XÂY MỚI THAY VÌ “BẢO DƯỠNG” HIẾN PHÁP

LS. TrƯƠNG THANH ĐỨC – Trọng tài viên VIAC

Hiến pháp là một đạo luật đóng vai trò rường cột của ngôi nhà đất nước, đòi hỏi sự bền vững và chuẩn mực cao nhất. Vì vậy, mỗi lần dựng lại rường cột mới, thì cần mạnh dạn thay đổi cơ bản, mạnh mẽ, tiến bộ. Vì vậy, cần tiếp tục cân nhắc những vấn đề quan trọng còn nhiều ý kiến khác nhau trong Dự thảo Hiến pháp, trong đó có thể chế kinh tế.

Đa số các điều khoản của Dự thảo Hiến pháp nói chung, 9 điều về kinh tế nói riêng đều có tình trạng thừa thãi từ ngữ nhưng lại thiếu tính pháp lý. clip_image003Chẳng hạn quy định “Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thực hành tiết kiệm, phòng chống lãng phí, tham nhũng trong hoạt động kinh tế – xã hội và quản lý nhà nước.” (Điều 60) là đã đi quá xa. Tiết kiệm là cần thiết, nhưng không cần phải quy định như vậy trong Hiến pháp, vì không thể chế tài cá nhân và doanh nghiệp tư nhân phải tiết kiệm, phòng chống lãng phí cả tiền bạc thuộc sở hữu của chính họ. Thậm chí, nền kinh tế thị trường còn đòi hỏi phải kích cầu, kích thích, khuyến khích tiêu dùng, chứ không chỉ chắt bóp, tiết kiệm như thời hành chính quan liêu bao cấp.

Đặc biệt là vấn đề sở hữu đất đai và việc thu hồi đất. Đối với quốc gia nào thì đất đai cũng quý giá, quan trọng và có ý nghĩa như nhau, nhưng chỉ có rất ít nước quá khác biệt là không công nhận sở hữu tư nhân.[1] Bên cạnh sở hữu Nhà nước về đất đai, công nhận thêm sở hữu cá nhân và pháp nhân về đất đai chỉ có tốt hơn, tạo thêm động lực cho phát triển, đáp ứng được nguyện vọng cháy bỏng của con người. Chế độ công hữu độc nhất về đất đai như một vết rạch hằn sâu vào bức tranh kinh tế đa sở hữu, như một giới tuyến định mệnh chia cắt sự đồng bộ tất yếu. Công nhận nền kinh tế thị trường, giá đất theo thị trường, việc giao đất, thu hồi đất cũng chủ yếu nhằm đáp ứng yêu cẩu của thị trường, nhưng riêng sở hữu thì lại không theo thị trường là một sự lẩn tránh.

Continue reading

MỘT SỐ Ý KIẾN ĐÓNG GÓP VỀ CHẾ ĐỘ KINH TẾ CHO DỰ THẢO SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP NĂM 1992

PGS.TS. TRẦN VĂN NAM – Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Chế độ kinh tế là một chương quan trọng trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) gồm 15 điều (từ Điều 15 đến Điều 29). So với các quy định tương ứng trong Chương Chế độ kinh tế của Hiến pháp năm 1980, các nội dung trong Chương Chế độ kinh tế của Hiến pháp hiện hành có giá trị thực tiễn và giá trị lịch sử to lớn. Sau hơn 20 năm thực hiện Hiến pháp năm 1992, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Hiện nay trước yêu cầu của công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, của định hướng xây dựng và phát triển toàn diện đất nước trong giai đoạn mới, yêu cầu sửa đổi Hiến pháp để bổ sung, sửa đổi Hiến pháp 1992 trở nên rất cần thiết. Dưới đây là một số ý kiến góp ý về Chương III Chế độ Kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường.

1. Một số điểm mới của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992

Đối chiếu với Hiến pháp 1992, sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (Dự thảo) đã gộp hai chương, Chương Chế độ kinh tế và Chương Văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ của Hiến pháp năm 1992 thành một chương mới (Chương 3) với tên gọi là Chương kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường.

Với Chương mới này, Bản Dự thảo đã có những điều chỉnh đáng ghi nhận về chế độ kinh tế. Dự thảo đã thể hiện rõ hơn tính chất, mô hình kinh tế (Điều 55), vai trò quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN (Điều 56), chế độ sở hữu và quyền tự do kinh doanh (Điều 57), tài sản thuộc sở hữu toàn dân (Điều 58), việc quản lý và sử dụng đất đai (Điều 59) và bổ sung một điều mới (Điều 60) về quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia và các nguồn tài chính công khác. Dự thảo bổ sung thêm 2 điều nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đó là: Điều 59 (về vấn đề ngân sách nhà nước); Điều 68 (về vấn đề bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học; phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu). Việc bổ sung 2 điều mới trong Dự thảo đã thể hiện tính quan trọng của những vấn đề này đối với sự phát triển đất nước.

2. Tổng quan về các ý kiến liên quan đến chế độ kinh tế của Dự thảo

Trước hết, về cấu trúc mới của Hiến pháp thể hiện tính chặt chẽ, sự kết hợp một số chương của Hiến pháp 1992 thành các chương mới phù hợp với bối cảnh chính trị, kinh tế và vị trí mới của đất nước. Việc Dự thảo kết hợp Chương II về chế độ kinh tế và Chương III về văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ thành chương mới đã thể hiện tầm quan trọng của trục phát triển bền vững đó là kinh tế, xã hội và môi trường. Đây là một sự sửa đổi tích cực và đáng ghi nhận của Dự thảo [1].

Continue reading

CƠ CHẾ MỚI VỀ THỰC HIỆN CHỨC NĂNG ĐẠI DIỆN CHỦ SỞ HỮU NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

PHẠM TIỄN SỸ – Vụ pháp chế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Nhằm đổi mới cơ chế quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, ngày 15/11/2012, Chính phủ đã chính thức ban hành Nghị định số 99/2012/NĐ-CP về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp (sau đây gọi tắt là Nghị định 99). Nghị định 99 sẽ có hiệu lực kể từ ngày 30/12/2012 và thay thế Nghị định số 132/2005/NĐ-CP ngày 20/10/2005 của Chính phủ về thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với công ty nhà nước (sau đây gọi tắt là Nghị định 132) và Nghị định số 86/2006/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 132.

Nghị định 99 có nhiều điểm thay đổi so với Nghị định 132 và việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước tại các ngân hàng thương mại (NHTM) như Vietcombank, BIDV, Vietinbank, Agribank, MHB. Trong phạm vi bài viết này, tôi xin giới thiệu những thay đổi chủ yếu của cơ chế phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước theo Nghị định 99 và một số nội dung liên quan đến lĩnh vực ngân hàng.

1. Mở rộng đối tượng doanh nghiệp áp dụng cơ chế phân công, phân cấp thực hiện các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước

Khắc phục bất cập của Nghị định 132 chỉ áp dụng đối với các công ty nhà nước (doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ), chưa bao quát hết việc quản lý vốn đầu tư của Nhà nước tại các loại hình doanh nghiệp, nhất là trong điều kiện hiện nay, nhiều công ty nhà nước đã được cổ phần hóa, Nghị định 99 đã mở rộng phạm vi áp dụng đối với tất cả các loại hình doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhà nước. Theo Nghị định 99, việc phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước được quy định đối với từng nhóm doanh nghiệp sau đây: (i) Doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ ; (ii) Doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ; và (iii) Doanh nghiệp mà Nhà nước có vốn đầu tư nhưng nắm giữ không quá 50% vốn điều lệ. Đồng thời, căn cứ vào tỷ trọng vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp, Nghị định 99 đã có các quy định phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước phù hợp với từng nhóm doanh nghiệp.

Continue reading

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 641 other followers

%d bloggers like this: