DỰ THẢO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH (được hợp nhất theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000) – Phiên bản lấy ý kiến các Bộ, ngành, địa phương và nhân dân

DỰ THẢO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

(được hợp nhất theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000)

(Phần có chữ in nghiêng là nội dung được sửa đổi, bổ sung)

LỜI NÓI ĐẦU

Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt.

Để đề cao vai trò của gia đình trong đời sống xã hội, giữ gìn và phát huy truyền thống và những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, xóa bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình;

Để nâng cao trách nhiệm của công dân, Nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam;

Kế thừa và phát triển pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam;

Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;

Luật này quy định chế độ hôn nhân và gia đình.

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Nhiệm vụ và phạm vi điều chỉnh của Luật hôn nhân và gia đình

Luật hôn nhân và gia đình có nhiệm vụ góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, xây dựng chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững.

clip_image001Luật hôn nhân và gia đình quy định chế độ hôn nhân và gia đình, trách nhiệm của công dân, Nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam.

Đọc tiếp

DỰ THẢO LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000 (Phiên bản lấy ý kiến các Bộ, ngành, địa phương và nhân dân)

DỰ THẢO LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU

CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000

(Phần có chữ in nghiêng là nội dung được sửa đổi, bổ sung)

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;

Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hôn nhân và gia đình số …/20../QH13,

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung Luật hôn nhân và gia đình:

1. Điều 2 được sửa đổi, bổ sung như sau:

Điều 2. Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình

1. Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.

2. Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, các tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

3. Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình.

4. Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành công dân có ích cho xã hội; con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ; cháu có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà; các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau.

5. Truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về hôn nhân và gia đình được kế thừa và phát huy.

6. Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử về giới và mọi sự phân biệt đối xử khác giữa các con trong gia đình.

7. Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, phụ nữ; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ.”

GÓP Ý CHO DỰ THẢO LUẬT TIẾP CẬN THÔNG TIN

THS. BÙI XUÂN PHÁI – Giảng viên khoa Hành chính – Nhà nước

Một văn bản luật ra đời là một sản phẩm của nhiều hoạt động mang tính trí tuệ cao. Luật tiếp cận thông tin là một văn bản quan trọng, cụ thể hoá một phần quyền cơ bản của công dân – quyền tự do thông tin. Nó cũng là sự thể hiện thái độ trách nhiệm của nhà nước ta trước các điều ước quốc tế mà Việt nam là thành viên và trước nhân dân, đồng thời xác định mối quan hệ giữa nhà nước với nhân dân trong nhà nước pháp quyền mà chúng ta đang quyết tâm xây dựng.

Có thể nói đây là một bước chuyển quan trọng về chất trong quan niệm của chúng ta về quyền con người. Tuy nhiên, đây là lần đầu chúng ta xây dựng một luật về vấn đề này nên không thể tránh khỏi những khó khăn. Với mong muốn góp phần vào việc làm hoàn thiện luật này, tôi xin có một số góp ý cho dự thảo như sau:

Về tên gọi của dự luật này.

Nếu đây là văn bản luật được ban hành nhằm cụ thể hóa quy định của Hiến pháp 1992 (được sửa đổi năm 2001) về quyền được thông tin của công dân thì tên gọi dự luật này không phản ánh hết ý nghĩa của quyền này và như vậy đương nhiên nội dung và phạm vi điều chỉnh sẽ bị thu hẹp lại. Quyền được thông tin phải bao gồm cả quyền được biết thông tin và quyền được tạo ra thông tin. Tất nhiên các quyền này có giới hạn và phải gắn với những nghĩa vụ và bảo đảm nhất định. Quyền được biết thông tin gắn liền với quyền được cung cấp thông tin được đảm bảo bởi các chủ thể có trách nhiệm, còn quyền được tạo ra thông tin lại gắn với bản thân mỗi công dân và các chủ thể khác. Nếu dự luật để tên như vậy thì thiếu nội dung thứ hai và quyền cơ bản của công dân không được cụ thể hóa một cách đầy đủ. Nếu thể hiện được cả nội dung thứ hai này thì ý nghĩa của nó chính là sự thể hiện tính tích cực chính trị của công dân mà đặc biệt trong việc xây dựng chính sách pháp luật, đồng tời liên quan gần gũi với hoạt động phẩn biện xã hội.

Chương 1

Thứ nhất, về phạm vi điều chỉnh. Nếu như dự luật có sự tiếp nhận ý kiến trên, phạm vi điều chỉnh của luật phải được mở rộng ra khá nhiều. Đó chính là những quan hệ xã hội xảy ra trong các hoạt động tạo ra thông tin và phổ biến thông tin. Luật là để điều chỉnh quan hệ xã hội biểu hiện thông qua hành vi của con người nên dự luật: “quy định về thông tin được tiếp cận, …hình thức tiếp cận thông tin…” là không hợp lý. Nên chỉnh lại là: “luật này xác định các loại thông tin mà công dân, cơ quan, tổ chức được tiếp cận…” và “quy định hình thức công bố thông tin”. Thông tin là cái đã có nên luật không quy định mà chỉ xác định thông tin nào thuộc đối tượng mà cá nhân, tổ chức… tiếp cận. Mặt khác, hình thức tiếp cận thông tin của công dân, tổ chức… không phụ thuộc vào quy định của pháp luật.

Đọc tiếp

THỰC TIỄN ĐÒI HỎI SỰ BẢO ĐẢM CAO HƠN ĐỐI VỚI DỰ LUẬT ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Chủ tịch Công ty Luật BASICO

1. Đi tìm ý nghĩa, tác dụng thực tế của Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm

Trước hết, tôi xin được chia sẻ với Ban soạn thảo và Tổ biên tập Dự thảo Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm về những vướng mắc phát sinh khi mục đích đề ra của dự thảo Luật là tạo ra bước đột phá để giải quyết tình trạng phân tán, manh mún, bất hợp lý về đăng ký giao dịch bảo đảm được quy định trong một số văn bản hiện hành như: Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Hàng không dân dụng, Bộ luật Hàng hải,…

Một điểm mấu chốt mà Luật này cần phải khắc phục, đó là pháp luật hiện hành chưa phân định rõ về giá trị pháp lý của giao dịch bảo đảm và giá trị pháp lý của đăng ký giao dịch bảo đảm. Theo tôi, dự thảo Luật cần khẳng định theo một hướng duy nhất, đã được quy định tại khoản 3 Điều 323 của Bộ luật Dân sự: “Trường hợp giao dịch bảo đảm được đăng ký theo quy định của pháp luật thì giao dịch bảo đảm đó có giá trị pháp lý đối với người thứ ba, kể từ thời điểm đăng ký”. Xét về bản chất, nếu giao dịch bảo đảm đã xuất phát từ sự tự nguyện của các bên tham gia, các nội dung thỏa thuận không trái với quy định của pháp luật thì phải có hiệu lực ngay với các bên tham gia giao dịch. Việc đăng ký giao dịch bảo đảm chỉ có giá trị đối kháng với người thứ 3, chứ không phải là quyết định giá trị hiệu lực của giao dịch bảo đảm như quy định hiện nay đối với với các trường hợp bắt buộc phải đăng ký giao dịch bảo đảm.

Để giải quyết vấn đề này, Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm nên quy định thống nhất, tập trung những nội dung đang còn bất hợp lý trong các quy định của pháp luật chuyên ngành, chứ không nên chỉ quy định đơn thuần về mặt thủ tục và hình thức đăng ký giao dịch bảo đảm.

2. Cần tập trung về một đầu mối đăng ký giao dịch bảo đảm

Dự thảo Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm cần tập trung hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm vào một đầu mối đăng ký và đề cao vai trò của Cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm quốc gia. Về quy định, thì Cục Đăng ký Quốc gia Giao dịch bảo đảm có vai trò rất quan trọng trong việc giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thống nhất quản lý nhà nước về đăng ký giao dịch bảo đảm trong phạm vi toàn quốc. Tuy nhiên, trên thực tế, mới chỉ xây dựng thể chế, pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm và đảm nhận quản lý việc đăng ký giao dịch bảo đảm đối với động sản của các Trung tâm Đăng ký. Trong khi đó, giao dịch bảo đảm bằng bất động sản và tàu thuỷ, tàu bay có vị trí quan trọng, chiếm phần lớn trị giá của giao dịch bảo đảm, nhưng lại đang do các cơ quan chuyên ngành (Tài nguyên và Môi trường, Hàng không, Hàng hải) trực tiếp đảm nhận nhiệm vụ đăng ký. Do đó, Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm chỉ thật sự cần thiết, có ý nghĩa và đáp ứng được đòi hỏi thực tế khi có đầy đủ các quy phạm pháp luật nhằm thống nhất về một đầu mối đăng ký giao dịch bảo đảm.

Đọc tiếp

RÀNG BUỘC LỆCH CHUẨN

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Chủ tịch Công ty Luật BASICO

Cả hai bên đi thuê và làm thuê đều hy vọng Bộ luật Lao động sửa đổi sẽ có được những thay đổi dứt khoát, mạnh mẽ. Tuy nhiên Dự thảo Bộ luật Lao động chuẩn bị trình Quốc hội thông qua vẫn giữ lại nhiều quy định vướng mắc, bất cập, thậm chí còn thụt lùi so với Bộ luật Lao động hiện hành.

Những ràng buộc vô lý

Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận tự nguyện của hai bên, thể hiện kết quả thuận mua, vừa bán hàng hóa sức lao động. Tuy nhiên, Dự thảo lại đưa ra quy định mới là, người sử dụng lao động không được yêu cầu thử việc đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ (Điều 34). Như vậy, khác nào bắt người thuê lao động làm việc vài tháng cứ phải nhắm mắt nhận bừa bất kể ai?

Dự thảo quy định, trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động, nếu bên nào có yêu cầu thay đổi nội dung hợp đồng thì phải báo cho bên kia biết trước ít nhất 3 ngày làm việc (Điều 38). Quy định mốc 3 ngày này là vô nghĩa, vì chẳng ràng buộc được điều gì. Trong trường hợp này, bên đề nghị có quyền đưa ra lúc nào cũng được, còn nghĩa vụ về thời gian phải là của bên tiếp nhận. Do vậy, cần phải quy định ngược lại là, bên nhận được yêu cầu thay đổi nội dung hợp đồng phải trả lời bên kia trong thời hạn 3 ngày.

Theo Bộ luật hiện hành, thì người lao động làm việc theo loại hợp đồng không xác định thời hạn có thể chấm dứt hợp đồng không cần lý do, miễn là báo trước 45 ngày. Còn theo Dự thảo này thì trong mọi trường hợp, người lao động chỉ được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong 7 trường hợp, khi có những lý do thật là chính đáng như “bị ngược đãi; bị cưỡng bức lao động” hay “bản thân hoặc gia đình thật sự có hoàn cảnh khó khăn không thế tiếp tục thực hiện hợp đồng” (Điều 44) và kèm theo điều kiện phải báo trước một số ngày nhất định (Điều 45). Như vậy, thì đồng nghĩa với việc người lao động làm việc theo bất kỳ loại hợp đồng nào cũng đều bị “trói” chặt, không được quyền rời bỏ nơi này để đến nơi khác dù tốt hơn về nghề nghiệp, thu nhập, điều kiện làm việc,… Ngược lại, thì phía người sử dụng lao động cũng vẫn tiếp tục bị trói chân, trói tay trong việc luân chuyển, thay thế, đào thải lao động như những quy định chặt chẽ lâu nay. Những quy định này là trái ngược với đòi hỏi tự do cạnh tranh lao động trong nền kinh tế thị trường. Một mặt, nó làm cho người lao động bị hạn chế quyền đổi mới chỗ làm, mặt khác làm cho chính các doanh nghiệp cũng sẽ mất cơ hội tuyền dụng, sàng lọc được lao động phù hợp. Nguy cơ hiện hữu là đại đa số các trường hợp đổi việc đều bị rơi vào tình trạng trái pháp luật và phải bồi thường. Nếu cứ giữ nguyên quy định này, thì không có gì khó hiểu khi pháp luật lao động vẫn sẽ là lĩnh vực bị vi phạm nhiều nhất trong tương lai.

Đọc tiếp

MỘT SỐ NHẬN XÉT PHẢN BIỆN VỀ DỰ THẢO LUẬT CẠNH TRANH (DỰ THẢO 09) NĂM 2004

Tác giả viết bài này vào thời điểm Luật Cạnh tranh năm 2004 đang được xây dựng ở Dự thảo 9. Một số thông tin không còn phù hợp với thời điểm hiện tại. Song có rất nhiều thông tin còn hữu ích cho việc học tập và nghiên cứu pháp luật.

GS.TS. NGUYỄN VÂN NAM

Do thời gian rất hạn chế, những nhận xét có tính chất phản biện Dự thảo Luật Cạnh Tranh của tôi dưới đây chủ yếu tập trung vào những vấn đề có tính nguyên tắc có khả năng ảnh hưởng rất tiêu cực đến quá trình đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO và sẽ gây ra những trở ngại lớn trong quá trình thực thi Luật Cạnh Tranh dẫn đến những hậu qủa đáng tiếc cho quá trình hội nhập kinh tế thế giới của chúng ta.

Trước mắt, tôi cũng sẽ chỉ tập trung nhận xét về Luật Chống Cạnh Tranh Không Lành Mạnh do tính chất quyết định của nó trong việc bảo đảm quyền tự do hoạt động kinh tế của các chủ thể tham gia thị trường, phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội và truyền thống đạo lý của nước ta.

Những phân tích phản biện sau đây được định hướng theo tiêu chuẩn pháp lý tối thiểu mà Tổ chức Thương mại Thế giới WTO yêu cầu các nước thành viên phải thực hiện.

A. TIÊU CHUẨN PHÁP LÝ TỐI THIỂU CỦA WTO.

I. Những vấn đề có tính nguyên tắc.

Với mục đích thúc đẩy tự do hóa thương mại toàn cầu, WTO qui định khung pháp lý- có tính chất định chế chung- cho các nước thành viên trong hoạt động thương mại giữa họ ( Điều II khoản 1 WTO). Tiêu chuẩn pháp lý tối thiểu này của WTO được xây dựng trên hai trụ cột có tính chất bắt buộc đối với mỗi nước thành viên là:

- Nhà nước pháp quyền.

- Hệ thống luật pháp ổn định, minh bạch, có tính dự đoán và có khả năng thực thi.

1.Nhà nước pháp quyền:

a) Nguyên tắc chung:

Mọi hoạt động của Nhà nước và đời sống xã hội đều phải gắn liền và tuân theo pháp luật, bảo đảm công lý.

Đọc tiếp

BÁO CÁO SỐ 316/BC-UBTVQH12 NGÀY 21 THÁNG 04 NĂM 2010 CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI GIẢI TRÌNH TIẾP THU, CHỈNH LÝ DỰ ÁN LUẬT THUẾ NHÀ, ĐẤT

Kính thưa:
Các vị đại biểu Quốc hội,

Dự án Luật thuế nhà, đất đã được Quốc hội khóa 12 cho ý kiến tại kỳ họp thứ 6. Sau kỳ họp, Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã chỉ đạo Cơ quan thẩm tra, Cơ quan soạn thảo và các cơ quan hữu quan tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, lấy ý kiến nhân dân để hoàn chỉnh Dự án Luật.

Ủy ban thường vụ Quốc hội xin báo cáo Quốc hội về việc tiếp thu, chỉnh lý Dự án Luật này như sau:

I. VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1. Về sự cần thiết ban hành, phạm vi áp dụng và tên gọi của luật

Theo quy định của Dự thảo luật thì Luật thuế nhà, đất được ban hành để áp dụng thuế đối với hai loại đối tượng là: (1) nhà ở và (2) đất phi nông nghiệp.

Nhiều ý kiến tán thành về sự cần thiết ban hành luật. Tuy nhiên, một số ý kiến đề nghị chưa ban hành luật tại thời điểm hiện nay. Cần khảo sát, đánh giá và cân nhắc tính hợp lý của việc ban hành.

Dưới đây, UBTVQH xin báo cáo cụ thể về sự cần thiết ban hành luật đối với từng loại đối tượng (nhà và đất) như sau:

a. Về sự cần thiết ban hành luật thuế áp dụng đối với đất phi nông nghiệp

UBTVQH cho rằng, cần thiết ban hành luật thuế áp dụng đối với đất phi nông nghiệp với lý do sau:

Thứ nhất, Pháp lệnh thuế nhà, đất được UBTVQH thông qua ngày 3/7/1992, được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 1994, quy định về điều tiết nguồn thu đối với đất phi nông nghiệp. Pháp lệnh này bước đầu đặt cơ sở cho việc tăng cường quản lý, động viên đóng góp của người sử dụng đất vào NSNN, tăng cường nguồn lực cho ngân sách địa phương.

Đọc tiếp

BÁO CÁO SỐ 324/BC-UBTVQH12 NGÀY 17 THÁNG 5 NĂM 2010 CỦA Ủ̉Y BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI GIẢI TRÌNH, TIẾP THU, CHỈNH LÝ DỰ THẢO LUẬT AN TOÀN THỰC PHẨM

Kính gửi:
Các vị đại biểu Quốc hội,

Tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội Khóa XII đã xem xét, cho ý kiến về dự thảo Luật An toàn thực phẩm. Đa số ý kiến đại biểu tán thành với sự cần thiết ban hành và nội dung cơ bản của dự thảo Luật An toàn thực phẩm, báo cáo thẩm tra của Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, đồng thời đóng góp nhiều ý kiến cho Dự thảo Luật. Sau kỳ họp, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan nghiên cứu, tiếp thu ý kiến đóng góp của các vị đại biểu Quốc hội về dự thảo Luật An toàn thực phẩm và gửi xin ý kiến các đoàn đại biểu Quốc hội; đồng thời tổ chức nhiều hội nghị để xin ý kiến của đại diện nhiều cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp, chuyên gia trong và ngoài nước. Tại Phiên họp thứ 27 (tháng 1/2010) và Phiên họp thứ 30 (tháng 4/2010), Ủy ban thường vụ Quốc hội đã cho ý kiến về việc tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật An toàn thực phẩm để chuẩn bị trình Quốc hội xem xét, thông qua tại kỳ họp thứ 7.

Uỷ ban thường vụ Quốc hội xin báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý Dự thảo Luật An toàn thực phẩm như sau:

I – VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CÒN CÓ Ý KIẾN KHÁC NHAU

1. Về quản lý đối với thực phẩm được sản xuất, kinh doanh quy mô nhỏ lẻ

Có ý kiến đề nghị làm rõ Luật có quản lý an toàn thực phẩm đối với thực phẩm được sản xuất, kinh doanh quy mô nhỏ lẻ hay chỉ quy định đối với thực phẩm được sản xuất, kinh doanh quy mô công nghiệp.

Về vấn đề này, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thấy rằng, ở Việt Nam, việc sản xuất, kinh doanh thực phẩm quy mô nhỏ lẻ còn phổ biến, liên quan tới đời sống của 9,4 triệu hộ nông dân trực tiếp sản xuất nông sản và người kinh doanh thực phẩm quy mô nhỏ lẻ. Vì vậy, để phù hợp với điều kiện thực tiễn và đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, dự thảo Luật quy định theo hướng:

- Mọi cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm đều phải bảo đảm an toàn thực phẩm, việc quản lý an toàn thực phẩm dựa trên tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, các quy định do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành (Điều 3); Nhà nước có chính sách khuyến khích các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, xây dựng thương hiệu, phát triển hệ thống cung cấp thực phẩm an toàn; khuyến khích và có lộ trình bắt buộc áp dụng hệ thống thực hành sản xuất tốt (GMP), thực hành nông nghiệp tốt (GAP) (Điều 4), quy định về quyền và nghĩa vụ của người sản xuất, kinh doanh thực phẩm (Điều 7 và Điều 8 Chương II), quy định về điều kiện bảo đảm an toàn trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm (Chương IV).

Đọc tiếp

BÁO CÁO SỐ 327/BC-UBTVQH12 NGÀY 22 THÁNG 5 NĂM 2010 VỀ GIẢI TRÌNH TIẾP THU, CHỈNH LÝ DỰ THẢO LUẬT NUÔI CON NUÔI

Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Tại kỳ họp thứ 6 (tháng 11/2009), các vị đại biểu Quốc hội đã thảo luận, cho ý kiến về dự án Luật nuôi con nuôi. Sau kỳ họp, Ủy ban pháp luật đã phối hợp với Bộ Tư pháp và các cơ quan hữu quan tổ chức khảo sát việc thực hiện pháp luật về nuôi con nuôi tại một số địa phương, tổ chức hội thảo để tiếp tục lấy ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, đại diện một số cơ quan, tổ chức ở trung ương và địa phương, các chuyên gia trong và ngoài nước về dự án Luật nuôi con nuôi.

Dự án Luật đã được gửi xin ý kiến các Đoàn đại biểu Quốc hội. Trong quá trình hoàn thiện, Thường trực Ủy ban pháp luật và cơ quan soạn thảo đã làm việc với đại diện Đại sứ quán của 9 nước ký hiệp định nuôi con nuôi với nước ta, một tổ chức quốc tế và một số tổ chức con nuôi nước ngoài hoạt động tại Việt Nam. Sau đây, Ủy ban thường vụ Quốc hội xin báo cáo Quốc hội việc giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật nuôi con nuôi.

I/ NHỮNG VẤN ĐỀ LỚN

1. Về đối tượng và độ tuổi được nhận làm con nuôi; điều kiện của người được nhận làm con nuôi

a) Về đối tượng và độ tuổi được nhận làm con nuôi (Điều 7)

- Nhiều ý kiến đề nghị Luật chỉ điều chỉnh việc nuôi con nuôi là trẻ em dưới 16 tuổi; không áp dụng với trường hợp là “thương binh, người khuyết tật, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc làm con nuôi người già yếu, cô đơn”. Một số ý kiến đề nghị cân nhắc đối tượng được nhận nuôi là người trên 15 tuổi, vì thực tế có phát sinh, nếu không quy định sẽ bỏ trống nhóm đối tượng này. Có ý kiến đề nghị quy định tuổi trẻ em được nhận làm con nuôi là dưới 14 tuổi. Ý kiến khác đề nghị quy định tuổi trẻ em làm con nuôi “từ đủ 15 tuổi trở xuống”, vì pháp luật về hình sự, dân sự, lao động hiện hành quy định trách nhiệm đối với người trên độ tuổi này. Ngoài ra, có ý kiến băn khoăn quy định độ tuổi trẻ em được nhận làm con nuôi như dự thảo Luật sẽ thấp hơn độ tuổi trong Công ước Lahay về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi quốc tế năm 1993 (dưới 18 tuổi).

Đọc tiếp

BÁO CÁO SỐ 320/BC-UBTVQH12 NGÀY 12 THÁNG 5 NĂM 2010 CỦA ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI KHÓA 12 GIẢI TRÌNH, TIẾP THU, CHỈNH LÝ DỰ THẢO LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Tại kỳ họp thứ 6 của Quốc hội (tháng 11/2009) các vị đại biểu Quốc hội đã thảo luận, cho ý kiến về dự án Luật Trọng tài thương mại. Sau kỳ họp, dưới sự chỉ đạo của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy ban Tư pháp đã phối hợp với Hội luật gia Việt Nam và các cơ quan hữu quan tổ chức nhiều hội nghị lấy ý kiến đóng góp của các chuyên gia trong nước và nước ngoài, gửi xin ý kiến các Đoàn đại biểu Quốc hội, các đại biểu Quốc hội và các cơ quan hữu quan, tổ chức tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo Luật. Ủy ban thường vụ Quốc hội xin báo cáo Quốc hội về việc tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Trọng tài thương mại như sau:

1. Về tên gọi của dự thảo Luật

Có ý kiến đề nghị lấy tên luật là Luật Trọng tài hoặc Luật thủ tục giải quyết các tranh chấp của Trọng tài thương mại.

Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, tên gọi của Luật này được quyết định bởi phạm vi điều chỉnh của Luật và phạm vi thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài. Vì vậy, nếu lấy tên luật là Luật Trọng tài thì phạm vi điều chỉnh quá rộng; còn nếu lấy tên luật là Luật Thủ tục giải quyết các tranh chấp của Trọng tài thương mại, thì không bao quát được hết các nội dung của Luật này vì theo quy định của dự thảo Luật thì ngoài việc quy định trình tự, thủ tục trọng tài; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên trong tố tụng trọng tài, thi hành phán quyết trọng tài, phạm vi điều chỉnh còn quy định cả những nội dung khác như: thẩm quyền của Trọng tài, hình thức trọng tài, tổ chức trọng tài, thẩm quyền của Tòa án đối với hoạt động Trọng tài. Như vậy, với phạm vi thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài được quy định trong Luật này là những tranh chấp phát sinh chủ yếu từ hoạt động thương mại nên lấy tên gọi là Luật Trọng tài thương mại là phù hợp.

Vì vậy, Ủy ban thường vụ Quốc hội xin được giữ nguyên tên gọi của dự thảo Luật.

2. Về phạm vi điều chỉnh (Điều 1)

Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên; về tổ chức trọng tài nước ngoài, trọng tài viên nước ngoài hoạt động tại Việt Nam cho phù hợp với quy định tại Chương XII của dự thảo Luật vào phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật.

Tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội, đồng thời để phù hợp với nội dung của dự thảo Luật, Điều 1 quy định về phạm vi điều chỉnh được chỉnh lý như sau: “Luật này quy định về thẩm quyền của Trọng tài thương mại, các hình thức trọng tài, tổ chức trọng tài, Trọng tài viên; trình tự, thủ tục trọng tài; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên trong tố tụng trọng tài; thẩm quyền của Tòa án đối với hoạt động trọng tài, tổ chức và hoạt động của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam, thi hành phán quyết trọng tài.”

Đọc tiếp

TỜ TRÌNH CỦA BỘ TƯ PHÁP DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH VỀ ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

Dự thảo ngày 02/02/2010

Kính gửi:

Chính phủ

Thực hiện Chương trình xây dựng văn bản, đề án năm 2010 của Bộ Tư pháp trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương, Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, trong thời gian vừa qua, Bộ Tư pháp đã triển khai xây dựng dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 08/2000/NĐ-CP ngày 10/3/2000 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm (sau đây gọi là Nghị định về đăng ký giao dịch bảo đảm). Sau một thời gian xây dựng theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định, Bộ Tư pháp xin kính trình Chính phủ Dự thảo Nghị định về đăng ký giao dịch bảo đảm như sau:

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH NGHỊ ĐỊNH VỀ ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

Việc ban hành Nghị định về đăng ký giao dịch bảo đảm là cần thiết xuất phát từ các lý do chủ yếu sau đây:

1. Trong thực tiễn, đăng ký giao dịch bảo đảm không chỉ đáp ứng lợi ích của người vay và người cho vay vốn, mà còn khuyến khích sự lưu thông nguồn vốn và giúp thị trường tín dụng hoạt động hiệu quả, an toàn, góp phần thúc đẩy sản xuất – kinh doanh phát triển. Thiết chế đăng ký giao dịch bảo đảm ra đời có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong việc xác định thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận bảo đảm khi xử lý tài sản bảo đảm, giúp công khai hóa, minh bạch hóa các thông tin liên quan đến giao dịch bảo đảm. Ngoài ra, thông qua việc tổ chức, vận hành có hiệu quả hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm, Nhà nước có được những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình hoạch định chính sách vĩ mô, đặc biệt liên quan trực tiếp đến mục tiêu bảo đảm an toàn tín dụng.

Bên cạnh đó, quá trình giải quyết các vụ án về tranh chấp quyền sở hữu tài sản cho thấy, một trong những nguyên nhân có thể dẫn đến tranh chấp là do các bên thiếu thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm (ví dụ: Trong vụ án tranh chấp giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Dầu khí toàn cầu (GP Bank) với một số hộ dân về quyền sở hữu 47 biệt thự thuộc dự án xây dựng khu biệt thự tại xã An Khánh, huyện Hoài Đức, TP Hà Nội thì 47 biệt thư nêu trên là tài sản bảo đảm trong hợp đồng tín dụng giữa Cty D&T với ngân hàng thương mại cổ phần Dầu khí toàn cầu (GP Bank) để vay vốn thực hiện dự án đầu tư). Do không có thông tin chính thức về tình trạng pháp lý của tài sản nên các hộ dân đã mua 47 lô đất với giá 2,8 tỷ đồng/lô và khi Cty D&T không có khả năng thanh toán số vốn vay hơn 66 tỷ đồng nên đến tháng 12/2008, GP Bank đã ra thông báo chuyển quyền thụ hưởng 47 lô đất trên và GP Bank chính thức thay D&T thực hiện quyền, nghĩa vụ hợp pháp đối với 47 biệt thự là tài sản đảm bảo nêu trên).

Đọc tiếp

BÁO CÁO NGÀY 18 THÁNG 01 NĂM 2010 CỦA THƯỜNG TRỰC ỦY BAN KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LỚN CỦA DỰ ÁN LUẬT AN TOÀN THỰC PHẨM

Tài liệu phục vụ Phiên họp thứ 27 của Ủy ban thường vụ Quốc hội (19.1.2010)

Kính gửi:

Ủy ban thường vụ Quốc hội

Tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội đã thảo luận về Dự án Luật An toàn thực phẩm. Sau kỳ họp Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường chủ trì phối hợp với Ban Soạn thảo và các cơ quan hữu quan nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội để chỉnh lý dự thảo Luật.

Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường (KHCN-MT) xin báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội về một số vấn đề lớn đã được nghiên cứu và tiếp thu, chỉnh lý trong dự thảo Luật.

1. Về quản lý an toàn thực phẩm đối với thực phẩm sản xuất, kinh doanh quy mô nhỏ lẻ

Có ý kiến đề nghị làm rõ Luật có quản lý an toàn thực phẩm (ATTP) đối với thực phẩm sản xuất, kinh doanh quy mô nhỏ lẻ hay chỉ quy định đối với thực phẩm sản xuất, kinh doanh quy mô công nghiệp.

Về vấn đề này, Thường trực Ủy ban KHCN-MT thấy rằng, ở Việt Nam, việc sản xuất, kinh doanh thực phẩm quy mô nhỏ lẻ còn phổ biến, liên quan trực tiếp tới đời sống của 9,4 triệu hộ nông dân trực tiếp sản xuất nông sản và tiểu thương kinh doanh thực phẩm quy mô nhỏ lẻ tại các chợ. Vì vậy, để phù hợp với điều kiện thực tế và đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, dự thảo Luật quy định theo hướng:

- Mọi cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm đều phải bảo đảm ATTP, việc quản lý ATTP dựa trên tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật (Điều 3); Nhà nước có chính sách khuyến khích phát triển các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, xây dựng thương hiệu, phát triển hệ thống cung cấp thực phẩm an toàn; thực hiện lộ trình bắt buộc áp dụng hệ thống Thực hành sản xuất tốt (GMP), Thực hành nông nghiệp tốt (GAP)… (Điều 4), quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong bảo đảm an toàn thực phẩm (Chương II), quy định về điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm (Chương III)…

Đọc tiếp

TỜ TRÌNH CỦA BỘ TƯ PHÁP VỀ DỰ ÁN LUẬT TIẾP CẬN THÔNG TIN

Kính gửi:

Thủ tướng Chính phủ

Thực hiện Nghị quyết số 27/2008/QH12 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2009 và bổ sung Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khoá XII, được sự phân công của Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng Dự án Luật tiếp cận thông tin (sau đây gọi là Dự án Luật). Bộ Tư pháp xin trình Chính phủ những nội dung chính liên quan đến Dự án Luật như sau:

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH VĂN BẢN

Ở nước ta, quyền được thông tin của công dân, tổ chức đã được thể hiện trong nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 đã khẳng định: bảo đảm quyền được thông tin… của công dân. Thể chế hoá đường lối của Đảng, Hiến pháp năm 1992 quy định: “Công dân… có quyền được thông tin… theo quy định của pháp luật” (Điều 69). Gần đây nhất, Nghị quyết Hội nghị lần thứ Ba, Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khoá X) về tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã đề ra nhiệm vụ nghiên cứu ban hành Luật bảo đảm quyền được thông tin của công dân và coi đây là một trong các biện pháp phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước.

Trên phương diện quốc tế, quyền tiếp cận thông tin là một trong các quyền cơ bản của con người, thuộc nhóm quyền dân sự – chính trị, được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948[1], Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 mà Việt Nam là thành viên. Các quyền này tiếp tục được khẳng định trong Công ước của Liên Hợp quốc về chống tham nhũng[2], Tuyên bố Rio về Môi trường và phát triển và Công ước UNECE về tiếp cận thông tin môi trường. Cho đến nay, nhiều quốc gia trên thế giới cũng đã ban hành luật liên quan đến quyền tiếp cận thông tin của công chúng.[3]

Đọc tiếp

KHÔNG THỂ SỬA ĐỔI LUẬT BẰNG NGHỊ ĐỊNH

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC

Dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp đã đưa ra nhiều quy định mới mang tính đột phá, nhằm hóa giải nhiều trường hợp bế tắc cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, để xây dựng lên những quy định ấy, nhiều điều khoản của dự thảo Nghị định lại trở thành trái luật.

Không công nhận, vẫn đủ tư cách?

Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là một cơ chế pháp lý đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp. Thông qua người đại diện theo pháp luật để xác định tư cách hợp pháp của người thay mặt doanh nghiệp trong các giao dịch kinh tế, dân sự.

Một doanh nghiệp hoạt động bình thường, thì không thể thiếu người đại diện theo pháp luật, dù chỉ trong một thời gian ngắn. Nếu không có người đại diện theo pháp luật, thì sẽ dẫn đến nguy cơ đình trệ hoạt động của doanh nghiệp, thậm chí rơi vào tình trạng bế tắc, không có lối thoát.

Xét trên tổng thể mấy trăm ngàn doanh nghiệp, thì sự cố này xảy ra rất thường xuyên, phổ biến. Lý do thì vô khối, chẳng hạn do người đại diện bị chết, mất tích, bị cách chức, bị mất khả năng làm việc, trong khi chưa thể hoàn tất được thủ tục bổ nhiệm nhân sự mới và thay đổi đăng ký người đại diện theo pháp luật. Luật Doanh nghiệp đã không thiết kế các quy định cần thiết để xử lý tình huống éo le, do vậy, rất cần được giải quyết trong nghị định.

Tuy nhiên, dự thảo Nghị định lại đi quá xa bằng việc đưa ra một loạt quy định như: Người được ủy quyền sẽ được “làm người đại diện theo pháp luật” của doanh nghiệp trong trường hợp người đại diện pháp luật vắng mặt trên 30 ngày.

Hay nếu thành viên là người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH có hai thành viên mà bị tạm giữ, tạm giam, bỏ trốn, bị mất năng lực hành vi dân sự, thì thành viên còn lại sẽ đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty.

Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 656 other followers

%d bloggers like this: