KINH NGHIỆM CỦA DOANH NGHIỆP VÀ QUÁ TRÌNH ĐIỀU TRA CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ

image GS. BRUCE A. BLONIGEN – Khoa Kinh tế thuộc Đại học Oregon, chuyên gia nghiên cứu của NBER, Cộng tác viên của Trung tâm Nghiên cứu Toàn cầu hóa và Chính sách Kinh tế Leverhulme (GEP)

Giới thiệu

Điều tra chống bán phá giá (AD) bắt đầu khi có đơn kiện của một bên trong nước có liên quan. Đây là một nhà sản xuất điển hình (hoặc một nhóm nhà sản xuất) mà sản phẩm của họ đang cạnh tranh với các sản phẩm nhập khẩu là đối tượng của cuộc điều tra. Sau đó cơ quan có thẩm quyền điều tra sẽ xác định thực sự có bán phá giá hay không, bán phá giá được định nghĩa là việc doanh nghiệp nước ngoài bán sản phẩm với giá thấp hơn giá công bằng hay giá thông thường, và liệu những hành động thương mại như vậy có gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa trong vụ kiện hay không. Nếu những tiêu chuẩn này thoả mãn, một mức thuế chống bán phá giá tương đương với biên độ phá giá đã tính toán sẽ được áp dụng với các sản phẩm nhập khẩu. Ở Hoa Kỳ, việc tính toán biên độ phá giá do Cục Thương mại Quốc tế của Bộ Thương mại Hoa Kỳ (USDOC) tiến hành, và Uỷ ban Thương mại Quốc tế (USITC) sẽ xác định tổn thất.

Có sự tác động qua lại rất lớn giữa những người đệ đơn kiện và cơ quan có thẩm quyền điều tra chống bán phá giá ở Hoa Kỳ. Bên đệ đơn phải trình cho cơ quan có thẩm quyền một đơn kiện phù hợp về trường hợp mà họ muốn điều tra và sau đó cung cấp đầy đủ thông tin cũng như các phân tích và lý lẽ pháp lý trong suốt quá trình điều tra. Các thông tin chi tiết về luật pháp cũng như cách thức mà các cơ quan của chính phủ áp dụng luật trong các trường hợp thực tế là rất quan trọng. Sự phức tạp của việc kiện tụng và quá trình đưa ra biện pháp chống bán phá giá cho thấy rằng việc các bên đệ đơn có kinh nghiệm hay có ý thức học hỏi đóng một vai trò quan trọng trong quá trình kiện và kết quả của vụ kiện chống bán phá giá. Đặc biệt, người ta cho rằng các kinh nghiệm sẵn có làm giảm chi phí kiện về sau và đồng thời cũng làm tăng ảnh hưởng của những người đệ đơn khi họ tranh cãi về vụ kiện và có nhiều khả năng thu được kết quả có lợi hơn. Việc nhận thức về những tác động như vậy rõ ràng thúc đẩy việc đệ đơn nhưng tác động của nó đến kết quả vụ kiện còn rất mơ hồ như chúng ta xem xét chi tiết ở phần tiếp theo. Mặc dù việc học hỏi có thể làm tăng khả năng đưa ra phán quyết có lợi ở những vụ kiện này, nhưng người ta lại coi trọng chi phí kiện thấp hơn là những tác động như vậy nên họ thường sẽ lựa chọn các vụ kiện thiếu lý lẽ hơn.

Continue reading

QUI CHẾ NỀN KINH TẾ PHI THỊ TRƯỜNG TRONG PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA EU VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRONG CÁC VỤ KIỆN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA VIỆT NAM

image THS. TRẦN THU HƯỜNG – Bộ Tư pháp

Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới từ năm 2007 và chấp nhận thời hạn 12 năm cho quy chế nền kinh tế phi thị trường kể từ ngày gia nhập và không muộn hơn 31/12/2018. Hệ quả trực tiếp cam kết này đó là việc áp dụng quy chế nền kinh tế phi thị trường trong điều tra chống bán phá giá đối với hàng hóa của Việt Nam trên thị trường thế giới. Tuy nhiên trước đó hàng hóa của Việt Nam đã phải đối mặt với quy chế nền kinh tế phi thị trường trong quá trình điều tra chống bán phá của US và EU.

Bài viết này nghiên cứu các quy định của EU về chống bán phá giá đối với các nước có nền kinh tế thị trường qua việc phân tích các vụ điều tra đã thực hiện đối với hàng hóa của Việt Nam, cụ thể là chốt cải thép không gỉ (2004), xe đạp (2005) và giày mũ da (2006). Từ thực tiễn giải quyết các vụ kiện chống bán phá giá đối với Việt Nam của EU, bài viết được hy vọng là làm rõ các vấn đề pháp lý mà các doanh nghiệp Việt Nam nên lưu tâm khi tham gia các vụ kiện chống bán phá giá cũng như khi đưa ra các phản biện hợp lý và trong một chừng mực nào đó phù hợp với các tiêu chí xem xét của EU.

Quy chế nền kinh tế phi thị trường áp dụng trong điều tra chống bán phá giá được nêu tại Điều 2(7) Quy định của Hội đồng số 384/96 ngày 22/12/1995 về việc bảo vệ chống lại hàng nhập khẩu bán phá giá từ các quốc gia không phải là thành viên của Cộng đồng Châu Âu (sau đây gọi là Quy định số 384/96). Đến Quy định của Hội đồng số 905/98 ngày 27/4/1998 sửa đổi Quy định của Hội đồng số 384/96, các quy chế đối với nền kinh tế thị trường đã được bổ sung thêm với việc mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp được áp dụng quy chế điều tra thông thường trong trường hợp đáp ứng các điều kiện nhất định. Và trong Quy định này, Việt Nam có tên trong danh sách các quốc gia có nền kinh tế phi thị trường đang trong quá trình chuyển đổi. Tiếp theo, ngày 5/11/2002, Quy định của Hội đồng số 1972/2002 sửa đổi Quy định số 384/96 quy định về nguyên tắc thuế chống bán phá giá sẽ được áp dụng theo mức phù hợp cho mọi vụ việc, trên cơ sở không phân biệt đối xử đối với hàng hóa nhập khẩu từ các nguồn khác nhau bị kết luận là có bán phá giá và gây thiệt hại. Tuy nhiên nếu như doanh nghiệp thuộc các quốc giá có nền kinh tế phi thị trường đáp ứng được các yêu cầu theo quy định thì sẽ được áp mức thuế riêng cho từng doanh nghiệp (gọi là individual treatment – IT).

Continue reading

“QUI VỀ 0” (ZEROING) TRONG TÍNH TOÁN BIÊN ĐỘ PHÁ GIÁ ĐỐI VỚI CÁC VỤ KIỆN CHỐNG PHÁ GIÁ TẠI MỸ

THS. NGUYỄN PHƯƠNG LAN – Giảng viên Đại học Luật Hà Nội

Những năm gần đây, các doanh nghiệp Việt Nam gặp nhiều khó khăn do chính sách bảo hộ mậu dịch của Mỹ và một trong các biện pháp rất hay được sử dụng là áp thuế chống bán phá giá. Một loạt các vụ kiện chống bán phá giá mà Mỹ tiến hành trong thời gian qua như vụ kiện cá ba sa, vụ kiện bán phá giá tôm đông lạnh… đều được tiến hành theo một cách thức chủ quan, cửa quyền và bất công đối với các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. Trước tình trạng đó, gần đây Việt Nam đang chuẩn bị kiện Mỹ ra cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO về ba nội dung trong pháp luật chống bán phá giá của Mỹ, trong đó phương pháp “Quy về 0” (zeroing) là vấn đề được đề cập đầu tiên.

Tìm hiểu về Zeroing là một việc làm cần thiết và mang tính thời sự, góp phần phổ biến kiến thức pháp luật về thương mại quốc tế.

1. Zeroing là gì?

Bán phá giá được định nghĩa một cách đơn giản là khi hàng hóa được bán ở nước nhập khẩu với giá thấp hơn giá trị thông thường của nó tại thị trường nội địa (thị trường nước xuất khẩu). Tuy nhiên, để xác định được doanh nghiệp xuất khẩu có bán phá giá hay không và biên độ bán phá giá thì rất không đơn giản, bởi doanh nghiệp xuất khẩu thường bán vào nước nhập khẩu nhiều lô hàng và mỗi lô hàng lại có những mức giá khác nhau. Trong một vụ việc bán phá giá thông thường, quá trình tính biên độ bán phá giá luôn trải qua từng bước như sau: (i) tính giá trị thông thường (hoặc giá trị bình quân gia quyền thông thường) của sản phẩm tương tự ở nội địa; (ii) tính giá xuất khẩu của sản phẩm bị kiện; (iii) so sánh giá trị thông thường với giá xuất khẩu theo phương pháp bình quân gia quyền. Đến lúc này, giá xuất khẩu của mỗi giao dịch bán sẽ được so sánh với giá trị thông thường của sản phẩm.

Có thể lấy ví dụ như sau: Một công ty bị kiện bán phá giá đối với sản phẩm S của mình ở Mỹ. Mỹ mở cuộc điều tra vụ kiện này. Trong giai đoạn điều tra, có 9 giao dịch của mặt hàng này tại thị trường nước xuất khẩu. Qua đó, giá trị bình quân gia quyền thông thường của S tại thị trường nội địa được xác định là 34,5 USD (sau khi đã quy đổi từ đồng tiền nội địa). Cũng trong giai đoạn điều tra, có 9 giao dịch bán sản phẩm S vào Mỹ với số lượng và giá xuất khẩu đã được xác định. Việc tính toán khối lượng bán phá giá và biên độ bán phá giá tại Mỹ được thực hiện như sau: (Xem bảng trang bên.

Continue reading

KINH NGHIỆM CỦA NHẬT BẢN TRONG CÁC TRANH CHẤP LIẾN QUAN TỚI THUẾ ĐỐI KHÁNG

KEN MATSUMOTO – Chủ tịch Tập đoàn Hợp tác Quốc tế KM, Nguyên Giám đốc Trung tâm Thương mại Bình đẳng Nhật Bản

I. Kinh nghiệm của Nhật Bản trong các tranh chấp về thuế Chống trợ cấp

(1) Nhật Bản với vị trí nguyên đơn trong các vụ kiện giữa các doanh nghiệp Nhật Bản và doanh nghiệp của các quốc gia khác.

Trước đây, Nhật Bản ít khi sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại trong hạn chế hàng nhập khẩu. Chỉ có một vài cuộc điều tra về thuế Chống bán phá giá (dưới đây gọi là AD) và một vụ kiện về thuế Chống trợ cấp (dưới đây gọi là CVD) đối với sản phẩm bộ nhớ tiếp cận ngẫu nhiên năng động (DRAM) của Hàn Quốc được sản xuất và xuất khẩu bởi Công ty Hinix Semiconductor (dưới đây gọi là Hinix). Cuộc điều tra CVD được khởi xướng vào tháng 8 – 2004. Thời gian áp thuế từ tháng 1-2006 đến tháng 12-2010 với mức thuế là 27.2%. Nhóm điều tra của Chính phủ Nhật Bản gồm các quan chức đến từ Bộ Tài chính và Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (METI).

Liên quan tới vấn đề nền kinh tế phi thị trường, năm 1993, Nhật Bản đã công nhận Trung Quốc là nước có nền kinh tế thị trường trong vụ kiện sản phẩm Hợp kim Mangan-Silicon, chất phụ gia trong sản xuất thép. Trong một vụ kiện AD khác về MnO2 điện phân (EMD), nguyên liệu để sản xuất pin, năm 2009, Chính phủ Nhật Bản cũng đã công nhận Trung Quốc có nền kinh tế thị trường.

(2) Nhật Bản trong vai trò là Bị đơn

(A) Bị áp thuế chống trợ cấp

Trong những năm 70, đã có 9 cuộc điều tra CVD đối với các sản phẩm của Nhật Bản do Hoa Kỳ tiến hành, trong đó có 3 trường hợp bị áp thuế chống trợ cấp. Chi tiết về các vụ kiện đã không được làm sáng tỏ. Tuy nhiên, cho dù có báo cáo về các vụ kiện này thì cũng không có ý nghĩa tham khảo nào bởi các vụ kiện diễn tra trước khi Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp đối kháng có hiệu lực theo khuôn khổ WTO năm 1995.

Continue reading

VỤ KIỆN TỰ VỆ ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM – THỰC TIỄN VÀ KINH NGHIỆM

TS. HOÀNG THỊ THANH THỦY – Giảng viên Khoa Luật Đại học KTQD Hà Nội, LS tư vấn tại Văn phòng Luật Gide Loyrette Nouel

Sau gần 3 năm gia nhập WTO, thị trường Việt Nam đã có đủ thời gian để kiểm chứng những tác động của tự do hóa thương mại đem lại. Bên cạnh việc hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam được hưởng những ưu đãi thương mại khi xuất khẩu sang thị trường các nước thành viên khác của WTO, mức nhập siêu trong 11 tháng đầu năm 2009 đạt 10,417 tỷ USD (chiếm tỷ trọng 20,30% kim ngạch xuất khẩu) theo số liệu thống kê của Bộ công thương cũng phần nào thể hiện sức ép cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ nhập khẩu đối với sản xuất và khu vực dịch vụ trong nước.

Trong lĩnh vực Thương mại quốc tế, Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam VCCI cũng đánh giá 2009 là năm kỷ lục về số lượng các vụ điều tra phòng vệ thương mại đối với hàng hóa xuất khẩu từ Việt nam.[1] Do các ưu thế về giá thành nguyên liệu đầu vào và giá lao động cạnh tranh, hàng hóa Việt Nam thường bị các nước nhập khẩu điều tra áp dụng các biện pháp chống bán phá giá. Bên cạnh việc đối phó với các vụ kiện phòng vệ thương mại tại các thị trường xuất khẩu của Việt Nam trên thế giới, doanh nghiệp và các hiệp hội cũng nên chủ động trong việc áp dụng các công cụ pháp lý hợp pháp theo qui định của WTO, tận dụng cơ hội nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ngay trên thị trường nội địa. Một trong những công cụ đó là thủ tục áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại trong trường hợp khẩn cấp, khi hàng hóa nhập khẩu có sự gia tăng đột biến, không lường trước được, gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng đến sản xuất trong nước. Giữa năm 2009, Công ty kính nổi Viglacera (VIFG) và Công ty Kính nổi Việt Nam (VFG) đã chính thức nộp đơn yêu cầu Bộ công thương tiến hành điều tra áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại đối với sản phẩm kính nổi nhập khẩu (Float Glass). Tuy rằng các biện pháp tự vệ thương mại đối với mặt hàng kính nổi nhập khẩu theo đơn yêu cầu của nguyên đơn không được Bộ công thương chấp nhận do kết quả điều tra cuối cùng cho thấy không đủ điều kiện áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại theo qui định của WTO. Song đối với hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam, đây là một sự kiện có ý nghĩa quan trọng bởi lần đầu tiên doanh nghiệp trong nước đã chủ động yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi của mình theo qui định của pháp luật WTO. Đây cũng là lần đầu tiên kể từ ngày gia nhập WTO, Việt Nam chính thức tiến hành thủ tục điều tra và cân nhắc áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại với tư cách quốc gia nhập khẩu.

Continue reading

BÁN PHÁ GIÁ VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI VIỆT NAM

LÂM MINH CHÂU – Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng

Tóm tắt

Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng đã tạo ra các thách thức to lớn cho các quốc gia cùng với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường thế giới. Các quốc gia này phải đối mặt với những khó khăn trong đẩy mạnh xuất khẩu do các nước nhập khẩu đã tận dụng những qui định mở để tạo ra những rào cản mới như chống bán phá giá, chống trợ cấp…để bảo hộ sản xuất trong nước. Bài viết này đề cập đến một số qui định của WTO về bán phá giá hàng hóa và tình hình về các vụ kiện chống bán phá giá của nước ngoài đối với Việt Nam. Từ đó đề xuất những giải pháp để chủ động phòng ngừa và tích cực đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá của các doanh nghiệp Việt Nam.

1. Các quy định của WTO về bán phá giá

Theo Hiệp định về chống bán phá giá của WTO (ADP) bán phá giá là việc bán một hàng hoá nào đó với giá thấp hơn giá của nó trên thị trường nội địa của nước xuất khẩu. Nói một cách đơn giản, để xác định hành động bán phá giá ta phải so sánh giá cả ở hai thị trường. Tuy nhiên trên thực tế, việc xác định giá hàng hoá ở thị trường nước xuất khẩu (giá trị bình thường) và giá ở thị trường nước nhập khẩu (giá xuất khẩu) để tạo ra cơ sở chính xác cho sự so sánh giá trên hai thị trường là khá phức tạp.

Theo WTO, giá trị bình thường của hàng hoá là giá của hàng hoá đã được ấn định phụ thuộc vào sức tiêu thụ trên thị trường nước xuất khẩu. Khi không có giá nội địa để so sánh thì gía trị bình thường được coi là tổng các chi phí sản xuất, tiêu thụ hàng hoá cộng với một phần lợi nhuận nào đó. Hoặc theo cách khác, giá trị bình thường có thể là giá xuất khẩu sang một nước thứ ba.Trong trường hợp khi nước xuất khẩu chưa được công nhận là có nền kinh tế thị trường thì giá trị bình thường được xác định trên cơ sở giá hàng hoá tương tự của một nước thứ ba có nền kinh tế thị trường.

Giá xuất khẩu hàng hoá thường được xác định trên cơ sở giá giao dịch giữa người xuất khẩu và nhập khẩu tại nước nhập khẩu.Tuy nhiên, giá giao dịch có thể không được chấp nhận là giá xuất khẩu trong trường hợp buôn bán đối lưu, hoặc trao đổi nội bộ.

Continue reading

NHỮNG YẾU TỐ LÀM GIẢM KHẢ NĂNG ỨNG PHÓ CỦA VIỆT NAM TRONG CÁC VỤ KIỆN BÁN PHÁ GIÁ

NGUYỄN NGỌC SƠN – Đại học Luật TPHCM & NGUYỄN PHI THĂNG – Sở Nội vụ Lâm Đồng

Tại bài viết “Giảm thiểu thiệt hại trong các vụ kiện chống bán phá giá ở nước ngoài khi các doanh nghiệp Việt Nam là bị đơn” trên Nghiên cứu Lập pháp số tháng 11/2007, chúng tôi đã phân tích cụ thể tổng quan về các vụ kiện bán phá giá mà doanh nghiệp Việt Nam là bị đơn. Từ thực tiễn ấy, chúng ta đã nhận ra những hạn chế trong nhận thức và kinh nghiệm của các doanh nghiệp cũng như sự thụ động của các Hiệp hội, các cơ quan hữu trách. Để làm rõ vấn đề hơn nữa, chúng tôi tập trung phân tích về mặt lý luận và nhận thức những hạn chế cơ bản được coi là nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ứng phó của doanh nghiệp trong các vụ việc về bán phá giá.

1. Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng ứng phó của doanh nghiệp Việt Nam

1.1 Chưa nhận thức đúng đắn về bản chất pháp lý của hiện tượng bán phá giá

Có lẽ, vấn đề bán phá giá và pháp luật chống bán phá giá sẽ không tạo ra sự quan tâm của xã hội và luật pháp nếu không có sự kiện các sản phẩm cá tra, cá basa của Việt Nam nhập khẩu vào Hoa Kỳ bị cho là bán phá giá nên bị áp thuế chống bán phá giá đe dọa đến sự thịnh vượng của nhiều ngành kinh tế đang phát triển như chăn nuôi, chế biến … trong những năm đầu của thiên niên kỷ mới. Khoa học pháp lý Việt Nam đã tiếp nhận các lý thuyết về bán phá giá, pháp luật chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu trong bối cảnh doanh nghiệp của chúng ta đang là bị đơn. Pháp luật chống bán phá giá được xây dựng không từ nhu cầu thực tế thị trường mà từ sức ép của quá trình hội nhập với tâm trạng bất bình về những tổn thất do biện pháp chống bán phá giá được các nước áp dụng đang gây ra cho các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. Vì vậy, sự hạn chế trong hiểu biết về bản chất pháp lý của hành vi bán phá giá là điều tất yếu. Thực trạng pháp luật về chống bán phá giá đủ để chứng minh cho nhận định trên.

Continue reading

THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ Ở EU

SAGA.VN – ĐỖ MINH TUẤN (Asia Law)

Trong những năm gần đây, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam đã phải va chạm với các vụ kiện chống bán phá giáở EU. Để giúp các doanh nghiệp có những hiểu biết ban đầu để có định hướng khi vướng phải vụ việc bán chống bán phá giá, chúng tôi xin chia sẻ một vài hiểu biết cơ bản về các cơ quan có thẩm quyền giải quyết và thủ tục giải quyết vụ việc chống bán phá giá ở EU.

Các cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc chống bán phá giá của EU

Vụ việc chống bán phá giá được khởi xướng bằng đơn kiện của thể nhân, pháp nhân hoặc hiệp hội hành động nhân danh ngành sản xuất nội địa của EU và được giải quyết thông qua các thủ tục luật định bởi các cơ quan có thẩm quyền của EU.

1. Ủy ban Châu Âu (European Commission):

Ủy ban Châu Âu (UBCA) là cơ quan tiếp nhận đơn kiện và có các thẩm quyền chính sau:

-    Quyết định khởi xướng điều tra; chịu trách nhiệm chính trong việc tổ chức điều tra chống bán phá giá bao gồm cả điều tra về việc bán phá giá và điều tra thiệt hại; Tổ chức phiên họp điều trần để nguyên đơn và bị đơn đối thoại, tranh luận trực tiếp với nhau;
-    Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
-    Chấp nhận cam kết về giá;
-    Quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá tạm thời nếu có sự vi phạm hoặc rút lại cam kết về giá khi việc điều tra chưa kết thúc; quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá chính thức khi có sự vi phạm hoặc rút lại cam kết về giá và việc điều tra đã kết thúc;
-    Quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ việc;
-    Đề xuất Hội đồng Châu Âu ra quyết định áp dụng biện pháp chính thức (áp đặt thuế chống bán phá giá);
-    Quyết định hoãn biện pháp chống bán phá giá vì lợi ích cộng đồng;
-    Quyết định bắt đầu và tiến hành “rà soát hoàng hôn” hoặc “rà soát lại”

Continue reading

TÓM TẮT TÌNH HÌNH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TRÊN THẾ GIỚI NĂM 2008

Đây là một cuộc rà soát về việc thực thi các biện pháp cạnh tranh thương mại không bình đẳng và chống bán phá giá toàn cầu. Báo cáo không mang tính chất điểm tin tổng quát mà là tổng hợp lại các vấn đề nổi bật để xem xét, đánh giá một cách không chính thống. Trước khi quyết định hành động về bất kỳ vấn đề gì trong báo cáo này, hãy hỏi ý kiến chuyên gia.

1. Thực trạng bảo hộ thương mại thế giới năm 2008

Xét một cách tổng thể, hoạt động chống bán phá giá duy trì ở mức tương đối ít, mặc dù có chiều hướng tăng nhẹ trong 6 tháng đầu năm 2008.

Các hoạt động đáng chú ý trong nửa đầu năm 2008 là:

· Theo các số liệu từ WTO, Thổ Nhĩ Kỳ là nước sử dụng các biện pháp chống bán phá giá nhiều nhất trong nửa đầu năm 2008. Đây là lần đầu tiên Thổ Nhĩ Kỳ dẫn đầu danh sách các nước sử dụng nhiều các biện pháp chống bán phá giá nhất.

· Tỷ lệ các cuộc điều tra chống bán phá giá nhằm vào Trung Quốc có xu hướng gia tăng mạnh mẽ. Trong 6 tháng đầu năm 2008, 44% các cuộc điều tra chống bán phá giá mới khởi xướng có liên quan tới Trung Quốc

· Số lượng các cuộc điều tra chống bán phá giá liên quan tới hàng dệt may và giày da tăng mạnh, phản ảnh một thực tế là giảm các hạn ngạch đối với các mặt hàng này do hết hạn hạn ngạch MFA.

· Hoạt động tự vệ trong thương mại quốc tế ở mức trung bình, mặc dù có 2 trong số 5 vụ điều tra mới khởi xướng tính tới tháng 11/2008 có liên quan tới hàng dệt may.

Continue reading

ĐỊA VỊ NỀN KINH TẾ PHI THỊ TRƯỜNG VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG CÁC CUỘC ĐIỀU TRA CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ

LƯU HƯƠNG LY

Ngày 7/11/2006, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Trong tất cả các điều khoản gia nhập WTO, có một cam kết ít được bàn luận nhưng lại có vị trí rất quan trọng, đó là việc Việt Nam chấp nhận bị coi là một nền kinh tế phi thị trường trong vòng 12 năm, kể từ khi gia nhập (không muộn hơn năm 2019). Vậy “nền kinh tế phi thị trường” nghĩa là gì và việc chúng ta cam kết như vậy sẽ có những tác động như thế nào đối với các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là trong các cuộc điều tra chống bán phá giá? Bước đầu, xin được làm rõ vấn đề trên.

Nền kinh tế phi thị trường – hay còn được gọi là nền kinh tế kế hoạch tập trung – là tên gọi được dùng đến cuối những năm 1980, đầu những năm 1990 cho nền kinh tế các nước Trung và Đông Âu, Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam và một số nước khác, trong đó, các hoạt động kinh tế được dựa trên kế hoạch hàng năm thông thường do một cơ quan giống như ủy ban kế hoạch Nhà nước soạn thảo. Đa số các nước có nền kinh tế kế hoạch tập trung nay đã chuyển thành nền kinh tế thị trường hoặc đang trong quá trình hướng tới mục tiêu đó.

Hiện nay, trong WTO chỉ có hai thành viên cam kết về địa vị nền kinh tế phi thị trường là Việt Nam và Trung Quốc. Trong Báo cáo về việc gia nhập WTO có đoạn: “Một số thành viên ghi nhận Việt Nam đã liên tục đẩy mạnh quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. Những thành viên này cũng ghi nhận rằng, sẽ gặp những khó khăn đặc thù trong việc xác định chi phí và giá cả hàng hóa xuất xứ từ Việt Nam trong các cuộc điều tra chống bán phá giá hay áp dụng các biện pháp đối kháng. Những thành viên này cho rằng, trong trường hợp đó nước nhập khẩu có thể nhận định rằng việc sử dụng chi phí và giá cả tại Việt Nam có thể sẽ không hợp lý”[2].

Continue reading

XEM XÉT NGHIÊM TÚC CÁC VẤN ĐỀ VỀ THỦ TỤC TRONG CÁC QUI ĐỊNH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA TRUNG QUỐC DƯỚI GÓC ĐỘ CÁC QUI ĐỊNH CỦA WTO

WON –MOG CHOI VÀ HENRY S.GAO

Tóm lược

Từ khi tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thành lập, Trung Quốc đã nỗ lực không ngừng để thiết lập hệ thống các biện pháp khắc phục thương mại thông qua những thay đổi về cơ cấu tổ chức và luật pháp. Bằng những thay đổi này, Trung Quốc có thể làm sáng tỏ ý nghĩa các điều khoản chống bán phá giá của WTO bao gồm cả điều khoản định nghĩa về ngành sản xuất nội địa. Hơn nữa, nhìn chung các biện pháp mang tính thủ tục đã được tăng cường trong hệ thống các biện pháp chống bán phá giá của Trung Quốc.

Trong khi cho dù đã có những cải thiện tổng thể hệ thống biện pháp khắc phục thương mại của Trung Quốc thì vấn thiếu khái niệm về một số thuật ngữ luật quan trọng bao gồm khái niệm “các nhà sản xuất có liên quan”, “tiêu chuẩn nhập khẩu không đáng kể” và các yếu tố điều chỉnh để có sự so sánh công bằng giữa giá thông thường và giá xuất khẩu và một số vấn đề về luật liên quan đến các cam kết về giá và hệ thống các biện pháp đối kháng vẫn đang tiếp tục được giải quyết. Trung Quốc sẽ tiếp tục nhiệm vụ làm minh bạch và cải thiện các quy định thương mại của mình.

I. Giới thiệu

Trong nỗ lực gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và do áp lực từ phía các đối tác thương mại, Trung Quốc đang từng bước cải cách và hiện đại hoá hệ thống các luật lệ thương mại của mình. Do Trung Quốc thúc đấy quá trình tự do hoá thị trường sau khi WTO được thành lập nên các hàng rào thuế quan và phi thuế quan trong thương mại đã được nới lỏng. Vì vậy Trung Quốc cần bảo hộ các ngành sản xuất nội địa không thể cạnh tranh được với các nhà xuất khẩu nước ngoài và đưa ra các biện pháp để khắc phục thiệt hại mà các doanh nghiệp trong nước phải gánh chịu do thương mại bất bình đẳng. Do đó Trung Quốc đã rất nỗ lực để thiết lập nên hệ thống các biện pháp khắc phục thương mại trong các quy định thương mại vừa mới được ban hành của mình.

Nguồn luật chính điều chỉnh các mối quan hệ trong ngoại thương của Trung Quốc là Luật Ngoại Thương của CHDC ND Trung Hoa. Luật này có 11 chương bao gồm các điều khoản chung, thương nhân ngoại thương, xuất nhập khẩu hàng hoá và công nghệ, thương mại quốc tế trong dịch vụ, bảo hộ các lĩnh vực khác liên quan đến thương mại như quyền sở hữu trí tuệ, trật tự trong ngoại thương, các cuộc điều tra ngoại thương, biện pháp ngoại thương, xúc tiến ngoại thương, trách nhiệm pháp lý và các điều khoản thi hành. Các quy định về chống bán phá giá thuộc chương về các biện pháp khắc phục ngoại thương.

Continue reading

VẤN ĐỀ BÁN PHÁ GIÁ Ở VIỆT NAM VÀ CƠ HỘI KINH DOANH BÌNH ĐẲNG

HOÀNG TÚ ANH

Điều đáng lưu ý là cho đến nay tất cả các nước khi tiến hành điều tra áp dụng thuế chống bán phá giá đối với hàng Việt Nam đều áp dụng cách so sánh giá xuất khẩu của Việt Nam với giá xuất khẩu của một nước thứ ba. Điều này có nghĩa là Việt Nam được xem như là một nước không có nền kinh tế thị trường mở. Ví dụ, Colombia khi điều tra đã lấy giá gạo xuất khẩu của Việt Nam so sánh với giá gạo xuất khẩu của Thái Lan. Tương tự, Canada đã lấy giá tỏi xuất khẩu của Việt Nam so với giá tỏi xuất khẩu của Mêhicô. Rõ ràng, cách áp dụng như vậy là không công bằng đối với hàng hóa của Việt Nam và thường dẫn đến việc hàng Việt Nam bị coi là bán phá giá.

Việc hội nhập vào nền kinh tế thế giới và kinh tế khu vực sẽ mang lại cho các quốc gia các lợi ích và song song là các thách thức mới. Việt  Nam cũng không là ngoại lệ khi mà chúng ta đang dần hoà nhập vào nền kinh tế thế giới với các nghiệp vụ kinh doanh mang tính chất xuyên quốc gia phát sinh và từ đó cũng nảy sinh các vấn đề mang tính chất quốc tế cần giải quyết.

Khi đó, việc tìm hiểu về luật kinh tế khi kinh doanh trên thương trường quốc tế trở nên mang tính sống còn. Chiến dịch chống cá tra và cá ba sa Việt Nam nhập khẩu vào Mỹ thông qua vụ kiện bán phá giá đã là một ví dụ điển hình và kết quả  của vụ kiện đã là một bài học quá đắt đỏ. Tất nhiên, các cuộc đương đầu như vậy sẽ không chỉ đối với Mỹ mà ở khắp các thị trường khác Canađa, các nước thuộc Liên minh châu Âu, …Không những thế, hiện tượng bán phá giá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng đã manh nha hình thành trên thị trường Việt Nam dưới các hình thức khác nhau nhằm thôn tính các doanh nghiệp Việt Nam yếu thế và ít kinh nghiệm.

Vậy thế nào là bán phá giá?

Theo Hiệp định chống bán phá giá của WTO, một sản phẩm được coi là bán phá giá nếu giá xuất khẩu thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự trong nước theo các điều kiện buôn bán thông thường. Theo khái niệm như vậy thì có thể xem xét việc đánh thuế chống bán phá giá đối với hàng xuất khẩu của một nước đến một quốc gia nội địa nếu xét thấy:

Continue reading

NHỮNG GIẢI PHÁP GIÚP CÁC DOANH NGHIỆP VN ĐỐI PHÓ VỚI RÀO CẢN “CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ” Ở NƯỚC NHẬP KHẨU

GS.TS. VÕ THANH THU & GS.TS. ĐOÀN THỊ THANH XUÂN

Nhằm giúp các doanh nghiệp Việt Nam (VN) đối phó với rào cản “Chống bán phá giá” ở nước nhập khẩu, nhóm nghiên cứu đã thực hiện và bảo vệ thành công đề tài: “Đề xuất những giải pháp đối phó với rào cản “Chống bán phá giá” ở nước nhập khẩu cho các doanh nghiệp VN – trường hợp TP.HCM”.

Trên cơ sở nghiên cứu kỹ lưỡng cơ chế quản lý chống bán phá giá quốc tế được áp dụng trên những thị trường xuất khẩu chủ yếu của VN, như: EU, Mỹ…, rút ra những bước và thủ tục có liên quan đến quá trình điều tra chống bán phá giá; Nghiên cứu thực trạng và kinh nghiệm đối phó với các vụ kiện bán phá giá của các nước Trung Quốc, Ấn Độ, rút ra các bài học cho VN; Nghiên cứu thực trạng các vụ kiện chống bán phá giá đối với hàng xuất khẩu của VN, đặc biệt phân tích kỹ các vụ kiện lớn, như: cá basa, tôm sú, giày mũ da, nhóm nghiên cứu đã đưa ra những nhận xét, kết luận mang tính khách quan và khoa học, nhằm xây dựng cơ sở thực tiễn để đề xuất hệ thống các giải pháp hướng dẫn cho các doanh nghiệp đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá nhằm vào hàng xuất khẩu của VN, đồng thời đưa ra các kiến nghị giải pháp đối với Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương, Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan, VCCI cùng Hiệp hội các ngành hàng xuất khẩu, để bảo vệ hàng hoá xuất khẩu của VN tránh khỏi các vụ kiện và chiến thắng khi bị kiện bán phá giá. Bài báo dưới đây xin giới thiệu những nội dung chính yếu của công trình nghiên cứu nêu trên.

Continue reading

LUẬT MẪU VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO)

LUẬT MẪU

VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO)

Phòng Xây dựng Quy định

Tổ chức Thương mại Thế giới

Trung tâm William Rappard

Rue de Lausanne 154

CH-1211 Geneva 21

Thuỵ sĩ

Mục lục

PHẦN I: CÁC ĐỊNH NGHĨA VÀ CÁC NGUYÊN TẮC

Điều 1- Các định nghĩa

Điều 2 – Các nguyên tắc

Continue reading

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 639 other followers

%d bloggers like this: