MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ MỐI QUAN HỆ, TÁC ĐỘNG QUA LẠI GIỮA DỰ ÁN LUẬT HỘ TỊCH VỚI BỘ LUẬT DÂN SỰ, LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TỪ GÓC ĐỘ GIỚI VÀ NHỮNG KHUYẾN NGHỊ LỒNG GHÉP GIỚI CỤ THỂ TRONG DỰ ÁN LUẬT

NGUYỄN HỒNG HẢI – Vụ Pháp luật dân sự – kinh tế, Bộ Tư pháp

I. Mối quan hệ, tác động qua lại giữa Dự án Luật Hộ tịch với Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình dưới góc độ giới

Dự án Luật Hộ tịch (dự án Luật) quy định về nguyên tắc, thẩm quyền, thủ tục đăng ký hộ tịch nhằm xác nhận và ghi vào sổ hộ tịch những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết. Do đó, dự án Luật này có mối liên quan rất chặt chẽ tới Bộ luật Dân sự (BLDS), Luật Hôn nhân và gia đình (LHNGĐ), Luật Quốc tịch Việt Nam, Luật Cư trú, Luật Nuôi con nuôi…

Tờ trình của Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã nêu quan điểm chỉ đạo trong xây dựng dự án Luật là bảo đảm phù hợp với Hiến pháp và đồng bộ, thống nhất với các đạo luật có liên quan đến lĩnh vực hộ tịch (như BLDS, LHNGĐ, Luật Quốc tịch Việt Nam, Luật Cư trú, Luật Nuôi con nuôi…). Về cơ bản, tôi tán thành với cách đặt vấn đề như đã nêu trong Tờ trình. Tuy nhiên, dưới góc độ giới, tôi cũng xin đưa ra một số ý kiến về mối quan hệ, tác động qua lại giữa dự án Luật với BLDS, LHNGĐ:

1. Mối tương quan trong hệ thống pháp luật

Khi xây dựng dự án Luật, Luật Hộ tịch thường được xác định như là luật hình thức (luật thủ tục) của BLDS, LHNGĐ và các luật nội dung khác có liên quan. Thực chất Luật Hộ tịch không đơn thuần là luật quy định về thủ tục mà còn là luật có liên quan trực tiếp đến công nhận và bảo đảm thực hiện các quyền con người nói chung, quyền của cá nhân nói riêng. Do đó, để phát huy tốt nhiệm vụ, vai trò của Luật Hộ tịch, cần xem xét mối quan hệ (ở cả góc độ giới) giữa dự án Luật với BLDS, LHNGĐ và các luật nội dung khác có liên quan trên hai phương diện: Luật Hộ tịch là luật hình thức, đồng thời là luật riêng của các luật nội dung. Tiếp cận như vậy, vừa đảm bảo xác định được rõ ràng, cụ thể phạm vi điều chỉnh của các luật, sự đồng bộ, thống nhất trong các quy định về quản lý nhà nước về hộ tịch (trên phương diện luật nội dung và luật hình thức), đồng thời đảm bảo được sự đồng bộ trong một thể thống nhất về quy định quyền và cơ chế bảo đảm công nhận, thực thi quyền của cá nhân (bao gồm bình đẳng giới), khắc phục được những bất cập, hạn chế trong quy định của các luật nội dung không còn phù hợp với điều kiện thực tiễn hiện nay (trên phương diện luật chung và luật riêng).[1]

(more…)

VỊ THẾ GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG LỊCH SỬ

THẠCH VĂN

Luật lệ về hôn thú; hứa hôn và ly dị và các nghi lễ, tình trạng đa thê, các vấn đề xã hội nghề nghiệp, sự giáo dục và những nét đặc biệt của vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam trong lịch sử đã góp phần làm nên bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc.

Những điều luật về hôn nhân sớm nhất của Việt Nam thời phong kiến có thể sớm hơn Bộ Luật Dân sự của nước Pháp đã có những điều rất tiến bộ đối với phụ nữ như: người phụ nữ bình đẳng với người chồng: (Thê – Phu tề gia ). Khi lập gia đình, họ không nhất thiết phải dùng tên của người chồng, mà có thể giữ tên riêng của mình.

Ở Việt Nam xưa, hôn thú xảy ra ở tuổi rất sớm, con trai là mười sáu, con gái là mười bốn và được xem là một vấn đề rất hệ trọng nên không thể phó mặc cho sự may rủi hoặc sở thích trong tình yêu. Nó là công việc mà cha mẹ thường phải sắp xếp, giải quyết và được tham khảo ý kiến của những người có quan hệ gần gũi trong họ tộc. Cũng chính vì vậy mà sự cố vấn là cần thiết cho lứa tuổi còn quá trẻ. Cũng do vậy, thời kỳ hứa hôn được chấp nhận kéo dài. Sự hứa hôn cấu thành khế ước pháp lý đầu tiên và sẽ kết thúc khi vị hôn thê chấp nhận các lễ vật. Nếu người con trai phá bỏ sự hứa hôn, anh ta sẽ mất lễ vật đã trao cho người hôn thê. Nếu người con gái là kẻ hối hôn, cô ta có thể bị người hôn phu đầu tiên khiếu nại cho dù sau này anh ta sẽ lấy một người  khác.

Các cuộc hôn nhân với người cận huyết thống sẽ bị trừng phạt rất nặng nề. Thí dụ, một người đàn ông lấy bà cô của mình sẽ tức thời bị chém đầu. Người đàn ông có thể được phép lựa chọn người làm vợ trong số các chị em của người vợ cả bị chết nhưng lại có thể bị treo cổ nếu cưới vợ góa của anh em trai. Việc kết hôn hỗn tạp cũng bị ngăn cấm bởi vì nó có thể làm đảo lộn căn bản hệ cấp của gia đình.

Nghi lễ và giáo lý Phật Giáo của người Việt biểu lộ một sự tôn kính sâu xa liên quan đến tục thờ cúng tổ tiên. Từ đó, vị thế truyền thống của người cha cấu thành các nguyên tắc nền tảng của gia đình. Nhà nào cũng đều có một bàn thờ nhưng chỉ người đàn ông mới được cử hành lễ. Đây lại chính là nguồn gốc của một sự bất bình đẳng xã hội. Điều dễ nhận thấy là người đàn ông luôn tìm cách vận dụng tôn giáo để gia tăng quyền lực của mình.

(more…)

“THIẾU PHỤ NỮ ĐỂ KẾT HÔN” LÀ THIẾU THẾ NÀO?

ĐOÀN QUỐC QUÂN – Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí

Vấn đề mất cân bằng giới tính đang có vẻ "nóng". Mới hôm rồi một tờ báo đưa tin “Việt Nam đang thiếu hụt 139.000 phụ nữ trưởng thành” , nghe hết cả hồn. Sợ như thế chưa đủ làm người ta khiếp vía, một bài báo khác hù tiếp “Hàng triệu nam giới Việt có nguy cơ… ế vợ”.

Sự tình là, theo thống kê của Tổng cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình thì tỷ số giới tính khi sinh của nước ta hiện ở mức 111 trai/100 gái, tại một số địa phương thậm chí lên đến 130/100. Các chuyên gia lo ngay ngáy, cứ cái đà này thì chả mấy chốc hàng triệu nam giới Việt có nguy cơ ế vợ và phải  nhập khẩu cô dâu.

Nhập khẩu cô dâu cũng tốt, làm phong phú nguồn gien và văn hóa, tuy nhiên dù đó là một đề tài rất thú vị nhưng để dịp khác ta sẽ bàn luận cho rôm rả. Ở đây người viết chỉ muốn nêu ra câu hỏi: Thiếu phụ nữ để kết hôn là thiếu thế nào?

Dường như các chuyên gia nhìn vấn đề kết hôn theo kiểu “chia phần” rất đơn giản thế này: Luật Hôn nhân và gia đình quy định chế độ một vợ một chồng, nên tiêu chuẩn của mỗi nam giới độc thân đến tuổi kết hôn là được chia một phụ nữ cũng đến tuổi kết hôn và đang độc thân (hoặc ngược lại – mỗi phụ nữ được chia một nam giới). Thế cho nên, hễ phe nào đông hơn phe kia bao nhiêu người thì có nghĩa là chừng đó người rơi vào nguy cơ mất phần, tức là ế.

Các chuyên gia này có lẽ đã quên hết kiến thức về lý thuyết tập hợp mà họ được học ở trường phổ thông.
Theo lý thuyết này thì nam giới đủ điều kiện lấy vợ tạo nên tập hợp A có a phần tử, tương tự nữ giới tạo nên tập hợp B với b phần tử. Khi đó, mỗi phần tử của tập hợp A (hoặc B) có không chỉ 1, mà b (hoặc a) khả năng kết hợp với 1 phần tử của tập hợp B (hoặc A).

Lấy ví dụ đơn giản cho dễ hình dung. Nếu xã hội chỉ có 2 chàng và 1 nàng, thì không nhất thiết một nửa số đàn ông trong xã hội sẽ ế vợ. Kể cả khi cấm ngặt chế độ đa phu 1 nàng 2 chàng (như cổ tích về 3 hòn đầu rau trong bếp), thì mỗi chàng vẫn có thể có 1 vợ, chỉ có điều phải luân phiên nhau.

(more…)

CƯỠNG ÉP TÌNH DỤC TRONG HÔN NHÂN

PGS.TS. HOÀNG BÁ THỊNH – Khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN

1. Giới thiệu 

Một trong những dạng bạo lực trong gia đình được giới nghiên cứu đề cập đến là bạo lực tình dục. theo chúng tôi, bạo lực tình dục trong gia đình là một khái niệm rộng hơn cưỡng ép tình dục trong hôn nhân1 (rape in marriage/ marital rape), còn đựơc hiểu phần lớn là chồng cưỡng hiếp vợ (wife rape) hay đôi khi hiểu một cách chuẩn hơn trong mối quan hệ giới: cưỡng hiếp vợ chồng (spousal rape: đây là hiện tượng hai chiều trong đời sống tình dục vợ chồng, không chỉ có chồng cưỡng ép tình dục vợ, mà cũng có tình huống ngược lại). bạo lực tình dục trong gia đình bao gồm bạo lực tình dục đối với vợ (là chủ yếu) với con gái (mức độ thấp là lạm dụng tình dục, cao hơn nữa là cưỡng hiếp con gái) còn cưỡng hiếp/cưỡng bức tình dục trong hôn nhân chỉ giới hạn hành vi bạo lực về tình dục trong mối quan hệ vợ chồng mà thôi.

Có thể dẫn ra một vài định nghĩa về bạo lực tình dục và bạo lực tình dục trong hôn nhân:

Bạo lực tình dục (có tài liệu gọi là lạm dụng tình dục): là sự cưỡng bức, ép buộc một phụ nữ phải làm những việc liên quan đến tình dục trái với mong muốn của họ; bàn luận về những bộ phận trên cơ thể của phụ nữ, đòi hỏi tình dục, cưỡng hiếp, giam cầm và sử dụng các công cụ tình dục, xem phụ nữ như là một đối tượng tình dục. (hoàng nguyễn tử khiêm – nguyễn kim thúy, 2005:19).

Theo quỹ dân số liên hợp quốc thì khái niệm bạo lực tình dục được hiểu rất rộng, với những khía cạnh khác nhau bao gồm cả nơi công cộng, trong gia đình khi làm việc cũng như chốn riêng tư, và nó liên quan đến cả những nhu cầu cơ bản của cuộc sống cá nhân: “bạo lực tình dục có thể bao gồm sự đe doạ về thể chất cũng như hăm doạ về tâm lý, các cố gắng quan hệ tình dục hay các hành vi quan hệ tình dục, cưỡng dâm khi hò hẹn hay trong quan hệ vợ chồng, và tống tiền. bạo lực cũng có thể lợi dụng sự bất ổn về tài chính của người phụ nữ, thông qua đe doạ đuổi việc hoặc bóc lột lao động, chẳng hạn như đề nghị quan hệ tình dục để đổi lấy lương thực, thực  phẩm hay chỗ ở. việc từ chối sử dụng biện pháp tránh thai để bảo vệ phụ nữ cũng được coi là một hình thức của bạo lực tình dục”. (unfpa, 2005).

Các định nghĩa đã tiếp cận ở những mức độ khác nhau và nhấn mạnh hành vi bạo lực tình dục (của nam giới) đối với phụ nữ. cũng lưu ý là, nên nhìn nhận vấn đề này từ quan điểm giới, có nghĩa là vấn đề này không xảy ra một chiều, mà còn có cả bạo lực tình dục trong hôn nhân của phụ nữ đối với nam giới. cho dù, nhiều nghiên cứu cho thấy rằng: bạo lực, bạo lực gia đình nói chung và bạo lực tình dục nói riêng chủ yếu do nam giới thực hiện mà nạn nhân đa phần là phụ nữ. vì thế, thiết tưởng cũng nên có một quan niệm linh hoạt hơn về bạo lực tình dục trong hôn nhân: là những hành vi tình dục một chiều diễn ra trong đời sống vợ chồng là xuất phát từ nhu cầu của một một người, còn người kia (vợ hay chồng) không có nhu cầu song vẫn phải đáp ứng/chịu đựng. các nhà nghiên cứu đã xác định 3 dạng bạo lực tình dục trong hôn nhân như sau:

(more…)

MỘT TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

NICOLE SCHWAB VÀ ANIELA UNGURESAN (Quốc Dũng dịch)

Liệu có một tiêu chuẩn quốc tế cho bình đẳng giới? Và liệu chúng ta có thể áp dụng một tiêu chuẩn như vậy cho mọi công ty trên toàn thế giới để nam giới và nữ giới có cơ hội bình đẳng nhau?

Ngày nay, tại một vài quốc gia, chủ yếu ở châu Âu và Mỹ La tinh, đã bắt đầu triển khai các hệ thống chứng nhận có bao gồm một số khía cạnh của bình đẳng giới. Tuy nhiên, không có một tiêu chuẩn quốc tế nào được áp dụng cho các công ty lớn nhất trên thế giới xuyên suốt các quốc gia mà họ hoạt động.

Dựa vào những gì họ đạt được và tiềm năng của các công ty này – không chỉ bởi hàng trăm nghìn nam giới và nữ giới họ đang sử dụng, mà còn bởi họ có thể đóng vai trò thực hành tốt nhất – chúng tôi tin tưởng rằng một tiêu chuẩn quốc tế sẽ đem lại hiệu quả sâu rộng.

Với ý tưởng này chúng tôi đã phát triển một phương pháp để các công ty có thể có được sự hiểu biết toàn diện về mình trong vấn đề bình đẳng giới. Phương này có thể dùng như một công cụ quản lý đồng thời đóng hai vai trò là cơ sở cho việc thiết lập một tiêu chuẩn toàn cầu cho bình đẳng giới, và đánh giá các công ty về vấn đề này.

Các công ty đạt tiêu chuẩn sẽ được công nhận thông qua một nhãn hiệu toàn cầu về bình đẳng giới, nhãn hiệu này sẽ được đưa vào sử dụng trong tháng 1 năm 2011 bởi tổ chức của chúng tôi, Gender Equality Project.

Công cụ đánh giá của chúng tôi tập trung vào 5 lĩnh vực: Trả tiền bằng nhau cho các công việc tương đương, tuyển dụng và thăng tiến, đào tạo và tư vấn, và văn hóa tại công ty.

Trong từng lĩnh vực, chúng tôi không chỉ nắm bắt kết quả, mà cả những chính sách và thực tiễn đã chứng minh là có hiệu quả trong việc thúc đẩy bình đẳng giới nơi làm việc. Các công ty được đánh giá trên cả biện pháp định lượng và định tính.

(more…)

VIỆT NAM 1918 – 1945, GIỚI VÀ HIỆN ĐẠI: SỰ TRỖI DẬY NHỮNG NHẬN THỨC VÀ TRẢI NGHIỆM MỚI

BÙI TRÂN PHƯỢNG

Lời giới thiệu của Thời Đại Mới: Bài viết mà Thời Đại Mới hân hạnh giới thiệu dưới đây là bản dịch bài trình bày luận văn tiến sĩ sử học của bà Bùi Trân Phượng trước hội đồng giám khảo trường Đại Học Lyon II (Pháp) năm 2008. Nhan đề của luận văn là: "Viet Nam 1918-1945, genre et modernité. Emergence de nouvelles perceptions et expérimentations" ("Việt Nam 1918-1945, giới tính và hiện đại. Sự trỗi dậy của những nhận thức mới và kinh nghiệm mới").

Đây là một công trình nghiên cứu quan trọng và tiên phong về lịch sử giới tính và vai trò của phụ nữ Việt Nam trong công cuộc hiện đại hóa xã hội, gắn liền với các phong trào ái quốc, chống thực dân, tranh đấu cho độc lập của đất nước trong nửa đầu thế kỳ 20. Tầm quan trọng của luận văn trước tiên biểu lộ qua phương pháp nhìn vấn đề, cách phân tích vấn đề, cách lập thuyết, và tài liệu để triển khai luận thuyết. Tầm tiên phong của luận văn thể hiện qua những khám phá độc đáo và nhất là qua những đề nghị mở ra nhiều hướng mới lý thú cho những nghiên cứu tương lai.

Bài trình bày dưới đây giúp độc giả thấy được tầm quan trọng và tiên phong đó của một luận văn đã được hội đồng giám khảo hết lời khen ngợi. Thời Đại Mới hi vọng sẽ có cơ hội lần lượt giới thiệu những phần chính trong luận văn này.

Tác giả Bùi Trân Phượng hiện là hiệu trưởng trường Đại Học Hoa Sen, Thành Phố Hồ Chí Minh.

1.  Tại sao tôi chọn đề tài nầy?

Trước hết để bắt đầu lấp một chỗ trống. Nếu chỉ nhìn thư tịch Việt Nam mà công chúng trong nước được tiếp cận, dẫu có sự phong phú biểu kiến vào lúc nào đó, lịch sử hiện đại vẫn là phần nghèo nàn về phương diện tri thức lịch sử cụ thể. Nó cho biết rất ít về những con người (về người nữ còn hiếm hoi hơn) trong xã hội, trong không gian và thời gian. Trong nghiên cứu quốc tế về Việt Nam, cho đến rất gần đây, phụ nữ cũng không phải là chủ đề được quan tâm.[1] Một hướng mới đầy triển vọng từng được mở ra với những công trình nghiên cứu lịch sử xã hội và/hoặc xã hội học lịch sử lần đầu cho phép hiển thị những người thấp cổ bé họng, những nạn nhân của mọi hình thức đàn áp khác nhau, cho họ có quyền lên tiếng; nhưng những nghiên cứu nầy cũng chưa thật sự tính đến phụ nữ với tư cách là người nữ. Cùng với khoảng trống về lịch sử phụ nữ nói chung, một tấm màn lãng quên hay thờ ơ, lạnh nhạt cũng đồng thời che phủ đời sống trí thức[2] của xã hội Việt và đơn giản là cuộc sống đời thường,[3] nơi các yêu sách chánh trị không phát biểu trực tiếp, lộ liễu.

(more…)

BÁO CÁO SỐ 36/BC-CP NGÀY 20 THÁNG 04 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ VIỆC THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU QUỐC GIA VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI NĂM 2009

Kính gửi

Quốc hội

Luật Bình đẳng giới có hiệu lực thi hành được hơn 2 năm, thời gian chưa nhiều để triển khai thực hiện những quy định của Luật, mặt khác, nhận thức về vấn đề bình đẳng giới còn nhiều hạn chế song việc thực hiện các quy định pháp luật về bình đẳng giới được triển khai bước đầu khá đồng bộ ở hầu hết các ngành, các cấp, tạo ra được tiền đề tích cực cho các năm tiếp theo.

Thực hiện Điều 25 Luật Bình đẳng giới, Chính phủ báo cáo Quốc hội về việc thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2009 với những nội dung cụ thể như sau:

Phần 1.

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU QUỐC GIA VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI NĂM 2009

I. TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI THỰC HIỆN LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI

1. Công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về bình đẳng giới

So với năm 2008, trong năm 2009, việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Bình đẳng giới đã hoàn thành theo quy định tại Chỉ thị số 10/2007/CT-TTg ngày 03 tháng 5 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thi hành Luật Bình đẳng giới. Cho tới thời điểm này, Chính phủ đã ban hành 03 Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Bình đẳng giới là: Nghị định số 70/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 6 năm 2008 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bình đẳng giới, Nghị định số 48/2009/NĐ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2009 quy định về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới và Nghị định số 55/2009/NĐ-CP ngày 10 tháng 6 năm 2009 quy định xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới. Đồng thời, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 08/2009/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và Nghị định số 110/2009/NĐ-CP ngày 10 tháng 12 năm 2009 quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình.

(more…)

THÚC ĐẨY BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở CÔNG SỞ: CHỈ NÓI SUÔNG!

ORIT GADIESH & JULIE COFFMAN* (Như Nguyệt dịch)

Nhiều công ty đã từng cam kết thực hiện bình đẳng giới nơi công sở nhưng thực tế không phải vậy. Bản khảo sát về bình đẳng giới mà chúng tôi hợp tác với HBR.org thực hiện gần đây với hơn 1800 doanh nhân trên toàn cầu chỉ ra rằng nhân viên thất vọng với cách tổ chức của mình thực hiện vấn đề bình đẳng giới, cụ thể hơn là nỗ lực nhằm đối xử công bằng giữa nhân viên nam và nữ nơi công sở.

Gần 80% nam và nữ nhân viên nói rằng các cấp lãnh đạo quả cũng đã thuyết phục họ về những lợi ích của bình đẳng giới nhưng chỉ 20% tin rằng tổ chức của mình có thể thực hiện cam kết này một cách nghiêm túc.

Hầu như mọi công ty đều không thể theo đuổi cam kết này đến cùng. Gần ¾ số người được hỏi nói rằng công ty của mình cũng đã đề ra các sáng kiến như chương trình làm việc và kèm việc linh hoạt nhưng chưa tới 25% số người được hỏi đánh giá các chương trình này thực sự mang lại hiệu quả bởi nhân viên vẫn chưa nhận thấy nhiều phụ nữ giữ cương vị quản lý ở công ty họ.

60% người tham gia khảo sát phát biểu công ty không hề lưu tâm đến ý kiến của nhân viên đối với vấn đề bình đẳng giới. Chưa đến 20% đánh giá công ty mình sát sao với tiến trình thực hiện bình đẳng giới. Chỉ 14% nhận xét mình có những chương trình đào tạo và nhóm làm việc chuyên đề bình đẳng giới hiệu quả. Chỉ 8% tin rằng công ty của mình đã biết gắn kết hiệu quả các hình thức thưởng phạt với vấn đề bình đẳng giới.

Nam giới và nữ giới đều nhìn nhận rằng phụ nữ vẫn là người chịu hy sinh cuộc sống riêng tư và nghiêm túc thực hiện cam kết trong công việc hơn cả. Bản khảo sát này đã chỉ ra rằng thời gian người phụ nữ dành để chăm sóc con cái – và vì thế không thể toàn tâm cho công việc – chính là nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự bất bình đẳng trên con đường thăng tiến của họ, đặc biệt là trong những công ty có môi trường khắc nghiệt.

(more…)

GIA TĂNG DÂN SỐ VÀ NHỮNG THÁCH THỨC

image TRỊNH HÒA BÌNH

Năm 2001, nước ta bắt đầu thực hiện Chiến lược dân số giai đoạn 2001 -2010 với các mục tiêu: Thực hiện gia đình ít con, khoẻ mạnh, tiến tới ổn định quy mô dân số ở mức hợp lý để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc; nâng cao chất lượng dân số, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Trong việc thực hiện Chiến lược đó, mặc dù chúng ta đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, tỷ lệ sinh đã giảm đáng kể, nhưng mức độ lại không đồng đều, có lúc chững lại và đột biến gia tăng. Vậy thực tế dân số Việt Nam đang ở tình trạng nào? Nguyên nhân của thực trạng đó và những thách thức đối với vấn đề dân số Việt Nam trong giai đoạn hiện nay ra sao? Nhân ngày Dân số thế giới (11.7), chúng ta cùng nhau phân tích, lý giải những vấn đề về tình trạng dân số ở nước ta hiện nay.

Gia tăng dân số và những thách thức đáng báo động

Theo thống kê của Tổng cục Dân số – Kế hoạch hoá gia đình (DS-KHHGĐ) đầu năm 2008, tổng số trẻ sinh ra trong quý I năm 2008 đã tăng hơn 18.000 trẻ (tăng 7,2%) so với cùng kỳ năm 2007. Trong đó, có tới 39/64 tỉnh/thành phố có mức sinh tăng mạnh: Sóc Trăng (tăng 41,2%), Sơn La (40%), thành phố Hồ Chí Minh (30,2%), Hà Nội (27,6%), Phú Thọ (23%) Cũng theo Tổng cục DS-KHHGĐ, trong thời gian này, số trẻ mới sinh ra là con thứ 3 khoảng 182.000 trẻ, tăng hơn 35% so với cùng thời điểm năm 2007. Đặc biệt, đối tượng sinh con thứ 3 không chỉ dừng lại ở những hộ nông dân mà gần đây lại tập trung chủ yếu ở đối tượng công chức nhà nước, những gia đình khá giả. Cùng với đó, tỷ lệ mất cân bằng giới tính cũng đang khá cao, ở nhiều địa phương, số trẻ em trai đã vượt số trẻ em gái từ 20 đến 25%. Có 16 tỉnh/thành phố có tỷ lệ giới tính khi sinh từ 115 đến 128 nam/100 nữ và 20 tỉnh/thành phố là 111 đến 120 nam/100 nữ.

Bấy lâu này người Việt Nam vẫn thường xem vấn đề “nhập khẩu” vợ là chuyện khác thường, nhưng có thể một ngày gần đây viễn cảnh sẽ hiện hữu như một thực tế. Cách đây 10 năm, tỷ lệ giới tính ở Việt Nam ngang bằng với mức độ trung bình của thế giới (100 bé gái thì có 105-107 bé trai), nhưng trong vài năm trở lại đây, khi chúng ta thực hiện cuộc vận động dân số với khẩu hiệu dừng lại ở 1-2 con để nuôi dạy cho tốt đã góp phần hạn chế mức sinh, nhưng lại làm cho các gia đình phải cân nhắc, lựa chọn giới tính thai nhi để sinh bằng được con trai. Hệ quả là, khoảng cách tỷ lệ giới tính (số trẻ em trai/trẻ em gái) ở nước ta ngày càng tăng cao. Cụ thể, năm 2000, tỷ lệ này mới ở mức bình thường là 106/100, thì đến cuối năm 2007 đã lên đến mức báo động là 126/100. Tỷ lệ này gia tăng theo số lần sinh, đặc biệt đối với những gia đình sinh con thứ 3 trở lên. ở nhiều vùng, số lượng bé trai đã vượt số lượng bé gái 20-25%. Mặt khác, tình trạng phụ nữ di cư lấy chồng nước ngoài có xu hướng tăng ở một số địa phương. Thực tế này không bao lâu nữa sẽ dẫn đến tình trạng nhiều bé trai khi trưởng thành sẽ không lấy được vợ, giống như tình trạng của Trung Quốc. Nguy cơ này có thể dẫn đến sự bất ổn xã hội như: ẩu đả, hiếp dâm, buôn bán phụ nữ qua biên giới… tăng lên.

(more…)

HƯỚNG HOÀN THIỆN NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG NỮ

THS. BÙI THỊ KIM NGÂN – Giảng viên Khoa Luật Dân sự – ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh

1. Sự cần thiết phải ban hành những quy định riêng đối với lao động nữ

Lao động nữ ngoài việc thực hiện nghĩa vụ lao động như nam giới, họ còn phải đảm nhận chức năng làm mẹ và chăm sóc gia đình. Đó là những vấn đề mang tính tự nhiên (lao động nữ có thời kỳ mang thai, sinh đẻ, nuôi con, kinh nguyệt hàng tháng, chăm sóc khi con nhỏ ốm đau…) hay mang tính xã hội (tư tưởng trọng nam khinh nữ đã ăn sâu vào tiềm thức con người từ hàng ngàn đời nay. Đặc biệt đối với các nước Á Đông…). Điều này gây ra sự bất bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ, chẳng hạn như: học vấn, việc làm, cơ hội thăng tiến, trách nhiệm nặng nề của người phụ nữ trong gia đình…

Những vấn đề tự nhiên cũng như các vấn đề xã hội phần nào đã hạn chế quyền tự do độc lập, tự do lao động, cơ hội thăng tiến mà lao động nữ thường chịu thiệt thòi hơn lao động nam trong quan hệ lao động. Vì thế khi tham gia quan hệ lao động, lao động nữ phải chịu áp lực tâm lý từ nhiều phía, từ công việc ở doanh nghiệp, công sở đến công việc gia đình (nội trợ, chăm sóc con cái, phụng dưỡng bố mẹ…).

Ngày nay, trong xã hội hiện đại, ngoài chức năng làm mẹ, chức năng chăm sóc gia đình của lao động nữ có những thay đổi nhất định. Do áp lực của công việc và khả năng lao động của lao động nữ (đặc biệt giới trí thức) đòi hỏi xã hội phải nhìn nhận vấn đề này một cách khách quan hơn, ngay trong mỗi gia đình, người chồng cũng phải có cách nhìn thực tế hơn, nhất là đối với những phụ nữ tài năng để chia sẻ và tạo cơ hội cho người bạn đời của mình phát huy được khả năng, trí tuệ phục vụ cho đất nước, xã hội và gia đình.

Tuy nhiên, do đặc điểm tự nhiên cũng như xã hội không phải lao động nữ nào cũng nhận được sự thông cảm, chia sẻ từ người chồng, của xã hội mà thực tế nhiều trường hợp người phụ nữ đành phải lựa chọn hạnh phúc gia đình hoặc cơ hội học tập thăng tiến… Người xưa có câu “hạnh phúc người đàn ông là sự nghiệp, còn sự nghiệp của người đàn bà là tình yêu”, câu nói đó phần nào phản ánh những hạn chế về giới, người phụ nữ thường xem hạnh phúc gia đình là điều quý giá và khi bắt buộc phải lựa chọn thì đa số họ sẽ chọn hạnh phúc gia đình.

(more…)

NGHỊ ĐỊNH SỐ 20/2010/NĐ-CP NGÀY 8 THÁNG 3 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH PHÁP LỆNH SỬA ĐỔI ĐIỀU 10 CỦA PHÁP LỆNH DÂN SỐ

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Pháp lệnh sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnh Dân số ngày 27 tháng 12 năm 2008;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Y tế,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnh Dân số

Điều 2. Những trường hợp không vi phạm quy định sinh một hoặc hai con

1. Cặp vợ chồng sinh con thứ ba, nếu cả hai hoặc một trong hai người thuộc dân tộc có số dân dưới 10.000 người hoặc thuộc dân tộc có nguy cơ suy giảm số dân (tỷ lệ sinh nhỏ hơn hoặc bằng tỷ lệ chết) theo công bố chính thức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

2. Cặp vợ chồng sinh con lần thứ nhất mà sinh ba con trở lên.

3. Cặp vợ chồng đã có một con đẻ, sinh lần thứ hai mà sinh hai con trở lên.

4. Cặp vợ chồng sinh lần thứ ba trở lên, nếu tại thời điểm sinh chỉ có một con đẻ còn sống, kể cả con đẻ đã cho làm con nuôi.

5. Cặp vợ chồng sinh con thứ ba, nếu đã có hai con đẻ nhưng một hoặc cả hai con bị dị tật hoặc mắc bệnh hiểm nghèo không mang tính di truyền, đã được Hội đồng Giám định y khoa cấp tỉnh hoặc cấp Trung ương xác nhận.

6. Cặp vợ chồng mà một hoặc cả hai người đã có con riêng (con đẻ), chỉ sinh một con hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh. Quy định này không áp dụng cho trường hợp tái hôn giữa hai người đã từng có hai con chung trở lên và hiện đang còn sống.

(more…)

ĐÀN BÀ CÁ TÍNH THÌ ĐA TRUÂN VÌ SAO?

triple-personality-laviniu-m-draghici KHÁNH VÂN

Tại sao đàn bà khó tính lại khó tìm thấy hạnh phúc? Chẳng phải hạnh phúc như tấm chăn hẹp và chẳng ai giằng kéo với mình, nhưng tự mình cứ đem cuộc sống của mình với chính mình ra đong đếm. Tôi không thấy hình ảnh bà mình, mẹ mình trong cuộc đấu tranh cho hạnh phúc. Tôi tìm thấy sự an phận và lặng lẽ đâu đó trong quá khứ ngày hôm qua.Nhưng còn hôm nay thì sao?

Một ngày trời u ám, chị Hai tôi về nhà với những vết bầm trên má, không ai nói ra nhưng ai cũng biết anh rể lại đi chơi với bồ và về đánh chị. Tôi biết chỉ cần vài lời xin lỗi, nói ngọt, rồi chị tôi lại hí hửng như một đứa trẻ được quà. Nhưng với đứa em kế tôi, chồng chỉ cần để lại dấu tích là vết son trên áo và một vài tin nhắn ngọt ngào của cô bạn đồng nghiệp, nó đã lặng lẽ đặt đơn ly hôn lên bàn, và nhất quyết không thay đổi quyết định. Mọi người xúm lại khuyên can, em tôi chỉ nói: “ Em cảm thấy bị tổn thương”. Dùng đúng từ, rất chính xác, và quyết định rất nhanh. Tôi không nghĩ là em tôi hạnh phúc.

Phụ nữ cá tính thường bị nhận xét là mạnh mẽ, và đôi khi bất cần đàn ông, trong khi đàn ông coi mạnh mẽ thế, nhưng rất cần phụ nữ. Cái tôi của người đàn ông khiến họ mong muốn phụ nữ ấy lệ thuộc vào mình.

Nhưng “sự lệ thuộc” đối với phụ nữ cá tính là một cụm từ mà họ sẵn sàng đánh đổi tất cả để vượt qua nó. Có một anh bạn nói với tôi rằng “tại sao em cứ phải lo chuyện mua nhà, mua xe, thế người đàn ông của em dùng để làm gì? Tại sao không tạo cho họ cơ hội làm người đàn ông đích thực? Để lo lắng cho người họ yêu?” Cuộc đời này đôi khi là một vòng xoay, đàn ông cần một người phụ nữ thông minh và cá tính để hòa nhập chứ không hòa tan, để sẻ chia, để cùng gánh vác chuyện gia đình khi cần, nhưng người phụ nữ cũng đủ khờ dại để nép bên vai họ. Cũng là anh bạn trên còn nói với tôi rằng, đã là phụ nữ hiện đại thì khi chồng đi công tác, phải khéo léo sắp vào vali mấy chiếc condom. Nhưng tôi biết, rất nhiều phụ nữ hiện đại không bao giờ chia sẻ tình yêu, sẵn sàng chia tay và thậm chí nuôi con một mình, chẳng cần cấp dưỡng.

(more…)

CHÍNH SÁCH CHO LAO ĐỘNG NỮ: LUẬT CÓ CŨNG NHƯ KHÔNG?

ĐINH TỊNH

Hơn lúc nào hết, chăm lo đời sống và thu nhập cho người lao động đang là vấn đề hết sức quan tâm của các cấp các ngành. Đặc biệt, khi bối cảnh lạm phát khiến giá cả tăng cao, thu nhập thấp và tình trạng đối xử không công bằng giới khiến lao động nữ phải chịu nhiều thiệt thòi.

Thống kê mới nhất của Ban nữ công – Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, cho thấy: tại các doanh nghiệp số lao động nữ được hưởng chế độ nghỉ ngơi dưỡng sức rất ít; một số chế độ thai sản như nghỉ 60 phút cho con bú, 30 phút vệ sinh kinh nguyệt bị vi phạm.

Ngoài ra, hiện nay phần lớn các cơ sở sử dụng lao động nữ khoán lương theo sản phẩm nên việc lao động nữ nghỉ việc cho con bú đều không được thể hiện trong tiền lương. Mặc dù theo pháp luật, lẽ ra lao động nữ phải được hưởng.

Luật chưa đi vào cuộc sống

Chị L.T công nhân phân xưởng giầy da C.T đang có con nhỏ 7 tháng tuổi tâm sự: “Trước đến nay, tôi chưa bao giờ biết về những điều khoản trong chính sách dành cho các lao động nữ. Giờ tôi mới biết chúng tôi đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ mỗi ngày 60 phút để cho con bú. Riêng bản thân tôi, chỉ tranh thủ giờ nghỉ trưa về nhà cho con bú rồi lại đi làm buổi chiều”.

Đề cập về chính sách đối với lao động nữ, ông Trần Hữu Trọng – Phó trưởng phòng Lao động, Vụ Lao động – Tiền lương (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội) cho biết, theo ý kiến của các sở lao động – thương binh và xã hội, các doanh nghiệp sử dụng lao động nữ và lao động nữ chiếm đa số thì việc nghỉ 30 phút trong thời gian kinh nguyệt sẽ làm ảnh hưởng lớn tới dây chuyền sản xuất kinh doanh của mình.

(more…)

SIÊU LÝ ĐÀN BÀ NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NỮ GIỚI

image TS. TRẦN HUYỀN SÂM – Đại học Huế

Lịch sử của nữ giới là một lịch sử câm lặng và giông bão. Tính từ thời điểm mà nhà Nữ huyền học người Italia – Catherine de Sienne ở thế kỷ XIV, đã lên tiếng đòi nhân quyền cho nữ giới, bằng cách viết 381 bức thư gửi các nhân vật quyền lực nhất trong Giáo hội, đến thời điểm 1960, với phong trào giải phóng nữ giới ở phương Tây, đó là một hành trình dài để gắn vấn đề nữ quyền với nhân quyền.

Một khi mà nữ quyền là nhân quyền, thì luận điểm tôi vừa nêu, không cần phải tường minh gì thêm. Ở bài viết này, tôi sẽ đề cập đến một số phiếm luận của các triết gia về phụ nữ và những “siêu lý” đàn bà – nhìn từ góc độ nữ giới.

Những triết gia phiếm luận về phụ nữ: Đàn bà, thiên thần hay ác quỷ?

Femme – đàn bà, hay là phụ nữ, được Henri Bénac – nhà lý luận người Pháp định nghĩa như là một sự bí ẩn và phức tạp, có tính hai mặt. Phụ nữ, phải chăng: “Nàng là thiên thần, hay nàng vừa là ác quỷ?”(1). Nàng sáng tạo ra thế giới và cũng là nguyên cớ hủy diệt thế giới. Nàng thống ngự cuộc hành trình nhân loại bằng một vũ khí đáng yêu và cực kỳ nguy hại: TÌNH YÊU và CHIẾN TRANH. Từ thời tiền Adam và hậu Adam cho đến nay, phụ nữ luôn được/bị nhìn nhận như vậy:

Đàn bà có thể cao hơn cả quyền lực, trí tuệ và sức mạnh; nhưng đàn bà cũng có thể bị xem là sự tầm thường nhất trong mọi sự tầm thường.

Phụ nữ, vì vậy đã trở thành một chủ đề bàn luận khá sôi nổi trong nhiều lĩnh vực của nghệ thuật, triết học và mỹ học. Những triết gia lớn vào loại bậc nhất thế giới, họ thường lấy phụ nữ, như một luận đề tường minh cho lý thuyết của mình. Và không ít những công trình trở nên bất hủ, nhờ vào việc “triết luận về đàn bà”. Có thể kể đến: Nhật ký của Augustin, Siêu hình tình yêu, siêu hình sự chếtcủa Athur Schopenhauer, Siêu lý tình yêu của V.Soloviev, Bên kia thiện ác của Nietzsche, Giới nữ của Simone de Beauvoir…

(more…)

PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI: KHOẢNG CÁCH GIỮA QUI ĐỊNH VÀ THỰC THI

CÔNG BÌNH

Theo đánh giá của UNDP, chỉ số phát triển giới của Việt Nam được đánh giá ở mức cao so với nhiều quốc gia có cùng trình độ phát triển kinh tế. Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng bất bình đẳng giới ở nước ta vẫn tồn tại và giữa quy định của pháp luật với việc thực thi vẫn là một khoảng cách khá xa.

Có thể nói rằng, cho đến nay, nước ta đã có một hệ thống văn bản pháp luật khá đầy đủ điều chỉnh về bình đẳng giới. Quyền của phụ nữ được thể hiện rõ trong Hiến pháp và nhiều văn bản pháp luật như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Bình đẳng giới… Chính phủ, các bộ ngành và các địa phương cũng ban hành nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh vấn đề này. Hệ thống văn bản trên đã tạo nên một khung pháp lý tương đối đồng bộ và toàn diện điều chỉnh về bình đẳng giới.

Nhìn chung, trong những năm qua, các quy định về bình đẳng giới đã được thực hiện khá nghiêm túc, đạt nhiều kết quả bước đầu rất khả quan. Tuy nhiên, theo kết quả các đợt giám sát về bình đẳng giới của Ủy ban Về các vấn đề xã hội, bên cạnh những tín hiệu đáng mừng, vẫn còn tồn tại khá nhiều hạn chế. Tình trạng bạo lực gia đình, xâm hại tình dục trẻ em và phụ nữ vẫn tồn tại ở các địa phương. Công tác chăm sóc sức khoẻ cho bà mẹ và trẻ sơ sinh, phụ nữ ở một số địa phương vẫn chưa đạt các chỉ tiêu đề ra. Tỷ số giới tính của trẻ sơ sinh ở một số tỉnh vẫn còn cao, chưa phù hợp với quy luật thông thường. Bên cạnh đó, định kiến giới vẫn còn tồn tại khá phổ biến trong xã hội, đặc biệt là khu vực nông thôn và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Vai trò và vị trí của phụ nữ và trẻ em gái tuy đã được cải thiện nhưng cơ hội học tập, phát triển của phụ nữ nói chung còn có nhiều hạn chế so với nam giới…

(more…)

DỰ ÁN LUẬT NUÔI CON NUÔI VÀ VẤN ĐỀ LỒNG GHÉP GIỚI

PGS. TS. HÀ HÙNG CƯỜNG – Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ tư pháp

Trên cơ sở Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Điều 47) và Luật bình đẳng giới (Điều 21 và Điều 22), trong quá trình soạn thảo Luật nuôi con nuôi, Ban soạn thảo cũng đã trao đổi về vấn đề có hay không có vấn đề giới, nói cách khác là yêu cầu thiết lập sự bình đẳng nam nữ trong lĩnh vực nuôi con nuôi, cũng như tác động của việc thi hành Luật sau này đối với vấn đề bình đẳng nam nữ. Sau nhiều lần trao đổi, Ban soạn thảo đã đi đến nhất trí rằng, dự án Luật nuôi con nuôi không có vấn đề nổi cộm về bình đẳng nam nữ. Bởi những lý do cơ bản sau:

Thứ nhất, xét một cách tổng thể, thì nuôi con nuôi là hiện tượng xã hội mang tính nhân đạo, làm phát sinh quan hệ cha mẹ và con lâu dài, ổn định giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm người được nhận làm con nuôi (trẻ em không có gia đình) được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục một cách tốt nhất trong môi trường gia đình. Vì thế, mọi việc nuôi con nuôi đối với trẻ em, không kể là trẻ em trai hay trẻ em gái, đều phải hướng đến mục đích đó. Dự thảo Luật nuôi con nuôi đã quy định theo hướng như vậy. Còn xét về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, thì dự thảo Luật điều chỉnh một cách chung nhất đối với quan hệ nuôi con nuôi liên quan đến cả hai giới nam và nữ, không thiên về một giới cụ thể nào. Về nguyên tắc, mọi cá nhân hay cặp vợ chồng, nếu có đủ điều kiện thì đều được nhận nuôi con nuôi; mọi trẻ em, không phân biệt nam nữ, nếu có đủ điều kiện và đúng đối tượng, đều có thể được nhận làm con nuôi. Nội dung xuyên suốt của dự thảo Luật đã quy định trên nguyên tắc bình đẳng như vậy.

Thứ hai, theo quy định tại Điều 47 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Điều 21 Luật bình đẳng giới, trên quan điểm yêu cầu lồng ghép vấn đề bình đẳng giới, Ban soạn thảo thấy rằng, dự thảo Luật điều chỉnh việc nuôi con nuôi chủ yếu đối với trẻ em – đối tượng từ 15 tuổi trở xuống, chủ yếu là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, không có gia đình – thuộc cả hai giới nam và nữ. Với mục đích bảo vệ quyền và lợi ích tốt nhất cho trẻ em, không kể trẻ em nam hoặc trẻ em nữ, dự thảo Luật (Điều 14 và Điều 30) đã đưa ra quy định chung về điều kiện và đối tượng trẻ em được cho làm con nuôi. Quy định này được áp dụng cho trẻ em thuộc cả hai giới mà không có sự phân biệt. Theo đó, khi trẻ em có đủ điều kiện và thuộc diện được cho làm con nuôi, thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm giải quyết cho trẻ em làm con nuôi theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định mà không đặt vấn đề ưu tiên cho trẻ em trai hay trẻ em gái được làm con nuôi.

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 515 other followers

%d bloggers like this: