TẢN MẠN VỀ LẬP LUẬN

GS.TS. NGUYỄN ĐỨC DÂN

Một nguyên lý sư phạm cho nền giáo dục tiên tiến: cấp cần câu chứ không cho cá. Cái cần câu cấp cho người học là phương pháp độc lập tư duy, đánh giá, phát hiện và giải quyết vấn đề. Trước hết, đó là phương pháp tư duy phản biện mà cốt lõi là lý thuyết lập luận. Khi có thói quen tư duy phản biện, hiện tượng được nhìn nhận, đào sâu tới gốc rễ của nó. Hơn ai hết, giới nghị sĩ phải rèn luyện về lập luận.

Lập luận là gì?

Xuất phát từ tiền đề (những sự kiện, chân lý được mọi người thừa nhận), dựa trên những lý lẽ chúng ta đi tới những kết luận – đó là lập luận. Có hai loại lập luận: lập luận để chứng minh một chân lý và lập luận để thuyết phục.

Loại lập luận thứ nhất thuộc lôgích hình thức. Đó là toán chứng minh trong hình học, đại số, vật lý, hoá học… dạy trong trường học. Lý lẽ trong loại này là những định lý, định luật, quy tắc… đã biết.

Trong đời thường còn có loại lập luận để thuyết phục, tạo niềm tin, nói sao cốt để người nghe thấy “lọt lỗ tai” rồi tin theo điều mình nói hoặc từ bỏ những xác tín cũ. Lý lẽ chủ yếu ở loại lập luận này là những lôgích đời thường: “ở hiền gặp lành” là lý lẽ về quan hệ nhân quả, “trời kêu ai người ấy dạ” là lý lẽ về số mạng, “con nhà tông không giống lông cũng giống cánh” là lý lẽ về dòng dõi. Đó là những lẽ thường hay lý lẽ “hiển nhiên là thế”. Loại lập luận này thuộc lôgích phi hình thức. Ở đây lý lẽ có tầm quan trọng hàng đầu. Chất vấn, trả lời, tranh luận trước Quốc hội là những lập luận để thuyết phục.

Lý lẽ trong lập luận

Những kết luận không chứng minh, không có lý lẽ là loại lập luận quyền uy chẳng thuyết phục được ai. Tiếc thay, loại này thường thấy trong diễn đàn Quốc hội.

“Chân lý thuộc về số đông” là loại lý lẽ về số lượng. Nó loại trừ lý lẽ “ta làm theo cách của ta”. Dùng lý lẽ này, GS Hoàng Tuỵ viết: “Yếu kém nhất của nền giáo dục đại học Việt Nam hiện nay là đi lạc con đường chung của thế giới đang đi. Lạc hậu còn có thể khắc phục được nhưng lạc đường thì mãi mãi khó đuổi kịp các nước” (Sài Gòn Tiếp Thị, 14.10.2011).

Continue reading

BÀI DIỄN VĂN BẤT HỦ CỦA STEVE JOBS – CEO APPLE TẠI LỄ TỐT NGHIỆP Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC STANFORD NĂM 2005

Thế giới đã nói nhiều về ông, với Civillawinfor lần đầu tiếp xúc sản phẩm của Apple đã tự hỏi, “phù thủy” nào đã biến hóa chúng để có thể chạm đến trái tim con người như vậy?

STEVE JOBS

Tôi rất vinh dự có mặt trong lễ trao bằng tốt nghiệp của các bạn hôm nay tại một trong những trường đại học uy tín nhất thế giới. Tôi chưa bao giờ có bằng đại học. Phải thú nhận đây là lần tôi tiếp cận gần nhất với một buổi tốt nghiệp. Tôi muốn kể cho các bạn ba câu chuyện về cuộc đời tôi. Không có gì nhiều nhặn. Chỉ là ba câu chuyện.

Chuyện thứ nhất là về việc kết nối các dấu chấm (kết nối các sự kiện)

Tôi bỏ trường Reed College ngay sau 6 tháng đầu, nhưng sau đó lại đăng ký học thêm 18 tháng nữa trước khi thực sự rời trường. Vậy, vì sao tôi bỏ học?

Mọi chuyện như đã định sẵn từ trước khi tôi sinh ra. Mẹ đẻ tôi là một sinh viên, bà chưa kết hôn và quyết định gửi tôi làm con nuôi. Bà nghĩ rằng tôi cần được nuôi dưỡng bởi những người đã tốt nghiệp đại học nên sắp đặt để trao tôi cho một vợ chồng luật sư ngay trong ngày sinh. Tuy nhiên, mọi chuyện thay đổi vào phút chót bởi họ muốn nhận một bé gái hơn là tôi.

Vì thế, cha mẹ nuôi của tôi, khi đó đang nằm trong danh sách xếp hàng, đã nhận được một cú điện thoại vào nửa đêm rằng: "Chúng tôi có một đứa con trai không mong đợi, ông bà có muốn chăm sóc nó không?" và họ trả lời: "Tất nhiên rồi". Mẹ đẻ tôi sau đó phát hiện ra mẹ nuôi tôi chưa bao giờ tốt nghiệp đại học còn cha tôi thậm chí chưa tốt nghiệp phổ thông trung học. Bà từ chối ký vào giấy tờ trao nhận và chỉ đồng ý vài tháng sau đó khi bố mẹ hứa rằng ngày nào đó tôi sẽ vào đại học.

Sau đó 17 năm, tôi thực sự đã vào đại học. Nhưng tôi ngây thơ chọn ngôi trường đắt đỏ gần như Đại học Stanford vậy. Toàn bộ số tiền tiết kiệm của bố mẹ tôi phải dồn vào trả học phí cho tôi. Sau 6 tháng, tôi thấy việc đó không hề hiệu quả. Tôi không có ý niệm về những gì muốn làm trong cuộc đời mình và cũng không hiểu trường đại học sẽ giúp tôi nhận ra điều đó như thế nào. Tại đó, tôi tiêu hết tiền mà cha mẹ tiết kiệm cả đời. Vì vậy tôi ra đi với niềm tin rằng mọi việc rồi sẽ ổn cả. Đó là khoảnh khắc đáng sợ, nhưng khi nhìn lại, đấy lại là một trong những quyết định sáng suốt nhất của tôi. Tôi bắt đầu bỏ những môn học bắt buộc mà tôi không thấy hứng thú và chỉ đăng ký học môn tôi quan tâm.

Continue reading

TẠI SAO NGƯỜI TA THÍCH DANH XƯNG?

NGUYỄN VĂN TUẤN

Đối với cuộc sống, người ta không thể lấy học hàm, học vị để trả lời câu hỏi: Tôi là ai? – CIVILLAWINFOR

Tôi khổ tâm nhất là chuyện danh xưng, hay phải nói đúng hơn là “vấn đề danh xưng”. Tôi thỉnh thoảng viết báo và không bao giờ sử dụng đến danh xưng, thế nhưng những người biên tập vẫn chêm vào những danh xưng trước tên tôi, làm tôi rất khổ với Ba tôi lúc sinh tiền. Ba tôi mỗi lần đọc được một bài báo với tên tôi tác giả và có kèm theo mấy chữ nhí nhố trước tên là ông nói xa nói gần rằng có người hám danh, thiếu tự tin, nên dùng đến những danh hiệu phù phiếm. Tôi biết Ba tôi nói ai, và tôi thấy mình oan lắm. Có nhiều người như tôi, không bao giờ dùng danh xưng trước tên mình, nhưng vì ban biên tập thêm vào để — nói theo họ — là tăng trọng lượng của bài báo! Tôi không hiểu tại sao ý kiến của một giáo sư hay tiến sĩ phải có trọng lượng hơn ý kiến của một người bán vé số? Thật là vô lí! Người khôn nói 100 điều cũng có ít nhất một điều dại dột, còn người dại dột nói 100 điều chắc cũng có ít nhất là 1 điều khôn. Ý kiến phải bình đẳng.

Nhưng trong thực tế thì ở Việt Nam, danh xưng đóng vai trò quan trọng, hay rất quan trọng. Có một lần, khi về làm việc ở một tỉnh thuộc vùng miền Tây, sau bài nói chuyện tôi được một vị cao tuổi ân cần trao cho một danh thiếp với dòng chữ tiếng Anh: “Senior Doctor Tran V. …”. Đây là lần đầu tiên tôi thấy một danh xưng như thế trong đời. Tìm hiểu một hồi tôi mới biết ông là một cựu quan chức cao cấp trong ngành y tế của thành phố (đã nghỉ hưu), nhưng vẫn còn giữ chức vụ gì đó trong một hiệp hội chuyên môn. Tôi nghĩ danh xưng “Senior Doctor” (có lẽ nên dịch là “Bác sĩ cao cấp” hay nôm na hơn là “Bác sĩ đàn anh”). Nhưng tại sao lại cần một danh xưng phân biệt “giai cấp” như thế? Tôi đoán có lẽ vị đồng nghiệp này muốn phân biệt mình với “đám” bác sĩ đàn em chăng?

Một lần khác, khi xem qua chương trình hội nghị tôi thấy ban tổ chức viết tên diễn giả bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Những người có danh xưng tiếng Việt ví dụ như “TS BS Trần Thị …” được dịch sang tiếng Anh là “Dr. Dr. Tran Thi …”. Tôi không khỏi cười thầm trong bụng vì chưa thấy nơi nào trên thế giới có cách viết lạ lùng như thế. Tôi sợ nhất là trong hội nghị có đồng nghiệp ngoại quốc mà họ đọc được cái danh xưng “Dr Dr” này chắc tôi tìm lỗ mà chui xuống không kịp quá! Tôi đề nghị cách viết “đơn giản” hơn là chỉ “Dr” thôi là đủ, nhưng cũng phải vài phút thảo luận người ta mới chịu đề nghị này!

Tôi vẫn còn giữ một danh thiếp khác với dòng chữ: “Dr Specialist II Nguyễn M”. Một anh bạn người Úc tôi có lần tình cờ thấy danh thiếp trên bàn nên thắc mắc hỏi tôi “Specialist II” là gì vậy. Lúc đó tôi cũng chẳng biết, nên đành nói: “I have no idea”, nhưng tôi nói thêm rằng tôi đoán đó là bác sĩ chuyên khoa gì cấp 2 gì đó. Anh bạn đồng nghiệp cười nói mỉa mai (rất dễ ghét) rằng: ước gì tao cũng được cấp II nhỉ?
Không nghi ngờ gì nữa: người Việt rất sính dang xưng. Những gì Dạ Lan viết đều đúng, nhưng … chưa đủ. Còn nhiều chuyện cười ra nước mắt về những nhầm lẫn về danh xưng (honorific), tước hiệu, và nghề nghiệp ở Việt Nam mà tôi từng chứng kiến trong các hội nghị. Nghe những lời giới thiệu dài lòng thòng như “Giáo sư, tiến sĩ, nhà giáo nhân dân, anh hùng lao động, bác sĩ Nguyễn Văn …” nó khôi hài làm sao!

Tôi vẫn tự hỏi tại sao người ta thích danh xưng trước tên mình? Kinh nghiệm của tôi, khi tiếp xúc với những người hay sử dụng danh xưng cho thấy họ thường dùng danh xưng với những động cơ sau đây:

Continue reading

CÔNG HAY TƯ?

HUỲNH THẾ DU

Điểm khác nhau giữa thu nhập 30 triệu và thu nhập 3 triệu là gì? Nói chung, người có thu nhập 30 triệu biết chắc rằng giá trị gia tăng mà họ làm ra sẽ hơn 30 triệu đồng, còn khó có thể biết giá trị gia tăng của người có thu nhập 3 triệu cao hơn bao nhiêu so với thu nhập của họ.

Trong thời bao cấp, sẽ bị xem là có vấn đề nếu đặt câu hỏi nên chọn khu vực công hay khu vực tư để làm việc vì chỉ có kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể được công nhận chính thức. Hơn thế, mọi quyền lợi tiêu chuẩn đều gắn với một chỗ làm trong khu vực công. Làm việc trong khu vực công được đồng nhất với sự ổn định và có tương lai. Tư tưởng này hiện vẫn còn tồn tại ở một số người, nhất là những nơi mà các quan hệ thị trường chưa thực sự đi vào mọi ngóc ngách của cuộc sống. Tuy nhiên, theo thời gian, tư tưởng trên đã thay đổi ở rất nhiều. Hơn thế, hiện đang có không ít người (kể cả những người ở vị trí khá cao) rời Nhà nước để làm việc cho khu vực kinh doanh hay nhiều người sau khi học xong ở nước ngoài không muốn trở về nước làm việc.

Tại sao vậy?

Nhiều người lên tiếng chỉ trích những người bỏ công làm cho tư chỉ vì tiền, không vì cái chung và không có tinh thần yêu nước. Do vậy, giải pháp là cần phải tăng cường giáo dục tinh thần yêu nước và yêu nghề để con người bớt vị kỷ hơn. Ở đây có hai điều nên bàn về cách tiếp cận này.

Thứ nhất, khoa học hành vi chỉ ra rằng, vị kỷ thuộc về vấn đề bản chất của con người. Ai không vì lợi ích cá nhân, không ích kỷ thì người đó sẽ là thánh. Trên thực tế, số người được coi là thánh rất ít. Hầu hết mọi người khi đi làm chỉ mong muốn hai điều, đó là thu nhập cao và cơ hội thăng tiến. Nói rộng ra một chút là hầu hết mọi người tồn tại trên cõi đời này đều mong muốn có một cuộc sống sung túc và được xã hội công nhận hay tôn vinh. Việc lựa chọn hay quyết định làm việc ở đâu đó phụ thuộc vào công thức:

Việc làm = Thu nhập + Cơ hội thăng tiến

Điểm khác nhau giữa thu nhập 30 triệu và thu nhập 3 triệu là gì? Nói chung, người có thu nhập 30 triệu biết chắc rằng giá trị gia tăng mà họ làm ra sẽ hơn 30 triệu đồng, còn khó có thể biết giá trị gia tăng của người có thu nhập 3 triệu cao hơn bao nhiêu so với thu nhập của họ.

Continue reading

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI MỞ THÊM MÃ NGÀNH LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

LƯỢM LẶT -  Theo thông tin chính thức trên cổng thông tin Bộ Tư pháp và Đại học Luật Hà Nội, Trong năm học 2011 – 2012, bên cạnh mã ngành luật hiện có, Đại học Luật Hà Nội (HLU) chính thức mở thêm mã ngành Luật thương mại quốc tế. Việc xây dựng trường Đại học Luật Hà Nội trở thành cơ sở đào tạo đa ngành trong lĩnh vực pháp lý là một yêu cầu khách quan từ nhu cầu đa dạng của thị trường nhân lực trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường.

Sinh viên theo học Ngành Luật Thương mại Quốc tế tại HLU sẽ có thời gian đào tạo là 4 năm và được cấp bằng bằng cử nhân Ngành Thương mại Quốc tế khi tốt nghiệp. Mục tiêu đáp ứng yêu cầu về nhân lực cho các đơn vị về hợp tác quốc tế, pháp luật quốc tế hoặc pháp chế của các Bộ, ngành và các cơ quan Nhà nước; các cơ quan thông tin đại chúng như đài truyền hình, đài phát thanh, các toà soạn báo, tạp chí; các trường đại học, các viện nghiên cứu; các tổ chức Quốc tế, các tổ chức liên Chính phủ tại các nước và tại Việt Nam; các công ty luật chuyên về pháp luật quốc tế, các công ty luật nói chung, các tổ chức trọng tài thương mại; các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, nhất là các công ty có hoạt động thương mại quốc tế; các toà án.

Chương trình đào tạo Ngành Luật Thương mại Quốc tế được HLU xây dựng trên cơ sở tham khảo chương trình đào tạo tiên tiến ở các nước trên thế giới (Hoa Kỳ, Anh quốc, Australia, Singapore), theo hướng đạt chuẩn quốc tế, đảm bảo trang bị kiến thức có hệ thống và chuyên sâu về pháp luật thương mại quốc tế trên nền tảng pháp luật cơ bản; có kiến thức tiếng Anh chuyên ngành cần thiết để làm việc trong lĩnh vực liên quan đến pháp luật thương mại quốc tế, đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập của đất nước. Một số môn học được giảng dạy trực tiếp bằng tiếng Anh.

HLU cũng cho rằng, chương trình đào tạo đại học Ngành Luật Thương mại Quốc tế của HLU có tính liên thông cao, nên sau khi tốt nghiệp, cử nhân Ngành Luật Thương mại Quốc tế có nhiều cơ hội tiếp tục theo học trình độ cao hơn ở nước ngoài hoặc ở Việt Nam hoặc theo học các ngành/chuyên nhành khác như Ngành Luật, Ngành Kinh doanh Quốc tế, chuyên ngành Kinh tế đối ngoại, chuyên ngành Luật Thương mại Quốc tế .

Được biết, đội ngũ giảng viên (nhân tố quyết định tạo nên chất lượng đào tạo) được cơ cấu từ lực lượng giảng viên cơ hữu của HLU, ngoài ra, các luật sư chuyên nghiệp sẽ được mời tham gia giảng dạy các môn học về kỹ năng của luật gia, nhằm giúp sinh viên sớm rèn luyện năng lực hành nghề ngay sau khi tốt nghiệp. Đối với các môn học tiếng Anh chuyên ngành và các môn được giảng dạy trực tiếp bằng tiếng Anh, giảng viên cơ hữu của nhà trường và giảng viên thỉnh giảng trong nước và nước ngoài sẽ cùng phối hợp giảng dạy.

Thông tin thêm các bạn tìm hiểu tại đây

ĐỊNH DẠNG NHÂN HIỆU CÁ NHÂN

NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG – Tâm Việt Group

Người ta nhận ra một đất nước bởi quốc hiệu, nhận ra một công ty bởi thương hiệu và nhận ra một con người bởi nhân hiệu. Nhân hiệu chính là cái để người ta nhớ tới mình, trân trọng mình. Vậy thì xây dựng nhân hiệu cho mình bắt đầu từ đâu và như thế nào?

Ta nhớ lại những lần ta đi mua hàng, ta cần mua bột giặt, nhãn hiệu nào sẽ xuất hiện ngay trong đầu ta? Omo, Tide, Vì Dân… Ta cần uống nước ngọt, ngay lập tức ta nghĩ đến Cocacola và Pepsi, C2…Hoặc nhắc đến Mỹ người ta nghĩ ngay đến tiềm lực tài chính, nhắc đến Nhật người ta nghĩ đến chất lượng hàng hóa, nhắc đến Trung Quốc người ta nghĩ đến đông dân… Một ngày nào đó tên của ta được nhắc đến, người khác sẽ nghĩ ngay đến điều gì, sự giàu có, sự hài hước, lòng tốt bụng, những bản nhạc trữ tình… hay nhắc đến một lĩnh vực nào đó người ta sẽ nghĩ ngay đến ta như đại diện của ngành công nghệ thông tin, giáo dục, kỹ năng sống, báo chí,… hoặc sẽ là không gì cả. Thế giới càng ngày càng phát triển, nếu như trước đây một người bán vạn người mua thì bây giờ vạn người bán một người mua và người mua không có nhiều thời gian dành cho việc lựa chọn khó khăn đó. Chính vì vậy, khách hàng chỉ mua những sản phẩm đã có hình ảnh sẵn trong tâm trí họ, theo thói quen hoặc theo những khuôn mẫu sẵn có, như việc họ bước vào cửa hàng sẽ dễ mua những món đồ bày ở quầy bên phải hơn là bên trái hoặc mua chính túi bột giặt họ đã mua từ những lần trước mà không tính toán cân nhắc nhiều. Và nếu ta là một sản phẩm, một loại hàng hóa còn những ông chủ, những người xung quanh là khách hàng, họ có mua ta ngay khi họ cần hay không? Làm sao để mỗi lần khách hàng của ta cần một phần mềm mới họ lại nghĩ ngay đến ta, hoặc khi họ cần những chương trình quảng cáo thì ta sẽ nằm trong tâm trí họ? Khách hàng cần tổ chức những sự kiện, ta sẽ là người nổi bật nhất trong đó, hoặc họ đã quen với cung cách ứng xử khéo léo và dễ chịu của ta nên họ không nghĩ tới ai khác mỗi lần đi ăn. Ta sẽ là ai trong gia đình mình, nhóm của mình, công ty mình và họ cần điều gì ở mình.

Vì quá trinh định vị dựa theo cơ chế nhận dạng nên ta phải định vị nhân hiệu. Trước tiên ta cần hiểu cơ chế gọi là cơ chế "Nhận dạng và phản xạ", khi đã hiểu cơ chế này rồi ta sẽ xây dựng nhân hiệu của mình theo cơ chế "Định dạng nhân hiệu" để đạt hiệu quả cao nhất.

Nhận dạng và phản xạ

Mỗi người một ngày ta đưa ra tới hơn 50.000 quyết định, ta không thể ngồi cân nhắc thiệt hơn trong từng quyết định của mình như: Lên xe máy thì ngồi ra sao, nổ máy như thế nào, đến đoạn rẽ có bật xinhan hay không, về nhà mình thì đi đường cũ hay tìm một đường mới, đánh răng có cần uống nước trước không, rửa mặt thì rửa ở đâu trước…. Những quyết định đó đều được thực hiện rất nhanh mà không cần tính toán. Tất cả đều là những phản xạ, có điều kiện hoặc không có điều kiện. Phản xạ không điều kiện được gọi là bản năng, còn phản xạ có điều kiện chính là những thói quen, mặc định và chuẩn mực sẵn có trong mỗi người. Khi đã có thói quen, mặc định và chuẩn mực rồi thì ra sẽ hành động rất nhanh theo đó mà không hề có sự suy nghĩ cân nhắc nào. Như việc một người có mặc định "Người ngoài là xấu" thì người đó khi nhận dạng một người là người ngoài gia đình của họ lập tức họ tránh xa hoặc sợ sệt, không dám nói chuyện thoải mái mà không hề cân nhắc có nên hay không. Trong gia đình nếu người vợ có quan điểm "Chồng về khuya là đi chơi bời" thì tất cả những lần chồng về khuya chị ta đều có thói quen tra hỏi hay trì triết và cũng không cân nhắc xem có đúng như vậy hay không.

Continue reading

TIÊU CHUẨN ĐỂ ĐỨNG TÊN TÁC GIẢ BÀI VIẾT KHOA HỌC

NGUYỄN VĂN TUẤN

Có phải Shakespeare là tác giả của các vở kịch Much ado about nothing, King Lear, Hamlet, Othello? Có phải Đoàn Thị Điểm là người dịch Chinh phụ ngâm? Những câu hỏi đó thoạt đầu mới nghe qua thì có vẻ lạ lùng và không cần thiết, nhưng xét một cách khách quan, ngày xưa người ta chưa có một hệ thống và chứng cứ để xác định tác giả của một tác phẩm.

Ngày nay, dù có hệ thống và tiêu chuẩn cho một tác giả, thực tế vẫn có những trường hợp mà người đứng tên tác giả một công trình khoa học nhưng chẳng có đóng góp một tí nào, cho dù là một chữ, trong công trình đó. Vấn đề này trở nên thời sự khi “sự cố đạo văn” trong khoa học được báo chí phanh phui gần đây.

Bài báo khoa học không chỉ thể hiện kết cục của một công trình nghiên cứu, mà ở góc độ cá nhân còn thể hiện một thành tựu của nhà khoa học. Trong thực tế số bài báo khoa học vẫn là một trong những tiêu chí quan trọng trong việc đề bạt chức danh khoa bảng.

Ví dụ, nghiên cứu cho thấy trong ngành y khoa những cá nhân được đề bạt chức danh giáo sư thường có số bài báo khoa học cao gấp hai lần những người không được đề bạt (*). Do đó, có thể nói không ngoa rằng bài báo khoa học là một đơn vị tiền tệ trong học thuật và nghiên cứu khoa học.

Một công trình nghiên cứu khoa học thường có nhiều tác giả, chuyên gia đóng góp từ ý tưởng, chọn mô hình nghiên cứu, xác định phương pháp, cách thu thập dữ liệu, phân tích dữ liệu, soạn thảo và diễn giải kết quả nghiên cứu, đến công bố bài báo khoa học. Mỗi bài báo thường có năm tác giả (tính trung bình), nhưng cũng có khi con số tác giả lên đến hàng trăm! Thật vậy, những công trình nghiên cứu đa quốc gia trong vài năm gần đây, có khi số tác giả quá nhiều (500 người), tập san phải đăng tên họ trong một phụ trang.

Do đó, đứng trước một bài báo có nhiều tác giả, người đọc (kể cả các ủy ban đề bạt chức danh giáo sư) phải hỏi về vai trò và mức độ đóng góp cho công trình nghiên cứu của từng tác giả như thế nào, và ai đủ tư cách đứng tên tác giả bài báo khoa học. Vấn đề này dẫn đến bàn luận giữa các tổng biên tập về việc đề ra tiêu chuẩn cho tác giả bài báo khoa học.

Continue reading

LỆCH CHUẨN NHẬN THỨC HAY BỊ LẦM LẠC BỞI NHỮNG TẤM GƯƠNG MỜ?

PHẠM VIẾT ĐÀO

NLĐ -  Ngày 10-8, Công ty NhanViet Management Group công bố kết quả khảo sát sinh viên với nghề nghiệp. Chương trình khảo sát được thực hiện từ tháng 4 đến nay với sự tham gia của 941 sinh viên hiện đang theo học tại hơn 20 trường đại học, cao đẳng ở TPHCM. Kết quả khảo sát cho thấy có khoảng 97,9% sinh viên mong muốn trở thành lãnh đạo trong tương lai. Cụ thể, hơn 50% cho biết sẽ cố gắng phấn đấu tới vị trí quản lý cấp trung trong 3 năm tới trong khi chỉ có khoảng 8,4% nghĩ tới vị trí giám đốc. Để thực hiện ước mơ, 71,2% sinh viên đã tự hoạch định lộ trình cũng như kế hoạch hành động ngay khi còn trên ghế giảng đường, trong khi 15,3% thì dự định sẽ thực hiện ngay sau khi tốt nghiệp. Đáng chú ý là có tới gần 70% sinh viên tham gia khảo sát cho biết mong muốn được làm việc tại các tập đoàn đa quốc gia và doanh nghiệp nước ngoài. 5,7% sinh viên mong muốn làm việc cho doanh nghiệp Nhà nước. H.Nga

Con số “ 97,9 % sinh viên mong muốn trở thành lãnh đạo trong tương lai” cho thấy các kết quả tốt đẹp của công tác tuyền truyền, giáo dục, các thao tác quản lý đối với tầng lớp được coi là trí thức nhất là sinh viên hình như chỉ đạt chưa tới 3 %. – Kết quả điều tra xã hội học ngày 10-8 của Công ty NhanViet Management Group công bố kết quả khảo sát sinh viên với nghề nghiệp có gợi ý gì cho hệ thống giáo dục-đào tạo nước ta?

Hiện nay, tại nhiều quốc gia việc điều tra xã hội học là một trong những thao tác bắt buộc, cần thiết và hữu ích đối với công tác quản lý, các cơ quan quản lý và các nhà quản lý…Rất nhiều quốc gia đã tổ chức thành lập ra nhiều Viện điều tra xã hội học độc lập, tức là không nhận kinh phí hoạt động từ ngân sách nhà nước. Sở dĩ phải có thiết chế này để giúp cho các cơ quan hoạch đinh chính sách nhà nước thật sự có được những thông tin độc lập, khách quan tránh ngụy tạo loại thông tin “ đẽo chân cho vừa dày”…

Tất nhiên các kết quả điều tra xã hội học này có được từ các nguồn kinh phí tài trợ, bảo trợ này, nếu cơ quan nào sử dụng tới nó phải thanh toán bản quyền và thường là rất cao; người ta coi đó là một thứ sản phẩm như các loại sản phẩm của kinh tế tri thức.

Continue reading

THÓI NGỤY BIỆN Ở NGƯỜI VIỆT

BTĐ Sưu tầm

Tranh luận trên các diễn đàn công cộng là một hình thức trao đổi ý kiến không thể thiếu được trong một xã hội văn minh. Ở nhiều nước, lưu lượng của những tranh luận cởi mở và nghiêm túc được xem là một dấu hiệu của một xã hội lành mạnh. Ở các nước phương Tây, hầu như ngày nào báo chí cũng có những bài của những cây bỉnh bút tranh luận về một vấn đề nóng nào đó. Trên tivi cũng có những cuộc tranh luận trực tiếp giữa hai hay nhiều người về những chủ đề từ “đại sự” đến những vấn đề tưởng như nhỏ nhất. Trong các hội nghị khoa học, trước một vấn đề còn trong vòng nghi vấn, người ta cũng có những chuyên gia tranh luận dưới dạng những bài giảng khoa học.

Nhưng thế nào là tranh luận nghiêm túc? Nói một cách ngắn gọn, cũng như trong một cuộc đấu võ, một tranh luận nghiêm túc là một cuộc tranh luận có qui tắc, mà trong đó người tham gia không được, hay cần phải tránh, phạm luật chơi. Những qui tắc chung và căn bản là người tham gia chỉ phát biểu bằng cách vận dụng những lí lẽ logic, với thái độ thành thật và cởi mở, chứ không phát biểu theo cảm tính, lười biếng, hay biểu hiện một sự thiển cận, đầu óc hẹp hòi.

Để đạt những yêu cầu này, người tranh luận nghiêm túc trước khi phát biểu hay đề xuất ý kiến, đưa ra lời bình phẩm của mình, cần phải xem xét tất cả các trường hợp khả dĩ, phải cân nhắc những quan điểm và những cách giải thích khác nhau, phải đánh giá ảnh hưởng của sự chủ quan và cảm tính, phải tập trung vào việc tìm sự thật hơn là muốn mình đúng, phải sẵn sàng chấp nhận những quan điểm không được nhiều người ưa chuộng, và phải ý thức được định kiến và chủ quan của chính mình. Khi tranh luận phải nhất quán là chỉ xoay quanh chủ đề bàn luận, luận điểm bàn luận chứ không đi lạc đề. Không công kích vào cá nhân và nhân thân của người tham gia tranh luận.

Continue reading

VỚI CÁI SAI

NGUYỄN VĂN BÌNH

Về căn bản thì có sai mới có đúng. Nếu không có sai thì chúng ta chưa chắc đã nhận ra cái đúng nó thế nào. Vậy đó. Con người ta sống có lúc đúng, có lúc sai. Từ cái sai để rút kinh nghiệm tới cái đúng thì cái sai đó là có ích. Nhưng nếu cái sai vẫn mãi mãi được bảo tồn là cái sai thì nó là cái nguy hại.

Cái sai đầu tiên không quan trọng, cái sai thứ hai cũng chẳng quan trọng đến cái sai thứ ba thì cần phải xem lại, vì như thế có nghĩa là bạn để cái sai dẫn đường một cách cố ý. Mọi sai lầm của bạn đều có thể tha thứ, đến như tội giết chúa còn được tha huống hồ những nhỏ nhặt thường ngày, tất nhiên kèm theo đó là điều kiện quan trọng, bạn phải thực sự hối lỗi. Người ta đánh kẻ chạy đi, nào ai nỡ đánh kẻ chạy lại. Nếu bạn ngoan cố khi không biết mình sai thì nó sẽ đi một nhẽ, bạn thuộc loại bảo thủ, gàn. Nhưng nếu bạn biết mình sai mà vẫn cố cãi cho bằng đúng, chả những thế mà còn đổ lỗi cho người khác thì quả thực phải coi lại nhân cách của bạn.

Trong kinh doanh, anh làm sai hẹn với thời gian ghi trong hợp đồng thì hiển nhiên anh phải chịu hậu quả và phải đứng ra giải quyết hậu quả đó. Thế nhưng đằng này anh lại gân cổ cãi, cãi chày cãi cối, cãi lấy được bảo rằng không phải anh lỡ hẹn mà bởi vì người khác lỡ hẹn với anh, cho nên hà cớ gì lại trách anh. Ô hay, tôi ngạc nhiên quá, anh ký hợp đồng với tôi là đến ngày này, ngày kia ra sản phẩm, còn anh liên kết ở đâu tôi thèm gì biết. Ai sai hẹn với anh tôi thèm gì biết, tôi chỉ biết tôi với anh ký với nhau và anh sai. Vậy thì anh phải nhận lỗi với tôi chứ. Sao anh lại lôi cái đối tác sau anh ra, nó thuộc về phần hậu trường của anh cơ mà. Thế nhưng anh vẫn cố tình không hiểu. Chả những thế, nhân thể anh còn lu loa rằng như thế là xúc phạm anh, không tin anh và anh vờ bực tức phá bỏ luôn hợp đồng. Nghĩa là anh cố cãi để chuyển bại thành thắng, chuyển sai thành đúng. Cái kiểu làm ăn như thế của anh thì chắc chắn với tôi chỉ được một lần, còn lại thì cạch tới già. Trên đời này không ai lại có thể hợp tác với loại chuyen đi đổ lỗi cho người khác. Giá như anh xin lỗi đàng hoàng, thành thực tôi có thể bỏ qua cho và cả hai cùng giải quyết hậu quả. Nhưng cái hành động cả vũ lấp miệng em của anh khiến tôi nghĩ mình đúng là ngờ nghệch cho nên đã đâm đầu vào cái kẻ vốn đã làm ăn bê bết, chả ra gì mà còn giỏi đổ lỗi vấy vạ.

Continue reading

LỜI CHÚC MÙA TỐT NGHIỆP NĂM 2010

Chúc các em sinh viên K31 Đại học Luật Hà Nội và sinh viên năm cuối các cơ sở Đào tạo Luật đạt kết quả cao nhất trong kỳ thi tốt nghiệp năm 2010. Một tương lai rộng mở, nhưng đầy khó khăn, thử thách đang ở trước và rất gần. Nó có thể đưa mỗi em đi những con đường khác nhau, điểm đến khác nhau. Song, cánh cửa cuộc sống sẽ rộng mở, khi  các em vững tin vào những gì mình đã lựa chọn, năng lực của bản thân và cái tâm của con nhà luật.

CIVILLAWINFOR

ĐỂ CHUẨN BỊ BÀI PHÁT BIỂU KHI KHÔNG CÓ THỜI GIAN

P.C.

Đối với những người sắp sửa nghe bạn nói thì việc bạn có 10 ngày hay chỉ có 10 phút để viết bài phát biểu cũng chẳng ảnh hưởng gì tới họ. Bạn sẽ vẫn phải phát biểu. Dưới đây là những mẹo giúp bạn chuẩn bị bài phát biểu của mình một cách nhanh chóng khi không có nhiều thời gian.

Bạn càng có địa vị cao, thì người ta càng trông chờ bạn sẽ có bài phát biểu trong những dịp xuất hiện trước công chúng, và thường trong những dịp như thế bạn có rất ít thời gian chuẩn bị. Vậy bí quyết để có một bài phát biểu hoàn hảo trong một thời gian ngắn là gì?

Điều đầu tiên bạn cần phải làm trước khi phát biểu là xác định được thông điệp chính bạn muốn đưa ra.

Thông điệp của bạn chính là những gì sẽ còn đọng lại trong người nghe sau khi bạn đã kết thúc bài thuyết trình đồng thời cũng là câu chốt lại những gì bạn đã trình bày. Họ sẽ có ấn tượng với những gì mà bạn nói. Ấn tượng đó có thể tốt hoặc không tốt. Người nghe có thể ấn tượng mạnh về bản thân bạn, phong cách phát biểu, hoặc nội dung bài phát biểu của bạn. Nếu bạn muốn họ nhận ra và ghi nhớ đúng thông điệp – tức là thông điệp chính mà bạn muốn đưa ra – trước hết bạn phải xác định được điều bạn tin tưởng và viết chúng ra.

Một khi đã viết được câu tóm tắt cho những gì mình muốn nói, tức là bạn đã sẵn sàng đưa ra những ý kiến, lý lẽ, các câu chuyện và thông tin làm dẫn chứng cho bài phát biểu của mình. Hãy loại bỏ những gì không phục vụ cho thông điệp của bạn.

Cuối cùng, hãy xây dựng những tài liệu bạn có theo các cấu trúc sau:

- Quan điểm – lý do – ví dụ – quan điểm. Bạn hãy đưa ra yêu cầu của bạn (có vẻ rất giống với thông điệp chính) và sau đó đưa ra những lý do để bạn yêu cầu như vậy. Tiếp đó bạn đưa ra một ví dụ thuyết phục và kết thúc bằng cách lặp lại quan điểm của bạn.

Continue reading

MỤC TIÊU – MỤC ĐÍCH SỐNG

SƯU TẦM

Image

Mục đích sống của tôi là gì? Và làm thế nào để xác định được mục đích sống?

Tìm ra câu trả lời hoàn toàn không hề dễ một chút nào. Bằng chứng là số người nhận ra được mục đích sống của mình còn quá ít. Và chỉ duy nhất bạn mới có thể biết đâu là câu trả lời đích thực.

Những người may mắn nhất là những người đã nhận ra được mục đích sống của mình. Cuộc sống của họ là cuộc hành trình có định hướng rõ ràng. Tràn ngập niềm vui, sự bình an, và mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng con đường thành công đã rộng mở trước mắt họ.

Dưới đây là một trong những cách thức để có thể nhận ra mục đích sống:

- Đầu tiên, bạn phải tập thói quen suy ngẫm về bản thân hàng ngày. Suy ngẫm một cách khách quan, không bị các cảm xúc chi phối.

- Sau đó, bạn phải tập thói quen tĩnh tâm hàng ngày. Và lắng nghe “tiếng nói từ trái tim” mình (luyện tập thiền, yoga là những phương pháp bổ trợ rất hữu hiệu). Hãy liên tục tìm hiểu và khám phá bản thân hàng ngày qua các câu hỏi.

- Cuối cùng, đến một thời điểm nào đó, bạn sẽ nhận ra được mục đích sống của mình.

Thời gian có thể là vài tháng, cũng có thể là vài năm, thậm chí vài chục năm, tuỳ thuộc vào khát khao tìm hiểu, khám phá bản thân của bạn.

Continue reading

THỐNG KÊ VÀ BÁO CHÍ

image GS. NGUYỄN VĂN TUẤN – Viện Nghiên cứu y khoa Garvan, Úc

Giới báo chí Việt Nam có lẽ là một trong những nhóm thích dùng thống kê trong các bản tin nhất thế giới. Mở đầu cho bài viết “Tham nhũng học thuật”, phóng viên viết “Chỉ riêng vụ ‘luộc’ hai cuốn sách Nguyên lý bảo hiểm và Tài chính quốc tế của trường Đại học Kinh tế TPHCM, đã có tới 7 giảng viên của khoa Tài chính Ngân hàng trường Đại học Công nghiệp TPHCM can dự (chiếm 32% tổng số 22 giảng viên của khoa)”.

Mới đây, trong loạt bài phản ảnh về những trăn trở và khó khăn của du học sinh khi về làm việc ở Việt Nam, phóng viên cho biết: “83% du học sinh về nước không hài lòng với lương, thưởng”. Viết về nguyên nhân tử vong ở trẻ em, báo khẳng định: “50% trẻ em tử vong do đuối nước”. Có phóng viên còn chạy một cái tít chính xác đến 2 số thập phân như “31,48% sinh viên chưa nắm được thế nào là nghiên cứu khoa học”. Ít thấy báo chí nào trên thế giới chịu khó trình bày nhiều số phần trăm, mà có chính xác đến số lẻ, như báo chí ở nước ta.

Những con số thống kê thường được sử dụng để tạo sự quan tâm của công chúng về những vấn đề xã hội. Những con số thống kê vừa liệt kê trên được thu thập và tính toán với mục đích nói cho chúng ta biết rằng tình trạng “đạo sách” lan tràn trong giới khoa bảng, nhiều sinh viên chẳng biết nghiên cứu khoa học là gì, đa số du học sinh không hài lòng với lương bổng ở trong nước, và quan trọng hơn là đuối nước là nguyên nhân gây nên 50% tử vong ở trẻ em.

Những vấn đề mà phóng viên dùng số thống kê để nêu đúng là rất quan trọng, và công chúng khó có thể bỏ qua được. Nhìn như thế, chúng ta thấy con số thống kê quả là đóng vai trò quan trọng trong việc thuyết phục công chúng về các vấn đề xã hội.

Continue reading

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 638 other followers

%d bloggers like this: