BẢN CHẤT CỦA TRÍ THỨC

NHÀ VĂN PHẠM QUANG TRUNG

Nhiều người hay đồng nhất nhà trí thức với nhà chuyên môn. Tôi không nghĩ vậy. Bởi trên thực tế, không hẳn cứ có học hành, đỗ đạt, với học vị này, học hàm nọ là đã trở thành nhà trí thức. Trí thức lớn càng khó. Điểm cốt lõi nhất ở người trí thức bao giờ cũng nằm ở tư cách văn hóa, hơn thế, ở phẩm cách tư tưởng trong một con người. Nghĩa là, họ cần tỏ rõ một bản lĩnh sống, bản lĩnh sáng tạo vững vàng ở mọi nơi mọi lúc, trong mọi mối quan hệ và mọi hoàn cảnh.

Mọi người đều dễ dàng thừa nhận rằng trong mỗi tổ chức xã hội, dù lớn hay nhỏ, để công việc đạt hiệu quả, hiệu xuất thì phải có sự vận hành của một bộ máy thống nhất. Từ đó, tất phân chia ra thành người lãnh đạo (số ít, thậm chí rất ít) và người bị lãnh đạo (chiếm đa số). Đó là thang bậc xã hội chứ không phải là thang bậc giá trị. Làm nên giá trị ở mỗi người lại ở sự cống hiến thật sự trên cương vị của mình được thừa nhận khách quan và rộng rãi. Có điều, một cơ chế xã hội tiên tiến bao giờ cũng đòi hỏi và mang lại sự hòa hợp giữa hai thang bậc ấy từ cả hai phía. Muốn vậy, mỗi người trong bộ máy công quyền phải ứng xử với nhau và với phận sự của mình trên tinh thần trí thức chân chính. Có nhiều biểu hiện của tinh thần đó, nhưng điểm nổi bật nhất chính là ở thái độ dám tỏ bày và dám bảo vệ chủ kiến của mình trước mọi vấn đề gai góc thường xuyên xuất hiện trong đời sống cũng như trong công việc. Còn nếu buộc phải đứng trước một sự chọn lựa, thì theo tôi, người trí thức chúng ta ngày nay nên theo gương lối ứng xử mẫu mực của các bậc chính nhân, quân tử ngày trước thể hiện rõ trong phương châm nổi tiếng: “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Đó chính là biểu hiện cao nhất, tập trung nhất lương tri của con người, lương năng của xã hội, đảm bảo cho dòng chảy liên tục của lịch sử đi về phía trước. 

Trong tương quan đó, trước những vấn đề không dễ giải quyết luôn xuất hiện, yêu cầu hàng đầu đối với người lãnh đạo mang phẩm giá trí thức đích thực là phải biết lắng nghe, hơn thế, biết tạo điều kiện cho những ý kiến khác nhau được bày tỏ. Mà ai hay có ý kiến nhất? Chính là người trí thức.

Đọc tiếp

TẠI SAO NGƯỜI TA THÍCH DANH XƯNG?

NGUYỄN VĂN TUẤN

Đối với cuộc sống, người ta không thể lấy học hàm, học vị để trả lời câu hỏi: Tôi là ai? – CIVILLAWINFOR

Tôi khổ tâm nhất là chuyện danh xưng, hay phải nói đúng hơn là “vấn đề danh xưng”. Tôi thỉnh thoảng viết báo và không bao giờ sử dụng đến danh xưng, thế nhưng những người biên tập vẫn chêm vào những danh xưng trước tên tôi, làm tôi rất khổ với Ba tôi lúc sinh tiền. Ba tôi mỗi lần đọc được một bài báo với tên tôi tác giả và có kèm theo mấy chữ nhí nhố trước tên là ông nói xa nói gần rằng có người hám danh, thiếu tự tin, nên dùng đến những danh hiệu phù phiếm. Tôi biết Ba tôi nói ai, và tôi thấy mình oan lắm. Có nhiều người như tôi, không bao giờ dùng danh xưng trước tên mình, nhưng vì ban biên tập thêm vào để — nói theo họ — là tăng trọng lượng của bài báo! Tôi không hiểu tại sao ý kiến của một giáo sư hay tiến sĩ phải có trọng lượng hơn ý kiến của một người bán vé số? Thật là vô lí! Người khôn nói 100 điều cũng có ít nhất một điều dại dột, còn người dại dột nói 100 điều chắc cũng có ít nhất là 1 điều khôn. Ý kiến phải bình đẳng.

Nhưng trong thực tế thì ở Việt Nam, danh xưng đóng vai trò quan trọng, hay rất quan trọng. Có một lần, khi về làm việc ở một tỉnh thuộc vùng miền Tây, sau bài nói chuyện tôi được một vị cao tuổi ân cần trao cho một danh thiếp với dòng chữ tiếng Anh: “Senior Doctor Tran V. …”. Đây là lần đầu tiên tôi thấy một danh xưng như thế trong đời. Tìm hiểu một hồi tôi mới biết ông là một cựu quan chức cao cấp trong ngành y tế của thành phố (đã nghỉ hưu), nhưng vẫn còn giữ chức vụ gì đó trong một hiệp hội chuyên môn. Tôi nghĩ danh xưng “Senior Doctor” (có lẽ nên dịch là “Bác sĩ cao cấp” hay nôm na hơn là “Bác sĩ đàn anh”). Nhưng tại sao lại cần một danh xưng phân biệt “giai cấp” như thế? Tôi đoán có lẽ vị đồng nghiệp này muốn phân biệt mình với “đám” bác sĩ đàn em chăng?

Một lần khác, khi xem qua chương trình hội nghị tôi thấy ban tổ chức viết tên diễn giả bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Những người có danh xưng tiếng Việt ví dụ như “TS BS Trần Thị …” được dịch sang tiếng Anh là “Dr. Dr. Tran Thi …”. Tôi không khỏi cười thầm trong bụng vì chưa thấy nơi nào trên thế giới có cách viết lạ lùng như thế. Tôi sợ nhất là trong hội nghị có đồng nghiệp ngoại quốc mà họ đọc được cái danh xưng “Dr Dr” này chắc tôi tìm lỗ mà chui xuống không kịp quá! Tôi đề nghị cách viết “đơn giản” hơn là chỉ “Dr” thôi là đủ, nhưng cũng phải vài phút thảo luận người ta mới chịu đề nghị này!

Tôi vẫn còn giữ một danh thiếp khác với dòng chữ: “Dr Specialist II Nguyễn M”. Một anh bạn người Úc tôi có lần tình cờ thấy danh thiếp trên bàn nên thắc mắc hỏi tôi “Specialist II” là gì vậy. Lúc đó tôi cũng chẳng biết, nên đành nói: “I have no idea”, nhưng tôi nói thêm rằng tôi đoán đó là bác sĩ chuyên khoa gì cấp 2 gì đó. Anh bạn đồng nghiệp cười nói mỉa mai (rất dễ ghét) rằng: ước gì tao cũng được cấp II nhỉ?
Không nghi ngờ gì nữa: người Việt rất sính dang xưng. Những gì Dạ Lan viết đều đúng, nhưng … chưa đủ. Còn nhiều chuyện cười ra nước mắt về những nhầm lẫn về danh xưng (honorific), tước hiệu, và nghề nghiệp ở Việt Nam mà tôi từng chứng kiến trong các hội nghị. Nghe những lời giới thiệu dài lòng thòng như “Giáo sư, tiến sĩ, nhà giáo nhân dân, anh hùng lao động, bác sĩ Nguyễn Văn …” nó khôi hài làm sao!

Tôi vẫn tự hỏi tại sao người ta thích danh xưng trước tên mình? Kinh nghiệm của tôi, khi tiếp xúc với những người hay sử dụng danh xưng cho thấy họ thường dùng danh xưng với những động cơ sau đây:

Đọc tiếp

TRÍ THỨC VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI VÀ ĐẠI HỌC VIỆT NAM

TRẦN HỮU DŨNG – Giáo sư Kinh tế học giảng dạy tại Đại học Wright State tại Dayton, Ohio, Mỹ.

Ngoài những “trách nhiệm” mà người Việt Nam ở nước ngoài có thể cảm thấy đối với nền đại học trong nước, còn một sự thật này: không gì đem lại hạnh phúc hơn khi thấy việc mình làm có ảnh hưởng đến người khác, nhất là lớp trẻ.

Có thể khẳng định rằng, dù ít dù nhiều, ai mang dòng máu Việt Nam đều muốn nền giáo dục ở quê cha đất tổ, đặc biệt là giáo dục đại học, sáng sủa hơn. Những người sống trong môi trường đại học các nước tiên tiến, hầu như mỗi ngày khi đọc tin tức từ trong nước về thực trạng giáo dục Việt Nam, thường phải chép miệng thở dài… Sự trăn trở này không chỉ xuất phát từ tình yêu với quê hương (hay, rộng hơn, từ sự bức xúc trước những chênh lệch giữa các xã hội tiền tiến và hậu tiến) mà, gần gũi hơn, còn từ ký ức về thời trẻ, nhớ lại sự ham muốn học hỏi trong hoàn cảnh vô cùng thiếu thốn của chính mình. Rồi, so sánh với ngày hôm nay, khi đã “công thành danh toại” thì chính người trí thức ấy lại phục vụ cho nền giáo dục của nước người, cho những sinh viên ngoại quốc! Đó chẳng là, phần nào, một sự bội phản hay sao?

1. Nhưng, dù có nóng lòng vì lương tâm, vì sở nguyện, chúng ta phải nhận rằng việc “vực dậy” nền đại học Việt Nam khó xảy ra trong dăm ba năm nữa. Đó là một công trình cần kế hoạch, quyết tâm, và kiên trì, không thể thực hiện bằng những khẩu hiệu êm tai, những chỉ tiêu không thực tế. Cải cách giáo dục, ở bất cứ quốc gia nào, bao giờ cũng đòi hỏi những nỗ lực trường kỳ, không ngừng nghỉ. Ở nước ta hiện nay thì những suy kém về giáo dục – nhất là ở cấp đại học – quá đỗi trầm trọng, thể chế lại quá cứng nhắc, ù lì, và chưa có dấu hiệu nào cho thấy sự ù lì này sẽ giảm đi trong thời gian trước mắt. Về phần họ, hầu hết trí thức Việt Nam ở hải ngoại đều đang đầu tắt mặt tối lo cho sự nghiệp của mình, hoặc đã vào khoảng đời mà năng lực sức khoẻ của họ không còn nhiều nữa. Như vậy, gác qua một bên những vấn đề to tát như “vai trò trí thức trong thời kỳ toàn cầu hoá”, v.v. (mà người viết bài này đã đề cập trong nhiều bài khác (2)), câu hỏi thực tế cho những người trí thức gốc Việt ở hải ngoại ưu tư đến tiền đồ dân tộc là làm thế nào để kết hợp công việc cá nhân, đời sống thực tế của họ, với cố gắng, trong chừng mực có thể, phát triển nền đại học của quê hương mình, cho con em mình.
Vì sự đa dạng của ngành nghề, về cường độ của ước muốn, tầm mức của khả năng, không thể lập ra một hình mẫu nào cho sự đóng góp của trí thức Việt Nam ở nước ngoài vào sự phát triển của đại học trong nước. Tuy nhiên, có một bộ phận của tập thể trí thức này, gồm những người đã hoặc đang giảng dạy ở các trường đại học, làm việc cho các viện nghiên cứu ở nước ngoài, mà kỳ vọng vào sự đóng góp của họ đối với Việt Nam là cao nhất và khả năng của họ cũng là thiết thực nhất. Bài này sẽ tập trung vào những người ấy.

Đọc tiếp

TIÊU CHUẨN ĐỂ ĐỨNG TÊN TÁC GIẢ BÀI VIẾT KHOA HỌC

NGUYỄN VĂN TUẤN

Có phải Shakespeare là tác giả của các vở kịch Much ado about nothing, King Lear, Hamlet, Othello? Có phải Đoàn Thị Điểm là người dịch Chinh phụ ngâm? Những câu hỏi đó thoạt đầu mới nghe qua thì có vẻ lạ lùng và không cần thiết, nhưng xét một cách khách quan, ngày xưa người ta chưa có một hệ thống và chứng cứ để xác định tác giả của một tác phẩm.

Ngày nay, dù có hệ thống và tiêu chuẩn cho một tác giả, thực tế vẫn có những trường hợp mà người đứng tên tác giả một công trình khoa học nhưng chẳng có đóng góp một tí nào, cho dù là một chữ, trong công trình đó. Vấn đề này trở nên thời sự khi “sự cố đạo văn” trong khoa học được báo chí phanh phui gần đây.

Bài báo khoa học không chỉ thể hiện kết cục của một công trình nghiên cứu, mà ở góc độ cá nhân còn thể hiện một thành tựu của nhà khoa học. Trong thực tế số bài báo khoa học vẫn là một trong những tiêu chí quan trọng trong việc đề bạt chức danh khoa bảng.

Ví dụ, nghiên cứu cho thấy trong ngành y khoa những cá nhân được đề bạt chức danh giáo sư thường có số bài báo khoa học cao gấp hai lần những người không được đề bạt (*). Do đó, có thể nói không ngoa rằng bài báo khoa học là một đơn vị tiền tệ trong học thuật và nghiên cứu khoa học.

Một công trình nghiên cứu khoa học thường có nhiều tác giả, chuyên gia đóng góp từ ý tưởng, chọn mô hình nghiên cứu, xác định phương pháp, cách thu thập dữ liệu, phân tích dữ liệu, soạn thảo và diễn giải kết quả nghiên cứu, đến công bố bài báo khoa học. Mỗi bài báo thường có năm tác giả (tính trung bình), nhưng cũng có khi con số tác giả lên đến hàng trăm! Thật vậy, những công trình nghiên cứu đa quốc gia trong vài năm gần đây, có khi số tác giả quá nhiều (500 người), tập san phải đăng tên họ trong một phụ trang.

Do đó, đứng trước một bài báo có nhiều tác giả, người đọc (kể cả các ủy ban đề bạt chức danh giáo sư) phải hỏi về vai trò và mức độ đóng góp cho công trình nghiên cứu của từng tác giả như thế nào, và ai đủ tư cách đứng tên tác giả bài báo khoa học. Vấn đề này dẫn đến bàn luận giữa các tổng biên tập về việc đề ra tiêu chuẩn cho tác giả bài báo khoa học.

Đọc tiếp

NGÔ BẢO CHÂU! CHÚNG TÔI TIN ANH LÀ NGƯỜI YÊU NƯỚC!

Vào hồi 12h 55 ngày 19/8/2010 (giờ Hà Nội), GS. Ngô Bảo Châu đã đoạt giải fields – Giải “nobel” của toán học.

ngbaochau.jpg.jpgĐINH THẾ HƯNG – Viện Nhà nước và Pháp luật

Luật Viên chức đang được soạn thảo mà mong muốn của những người dự thảo là cho phép người Việt ở nước ngoài về làm viên chức nếu về nước. Nhưng đâu đó vẫn có ý kiến khác băn khoăn không đáng kiểu như nên cho hay không cho về? Điều đó có dễ làm những trí thức có tài có tâm với đất nước chạnh lòng..

Bia tiến sĩ Quốc Tử giám trân trọng ghi: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”. Hiền tài của bất cứ quốc gia nào đều là của hiếm và đương nhiên của hiếm thì khó tìm và khó giữ. Có được đội ngũ hiền tài là mơ ước của mọi chế độ. Tuy nhiên, điều này phụ thuộc vào nhiều thứ trong đó có yếu tố quan trọng là vận nước. Có những lúc chúng ta ở trong tình trạng “Tuấn kiệt như sao buôi sớm, nhân tài như lá mùa thu” như Nguyễn Trãi từng than thở. Năm nào Việt Nam cũng có những học sinh thi quốc tế đoạt huy chương . Nhưng qua sự chọn lọc khắc nghiệt của thời gian, của khoa học đã chứng tỏ tài năng nào là ngôi sao băng vụt sáng phút chốc rồi rơi vào “bẫy trung bình” của trí thức, mãi mãi sống với ánh hào quang của tấm huy chương vàng của quá khứ. Ngô Bảo Châu một tài năng toán học đích thực là hiền tài. Thế hệ chúng tôi 20 năm trước đã coi Ngô Bảo Châu là thần tượng của mình. Hai lần đoạt Huy chương vàng toán quốc tế, Giáo sư của đại học Đại học Paris XI, Đại học Chicago danh tiếng ở độ tuổi 27. Những người Việt Nam trên toàn thế giới trong đó có những người làm khoa học như chúng tôi sẽ vỡ òa trong niềm vui sướng khi cái tên Ngô Bảo Châu được xướng lên trong lễ trao giai thưởng toán học thế giới. Tiếng đàn Bá Nhá phải chờ có Chung Tư Kỳ. Lưu Bị 3 lần đến lều cỏ thỉnh cầu Khổng Minh xuống núi chỉ giáo mấy đường chính pháp trị nước. Mới đây, Phó thủ tướng Việt nam lần đầu tiên đã trân trọng mới GS Ngô Bao Châu về Việt Nam làm việc. Vì sao Giáo sư không nhận lời về ngay với lý do nào chi ông mới biết. Nhưng ông cũng nên phải ghi nhận tấm thịnh tình của đất nước mình.

Đọc tiếp

TÂM TÌNH VỚI TRÍ THỨC NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI

HỒ HẢI

Mấy hôm nay đọc bài: Vì sao ít trí thức Việt kiều về nước làm việc? của tác giả Nguyễn Quốc Vọng đặng trên Tia Sáng, làm tôi có một vài suy nghĩ nên viết một số tâm tình dưới cái nhìn triết học với quý vị để làm sao chúng ta có cái nhìn rạch ròi về vấn đề rất đáng quan tâm này.

Bản chất của cuộc đời nằm trong nhiều cặp phạm trù triết học mà buộc mỗi con người sinh ra và lớn lên ở bất cứ nơi đâu trên trái đất này cần phải hiểu để thành đạt. Song có những cặp phạm trù mà đã là con người thì cần phải quan tâm, đặc biệt con người đã trưởng thành và có chút thành đạt với đời.

Danh và Lợi: Sinh ra làm người không ai có thể thoát được cặp phạm trù danh – lợi. Dù là Thích Ca hay Chúa Jesus đã vì Đạo để chỉ ra con đường hướng thiện cho nhân loại thì họ cũng phải vướng vào một vế của cặp phạm trù này: chữ Danh, dù họ không màng đến danh lợi khi dấn thân và vong thân. Thế thì khi đã xác định được là người Việt Nam có tấm lòng với đất nước, thì phải xác định sự quay về với vì cái gì của một trong hai vế của cặp phạm trù danh và lợi? Dĩ nhiên, ở đời, không phải ai cũng có thể thực hiện hết cả hai vế cùng một lúc. Có người đi bằng thực tài lấy công danh trước, khi công danh đã chạm trần thì lúc đó lợi sẽ theo nhau về với họ. Có kẻ không bằng sức lực và trí tuệ của mình, mà chỉ bằng mánh lới của cuộc đời dạy cho để kiếm lợi trước, sau khi có lợi thì đi mua danh. Tất cả đều đi đến La Mã, chỉ khác nhau con đường đi, con đường ấy gọi là Đạo. Đạo cũng có chánh đạo và tà đạo là vậy.

Cho nên theo thiển ý của tôi, với quý vị người Việt ở nước ngoài, nếu đã có tấm lòng thì nên xác định rõ mình về vì cái gì của cặp phạm trù danh lợi để có chiến lược rõ ràng, mà không có bất kỳ mắc mớ gì trong tư duy khi muốn trở về đóng góp phần công sức nhỏ của mình với tổ quốc và dân tộc. Cụ thể tôi có thể nói đơn giản như thế này, nếu về vì danh thì nên chấp nhận những gì mà cơ chế đang hiện hành để góp sức với nó tốt hơn. Nếu vì lợi thì cũng nên chấp nhận những gì khó khăn đang dàn trải ra trên bước đường vì lợi. Anh không thể đem so sánh những gì ở xứ người để đem áp dụng vào Việt Nam, vì tại sao cũng với cơ chế ấy, khó khăn ấy nhưng những doanh nhân châu Á, Âu, Mỹ… họ lại vẫn đầu tư và thành công ở Việt nam. Trí thức của họ vẫn về giảng dạy ở các trường ở Việt Nam, nhưng người Việt thì không thể? Họ làm được tức họ cũng đã thể hiện không chỉ vì danh – lợi mà họ còn thực hiện được nhiệm vụ chính trị một cách âm thầm, không ai biết và cũng không ai buộc phải giao cho họ.

Đọc tiếp

TRÍ THỨC VÀ MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM CỦA TRÍ THỨC

NGUYỄN MINH THUYẾT

1. Thế nào là trí thức?

1.1. Nói đến trí thức, người ta thường nghĩ ngay tới những người có bằng cấp cao. Dĩ nhiên, bằng cấp cao là một dấu hiệu có lẽ dễ sử dụng và có thể được sử dụng trong nhiều trường hợp. Nhưng đó không phải là dấu hiệu bản chất của người trí thức.

Trên thực tế, có những người bằng cấp không cao nhưng do tư chất thông minh, lại chịu học hỏi nên có vốn tri thức khá sâu sắc và có nhiều sáng tạo được ghi nhận trong những lĩnh vực chuyên môn nhất định. Lịch sử từng ghi công nhiều tên tuổi lớn chưa học hết bậc đại học đã có những đóng góp xuất sắc cho khoa học – công nghệ, văn hóa – nghệ thuật hay cho lĩnh vực quản lý kinh tế – xã hội, như các nhà sáng chế và quản lý doanh nghiệp nổi tiếng thế giới Thomas Edison, Bill Gates ở Hoa Kỳ, nhà viết kịch vĩ đại Shakespeare ở Anh Quốc. Ở Việt Nam, nhà văn Nguyên Hồng khi hoàn thành những sáng tạo nghệ thuật để đời như "Những ngày thơ ấu", "Bỉ vỏ", chỉ mới học xong tiểu học; và trên các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp hiện nay, đang xuất hiện ngày càng nhiều "kỹ sư chân đất" – những nông dân "chân lấm tay bùn" chịu học và dám nghĩ, dám làm, chế tạo từ máy cày, máy cấy, máy thu hoạch mía cho đến máy bay v.v…, đáp ứng nhu cầu của công cuộc lao động sản xuất và ước muốn chinh phục đỉnh cao của khoa học – công nghệ. Họ là những trí thức thật sự.
Ngược lại, trong cuộc sống cũng có không ít người sở hữu bằng cấp cao nhưng vì nhiều lý do khác nhau, đã chuyển sang lao động chân tay hoặc buôn bán nhỏ, thậm chí, không làm gì hoặc làm những nghề không lương thiện. Số người có bằng cấp cao mà không hoạt động trong lĩnh vực lao động trí óc này khó có thể xếp vào tầng lớp trí thức. 
Thêm một lý do để vận dụng có mức độ dấu hiệu "bằng cấp cao" là đặc tính "cao" phụ thuộc khá nhiều vào quan niệm của cộng đồng dân cư cụ thể. Thời thuộc Pháp, bằng cao đẳng đã là rất cao, bởi vậy mới có tiêu chuẩn kén chồng của các tiểu thư con nhà giàu: "Phi cao đẳng bất thành phu phụ" (nghĩa là: "không có bằng cao đẳng, không thành vợ thành chồng", "không có bằng cao đẳng thì không lấy"). Thời nay, đối với dân cư thành thị, cao đẳng chưa chắc đã là cao. Nhưng đối với vùng sâu vùng xa, người có bằng cao đẳng chắc chắn được cộng đồng trọng vọng.

Đọc tiếp

VÌ SAO ÍT TRÍ THỨC VIỆT KIỀU VỀ NƯỚC LÀM VIỆC?

NGUYỄN QUỐC VỌNG – Đại học RMIT, Melbourne Vic 3001, Australia

Việt Nam có một lợi thế hơn hẳn so với các nước láng giềng là có khoảng gần 4 triệu người đang sinh sống khắp năm châu mà trong đó khoảng 300,000 người đã tốt nghiệp đại học và sau đại học. Trong số những trí thức Việt Nam này, có nhiều người là những nhà khoa học tên tuổi, chuyên gia đầu ngành hiện đang làm việc tại các đại học, viện nghiên cứu và công ty nổi tiếng ở Mỹ, Úc, Canada, Anh, Hà Lan, Nhật như các đại học Harvard, Standford, Yale, Tokyo, Sydney… các công ty Microsoft, Monsanto, Mitsubishi…

Tuy nhiên vì nền kinh tế Việt Nam được thoát thai từ chế độ bao cấp, doanh nghiệp tư nhân chưa phải là chủ lực, tính cạnh tranh trong thương mại chưa cao nên mối liên hệ giữa viện nghiên cứu, các trường đại học và doanh nghiệp chưa được quan tâm. Vai trò của trí thức, nhất là ở đại học và viện nghiên cứu rất mờ nhạt. Chính vì vậy “kho tàng kiến thức” của những nhà khoa học tên tuổi, những chuyên gia đầu ngành Việt kiều ở nước ngoài không được thực sự quan tâm (thậm chí hầu như bị lãng quên).
Có thể khẳng định, nếu có sự hợp tác về giảng dạy, đào tạo và nghiên cứu của trí thức Việt kiều, dưới bất cứ hình thức nào, cũng sẽ rất có lợi cho công cuộc hiện đại hóa, công nghiệp hoá đất nước.

Nhưng tại sao cho đến nay vẫn có rất ít trí thức Việt kiều trở về nước phục vụ? Qua thực tiễn 2 năm trở về nước được làm việc, tôi thấy có những nguyên nhân chính sau đây:
► Việt Nam chưa thực sự thấy được mối quan hệ hữu cơ giữa khoa học kỹ thuật và phát triển kinh tế, nên một số chính sách và cơ chế để thu hút trí thức không được nghiêm chỉnh thực hiện. Một khi trí thức trong nước chưa được sử dụng đúng mức thì việc trở về của trí thức Việt kiều sẽ không bao giờ xảy ra vì họ đang được làm việc trong điều kiện tốt nhất của nước sở tại;
► Chưa làm tốt việc cung cấp thông tin về những vấn đề nhạy cảm (ví dụ như biên giới biển đảo, Hoàng Sa Trường Sa, quặng mỏ bauxit Tây Nguyên…) nên trí thức Việt kiều không thấy được Việt Nam đã có sự thay đổi, tiến bộ về mặt dân chủ, phản biện, tự do tôn giáo, từ đó đâm ra hoang mang, lo sợ… không muốn trở về nước;

Đọc tiếp

CON NGƯỜI MỚI VIỆT NAM: VỪA CÁCH MẠNG VỪA KHOA HỌC

ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP

"Con người mới Việt Nam: Vừa cách mạng vừa khoa học" – Đó là phẩm chất, đồng thời cũng là năng lực cần phát huy. Để thực hiện được mục tiêu xây dựng đất nước giàu mạnh, chúng ta phải kế thừa những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, thường xuyên đổi mới tư duy, nâng cao trình độ khoa học và công nghệ. Với nội dung chủ đạo này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp – nguyên Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Nhà nước, đã có bài viết với tựa đề "Đẩy nhanh việc ứng dụng rộng rãi thành tựu khoa học và tiến bộ kỹ thuật" đăng trên Tạp chí Hoạt động Khoa học số 10/1986. Tạp chí xin trân trọng giới thiệu phần III của bài viết đã đăng gần 20 năm trước, song vẫn mang tính lý luận sâu sắc, tính thời sự và thuyết phục.

Tôi muốn nhấn mạnh: Trong những nhân tố tạo nên sức mạnh tổng hợp để đưa đất nước tiến lên, con người là nhân tố quan trọng bậc nhất, là nhân tố quyết định.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) trước hết phải có con người XHCN". Chúng ta sẽ tiến lên, sẽ chiến thắng trong cuộc thách thức mới của thời đại, chủ yếu là bằng sức mạnh sáng tạo của con người Việt Nam XHCN.

Bởi vì, đối tượng của sự thách thức chính là con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam, và người đứng ra gánh vác nhiệm vụ phải giành thắng lợi trong cuộc thách thức ấy cũng không phải là ai khác, mà chính là con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Con người luôn đứng ở trung tâm của mọi quá trình lịch sử, trên đất nước ta đã như vậy, ở các nước khác trên thế giới và trong toàn bộ lịch sử loài người cũng như vậy.

Con người Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã sáng tạo ra lịch sử của dân tộc, làm nên những sự tích phi thường, xây dựng nên truyền thống vẻ vang trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Con người ấy sớm có tinh thần độc lập tự chủ, lòng yêu nước nồng nàn, chí khí đấu tranh bất khuất, dũng cảm và thông minh trong chiến đấu, cần cù và sáng tạo trong lao động.

Đọc tiếp

ĐẠO ĐỨC KHOA HỌC

image NGUYỄN TUẤN

Đạo đức khoa học là một vấn đề quan trọng và cơ bản trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học (NCKH), thu hút sự quan tâm, chú ý không chỉ của giới khoa học mà của toàn xã hội. Tuy nhiên, các chuẩn mực đạo đức khoa học cụ thể là gì thì không dễ có câu trả lời.

Theo tác giả, các tiêu chuẩn đạo đức khoa học được tóm lược qua 6 nguyên tắc: Thành thật tri thức, cẩn thận, tự do tri thức, cởi mở – công khai, ghi nhận công trạng thích hợp, trách nhiệm trước công chúng.

Mỗi ngành, nghề trong xã hội, nhất là những nghề có liên quan đến sự an sinh của con người hay có ảnh hưởng đến một quần thể lớn, đều có những chuẩn mực về đạo đức hành nghề. Chẳng hạn như nghề y có các tiêu chuẩn về y đức mà bất cứ sinh viên y khoa nào mới ra trường đều phải “nằm lòng”, hay trong giới luật sư có những quy ước đạo đức cho việc hành nghề. Mới đây, trước những “lem nhem” của một số thầy cô giáo, có người kêu gọi nên phát triển những tiêu chuẩn đạo đức cho nghề sư phạm. Hoạt động khoa học (HĐKH) nói chung và NCKH nói riêng có ảnh hưởng lớn đến xã hội và con người, cho nên các chuẩn mực đạo đức đóng một vai trò rất cơ bản đối với các nhà khoa học.

Chuẩn mực đạo đức không phải là luật pháp, mà là những quy ước hay điều lệ về hành xử được các thành viên trong ngành nghề chuyên môn chấp nhận như là những kim chỉ nam cho việc hành nghề. Các quy ước này cho phép, nghiêm cấm, hay đề ra thủ tục về cách hành xử cho các tình huống khác nhau. Trong HĐKH, hai chữ “hành xử” ở đây bao gồm các lĩnh vực chuyên biệt như thí nghiệm, xét nghiệm, giảng dạy và huấn luyện, phân tích dữ liệu, quản lý dữ liệu, chia sẻ dữ liệu, xuất bản ấn phẩm, trình bày công trình nghiên cứu trước công chúng và quản lý tài chính.

Đọc tiếp

NHỮNG BIẾN ĐỔI QUAN TRỌNG TRONG GIAI ĐOẠN 2011 – 2020 VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC VIỆT NAM

GS.TS. TRẦN NGỌC HIÊN

Sự hình thành và phát triển đội ngũ trí thức luôn gắn liền với những điều kiện lịch sử của dân tộc và thời đại. Đội ngũ đó phải là sản phẩm của giai đoạn phát triển của dân tộc và thời đại. Vì vậy, nghiên cứu vấn đề xây dựng đội ngũ trí thức nước ta giai đoạn 2011 – 2020 cần chú ý đến giai đoạn ấy có thể có những biến đổi gì trong sự phát triển khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, phát triển kinh tế và xã hội.

Đó là những biến đổi hình thành môi trường hoạt động và phát triển của trí thức. Do đó, phải xây dựng đội ngũ trí thức phù hợp với môi trường biến đổi giai đoạn 2011 – 2020. Trên cơ sở những dự báo biến đổi giai đoạn mới mà nhìn lại thực trạng đội ngũ trí thức hiện nay, từ đó tìm ra phương hướng và giải pháp phát triển trí thức cho giai đoạn tới. Dự báo những biến đổi giai đoạn 2011 – 2020 có quan hệ trực tiếp đến vai trò và trách nhiệm trí thức và định hướng xây dựng đội ngũ trí thức

Bài viết chỉ nêu vắn tắt một số vấn đề chủ yếu sau đây:

1 – Biến đổi quan trọng nhất là đổi mới mô hình phát triển.

Kinh tế thị trường từ hướng phát triển phiến diện nhằm tăng của cải (cho chủ đầu tư) chuyển sang hướng phát triển đồng thời về kinh tế, xã hội, môi trường. Đây là sự thay đổi mô hình phát triển, do những khủng hoảng xã hội và tàn phá môi trường của tất cả các nền kinh tế thị trường. Cuộc đấu tranh cho tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường ngày càng sâu rộng ở phạm vi thế giới tạo ra sức ép thay đổi.

Ở nước ta, việc đổi mới mô hình phát triển cũng đã trở thành vấn đề cấp bách do những hậu quả về xã hội và môi trường trong quá trình công nghiệp hóa những năm qua. Chỉ có đổi mới mô hình phát triển thì mới chuyển quá trình tăng trưởng số lượng hiện nay sang quá trình phát triển chất lượng, trên cơ sở ấy mà đạt đến số lượng nhiều hơn. Nếu không, ngay số lượng đã đạt được cũng sẽ giảm dần, trong khi dân số tăng lên, vấn đề xã hội và môi trường sẽ trầm trọng hơn.

Đọc tiếp

ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN: TRÍ THỨC TRUNG QUỐC ĐANG NGHĨ GÌ?

TRẦN HỮU DŨNG*

Như Việt Nam, Trung Quốc hiện phải đương đầu với nhiều thử thách kinh tế, xã hội, môi trường, vv.. Kinh nghiệm của họ đặc biệt là hữu ích vì, cũng như Việt Nam, họ là một nước “xã hội chủ nghĩa” (trên danh nghĩa) và chỉ thực sự bắt đầu cải cách khoảng ba mươi năm nay (trước Việt Nam độ 10 năm).  Đó là chưa nói đến một lý do quan tâm thiết thực nhất cho chúng ta: Trung Quốc là một quốc gia cận kề, ảnh hưởng lớn lao đến Việt Nam về văn hóa, về chính sách (và nhiều phương diện khác nữa!).  Hiển nhiên, đã có vô số văn kiện, báo cáo của nhà nước Trung Quốc về các kinh nghiệm này, và cũng đã có rất nhiều nghiên cứu của các tác giả Tây phương về Trung Quốc, song, đối với những người muốn nhìn vấn đề từ nhiều phía thì vẫn còn một điều muốn biết: còn những trí thức Trung Quốc ngoài chính quyền, tương đối độc lập, thì họ nghĩ sao? 

Bài này giới thiệu một số nhận định và phân tích của các học giả Trung Quốc về những vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường… của nước họ.  (Những ý kiến về chính trị, ngoại giao và quốc phòng sẽ được dành cho một bài khác.)  Đây là những công trình được thấy trên các ấn phẩm được phép xuất bản ở Trung Quốc, nhưng không phải là trong các văn kiện chính thức của Đảng và chính phủ nước này. Theo nhiều nhà bình luận thì tác giả của những ý kiến này có thể được xếp (một cách đại thể) thành hai “phe”: một phe là nhóm trí thức thường được gọi là Tân Tả, và phe kia là nhóm thường được mệnh danh “phóng khoáng” (đôi khi cũng được gọi là Tân Hữu).  Song, phải thêm: giữa hai phe này có những người… không thuộc phe nào.  Đó cũng là cấu trúc của bài này.[1]

IPhái Tân Tả

Nhớ lại, ngay từ những năm 1990, sau hơn một thập kỷ theo đuổi và có nhiều thành tựu đáng kể, chính sách cải cách theo hướng thị trường của Trung Quốc đã bị nhiều trí thức nước này chỉ trích. Tuy chuyên về nhiều ngành khác nhau (sử học, kinh tế, xã hội, môi trường, vv.. ) và theo nhiều tiếp cận khác nhau, những trí thức này có chung một số quan tâm về đất nước họ.

Một là, họ bất bình về tình trạng phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng và sự suy đồi đạo đức (theo họ) của Trung Quốc.  Dù không có ý hô hào Trung Quốc trở lại như trước thời kỳ cải cách, họ nhớ lại thời kỳ này với nhiều luyến tiếc. 

Đọc tiếp

TRÍ THỨC VÀ NHẬN THỨC PHÁP QUYỀN

B. A. KISTIAKOVSKI – PHẠM NGUYÊN TRƯỜNG dịch và chú thích

Pháp quyền không thể đặt bên cạnh các giá trị về tinh thần như chân lý khoa học, sự tận thiện về đạo đức hay kinh bổn của tôn giáo. Nó chỉ có ý nghĩa tương đối, nội dung của nó một phần nào đó được quyết định bởi những điều kiện kinh tế và xã hội luôn luôn biến đổi. Ý nghĩa tương đối của pháp quyền đã tạo cớ cho một số lý thuyết gia đánh giá nó quá thấp. Một số người cho rằng pháp luật chỉ có giá trị tối thiểu về đạo đức, một số khác lại cho rằng cưỡng chế, nghĩa là bạo lực, là thành tố không thể tách rời của pháp luật. Nếu đúng là như thế thì chẳng có cơ sở nào để chê trách giới trí thức của chúng ta trong việc coi thường pháp quyền hết. Giới trí thức của chúng ta luôn hướng tới những lý tưởng tuyệt đối và trên đường đi của mình nó có thể bỏ qua cái giá trị thứ cấp này.

Nhưng văn hóa tinh thần bao gồm không chỉ một loại giá trị. Các đặc điểm mang tính hình thức của hoạt động trí tuệ và hoạt động ý chí là thành phần chủ yếu của văn hóa tinh thần. Mà trong các giá trị mang tính hình thức thì pháp luật, một hình thức phát triển hoàn hảo nhất và gần như có thể cảm nhận được một cách cụ thể nhất, đóng vai trò quan trọng nhất. Pháp luật đưa người ta vào khuôn phép nhanh hơn là tư duy lô gich và phương pháp luận hay những biện pháp rèn luyện ý chí một cách có hệ thống khác. Điều quan trọng là, khác với những hệ thống kỷ luật mang tính cá nhân nói trên, pháp luật là hệ thống mang tính xã hội và lại là hệ thống xã hội duy nhất ép người ta vào kỷ luật. Kỷ luật xã hội chỉ có thể được hình thành nhờ pháp luật; xã hội có kỷ cương và xã hội có trật tự pháp luật phát triển là những khái niệm tương đồng.

Nhìn theo cách đó thì nội dung của pháp quyền đã có một ý nghĩa khác. Nội dung chủ yếu và quan trọng nhất của pháp quyền chính là tự do. Nói cho ngay, đấy là tự do ngoại tại, tự do tương đối, được quy định bởi môi trường xã hội. Nhưng tự do nội tại, tự do tinh thần, tự do có tính bền vững hơn, lại chỉ có thể hiện hữu khi có sự hiện hữu của tự do ngoại tại, cái sau là trường học tuyệt vời cho cái trước.

Đọc tiếp

SUY NGHĨ VỀ KHÁI NIỆM TRÍ THỨC

GS.NGND. NGUYỄN NGỌC LANH

“Trí thức” từ đâu ra?

Intellectuel (tiếng Pháp) hay intellectual (tiếng Anh) trong từ điển vốn là một tính từ, còn danh từ gốc của nó là intellect (trí tuệ, trí thông minh). Nhưng một văn bản công bố năm 1906 – do nhà văn Zola ký tên đầu – lại được thủ tướng Pháp Clemenceau (tiến sĩ, nhà báo) gọi là Tuyên ngôn của Trí thức (Manifeste Des Intellectuels). Thế là một tính từ trở thành danh từ mới, chưa có trong các từ điển trước đó như Larousse 1866-1878 hay Đại từ điển Bách khoa 1885-1902.

Đó là bản kháng nghị nổi tiếng, của các nhà văn, nhà khoa học nổi tiếng, chống lại một bản án oan cũng nổi tiếng là xấu xa trong lịch sử tư pháp (xử đại úy Dreyfuss, sau gọi là “sự kiện Dreyfuss”). Như vậy, danh từ “trí thức” ra đời trong một sự kiện chống bất công, còn “người trí thức” ra đời khi xã hội thừa nhận danh từ này.

Thực ra, rất lâu trước đó đã có vô số cá nhân có phẩm chất và tiếng tăm không kém các tác giả bản tuyên ngôn nói trên, nhưng ý thức tự liên kết (ví dụ cùng ký tên vào một tuyên ngôn) và điều kiện cho phép liên kết để thực hiện những thiên chức xã hội thì chỉ xuất hiện khi xã hội có dân chủ; đồng thời người dân khi được hưởng các quyền tự do cũng bắt đầu hiểu rõ chức năng xã hội của tầng lớp trí thức và hưởng ứng họ.

Trí thức và dân chủ

Quả vậy, dẫu các tác giả của bản tuyên ngôn là những người uy tín lớn và đang được xã hội trọng vọng, như Emile Zola (1840-1902), Anatole France (1844-1924), Halevy, Buinot, Leon Blum… nhưng thật ra bản tuyên ngôn của họ chỉ có thể ra đời khi nước Pháp đã có chế độ dân chủ, ba quyền tối thượng đã được phân lập rạch ròi. Thủ tướng đứng đầu ngành hành pháp, quyền hành cực lớn, vẫn không được phép can thiệp vào công việc tư pháp, dẫu tư pháp đưa ra bản án oan.

Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 656 other followers

%d bloggers like this: