BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH, NGƯỜI CHUYỂN GIỚI TRONG TƯ PHÁP HÌNH SỰ

THS. THÁI THỊ TUYẾT DUNG & VŨ THỊ THỦY

Ngày 19/7/2010, Ủy ban Quốc tế nhân quyền người đồng tính (International Gay and Lesbian Human Rights Commission – IGLHRC)[1] được thừa nhận có tư cách tư vấn cho Hội đồng Liên hiệp quốc, đã thúc đẩy những người đồng tính (NĐT) quyết định công khai giới tính của mình với mong muốn được thừa nhận các quyền cơ bản của họ. Đối với đa số những người đang sống trên trái đất này, đây là một thông tin đáng quan tâm, nhưng với cộng đồng NĐT, đây là một cái mốc lịch sử.[2]

Ở nước ta, trong thời gian gần đây, nhiều người đã công khai việc chuyển đổi giới tính (CĐGT) cũng như thừa nhận mình là NĐT cho thấy, xã hội đã bớt cái nhìn khắt khe, đồng thời hướng đến việc tôn trọng và công nhận họ như một thành tố bình đẳng trong xã hội.

Mặc dù chưa được Nhà nước thừa nhận, thực tiễn vẫn đặt ra những vấn đề pháp lý liên quan đến việc áp dụng các quy định của luật hình sự, luật tố tụng hình sự (TTHS) và luật thi hành án hình sự liên quan đến NĐT và người chuyển giới (NCG) như hành vi xâm phạm tình dục NĐT, NCG; hành vi mua dâm, môi giới mại dâm, chứa mại dâm đồng giới; hành vi chung sống như vợ chồng với NĐT, NCG hoặc các thủ tục về khám người, thi hành các biện pháp tạm giữ, tạm giam, thi hành án phạt tù đối với những người này.

1. Một số khái niệm liên quan đến người đồng tính và người chuyển giới

Giới (gender): được sử dụng không chỉ với con người mà còn sử dụng cho động thực vật khác, chỉ giống đực (masculine) và giống cái (feminine). Ở con người, giới hàm nghĩa biểu hiện về mặt hình thức, thực thể xã hội của nam (male) và nữ (female).

Tính hoặc giới tính (sex): ngoài sự bao hàm giới còn được bổ sung về mặt tâm lý học, ý thức và ý chí tính dục (gọi chung là xu hướng tính dục). Thông thường, người ta chia giới tính ra hai đối tượng dị tính: nam/đàn ông và nữ/đàn bà.

Đọc tiếp

ỨNG DỤNG QUAN ĐIỂM HỆ THỐNG TRONG LIỆU PHÁP GIA ĐÌNH

DOÃN THỊ NGỌC

Ngày 30 và 31 tháng 6, năm 2013, Trường Đại học An Giang tổ chức Hội thảo Quốc tế về Công Tác Xã Hội và Sức Khỏe Cộng Đồng. GS Susan Newfield (trường Đại học Y) và GS Neal Newfield (trường Công Tác Xã Hội) thuộc Viện Đại học West Virginia đã trình bày về các quan điểm hệ thống trong liệu pháp gia đình, cụ thể là, những nguyên tắc cốt lõi trong liệu pháp gia đình và làm thế nào giúp các cặp vợ chồng và gia đình tăng khả năng giải quyết vấn đề.

Theo GS Susan and Neal Newfields, giga đình như những hệ thống, gồm nhiều  mối liên hệ qua lại chằng chịt về mặt huyết thống hoặc luật định, cùng chia sẻ những lợi ích, nhiệm vụ và lịch sử gia đình. Vì vậy, để áp dụng hệ thống các quan điểm vào việc giải quyết vấn đề trong gia đình đòi hỏi nhà tham vấn (NTV) phải hiểu hệ thống gia đình là một hệ thống vừa đóng vừa mở và được phân chia thành các tiểu hệ thống có những ranh giới, vai trò, thứ bậc, tầm ảnh hưởng bên trong gia đình, sự liên kết, và bị chi phối bới các luật lệ.

Để làm được điều này đòi hỏi nhà tham vấn phải nắm vững quan điểm về lý thuyết hệ thống, giao tiếp, thay đổi, truyền thông Cybernetics, vai trò, và lý thuyết phát triển để đưa ra những biện pháp can thiệp phù hợp. Các quan điểm của những trường phái trên có tính đa ngành và có thể vận dụng trong nghiên cứu, trong việc giải quyết những trường hợp cụ thể, cũng như những vấn đề xã hội khác ở lĩnh vực sinh học, tâm lý, giới và phát triển, xã hội, vật lý, hóa học v.v…

Bài viết này chỉ tập trung trình bày các quan điểm lý thuyết hệ thống (systems concepts), lý thuyết thay đổi, cụ thể là mô hình trị liệu mối quan hệ nhân quả một chiều (A > B) và mô hình mối quan hệ nhân quả vòng xoay (tác động qua lại -circular causality), lý thuyết giao tiếp, phương pháp phân tích và đánh giá gia đình bằng biểu đồ gia tộc và sinh thái, và một số qui tắc cơ bản cần ghi nhớ khi làm việc với gia đình.

Thứ nhất, các quan điểm về lý thuyết hệ thống

Hệ thống được định nghĩa là một tổng thể phức hợp gồm nhiều thành tố tương tác và phụ thuộc lẫn nhau. Quan điểm về hệ thống cung cấp cho chúng ta một khung tổ chức gồm nhiều yếu tố, bộ phận liên quan và tác động qua lại với nhau trong môi trường xã hội. Ví dụ, xét về mặt sinh học của cơ thể, khi một cơ quan nào đó bị bệnh (viêm phổi, đau tim, tiểu đường, đau răng, hay đứt tay chẳng hạn) thì bác sĩ y khoa sẽ phải xem xét tiến trình bệnh tại cơ quan đó trong mối liên hệ với cơ quan và bộ phận khác và với toàn bộ cơ thể. Như vậy, nếu có biến động từ một bộ phận thì đều tác động lên các bộ phận khác, tác động lên toàn hệ thống, và tác động theo kiểu quan hệ nhân quả xoay vòng (circular causality). Vì thế, trong liệu pháp gia đình “tổng thể quan trọng hơn bộ phận” (Whole is greater than part).

Đọc tiếp

PHẬN ĐÀN BÀ NGÀY NAY

 BS. NGUYỄN KHẮC VIỆT

Sinh thời, ngoài những vấn đề liên quan đến lịch sử, văn hoá, giáo dục…Đời sống phụ nữ và trẻ em cũng là chủ đề được nhà văn hoá lớn, BS. Nguyễn Khắc Viện đặc biệt quan tâm và dành nhiều tâm huyết. Nhờ tấm lòng nhân ái bao la, vốn kiến thức khoa học xã hội, tâm lý…uyên bác và phong phú, dẫu trải qua nhiều thời gian, không ít bài viết của BS. Nguyễn Khắc Viện cho đến nay vẫn còn mang tính thời sự. Bài Phận đàn bà ngày nay được BS. Nguyễn Khắc Viện viết từ thập kỷ 60, thế kỷ trước là một thí dụ điển hình.

                         Đau đớn thay phận đàn bà
                                                                  Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung

                                                   (Kiều – Nguyễn Du)

Thế nào là phận? Phận đàn ông, phận đàn bà, phận làm con, làm tôi, làm vua; đó là cái phận mà cuộc sống trong xã hội dành cho mỗi người. Có thân phận, bổn phận, danh phận, chức phận, phận sang, phận hèn, và nếu có ngẫu nhiên chen vào là số phận.

Phải chăng Nguyễn Du đã đúc kết với hai câu thơ cái phận khổ đau của đàn bà trong xã hội cũ, của mọi người phụ nữ xưa? Cái phận đàn bà xưa là phận của một con người suốt đời là vị thành niên, làm con, làm vợ, làm mẹ để phục vụ cha, chồng, con. Mà không riêng gì ở các nước phương Đông hay Nho giáo; ở Đức ngày xưa người ta cũng chỉ giao phó cho đàn bà ba nhiệm vụ, với khẩu hiệu 3k đó là: Kinder (con), Kuche (bếp) và Kirche (nhà thờ). Không có phận làm công dân, giữa làng, giữa nước. Đàn bà cũng không được làm linh mục, giáo hoàng.

Tôi không bàn đến cái khổ cực của người đàn bà nhà nghèo chịu hai tầng áp bức bóc lột; người đàn bà trung lưu con nhà khá giả, như cô Kiều, cô Vân thì sao? Kiều thì khổ, Vân thì không. Vân rất an phận làm người đàn bà, cả một nền giáo dục, lễ nghi tín ngưỡng đã tạo cho Vân một tâm lý an phận, gặp được bố mẹ nhân từ, chồng thành đạt, con ngoan là thoả mãn không ước mơ gì hơn.

Vì Vân không có tài như Kiều, chắc học hành cũng không được bao nhiêu. Xã hội cũ phân chia phần, xếp ghế đâu đấy cho mỗi người, ai chấp nhận cái tôn ti trật tự ấy là sống yên ổn, không dằn vặt, trăn trở. Chỉ có những người đàn bà có học, có tài mới khổ, mà phải thốt lên

Thân này giả sử làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu?

(Hồ Xuân Hương)

Đọc tiếp

TẬP TỤC TRINH TIẾT: CHỮ TRINH KIA CŨNG CÓ BA BẢY ĐƯỜNG

 PHAN CẨM THƯỢNG

Năm 2013, vẫn có những đại gia dù đã qua nhiều đời vợ, vẫn tuyên bố chỉ lấy “gái trinh”, đủ để thấy sự ám ảnh của hai chữ “trinh tiết” lên đời sống của người Việt như thế nào.

Khi khảo sát đời sống của các sắc tộc trong nước, tôi (Phan Cẩm Thượng) nhận thấy dường như chỉ có người Kinh (Việt) trong khoảng 500 năm qua đề cập nhiều đến vấn đề trinh tiết của người phụ nữ. Các sắc tộc khác không có những quy định ngặt nghèo về chuyện này. Họ có những tập quán khác để giữ gìn bản sắc và đời sống gia đình tốt đẹp, và quan trọng nhất là đời sống sau lễ thành hôn, hầu như không có gia đình nào sứt mẻ cả, chuyện ngoại tình và ly hôn cũng vô cùng hiếm hoi. Điều này còn kéo dài đến những năm 1980, và ngày nay đương nhiên có thay đổi.

Việc nêu cao đức hạnh người phụ nữ ở đâu cũng thế thôi, nhưng trở thành lý thuyết, quy chế có lẽ chủ yếu bởi Nho giáo, với các yêu cầu về thân phận của từng giai tầng trong xã hội. Những sắc tộc không du nhập Nho giáo có quan niệm khác, đời sống cởi mở và chặt chẽ theo chiều hướng khác, ví dụ các tộc người Thái (bao gồm cả người Thái Lan, Lào, người Thái Việt Nam, người Lự, người Tày, Nùng… những tộc nói tiếng Thái – Tày), các sắc tộc Tây Nguyên không biết đến Tam giáo Nho Lão Phật. Chúng tôi từng nói chuyện với các già làng người Cơ Tu, họ nói rằng trước 1975, ở đây không có tôn giáo, hay bất cứ đạo nào, ngoài tín ngưỡng bản địa sơ khai, đời sống đó không vì thế mà kém văn minh hơn chỗ khác.

Đọc trong lịch sử, vấn đề trinh tiết cũng rất ít được đề cập ở xã hội thời Lý Trần, ngay cả vấn đề chính thất và thứ thất (vợ cả và vợ lẽ) cũng rất lơ mơ. Ví dụ như vua Đinh Tiên Hoàng lập tới bốn bà hoàng hậu. Cho đến tận thế kỷ 17, khi vua Lê Thần Tông lập bà Trịnh Thị Ngọc Trúc làm chính cung hoàng hậu, trước đó bà đã từng có chồng và bốn con, thì cũng là điều vượt ra khỏi các quy ước xã hội. Có thể coi những quy chế và tập tục về thân phận người phụ nữ có từ thời Lê sơ thế kỷ 15 khi Nho giáo có địa vị độc tôn trong tư tưởng thời đại. Cuốn sáchThọ Mai gia lễ được biên soạn trong thế kỷ 17 – 18, dựa theo Chu Công gia lễ bên Tầu, chứng tỏ các quy chế chính thức về tang ma, hôn nhân du nhập vào làng xã cũng khá muộn.

Đọc tiếp

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ MỐI QUAN HỆ, TÁC ĐỘNG QUA LẠI GIỮA DỰ ÁN LUẬT HỘ TỊCH VỚI BỘ LUẬT DÂN SỰ, LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TỪ GÓC ĐỘ GIỚI VÀ NHỮNG KHUYẾN NGHỊ LỒNG GHÉP GIỚI CỤ THỂ TRONG DỰ ÁN LUẬT

NGUYỄN HỒNG HẢI – Vụ Pháp luật dân sự – kinh tế, Bộ Tư pháp

I. Mối quan hệ, tác động qua lại giữa Dự án Luật Hộ tịch với Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình dưới góc độ giới

Dự án Luật Hộ tịch (dự án Luật) quy định về nguyên tắc, thẩm quyền, thủ tục đăng ký hộ tịch nhằm xác nhận và ghi vào sổ hộ tịch những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết. Do đó, dự án Luật này có mối liên quan rất chặt chẽ tới Bộ luật Dân sự (BLDS), Luật Hôn nhân và gia đình (LHNGĐ), Luật Quốc tịch Việt Nam, Luật Cư trú, Luật Nuôi con nuôi…

Tờ trình của Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã nêu quan điểm chỉ đạo trong xây dựng dự án Luật là bảo đảm phù hợp với Hiến pháp và đồng bộ, thống nhất với các đạo luật có liên quan đến lĩnh vực hộ tịch (như BLDS, LHNGĐ, Luật Quốc tịch Việt Nam, Luật Cư trú, Luật Nuôi con nuôi…). Về cơ bản, tôi tán thành với cách đặt vấn đề như đã nêu trong Tờ trình. Tuy nhiên, dưới góc độ giới, tôi cũng xin đưa ra một số ý kiến về mối quan hệ, tác động qua lại giữa dự án Luật với BLDS, LHNGĐ:

1. Mối tương quan trong hệ thống pháp luật

Khi xây dựng dự án Luật, Luật Hộ tịch thường được xác định như là luật hình thức (luật thủ tục) của BLDS, LHNGĐ và các luật nội dung khác có liên quan. Thực chất Luật Hộ tịch không đơn thuần là luật quy định về thủ tục mà còn là luật có liên quan trực tiếp đến công nhận và bảo đảm thực hiện các quyền con người nói chung, quyền của cá nhân nói riêng. Do đó, để phát huy tốt nhiệm vụ, vai trò của Luật Hộ tịch, cần xem xét mối quan hệ (ở cả góc độ giới) giữa dự án Luật với BLDS, LHNGĐ và các luật nội dung khác có liên quan trên hai phương diện: Luật Hộ tịch là luật hình thức, đồng thời là luật riêng của các luật nội dung. Tiếp cận như vậy, vừa đảm bảo xác định được rõ ràng, cụ thể phạm vi điều chỉnh của các luật, sự đồng bộ, thống nhất trong các quy định về quản lý nhà nước về hộ tịch (trên phương diện luật nội dung và luật hình thức), đồng thời đảm bảo được sự đồng bộ trong một thể thống nhất về quy định quyền và cơ chế bảo đảm công nhận, thực thi quyền của cá nhân (bao gồm bình đẳng giới), khắc phục được những bất cập, hạn chế trong quy định của các luật nội dung không còn phù hợp với điều kiện thực tiễn hiện nay (trên phương diện luật chung và luật riêng).[1]

Đọc tiếp

VỊ THẾ GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG LỊCH SỬ

THẠCH VĂN

Luật lệ về hôn thú; hứa hôn và ly dị và các nghi lễ, tình trạng đa thê, các vấn đề xã hội nghề nghiệp, sự giáo dục và những nét đặc biệt của vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam trong lịch sử đã góp phần làm nên bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc.

Những điều luật về hôn nhân sớm nhất của Việt Nam thời phong kiến có thể sớm hơn Bộ Luật Dân sự của nước Pháp đã có những điều rất tiến bộ đối với phụ nữ như: người phụ nữ bình đẳng với người chồng: (Thê – Phu tề gia ). Khi lập gia đình, họ không nhất thiết phải dùng tên của người chồng, mà có thể giữ tên riêng của mình.

Ở Việt Nam xưa, hôn thú xảy ra ở tuổi rất sớm, con trai là mười sáu, con gái là mười bốn và được xem là một vấn đề rất hệ trọng nên không thể phó mặc cho sự may rủi hoặc sở thích trong tình yêu. Nó là công việc mà cha mẹ thường phải sắp xếp, giải quyết và được tham khảo ý kiến của những người có quan hệ gần gũi trong họ tộc. Cũng chính vì vậy mà sự cố vấn là cần thiết cho lứa tuổi còn quá trẻ. Cũng do vậy, thời kỳ hứa hôn được chấp nhận kéo dài. Sự hứa hôn cấu thành khế ước pháp lý đầu tiên và sẽ kết thúc khi vị hôn thê chấp nhận các lễ vật. Nếu người con trai phá bỏ sự hứa hôn, anh ta sẽ mất lễ vật đã trao cho người hôn thê. Nếu người con gái là kẻ hối hôn, cô ta có thể bị người hôn phu đầu tiên khiếu nại cho dù sau này anh ta sẽ lấy một người  khác.

Các cuộc hôn nhân với người cận huyết thống sẽ bị trừng phạt rất nặng nề. Thí dụ, một người đàn ông lấy bà cô của mình sẽ tức thời bị chém đầu. Người đàn ông có thể được phép lựa chọn người làm vợ trong số các chị em của người vợ cả bị chết nhưng lại có thể bị treo cổ nếu cưới vợ góa của anh em trai. Việc kết hôn hỗn tạp cũng bị ngăn cấm bởi vì nó có thể làm đảo lộn căn bản hệ cấp của gia đình.

Nghi lễ và giáo lý Phật Giáo của người Việt biểu lộ một sự tôn kính sâu xa liên quan đến tục thờ cúng tổ tiên. Từ đó, vị thế truyền thống của người cha cấu thành các nguyên tắc nền tảng của gia đình. Nhà nào cũng đều có một bàn thờ nhưng chỉ người đàn ông mới được cử hành lễ. Đây lại chính là nguồn gốc của một sự bất bình đẳng xã hội. Điều dễ nhận thấy là người đàn ông luôn tìm cách vận dụng tôn giáo để gia tăng quyền lực của mình.

Đọc tiếp

“THIẾU PHỤ NỮ ĐỂ KẾT HÔN” LÀ THIẾU THẾ NÀO?

ĐOÀN QUỐC QUÂN – Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí

Vấn đề mất cân bằng giới tính đang có vẻ "nóng". Mới hôm rồi một tờ báo đưa tin “Việt Nam đang thiếu hụt 139.000 phụ nữ trưởng thành” , nghe hết cả hồn. Sợ như thế chưa đủ làm người ta khiếp vía, một bài báo khác hù tiếp “Hàng triệu nam giới Việt có nguy cơ… ế vợ”.

Sự tình là, theo thống kê của Tổng cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình thì tỷ số giới tính khi sinh của nước ta hiện ở mức 111 trai/100 gái, tại một số địa phương thậm chí lên đến 130/100. Các chuyên gia lo ngay ngáy, cứ cái đà này thì chả mấy chốc hàng triệu nam giới Việt có nguy cơ ế vợ và phải  nhập khẩu cô dâu.

Nhập khẩu cô dâu cũng tốt, làm phong phú nguồn gien và văn hóa, tuy nhiên dù đó là một đề tài rất thú vị nhưng để dịp khác ta sẽ bàn luận cho rôm rả. Ở đây người viết chỉ muốn nêu ra câu hỏi: Thiếu phụ nữ để kết hôn là thiếu thế nào?

Dường như các chuyên gia nhìn vấn đề kết hôn theo kiểu “chia phần” rất đơn giản thế này: Luật Hôn nhân và gia đình quy định chế độ một vợ một chồng, nên tiêu chuẩn của mỗi nam giới độc thân đến tuổi kết hôn là được chia một phụ nữ cũng đến tuổi kết hôn và đang độc thân (hoặc ngược lại – mỗi phụ nữ được chia một nam giới). Thế cho nên, hễ phe nào đông hơn phe kia bao nhiêu người thì có nghĩa là chừng đó người rơi vào nguy cơ mất phần, tức là ế.

Các chuyên gia này có lẽ đã quên hết kiến thức về lý thuyết tập hợp mà họ được học ở trường phổ thông.
Theo lý thuyết này thì nam giới đủ điều kiện lấy vợ tạo nên tập hợp A có a phần tử, tương tự nữ giới tạo nên tập hợp B với b phần tử. Khi đó, mỗi phần tử của tập hợp A (hoặc B) có không chỉ 1, mà b (hoặc a) khả năng kết hợp với 1 phần tử của tập hợp B (hoặc A).

Lấy ví dụ đơn giản cho dễ hình dung. Nếu xã hội chỉ có 2 chàng và 1 nàng, thì không nhất thiết một nửa số đàn ông trong xã hội sẽ ế vợ. Kể cả khi cấm ngặt chế độ đa phu 1 nàng 2 chàng (như cổ tích về 3 hòn đầu rau trong bếp), thì mỗi chàng vẫn có thể có 1 vợ, chỉ có điều phải luân phiên nhau.

Đọc tiếp

CƯỠNG ÉP TÌNH DỤC TRONG HÔN NHÂN

PGS.TS. HOÀNG BÁ THỊNH – Khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN

1. Giới thiệu 

Một trong những dạng bạo lực trong gia đình được giới nghiên cứu đề cập đến là bạo lực tình dục. theo chúng tôi, bạo lực tình dục trong gia đình là một khái niệm rộng hơn cưỡng ép tình dục trong hôn nhân1 (rape in marriage/ marital rape), còn đựơc hiểu phần lớn là chồng cưỡng hiếp vợ (wife rape) hay đôi khi hiểu một cách chuẩn hơn trong mối quan hệ giới: cưỡng hiếp vợ chồng (spousal rape: đây là hiện tượng hai chiều trong đời sống tình dục vợ chồng, không chỉ có chồng cưỡng ép tình dục vợ, mà cũng có tình huống ngược lại). bạo lực tình dục trong gia đình bao gồm bạo lực tình dục đối với vợ (là chủ yếu) với con gái (mức độ thấp là lạm dụng tình dục, cao hơn nữa là cưỡng hiếp con gái) còn cưỡng hiếp/cưỡng bức tình dục trong hôn nhân chỉ giới hạn hành vi bạo lực về tình dục trong mối quan hệ vợ chồng mà thôi.

Có thể dẫn ra một vài định nghĩa về bạo lực tình dục và bạo lực tình dục trong hôn nhân:

Bạo lực tình dục (có tài liệu gọi là lạm dụng tình dục): là sự cưỡng bức, ép buộc một phụ nữ phải làm những việc liên quan đến tình dục trái với mong muốn của họ; bàn luận về những bộ phận trên cơ thể của phụ nữ, đòi hỏi tình dục, cưỡng hiếp, giam cầm và sử dụng các công cụ tình dục, xem phụ nữ như là một đối tượng tình dục. (hoàng nguyễn tử khiêm – nguyễn kim thúy, 2005:19).

Theo quỹ dân số liên hợp quốc thì khái niệm bạo lực tình dục được hiểu rất rộng, với những khía cạnh khác nhau bao gồm cả nơi công cộng, trong gia đình khi làm việc cũng như chốn riêng tư, và nó liên quan đến cả những nhu cầu cơ bản của cuộc sống cá nhân: “bạo lực tình dục có thể bao gồm sự đe doạ về thể chất cũng như hăm doạ về tâm lý, các cố gắng quan hệ tình dục hay các hành vi quan hệ tình dục, cưỡng dâm khi hò hẹn hay trong quan hệ vợ chồng, và tống tiền. bạo lực cũng có thể lợi dụng sự bất ổn về tài chính của người phụ nữ, thông qua đe doạ đuổi việc hoặc bóc lột lao động, chẳng hạn như đề nghị quan hệ tình dục để đổi lấy lương thực, thực  phẩm hay chỗ ở. việc từ chối sử dụng biện pháp tránh thai để bảo vệ phụ nữ cũng được coi là một hình thức của bạo lực tình dục”. (unfpa, 2005).

Các định nghĩa đã tiếp cận ở những mức độ khác nhau và nhấn mạnh hành vi bạo lực tình dục (của nam giới) đối với phụ nữ. cũng lưu ý là, nên nhìn nhận vấn đề này từ quan điểm giới, có nghĩa là vấn đề này không xảy ra một chiều, mà còn có cả bạo lực tình dục trong hôn nhân của phụ nữ đối với nam giới. cho dù, nhiều nghiên cứu cho thấy rằng: bạo lực, bạo lực gia đình nói chung và bạo lực tình dục nói riêng chủ yếu do nam giới thực hiện mà nạn nhân đa phần là phụ nữ. vì thế, thiết tưởng cũng nên có một quan niệm linh hoạt hơn về bạo lực tình dục trong hôn nhân: là những hành vi tình dục một chiều diễn ra trong đời sống vợ chồng là xuất phát từ nhu cầu của một một người, còn người kia (vợ hay chồng) không có nhu cầu song vẫn phải đáp ứng/chịu đựng. các nhà nghiên cứu đã xác định 3 dạng bạo lực tình dục trong hôn nhân như sau:

Đọc tiếp

MỘT TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

NICOLE SCHWAB VÀ ANIELA UNGURESAN (Quốc Dũng dịch)

Liệu có một tiêu chuẩn quốc tế cho bình đẳng giới? Và liệu chúng ta có thể áp dụng một tiêu chuẩn như vậy cho mọi công ty trên toàn thế giới để nam giới và nữ giới có cơ hội bình đẳng nhau?

Ngày nay, tại một vài quốc gia, chủ yếu ở châu Âu và Mỹ La tinh, đã bắt đầu triển khai các hệ thống chứng nhận có bao gồm một số khía cạnh của bình đẳng giới. Tuy nhiên, không có một tiêu chuẩn quốc tế nào được áp dụng cho các công ty lớn nhất trên thế giới xuyên suốt các quốc gia mà họ hoạt động.

Dựa vào những gì họ đạt được và tiềm năng của các công ty này – không chỉ bởi hàng trăm nghìn nam giới và nữ giới họ đang sử dụng, mà còn bởi họ có thể đóng vai trò thực hành tốt nhất – chúng tôi tin tưởng rằng một tiêu chuẩn quốc tế sẽ đem lại hiệu quả sâu rộng.

Với ý tưởng này chúng tôi đã phát triển một phương pháp để các công ty có thể có được sự hiểu biết toàn diện về mình trong vấn đề bình đẳng giới. Phương này có thể dùng như một công cụ quản lý đồng thời đóng hai vai trò là cơ sở cho việc thiết lập một tiêu chuẩn toàn cầu cho bình đẳng giới, và đánh giá các công ty về vấn đề này.

Các công ty đạt tiêu chuẩn sẽ được công nhận thông qua một nhãn hiệu toàn cầu về bình đẳng giới, nhãn hiệu này sẽ được đưa vào sử dụng trong tháng 1 năm 2011 bởi tổ chức của chúng tôi, Gender Equality Project.

Công cụ đánh giá của chúng tôi tập trung vào 5 lĩnh vực: Trả tiền bằng nhau cho các công việc tương đương, tuyển dụng và thăng tiến, đào tạo và tư vấn, và văn hóa tại công ty.

Trong từng lĩnh vực, chúng tôi không chỉ nắm bắt kết quả, mà cả những chính sách và thực tiễn đã chứng minh là có hiệu quả trong việc thúc đẩy bình đẳng giới nơi làm việc. Các công ty được đánh giá trên cả biện pháp định lượng và định tính.

Đọc tiếp

VIỆT NAM 1918 – 1945, GIỚI VÀ HIỆN ĐẠI: SỰ TRỖI DẬY NHỮNG NHẬN THỨC VÀ TRẢI NGHIỆM MỚI

BÙI TRÂN PHƯỢNG

Lời giới thiệu của Thời Đại Mới: Bài viết mà Thời Đại Mới hân hạnh giới thiệu dưới đây là bản dịch bài trình bày luận văn tiến sĩ sử học của bà Bùi Trân Phượng trước hội đồng giám khảo trường Đại Học Lyon II (Pháp) năm 2008. Nhan đề của luận văn là: "Viet Nam 1918-1945, genre et modernité. Emergence de nouvelles perceptions et expérimentations" ("Việt Nam 1918-1945, giới tính và hiện đại. Sự trỗi dậy của những nhận thức mới và kinh nghiệm mới").

Đây là một công trình nghiên cứu quan trọng và tiên phong về lịch sử giới tính và vai trò của phụ nữ Việt Nam trong công cuộc hiện đại hóa xã hội, gắn liền với các phong trào ái quốc, chống thực dân, tranh đấu cho độc lập của đất nước trong nửa đầu thế kỳ 20. Tầm quan trọng của luận văn trước tiên biểu lộ qua phương pháp nhìn vấn đề, cách phân tích vấn đề, cách lập thuyết, và tài liệu để triển khai luận thuyết. Tầm tiên phong của luận văn thể hiện qua những khám phá độc đáo và nhất là qua những đề nghị mở ra nhiều hướng mới lý thú cho những nghiên cứu tương lai.

Bài trình bày dưới đây giúp độc giả thấy được tầm quan trọng và tiên phong đó của một luận văn đã được hội đồng giám khảo hết lời khen ngợi. Thời Đại Mới hi vọng sẽ có cơ hội lần lượt giới thiệu những phần chính trong luận văn này.

Tác giả Bùi Trân Phượng hiện là hiệu trưởng trường Đại Học Hoa Sen, Thành Phố Hồ Chí Minh.

1.  Tại sao tôi chọn đề tài nầy?

Trước hết để bắt đầu lấp một chỗ trống. Nếu chỉ nhìn thư tịch Việt Nam mà công chúng trong nước được tiếp cận, dẫu có sự phong phú biểu kiến vào lúc nào đó, lịch sử hiện đại vẫn là phần nghèo nàn về phương diện tri thức lịch sử cụ thể. Nó cho biết rất ít về những con người (về người nữ còn hiếm hoi hơn) trong xã hội, trong không gian và thời gian. Trong nghiên cứu quốc tế về Việt Nam, cho đến rất gần đây, phụ nữ cũng không phải là chủ đề được quan tâm.[1] Một hướng mới đầy triển vọng từng được mở ra với những công trình nghiên cứu lịch sử xã hội và/hoặc xã hội học lịch sử lần đầu cho phép hiển thị những người thấp cổ bé họng, những nạn nhân của mọi hình thức đàn áp khác nhau, cho họ có quyền lên tiếng; nhưng những nghiên cứu nầy cũng chưa thật sự tính đến phụ nữ với tư cách là người nữ. Cùng với khoảng trống về lịch sử phụ nữ nói chung, một tấm màn lãng quên hay thờ ơ, lạnh nhạt cũng đồng thời che phủ đời sống trí thức[2] của xã hội Việt và đơn giản là cuộc sống đời thường,[3] nơi các yêu sách chánh trị không phát biểu trực tiếp, lộ liễu.

Đọc tiếp

BÁO CÁO SỐ 36/BC-CP NGÀY 20 THÁNG 04 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ VIỆC THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU QUỐC GIA VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI NĂM 2009

Kính gửi

Quốc hội

Luật Bình đẳng giới có hiệu lực thi hành được hơn 2 năm, thời gian chưa nhiều để triển khai thực hiện những quy định của Luật, mặt khác, nhận thức về vấn đề bình đẳng giới còn nhiều hạn chế song việc thực hiện các quy định pháp luật về bình đẳng giới được triển khai bước đầu khá đồng bộ ở hầu hết các ngành, các cấp, tạo ra được tiền đề tích cực cho các năm tiếp theo.

Thực hiện Điều 25 Luật Bình đẳng giới, Chính phủ báo cáo Quốc hội về việc thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2009 với những nội dung cụ thể như sau:

Phần 1.

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU QUỐC GIA VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI NĂM 2009

I. TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI THỰC HIỆN LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI

1. Công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về bình đẳng giới

So với năm 2008, trong năm 2009, việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Bình đẳng giới đã hoàn thành theo quy định tại Chỉ thị số 10/2007/CT-TTg ngày 03 tháng 5 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thi hành Luật Bình đẳng giới. Cho tới thời điểm này, Chính phủ đã ban hành 03 Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Bình đẳng giới là: Nghị định số 70/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 6 năm 2008 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bình đẳng giới, Nghị định số 48/2009/NĐ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2009 quy định về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới và Nghị định số 55/2009/NĐ-CP ngày 10 tháng 6 năm 2009 quy định xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới. Đồng thời, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 08/2009/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và Nghị định số 110/2009/NĐ-CP ngày 10 tháng 12 năm 2009 quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình.

Đọc tiếp

THÚC ĐẨY BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở CÔNG SỞ: CHỈ NÓI SUÔNG!

ORIT GADIESH & JULIE COFFMAN* (Như Nguyệt dịch)

Nhiều công ty đã từng cam kết thực hiện bình đẳng giới nơi công sở nhưng thực tế không phải vậy. Bản khảo sát về bình đẳng giới mà chúng tôi hợp tác với HBR.org thực hiện gần đây với hơn 1800 doanh nhân trên toàn cầu chỉ ra rằng nhân viên thất vọng với cách tổ chức của mình thực hiện vấn đề bình đẳng giới, cụ thể hơn là nỗ lực nhằm đối xử công bằng giữa nhân viên nam và nữ nơi công sở.

Gần 80% nam và nữ nhân viên nói rằng các cấp lãnh đạo quả cũng đã thuyết phục họ về những lợi ích của bình đẳng giới nhưng chỉ 20% tin rằng tổ chức của mình có thể thực hiện cam kết này một cách nghiêm túc.

Hầu như mọi công ty đều không thể theo đuổi cam kết này đến cùng. Gần ¾ số người được hỏi nói rằng công ty của mình cũng đã đề ra các sáng kiến như chương trình làm việc và kèm việc linh hoạt nhưng chưa tới 25% số người được hỏi đánh giá các chương trình này thực sự mang lại hiệu quả bởi nhân viên vẫn chưa nhận thấy nhiều phụ nữ giữ cương vị quản lý ở công ty họ.

60% người tham gia khảo sát phát biểu công ty không hề lưu tâm đến ý kiến của nhân viên đối với vấn đề bình đẳng giới. Chưa đến 20% đánh giá công ty mình sát sao với tiến trình thực hiện bình đẳng giới. Chỉ 14% nhận xét mình có những chương trình đào tạo và nhóm làm việc chuyên đề bình đẳng giới hiệu quả. Chỉ 8% tin rằng công ty của mình đã biết gắn kết hiệu quả các hình thức thưởng phạt với vấn đề bình đẳng giới.

Nam giới và nữ giới đều nhìn nhận rằng phụ nữ vẫn là người chịu hy sinh cuộc sống riêng tư và nghiêm túc thực hiện cam kết trong công việc hơn cả. Bản khảo sát này đã chỉ ra rằng thời gian người phụ nữ dành để chăm sóc con cái – và vì thế không thể toàn tâm cho công việc – chính là nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự bất bình đẳng trên con đường thăng tiến của họ, đặc biệt là trong những công ty có môi trường khắc nghiệt.

Đọc tiếp

GIA TĂNG DÂN SỐ VÀ NHỮNG THÁCH THỨC

image TRỊNH HÒA BÌNH

Năm 2001, nước ta bắt đầu thực hiện Chiến lược dân số giai đoạn 2001 -2010 với các mục tiêu: Thực hiện gia đình ít con, khoẻ mạnh, tiến tới ổn định quy mô dân số ở mức hợp lý để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc; nâng cao chất lượng dân số, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Trong việc thực hiện Chiến lược đó, mặc dù chúng ta đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, tỷ lệ sinh đã giảm đáng kể, nhưng mức độ lại không đồng đều, có lúc chững lại và đột biến gia tăng. Vậy thực tế dân số Việt Nam đang ở tình trạng nào? Nguyên nhân của thực trạng đó và những thách thức đối với vấn đề dân số Việt Nam trong giai đoạn hiện nay ra sao? Nhân ngày Dân số thế giới (11.7), chúng ta cùng nhau phân tích, lý giải những vấn đề về tình trạng dân số ở nước ta hiện nay.

Gia tăng dân số và những thách thức đáng báo động

Theo thống kê của Tổng cục Dân số – Kế hoạch hoá gia đình (DS-KHHGĐ) đầu năm 2008, tổng số trẻ sinh ra trong quý I năm 2008 đã tăng hơn 18.000 trẻ (tăng 7,2%) so với cùng kỳ năm 2007. Trong đó, có tới 39/64 tỉnh/thành phố có mức sinh tăng mạnh: Sóc Trăng (tăng 41,2%), Sơn La (40%), thành phố Hồ Chí Minh (30,2%), Hà Nội (27,6%), Phú Thọ (23%) Cũng theo Tổng cục DS-KHHGĐ, trong thời gian này, số trẻ mới sinh ra là con thứ 3 khoảng 182.000 trẻ, tăng hơn 35% so với cùng thời điểm năm 2007. Đặc biệt, đối tượng sinh con thứ 3 không chỉ dừng lại ở những hộ nông dân mà gần đây lại tập trung chủ yếu ở đối tượng công chức nhà nước, những gia đình khá giả. Cùng với đó, tỷ lệ mất cân bằng giới tính cũng đang khá cao, ở nhiều địa phương, số trẻ em trai đã vượt số trẻ em gái từ 20 đến 25%. Có 16 tỉnh/thành phố có tỷ lệ giới tính khi sinh từ 115 đến 128 nam/100 nữ và 20 tỉnh/thành phố là 111 đến 120 nam/100 nữ.

Bấy lâu này người Việt Nam vẫn thường xem vấn đề “nhập khẩu” vợ là chuyện khác thường, nhưng có thể một ngày gần đây viễn cảnh sẽ hiện hữu như một thực tế. Cách đây 10 năm, tỷ lệ giới tính ở Việt Nam ngang bằng với mức độ trung bình của thế giới (100 bé gái thì có 105-107 bé trai), nhưng trong vài năm trở lại đây, khi chúng ta thực hiện cuộc vận động dân số với khẩu hiệu dừng lại ở 1-2 con để nuôi dạy cho tốt đã góp phần hạn chế mức sinh, nhưng lại làm cho các gia đình phải cân nhắc, lựa chọn giới tính thai nhi để sinh bằng được con trai. Hệ quả là, khoảng cách tỷ lệ giới tính (số trẻ em trai/trẻ em gái) ở nước ta ngày càng tăng cao. Cụ thể, năm 2000, tỷ lệ này mới ở mức bình thường là 106/100, thì đến cuối năm 2007 đã lên đến mức báo động là 126/100. Tỷ lệ này gia tăng theo số lần sinh, đặc biệt đối với những gia đình sinh con thứ 3 trở lên. ở nhiều vùng, số lượng bé trai đã vượt số lượng bé gái 20-25%. Mặt khác, tình trạng phụ nữ di cư lấy chồng nước ngoài có xu hướng tăng ở một số địa phương. Thực tế này không bao lâu nữa sẽ dẫn đến tình trạng nhiều bé trai khi trưởng thành sẽ không lấy được vợ, giống như tình trạng của Trung Quốc. Nguy cơ này có thể dẫn đến sự bất ổn xã hội như: ẩu đả, hiếp dâm, buôn bán phụ nữ qua biên giới… tăng lên.

Đọc tiếp

HƯỚNG HOÀN THIỆN NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG NỮ

THS. BÙI THỊ KIM NGÂN – Giảng viên Khoa Luật Dân sự – ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh

1. Sự cần thiết phải ban hành những quy định riêng đối với lao động nữ

Lao động nữ ngoài việc thực hiện nghĩa vụ lao động như nam giới, họ còn phải đảm nhận chức năng làm mẹ và chăm sóc gia đình. Đó là những vấn đề mang tính tự nhiên (lao động nữ có thời kỳ mang thai, sinh đẻ, nuôi con, kinh nguyệt hàng tháng, chăm sóc khi con nhỏ ốm đau…) hay mang tính xã hội (tư tưởng trọng nam khinh nữ đã ăn sâu vào tiềm thức con người từ hàng ngàn đời nay. Đặc biệt đối với các nước Á Đông…). Điều này gây ra sự bất bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ, chẳng hạn như: học vấn, việc làm, cơ hội thăng tiến, trách nhiệm nặng nề của người phụ nữ trong gia đình…

Những vấn đề tự nhiên cũng như các vấn đề xã hội phần nào đã hạn chế quyền tự do độc lập, tự do lao động, cơ hội thăng tiến mà lao động nữ thường chịu thiệt thòi hơn lao động nam trong quan hệ lao động. Vì thế khi tham gia quan hệ lao động, lao động nữ phải chịu áp lực tâm lý từ nhiều phía, từ công việc ở doanh nghiệp, công sở đến công việc gia đình (nội trợ, chăm sóc con cái, phụng dưỡng bố mẹ…).

Ngày nay, trong xã hội hiện đại, ngoài chức năng làm mẹ, chức năng chăm sóc gia đình của lao động nữ có những thay đổi nhất định. Do áp lực của công việc và khả năng lao động của lao động nữ (đặc biệt giới trí thức) đòi hỏi xã hội phải nhìn nhận vấn đề này một cách khách quan hơn, ngay trong mỗi gia đình, người chồng cũng phải có cách nhìn thực tế hơn, nhất là đối với những phụ nữ tài năng để chia sẻ và tạo cơ hội cho người bạn đời của mình phát huy được khả năng, trí tuệ phục vụ cho đất nước, xã hội và gia đình.

Tuy nhiên, do đặc điểm tự nhiên cũng như xã hội không phải lao động nữ nào cũng nhận được sự thông cảm, chia sẻ từ người chồng, của xã hội mà thực tế nhiều trường hợp người phụ nữ đành phải lựa chọn hạnh phúc gia đình hoặc cơ hội học tập thăng tiến… Người xưa có câu “hạnh phúc người đàn ông là sự nghiệp, còn sự nghiệp của người đàn bà là tình yêu”, câu nói đó phần nào phản ánh những hạn chế về giới, người phụ nữ thường xem hạnh phúc gia đình là điều quý giá và khi bắt buộc phải lựa chọn thì đa số họ sẽ chọn hạnh phúc gia đình.

Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 671 other followers

%d bloggers like this: