từ tháng 3-1994, để đảm bảo cho việc thi hành án, VKSND tỉnh Bình Định đã ra lệnh kê biên tạm giữ chiếc tàu của ông Đưa và giao tài sản cho người đại diện hợp pháp tạm bảo quản, chờ xử lý. Tuy nhiên, ngày 9-3-1994, khi cơ quan điều tra đến thực hiện lệnh kê biên chiếc tàu thì mới biết chiếc tàu đã bị ông Đưa bán cho người khác với giá chín triệu đồng.

Về phần mình, sau khi tiếp nhận bản án có hiệu lực thi hành, giữa năm 2005, trưởng Thi hành án dân sự tỉnh Bình Định đã ra quyết định thi hành đối với khoản tịch thu chiếc tàu của ông Đưa. Đến lúc chấp hành viên đi xác minh tài sản thì kết quả cũng y như lúc cơ quan điều tra thực hiện lệnh kê biên. Không chịu bó tay, chấp hành viên xác minh mở rộng thêm địa chỉ của người mua nhưng cũng chỉ thu về con số không.

Đọc tiếp

TRANH CHẤP QUYỀN NUÔI CON NUÔI: GIÀNH LẠI QUYỀN NUÔI CON

VĂN ĐOÀN

Tranh chấp quyền nuôi trẻ với bà ngoại nhưng không được các cơ quan pháp luật địa phương giải quyết. Bài “Giành nuôi cháu ngoại” (Pháp Luật TP.HCM ngày 6-5) có phản ánh vụ tranh chấp quyền nuôi trẻ bốn tuổi giữa bà Trần Thị Kim Hạnh (ngụ phường Linh Xuân, quận Thủ Đức, TP.HCM) với bà K. (thị trấn Chư Ty, huyện Đức Cơ, Gia Lai). Đến nay, vụ việc này vẫn chưa được giải quyết.

Năm 2005, con gái bà K. đến nhà bà Hạnh sinh con. Ít ngày sau, do con bà K. bỏ lại trẻ nên bà Hạnh đã đứng ra làm giấy khai sinh cho trẻ với tư cách là mẹ. Cuối tháng 2-2009, bà K. đưa trẻ lên Gia Lai chơi. Lấy lý do “để công an địa phương không làm khó dễ”, bà K. đề nghị bà Hạnh đưa khai sinh của trẻ, đồng thời viết giấy chuyển quyền nuôi con. Sau đó, bà K. không chịu giao trả trẻ, viện lẽ đã đưa cho bà Hạnh 30 triệu đồng…

Không ai chịu xử lý

Phản đối việc bà K. đưa tiền, bà Hạnh đã nộp nhiều đơn yêu cầu các cơ quan chức năng xem xét, buộc bà K. phải giao trả trẻ cho bà. Cho rằng vụ việc chỉ đơn thuần là tranh chấp dân sự, Công an huyện Đức Cơ đã chuyển hồ sơ đến UBND thị trấn Chư Ty. Ngày 7-4, do hòa giải không thành nên UBND thị trấn đã chuyển hồ sơ đến TAND huyện.

Ngày 21-4, Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai xác định đây là tranh chấp về xác định cha mẹ cho con hoặc xác định con cho cha mẹ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND theo khoản 4 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nhưng đến ngày 18-5, TAND huyện Đức Cơ đã ra thông báo trả lại đơn kiện của bà Hạnh vì “không thuộc thẩm quyền”.

Đọc tiếp

TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP: CHỦ SMARTDOOR KIỆN “AUSTDOOR”

CAO HỒNG

Công ty Cửa cuốn Úc Smartdoor (gọi tắt là Công ty Úc) có đơn gửi Báo CAND về việc, Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Hưng Phát (gọi tắt là Hưng Phát) vi phạm quyền sở hữu công nghiệp khi sử dụng thanh nhôm định hình trong sản phẩm cửa cuốn Austdoor.

Trong đơn, Công ty Úc cho biết, ngày 15/12/2004, Công ty Tân Trường Sơn được Cục Sở hữu trí tuệ cấp bằng độc quyền Kiểu dáng công nghiệp thanh nhôm định hình số 8106.

Tháng 5/2007, Công ty Tân Trường Sơn ký "Hợp đồng chuyển quyền sử dụng Kiểu dáng công nghiệp thanh nhôm định hình số 8106" cho Công ty Hưng Phát. Thời hạn hợp đồng đến ngày 7/8/2008.

Ngày 10/11/2008, Công ty Úc ký "Hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng Kiểu dáng công nghiệp số 8106" với Công ty Tân Trường Sơn.

Hai bên đã tiến hành đăng ký hợp đồng với Cục Sở hữu trí tuệ để xác lập quyền sử dụng hợp pháp với kiểu dáng công nghiệp này và được cấp giấy chứng nhận. Thời hạn sở hữu của Công ty Úc đối với kiểu dáng công nghiệp này từ ngày 18/12/2008 đến 18/12/2009.

Sau khi được quyền sử dụng kiểu dáng công nghiệp thanh nhôm định hình nêu trên, Công ty Úc lại phát hiện Công ty Hưng Phát vẫn sản xuất sản phẩm cửa cuốn nhãn hiệu Austdoor có sử dụng Kiểu dáng công nghiệp số 8106.

Đọc tiếp

TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU: AI LÀ CHỦ SỞ HỮU NHÀ 22D – 24 PHAN ĐĂNG LƯU?

MINH ANH

34 năm nay, cựu cán bộ tình báo 52 tuổi Đảng Nguyễn Thơ vẫn cư ngụ trong ngôi nhà mang số 22D-24 Phan Đăng Lưu quận Bình Thạnh, TPHCM, do một người anh em tặng ông sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, được chính quyền quân quản cách mạng xác nhận. Thế mà mới đây, ông được Tòa án nhân dân TPHCM triệu tập vì bị kiện… đòi nhà và nguyên đơn là một người lạ. Kỳ lạ hơn, ngôi nhà của ông đang ở lại được cấp “sổ hồng” (Giấy CNQSHNƠ&QSDĐƠ) cho người khác?…

Chủ nhà… lạ hoắc!

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Trung tá Nguyễn Thơ được người anh em bạn dì ruột là thương gia Dương Xưng Đường tặng cho căn nhà số 22D-24 Phan Đăng Lưu quận Bình Thạnh, TPHCM. Ngày 16-6-1975, thương gia Dương Xưng Đường làm “Giấy cho nhà” gửi Ủy ban An ninh quận Bình Hòa, tỉnh Gia Định lúc đó, có nội dung: “Hôm nay toàn miền Nam đã giải phóng, em tôi Nguyễn Thơ đã về. Tôi xin làm giấy này bằng lòng cho em tôi cái nhà mang số 22D-24 đại lộ Chi Lăng (nay là Phan Đăng Lưu – PV), Gia Định. Xin yêu cầu chính quyền chứng nhận để em tôi là Nguyễn Thơ, cán bộ Phòng Quân báo, Bộ Tham mưu QGPNDMNVN được toàn quyền làm chủ cái nhà nói trên”.

Ông Nguyễn Thơ đăng ký hộ khẩu và sử dụng căn nhà trên từ ngày 1-10-1976. Ông kể: “Bỗng dưng ngày 4-2-2009, tôi nhận được giấy mời của Tòa án nhân dân TPHCM. Lý do là UBND quận Bình Thạnh đã cấp “sổ hồng” cho một người lạ hoắc tên là Trần Thị Ngọc Trang và người này kiện đòi nhà của… chính tôi”. Tuy nhiên điều “không thể hiểu nổi” – theo ông là tại sao bỗng dưng lại có người có “giấy chủ quyền” để… chiếm nhà.

Đọc tiếp

TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU: XỬ SAI “LỦ KHỦ”

PHAN GIA HI

VKS đã vạch ra cả chục điểm sai trong một bản án xử vụ tranh chấp vườn cà phê. Bản án sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dân sự và việc áp dụng pháp luật về dân sự…” – VKSND huyện Krông Năng (Dăk Lăk) vừa kháng nghị như trên về một bản án của TAND huyện này.

Chị em tranh chấp vườn cà phê

Theo đơn kiện của ông Đ., ông có một mảnh vườn trồng gần 2.000 cây cà phê. Sau đó, ông đã nhờ gia đình người chị trông coi vườn giúp để ông yên tâm đi xuất khẩu lao động. Trước khi đi, ông nhắn nhủ: “Anh chị trông coi, chăm sóc, thu hoạch hoa lợi, duy trì vườn cây cho tôi”. Gia đình người chị nhận lời.

Mấy năm sau, ông trở về nước, nể công anh chị giữ vườn tược vất vả nên vẫn để cho anh chị tiếp tục quản lý, thu hoạch hoa màu. Đầu năm 2007, ông nghe tin gia đình người chị đã đăng ký quyền sử dụng đất và tặng mảnh vườn cho con gái nên đòi gia đình người chị phải trả lại.

Phía người chị lại cho rằng một nửa vườn cà phê này là của cha mình, nửa còn lại là của ông Đ. Đầu năm 1992, gia đình bà đã mua lại của cả hai người. Sau đó gia đình bà đi đăng ký rồi được cấp giấy đỏ. Hai năm trước, con gái lấy chồng, gia đình bà cho các con, giờ không biết vì lý do gì mà ông Đ. lại đi đòi…

Đọc tiếp

TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỞ HỮU: THAY ĐỔI QUYẾT ĐỊNH SAU 11 NĂM LÀ SAI?

BÌNH NGUYÊN

Lúc đầu tỉnh cho chủ đất nhận trọn thửa đất cho ở nhờ nhưng sau đó lại giảm xuống một nửa. Năm 1958, bà Nguyễn Thị Nương (ấp Long Thuận, xã Long Phước, huyện Long Hồ, Vĩnh Long) cho người quen sử dụng tạm 1.000 m2 đất hương hỏa để cất nhà, xây trại mộc. Lúc đó, người quen và con dâu là bà Nguyễn Thị Cúc cùng sống ở đây. Thời gian sau, người quen trả lại đất cho bà Nương và đi nơi khác sinh sống, còn trại mộc thì bỏ trống.

Sau giải phóng, bà Cúc quay về ấp Long Thuận sinh sống. Thấy hoàn cảnh bà Cúc khó khăn, UBND xã đã thỏa thuận với bà Nương cho bà Cúc sống tạm ở trại mộc ngày trước.

Năm 1991, bà Cúc đứng tên kê khai phần đất trên để được sử dụng hẳn. Không đồng ý, bà Nương đã khởi kiện. Năm 1992, tòa án huyện đã ra quyết định buộc bà Cúc trả lại 1.000 m2 đất cho bà Nương. Sau đó, quyết định này bị tòa án tỉnh hủy bỏ vì được ban hành không đúng thẩm quyền. Vụ tranh chấp này được chuyển đến UBND huyện giải quyết.

Năm 1995, UBND huyện Long Hồ đã ra quyết định buộc bà Cúc trả đất cho bà Nương, đồng thời ghi nhận sự tự nguyện của bà Nương cho bà Cúc 105 m2 đất nơi khác và một triệu đồng di dời. Lần này, bà Cúc đã khiếu nại.

Năm 1998, UBND tỉnh Vĩnh Long đã ra quyết định bác đơn khiếu nại của bà Cúc và công nhận cách giải quyết của UBND huyện. Tiếp sau đó, khi thanh tra lại vụ việc, UBND tỉnh đã ra công văn khẳng định: “Sự vụ không có tình tiết mới để làm thay đổi kết quả giải quyết của UBND tỉnh nên quyết định trên của UBND tỉnh là đúng pháp luật. Từ nay về sau, tỉnh không xem xét bất kỳ đơn khiếu nại nào liên quan đến vụ tranh chấp trên vì đã hết thẩm quyền”. Đến năm 2002, bà Nương được huyện cấp giấy đỏ cho số đất trên.

Đọc tiếp

TRANH CHẤP TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI: ĐI KIỆN 14 NĂM CHƯA XONG

THANH TÙNG

Qua 10 lần xét xử, vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại xuyên thế kỷ này vẫn chưa có hồi kết. TAND TP.HCM vừa tuyên hoãn xử sơ thẩm (lần năm) vụ hai ông Đặng Đạo và Võ Văn Vinh kiện Công an TP.HCM đòi bồi thường thiệt hại vì “giam xe oan”. Đây là một kỳ án đã kéo dài suốt 14 năm nay vẫn chưa được giải quyết dứt điểm.

Giữ xe sai

Như Pháp Luật TP.HCM từng phản ánh, tháng 2-1992, ông Đạo đại diện cho 10 chủ xe tải ký hợp đồng vận chuyển gỗ từ Campuchia về TP.HCM cho Công ty Vikamex (Bộ Thương mại). Trong một chuyến chở gỗ, một số xe tải đã đổ gỗ xuống Sông Bé theo lệnh riêng của vài cán bộ trong Vikamex. Ông Đạo báo lại sự việc cho Vikamex và rắc rối bắt đầu phát sinh.

Vikamex cho rằng ông Đạo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa nên yêu cầu Công an TP tạm giữ hai chiếc xe của ông Đạo, ông Vinh (không lập biên bản). Sau 19 tháng tạm giữ xe và điều tra không có kết quả, Công an TP đình chỉ vụ án, trả xe lại cho các khổ chủ.

Nhận hai chiếc xe trong tình trạng bị hư hỏng nặng, cho rằng Vikamex giữ xe trái phép gây thiệt hại nên ông Đạo, ông Vinh đã kiện Vikamex ra TAND quận 1 (TP.HCM) đòi bồi thường tổng cộng 359 triệu đồng.

Hủy lên hủy xuống

Năm 1995, TAND quận 1 xử sơ thẩm lần đầu, tuyên buộc Vikamex phải bồi thường cho hai chủ xe 196 triệu đồng. Xử phúc thẩm lần đầu, TAND TP đã tăng mức bồi thường lên gần 340 triệu đồng.

Đọc tiếp

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG DO SÚC VẬT GÂY THIỆT HẠI: CHO CẮN NGƯỜI, BỒI THƯỜNG SỢ … THIỆT

HỒNG TÚ

Vốn không ưa gì nhau, khi một bên bị chó hàng xóm cắn, hai nhà đã nhất quyết hơn thua rồi dẫn nhau ra tòa. TAND quận Bình Thạnh (TP.HCM) đang thụ lý một vụ tranh chấp khá ngộ nghĩnh: Bà NTN đã kiện bà NTMH – hàng xóm ra tòa đòi bồi thường… gần 500 ngàn đồng tiền thuốc chích ngừa do bị chó nhà bà H. cắn.

“Bán” láng giềng gần…

Nhà bà N. và nhà bà H. vốn là hàng xóm láng giềng lâu năm ở phường 24. Giữa hai nhà có chung cái sân phía trước. Một lần bà N. kê chậu kiểng của nhà mình sát với ranh giới chung của sân thì bà H. không đồng ý. Thế là mâu thuẫn tích tụ, hai bên thường xuyên nảy sinh hiềm khích từ những việc cỏn con.

Chiều 4-2-2008, bà N. đi làm về thì thấy có một đống rác từ trên trời rơi xuống chắn lối đi vào nhà. Chậu cây kiểng nhà bà kê sát ranh giới chung với nhà bà H. cũng không còn ở vị trí cũ nữa. Bà N. liền dắt xe vào nhà rồi quay ra kê lại chậu kiểng vào chỗ cũ. Lúc này, bà H. đang ở trong nhà thấy vậy chạy tới ngăn cản, hất bể chậu kiểng của bà N. Bà N. phản ứng lại, hai bên to tiếng chửi nhau và con chó của bà H. từ trong nhà đã nhảy xổ ra cắn bà N.

Cùng lúc đó, chồng của hai bà cũng chạy ra bênh vợ. Chồng bà H. định dùng cây hành hung chồng bà N. nhưng nhờ hàng xóm can ngăn kịp thời nên xô xát đã không xảy ra.

Nhất quyết hơn thua!

Sau đó, bà N. ra Trung tâm Y tế quận Bình Thạnh chích ngừa dại hết 465 ngàn đồng. Quay về, bà yêu cầu bà H. phải bồi thường tiền thuốc. Theo bà, bà H. có lỗi khi không đeo rọ, khớp miệng cho chó. Bà không vào nhà bà H. mà chỉ đứng ở ngoài sân, con chó bà H. từ trong nhà lao ra cắn bậy thì chủ nó phải bồi thường cho bà.

Đọc tiếp

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN: MẠNH AI NẤY XỬ, KHÓ THI HÀNH

VĂN ĐOÀN

Do hai bản án liên quan tuyên hai nội dung khác nhau nên việc thi hành án bị khựng khá lâu.Thi hành án TP Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long đang lúng túng chưa biết phải thi hành như thế nào đối với hai bản án của tỉnh này vì hai bản án có nội dung mâu thuẫn nhau.

Năm 1997, ông R. khởi kiện ông L. (ngụ thị xã Vĩnh Long) ra tòa để đòi lại tiền bán máy cày. Ông R. trình bày từ năm 1996, ông có bán cho ông L. một số máy cày. Theo thỏa thuận thì trong thời hạn một tháng, ông L. phải thanh toán hơn 120 triệu đồng. Nhưng rồi ông L. đã không thực hiện đúng cam kết.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông L. cũng thừa nhận có mua máy cày của ông R. và còn thiếu ông R. số tiền nêu trên. Sau khi xem xét toàn bộ chứng cứ, Tòa án thị xã Vĩnh Long đã xử cho ông R. thắng kiện. Ông L. có trách nhiệm trả cho ông R. hơn 120 triệu đồng. Bản án này đã có hiệu lực pháp luật.

Tưởng chỉ có thế, nào ngờ giữa ông R. và người bạn là ông H. xảy ra mâu thuẫn. Ông H. cho rằng vào năm 1995, ông H. có mở cơ sở bán máy cày. Do quen biết nên ông H. thuê ông R. trông coi cửa hàng. Năm 1996, ông L. đến cửa hàng của ông H. mua máy cày và thiếu nợ hơn 120 triệu đồng. Lúc đó, ông H. giao cho ông R. khởi kiện ông L. để đòi tiền giúp. Như vậy, số tiền mà bản án của TAND thị xã Vĩnh Long yêu cầu ông L. phải trả cho ông R. thực chất là của ông chứ không phải của ông R.

Năm 2005, do thương lượng không được nên ông H. đã kiện ông R. ra TAND huyện Long Hồ (nơi ông R. cư ngụ) với yêu cầu được xác định số tiền mà bản án năm 1997 của TAND thị xã Vĩnh Long xử buộc ông L. phải trả cho ông R. là của ông.

Đọc tiếp

THỰC TIỄN ĐĂNG KÝ KẾT HÔN: MẤT QUYỀN LÀM VỢ

ĐỨC MINH

Viện lẽ hồ sơ trước đây chưa đầy đủ, UBND huyện đã hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn của đương sự. Chị D. (ngụ Hà Nội) yêu người thầy lớn hơn mình 37 tuổi. Người thầy tên T., góa vợ đã lâu. Cuối tháng 1-2007, hai người đi đăng ký kết hôn và được UBND xã Phù Lưu Tế (huyện Mỹ Đức) cấp giấy chứng nhận kết hôn.

Cuộc hôn nhân ngắn ngủi

Sau ngày cưới, vợ chồng chị D. vào Đà Nẵng để ra mắt họ hàng và làm giỗ cho người vợ đầu của ông T. Không may, ông T. bị đột tử do mang sẵn căn bệnh huyết áp cao và tiểu đường. Tính ra, hôn nhân của họ kéo dài chưa đầy tuần lễ. Khi mất, ông T. có để lại một căn hộ và một biệt thự.

Hai năm sau đó, chị D. đi bước nữa. Tháng 2-2009, chị D. được UBND xã Phù Lưu Tế xác nhận “đã đăng ký kết hôn một lần, chồng chết, hiện độc thân”. Tuy nhiên, chỉ một tháng sau khi có xác nhận này, UBND xã Phù Lưu Tế đã mời chị đến hòa giải với… con gái ông T. về hôn nhân trước. Tại đây, chị hết sức bất ngờ khi được biết vào tháng 10-2007, từ phản ánh của con gái ông T., UBND xã Phù Lưu Tế đã ra quyết định thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn giữa chị với ông T. Lý do: hai người vi phạm thủ tục đăng ký kết hôn. Cụ thể, hồ sơ kết hôn của chị D. và ông T. thiếu tờ khai đăng ký kết hôn của cả hai; giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của ông T. đã hết hạn sử dụng do được cấp từ năm 2005. Khi ra quyết định thu hồi này, UBND xã Phù Lưu Tế đã không thông báo cho chị D.

Theo Nghị định 158 ngày 27-12-2005 của Chính phủ (về đăng ký và quản lý hộ tịch) thì UBND cấp xã không có thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ các giấy tờ hộ tịch do mình cấp sai, thẩm quyền này thuộc về UBND huyện. Vì lẽ này, tháng 4-2009, UBND huyện Mỹ Đức đã ra quyết định hủy bỏ quyết định trái thẩm quyền nói trên của UBND xã Phù Lưu Tế, đồng thời thu hồi, hủy bỏ, xóa đăng ký kết hôn của chị D. và ông T.

Đọc tiếp

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG TÀI SẢN: BỐC THĂM MẶT TIỀN, NHẬN Ở MẶT HẬU

TRÙNG KHÁNH

Gần ba năm nay, ông N.H.P (thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang) cứ ấm ức khi không được giao kiốt theo đúng vị trí trong bản đồ phân lô đã được niêm yết công khai tại UBND phường.

Tháng 10-2006, ông P. tham gia bốc thăm mua một kiốt tại chợ Vĩnh Đông (phường Núi Sam). Kết quả, ông bốc được kiốt số 45 lô B (dành cho ngành hàng vải, quần áo may sẵn).

Ngay sau đó, ông đã ký hợp đồng sử dụng kiốt với Doanh nghiệp tư nhân Như Ý – đơn vị đầu tư xây dựng chợ. Vài ngày sau, doanh nghiệp tổ chức công khai sơ đồ mặt bằng phân lô tại UBND phường Núi Sam. Theo đó, vị trí kiốt của ông P. nằm ở phía ngoài, giáp lối đi chính.

Không theo sơ đồ đã duyệt

Chừng đến ngày nhận kiốt thì ông P. giật mình khi vị trí thực tế của kiốt không giống như bản đồ đã công bố. Cụ thể, kiốt số 45B mà ông P. được giao không phải ở mặt tiền mà giáp đường đi phụ, nằm đâu lưng so với vị trí được ghi nhận trên bản đồ.

Qua tìm hiểu, ông P. được biết trước ngày bốc thăm kiốt, UBND thị xã Châu Đốc đã có quyết định phê duyệt đề án di dời chợ Vĩnh Đông. Theo đề án này, lô B có 84 kiốt. Bản đồ quy hoạch chợ được niêm yết tại phường cũng có nội dung này và đã được các cơ quan thẩm quyền của thị xã phê duyệt. Nhưng khi triển khai, doanh nghiệp Như Ý đã tự ý thay đổi một số chi tiết trong đề án.

Đọc tiếp

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN: MỘT BẢN ÁN CÓ HIỆU LỰC KHÔNG ĐƯỢC THI HÀNH

DUY TUẤN

Một bản án dân sự đã có hiệu lực sau 2 lần xét xử, bị đơn liên tục gửi đơn khiếu nại nhưng bị cơ quan tư pháp các cấp bác bỏ. Thế nhưng, sau hơn 1 năm, bản án vẫn không được thi hành.

Bà Chu Thị Lân, 81 tuổi ở số nhà 30, Hàng Mã cùng với con cháu đã có đơn “xin cứu giúp khẩn cấp” gửi đến VietNamNet về việc sau nhiều lần đi “hầu tòa” đã đòi được nhà. Tuy nhiên, đã hơn 1 năm trôi qua, bản án vẫn không được thực thi. Nay gia đình bà có thể lại phải tiếp tục "hầu tòa" từ cấp sở thẩm để đòi lại nhà.

Thuê nhà rồi muốn “sở hữu” luôn (?)

Nguyên gốc ngôi nhà số 30 Hàng Mã (Quận Hoàn Kiếm) được xác nhận tại Công văn (CV) số 2771 của Sở TNMT & Nhà đất Hà Nội: “thuộc bằng khoán điền thổ số 1005, khu Đồng Xuân, nằm trên thửa đất số 376, bản đồ số 10 chữ A năm 1942 đứng tên ông Chu Tuấn Đức và bà Phạm Thị Ân” (bố mẹ của bà Chu Thị Lân).

Năm 1953, ông Đức cho một người thuê tầng 1 để mở hàng in, sau đó cửa hàng in này sát nhập với xưởng in Hoàn Cầu. Đến năm 1962, xưởng in Hoàn Cầu nhập lại với xưởng in Kim Sơn thành Liên xưởng in Kim Sơn (sau này là Công ty in Thống Nhất).

Thời gian đó, giữa gia đình cụ Đức, cụ Phạm Hải Kình và Liên xưởng in Kim Sơn đã có thỏa thuận bằng văn bản là xưởng in sẽ dùng nhà cụ Kình đang ở tại số 10, Ngõ Huyện (thuê của nhà nước) để mở rộng sản xuất, cụ Kình sẽ đến ở căn buồng ngoài tầng dưới ở nhà 30 – Hàng Mã. Hàng tháng, cụ Kình phải có trách nhiệm trả tiền thuê nhà cho Đức.

Đọc tiếp

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI: THIẾU HỢP ĐỒNG THANH LÝ . . . ĐƯA NHAU RA TÒA

HỮU TUẤN

Hơn 100 tỷ đồng tiền mua bán hàng hoá trong vòng 7 năm mà không hề có hợp đồng thanh lý, chốt nợ là nguyên nhân khiến hai bên phải kéo nhau ra toà…  Toà án Kinh tế, Toà án Nhân dân TP. Hà Nội vừa đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại về tranh chấp hợp đồng mua bán giữa Công ty TNHH Daewoo Hanel (Công ty Hanel) và Công ty TNHH Dịch vụ Thảo Anh (Công ty Thảo Anh). Đây là vụ tranh chấp kinh tế khá đặc biệt khi nhà sản xuất kiện ra toà đòi nợ đại lý phân phối sản phẩm.

Từ năm 1998 đến 2005, giữa Công ty Hanel và Công ty TNHH Dịch vụ Thiên Hưng (mà sau năm 2002 là Công ty Thảo Anh) có ký kết hợp đồng mua bán hàng điện tử, điện lạnh do Công ty Hanel sản xuất với giá trị hàng hoá hơn 100 tỷ đồng. Theo hợp đồng đã được ký kết giữa hai bên về phương thức thanh toán là hàng tháng sẽ quyết toán, cộng sổ sách một lần, một năm sẽ cộng sổ, chốt nợ một lần.

Phương thức thanh toán là không thanh toán theo từng hoá đơn, mà thanh toán trên tổng số tiền hàng bán ra. Cũng từ đây mọi rắc rối bắt đầu nảy sinh. Giữa hai bên đã có hàng chục "thông báo tình hình thanh toán và xác nhận số dư nợ" có ký tên, đóng dấu của ông Đỗ Hữu Nghĩa, Giám đốc Công ty Thảo Anh, với các đại diện Công ty Hanel. Đây là những khoản nợ đọng gối đầu sau các giao dịch mua bán hàng hoá giữa hai bên.

Cho đến ngày 31/8/2005, số công nợ mà hai bên xác nhận với nhau là 1.038.560.213 đồng. Ngày 23/02/2006, Hanel có đơn khởi kiện Công ty Thảo Anh. Đại diện Công ty Hanel, ông Dương Kim Sơn cho rằng, ngoài số tiền nợ trên (tính từ tháng 8/2005 đến tháng 6/2009), bên Thảo Anh phải trả số tiền lãi suất của 46 tháng theo quy định là 418.020.425 đồng. Tuy nhiên, để thể hiện thiện chí, ông Sơn đã đề nghị Công ty Thảo Anh chỉ phải trả số nợ gốc mà không phải trả tiền lãi.

Đọc tiếp

CÔNG CHỨNG VIÊN “TIẾP TAY” CHO ĐỐI TƯỢNG LỪA SỔ ĐỎ

H. VŨ

Lợi dụng sự thiếu hiểu biết của người dân trong việc công chứng ủy quyền, Nguyễn Thu Hợp và Phạm Tuấn Anh đã soạn thảo bản công chứng mẫu với một số điều khoản nhằm "bẫy" chủ sở hữu, từ đó sử dụng "sổ đỏ" của họ mang đi thế chấp hoặc bán cho người khác lấy tiền đút túi.

Trong vụ này còn có dấu hiệu bất thường của công chứng viên trong quá trình thực hiện công chứng một loạt hợp đồng ủy quyền.

Ủy quyền "sổ đỏ" vay vốn, bị bán mất nhà

Tháng 7/2008, vợ chồng ông Trần Văn Mạnh và bà Nguyễn Thị Nương ở 108 B16 tập thể Công ty May 10, thị trấn Sài Đồng, Gia Lâm tá hỏa khi bỗng nhiên bị bà Nguyễn Thị Hỷ ở tổ 19 Ngọc Lâm, Long Biên đến đòi nhà. Bà Hỷ đưa ra một bản hợp đồng chuyển nhượng ngôi nhà của vợ chồng ông Mạnh, bà Nương được ký giữa chị Phạm Thị Vân Anh (con gái bà Hỷ) với Nguyễn Thu Hợp ở số 2 dốc Tam Đa với giá 1,1 tỷ đồng. Đến lúc này, bà Nương mới ngã ngửa vì Nguyễn Thu Hợp là người đã nhận "sổ đỏ" của vợ chồng bà để làm thủ tục vay vốn ngân hàng.

Sự việc bắt đầu từ tháng 4/2008, do có nhu cầu vay 350 triệu đồng đầu tư trang trại, qua người quen, bà Nương đã đến gặp Nguyễn Thị Hồng Hạnh – Giám đốc Công ty Tư vấn môi giới dịch vụ vay vốn ngân hàng tại phố Nguyễn Trường Tộ nhờ vay vốn ngân hàng. Hạnh đồng ý và thỏa thuận bà Nương trích hoa hồng tương đương 5% số vốn được vay.

Theo hướng dẫn, sáng 21/5/2008, bà Nương đến nhà Hạnh tại phố Ngọc Hà để ký hợp đồng và gặp Hợp cùng một người đàn ông đợi sẵn, sau đó họ đưa bà Nương đến Phòng công chứng số 5 làm thủ tục ủy quyền.

Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 656 other followers

%d bloggers like this: