CUỘC CHƠI WTO: CÁCH ĐẶT VẤN ĐỀ CỦA J.E.STIGLITZ

TRẦN HẢI HẠC – Đại học Paris XIII

Sau một quá trình đàm phán kéo dài 11 năm, Việt Nam đã trở nên thành viên Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organisation [WTO]) từ đầu năm nay (Năm 2007 – Civillawinfor). Vấn đề bây giờ của Việt Nam, theo dư luận phổ biến hiện nay ở trong nước, là thực thi các cam kết đã thoả thuận, tôn trọng các luật chơi mà ta đã công nhận: thoả thuận này được xem là cân đối, các luật chơi của WTO là bình đẳng. Theo cách đặt vấn đề này, các chuyên gia kinh tế cho rằng vấn đề còn lại là “đưa đất nước bay lên từ đường băng WTO”.[1] Đường băng này bằng phẳng, vSSSSSSSSSà Việt Nam có cất cánh hay không là do năng lực của bản thân, trước tiến là năng lực cải cách toàn diện: nó tuỳ thuộc vào “những yếu tố nội tại” mà “tư cách thành viên WTO không tạo nên”.[2] Theo phát biểu của một chuyên gia: “Thắng, thua trước hết tại mình chứ không phải tại WTO, vì cho đến nay chưa có nước nào vì vào WTO mà khánh tận, phá sản và cũng chưa nước thành viên nào nạp đơn xin rút lui khỏi tổ chức này”.[3]

Cũng có một cách khác để tiếp cận vấn đề, đi từ mặt trái của WTO và cũng là bộ mặt thật của nó, mà lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam không nêu lên hay tránh không muốn nếu ra, chí ít trong thời kỳ đàm phán vào WTO, vì nhiều lý do: có thể do yêu cầu đấu tranh tư tưởng với quan điểm chống gia nhập WTO trong nội bộ của đảng; cũng có thể do yêu cầu tranh thủ ngoại giao những cường quốc tư bản chủ nghĩa có tiếng nói quyết định trong việc kết nạp. Bộ mặt này của WTO được nhà kinh tế Mỹ Joseph Stiglitz vạch ra thẳng thừng trong hai tác phẩm mới đây của ông: Fair trade for all. How trade can promote development, viết cùng với Andrew Charlton [2005], và Making globalization work [2006].[4]

Trong kinh tế học hiện đại, J. Stiglitz được biết đến như là người thầy của kinh tế học vi mô mới (mà đặc tính là từ bỏ giả thuyết về thị trường cạnh tranh hoàn hảo), và đóng góp của ông cho thuyết về thông tin đã được thưởng giải Nobel kinh tế học (cùng với George Akerlof và Michael Spence) năm 2001. Stiglitz thuộc trường phái Keynes mới, chủ trương xác lập cơ sở vi mô của những mất cân bằng vĩ mô (như thất nghiệp không tự nguyện của Keynes): đối phó với tính bất trắc và thông tin phi cân xứng, các tác nhân kinh tế có lối ứng xử “cứng nhắc”, họ chỉ tham gia các thị trường (lao động, tín dụng, đất đai) có những chuẩn tắc mà họ thương lượng và được nhà nước thể chế hoá. Nói về bàn tay vô hình điều tiết thị trường của Adam Smith, ông cho rằng: “Đúng là vô hình, bởi vì nó không có. Thị trường không hề tự điều tiết”.[5]

Ngoài trường đại học, Stiglitz được tín nhiệm làm chủ tịch của Hội đồng các tư vấn kinh tế (Council of Economic Advisers) của tổng thống Clinton các năm 1993-1997, rồi làm kinh tế gia trưởng và phó chủ tịch Ngân hàng thế giới (World Bank [WB]) các năm 1997-2000. Ở cương vị này, Stiglitz không những công kích quan điểm chính thống của Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund [IMF]), ông còn gây cuộc tranh cãi trong nội bộ WB giữa phe “tân cổ diển” và phe “xét lại” mà ông là đại biểu, và cuối cùng ông đã phải từ chức ra đi. Tác phẩm Globalization and its discontents [2002] tố cáo “sự cuồng tín của chủ nghĩa tự do” đang chế ngự các định chế tài chính quốc tế: “WB, IMF, WTO đầy dẫy những chuyên gia giáo điều và tự phụ, những bonsevic của thị trường, đã chồng chất bao nhiều điều phi lý và tổn hại ở các nước nghèo. Không có gì phải ngạc nhiên nếu sự nổi giận đang dâng lên từ các nước này”.[6]

Đọc tiếp

GIỚI THIỆU VỀ CƠ QUAN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẦU TƯ QUỐC TẾ

THÔNG TIN PHÁP LUẬT BỘ CÔNG THƯƠNG - Ngày 18/3/1965, Trung tâm Giải quyết Tranh chấp Đầu tư Quốc tế (ICSID) được WB thành lập theo Công ước năm 1965 về Giải quyết Tranh chấp Đầu tư giữa các Quốc gia và Công dân của các Quốc gia khác. Tiếp đó, ngày 14/10/1966, 30 ngày sau khi văn bản phê chuẩn thứ 20 được nộp cho Ngân hàng thế giới, Công ước ICSID đã chính thức có hiệu lực.

Đến nay, Công ước này đã được khoảng 135 quốc gia phê chuẩn. Cùng với hoạt động của Trung tâm ICSID, năm 1976 các quốc gia ký kết đã thông qua Cơ chế phụ trợ của Trung tâm và ban hành bộ quy tắc tạo điều kiện thuận lợi bổ sung, cho phép Ban thư ký ICSID giải quyết các tranh chấp trong đó một bên không phải là thành viên Công ước ICSID.

Mục đích chủ yếu của Công ước là nhằm thiết lập ICSID – một cơ chế hòa giải và trọng tài thường trực bên cạnh WB – có chức năng giải quyết tranh chấp đầu tư giữa cơ quan nhà nước của một bên ký kết và nhà đầu tư của bên ký kết khác.

Thủ tục tố tụng không nhất thiết phải tiến hành ở trụ sở chính củaTrung tâm tại Oa-sing-tơn. Thỏa thuận giữa các chính phủ về việc đưa tranh chấp đầu tư ra trọng tài ICSID có thể tìm thấy trong các hợp đồng đầu tư giữa các chính phủ và nhà đầu tư, cũng như trong các hiệp định đầu tư song phương.

ICSID đặt trụ sở chính tại WB với tổ chức bộ máy gồm: Hội đồng Hành chính, Ban thư ký, Ban Hòa giải và Ban Trọng tài.

Hội đồng hành chính

Hội đồng Hành chính gồm đại diện do các quốc gia thành viên đề cử. Mỗi quốc gia thành viên được quyền đề cử một đại diện tham gia Hội đồng Hành chính.

Đọc tiếp

CÓ HAY KHÔNG SỰ ĐỘC LẬP XÉT XỬ TRONG WTO?

image THÔNG TIN PHÁP LUẬT BỘ CÔNG THƯƠNG -  Câu trả lời đơn giản cho câu hỏi này là hệ thống xét xử của WTO thiếu sự độc lập vì cơ quan chính của nó, DSB (Dispute Settlement Body – Cơ quan Giải quyết Tranh chấp của WTO), là một thiết chế chính trị gồm đại diện tất cả các Thành viên, và như thế là khó có sự độc lập với các chính phủ. Song câu trả lời này không thỏa đáng. Thứ nhất cần đánh giá liệu các Ban hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm có độc lập hay không. Nói cách khác, các Ban hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm có thể hoạt động độc lập tới mức nào với: (1) Đại hội đồng WTO, (2) các thành viên WTO, và (3) Tổng Giám đốc và Ban Thư ký WTO?

Việc rà soát các quy tắc DSU thể hiện rằng những người soạn thảo đã cố gắng bảo đảm quá trình xét xử của các Ban hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm không bị ảnh hưởng bởi sự can thiệp của các chính phủ. DSU chỉ rõ “sự độc lập của các thành viên” như một tiêu chuẩn cho việc lựa chọn thành viên Ban hội thẩm. Trong khi đó, một số hiệp định WTO yêu cầu các chính phủ đảm bảo việc độc lập rà soát xét xử trong các vụ kiện hành chính. Vì vậy, tầm quan trọng có tính chất quy phạm của sự độc lập xét xử đã được công nhận bởi các thành viên soạn thảo hiệp định WTO.

Như các quy tắc DSU đã quy định, Ban hội thẩm được chọn từ một bảng phân công được các chính phủ Thành viên đồng ý. Trong mỗi vụ kiện, các thành viên Ban hội thẩm được Ban Thư ký đề cử tùy thuộc vào thỏa thuận của các bên tranh chấp. Tuy nhiên, nếu không thể đạt được một thỏa thuận, Tổng Giám đốc sẽ chỉ định Ban hội thẩm và có thể thêm những cái tên khác. Không một thành viên nào của Ban hội thẩm có thể là công dân của các bên tranh chấp, trừ khi các bên đều đồng ý.

DSB chọn Cơ quan Phúc thẩm bảy người. Các thành viên của nó có nhiệm kỳ 4 năm và có khả năng tái bổ nhiệm. Họ không được làm việc trong bất kỳ chính phủ nào. Đến nay, chưa có phụ nữ nào được bổ nhiệm vào cơ quan này. Trong bất kỳ vụ kiện cụ thể nào, một trong ba thành viên được chọn qua một hệ thống luân phiên. Các chính phủ trong một tranh chấp không có vai trò chọn người xét xử kháng cáo.

Đọc tiếp

HIỆP ĐỊNH VỀ HẦNG RÀO KỸ THUẬT TRONG THƯƠNG MẠI VÀ VIỆC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN TẠI VIỆT NAM

THS. VŨ THẾ QUANG – Cục Hàng hải Việt Nam

Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), ra đời trên cơ sở Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại thế giới, do các nước thành viên của GATT ký ngày 14/4/1994 tại Ma-rốc, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/1995 với trụ sở chính đặt tại Giơ-ne-vơ, Thụy Sỹ. WTO là tổ chức quốc tế, hoạt động dựa trên hệ thống các luật lệ, quy định, quyết định cũng như các phụ lục, giải thích để điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực thương mại quốc tế nhằm tạo ra một cơ chế điều tiết thương mại toàn cầu.

WTO có 4 chức năng chính, đó là:

  1. Hỗ trợ và giám sát việc thực hiện các hiệp định của WTO;
  2. Thúc đẩy tự do hóa thương mại và là diễn đàn cho các cuộc đàm phán thương mại;
  3. Giải quyết tranh chấp thương mại giữa các thành viên;
  4. Rà soát chính sách thương mại của các thành viên.

Mục tiêu hoạt động của WTO là nhằm thúc đẩy tăng trưởng thương mại hàng hóa và dịch vụ trên thế giới; thúc đẩy sự phát triển các thể chế thị trường, giải quyết các bất đồng và tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên trong khuôn khổ của hệ thống thương mại đa phương, phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của công pháp quốc tế; khuyến khích các nước hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới, đồng thời nâng cao mức sống, tạo thu nhập, việc làm cho người dân các nước thành viên, bảo đảm các quyền và tiêu chuẩn lao động-xã hội tối thiểu được tôn trọng. WTO cũng đưa ra 4 nguyên tắc trong quan hệ thương mại, đó là: Chỉ được phép bảo hộ sản xuất và dịch vụ trong nước bằng thuế quan, không cho phép sử dụng các hạn chế định lượng (trừ trường hợp đặc biệt); thuế quan phải giảm dần và không tăng trở lại; áp dụng đãi ngộ tối huệ quốc; áp dụng đãi ngộ quốc gia.

Để thực hiện tốt chức năng và mục tiêu của mình, hoạt động của WTO chủ yếu dựa trên 18 hiệp định chính và 1 bộ quy tắc, bao gồm cả Hiệp định Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (Agreement on Technical Barries to Trade – TBT).

Đọc tiếp

TRANH CHẤP VỀ HÀNG DỆT MAY TRONG WTO VÀ MỘT SỐ GỢI Ý CHO VIỆT NAM

THS. NGUYỄN THỊ VŨ HÀ – Khoa Kinh tế Quốc tế, Trường Đại học Kinh tế,  Đại học Quốc gia Hà Nội

TÓM TẮT. Dệt may là một ngành hàng quan trọng của Việt Nam trong việc giải quyết công ăn việc làm và tạo thu nhập cho người dân, song mặt hàng này lại chịu sự cạnh tranh rất lớn và thường xảy  ra  tranh  chấp. Do  vậy,  nghiên  cứu  các  tranh  chấp  về  hàng  dệt may  trong WTO  và  đưa  ra  các  khuyến nghị cho Việt Nam là hết sức cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang đứng trước  nguy cơ bị kiện bán phá giá hàng dệt may và cũng đang chịu tác động của việc bán phá giá hàng  dệt may của Trung Quốc vào  thị  trường nội địa.

Bài viết tổng kết về các  tranh chấp xảy  ra  trong WTO về hàng dệt may và trên cơ sở đó đưa ra một số khuyến nghị cho Việt Nam như: chủ động  khởi kiện  nếu  thấy hàng dệt may bị  bán phá  giá  trên  thị  trường  nội địa,  tích cực  theo kiện, giải  quyết tranh chấp không thông qua Ban Hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm; nghiêm chỉnh thực hiện  các phán quyết của Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO.

1. Tranh chấp về hàng dệt may trong WTO

Tính đến ngày 30/12/2008, theo số liệu của Tổ  chức  Thương mại  Thế  giới  (WTO)  thì  có 390  vụ  tranh  chấp  thương mại khác  nhau diễn ra tại WTO. Các vụ tranh chấp này có liên quan đến nhiều  lĩnh vực  trong đó chủ yếu  tập  trung  vào các vấn đề và mặt hàng như: các biện pháp chống  bán  phá  giá;  tự  vệ;  thép;  các  sản  phẩm nông nghiệp; TRIPs; các biện pháp đối kháng; dệt may; các biện pháp nhập khẩu; xe ô tô; bằng phát minh… (xem biểu đồ 1). Trong các vấn đề và lĩnh vực tranh chấp tại WTO, thì dệt may là một lĩnh vực xảy ra nhiều tranh  chấp  (đứng  thứ  7  trong  số  các  vấn  đề  tranh chấp) và là mặt hàng có nhiều tranh chấp nhất  (chỉ  đứng  sau mặt  hàng  thép  và  các  sản phẩm nông nghiệp). Tính đến ngày 30/12/2008, đã có 19 vụ  tranh chấp  liên quan đến hàng dệt may (xem bảng 1).

Các tranh chấp về dệt may  trong WTO xảy ra nhiều nhất là giữa nhóm các nước phát triển và các nước đang phát triển (10 vụ), tiếp đến là giữa các nước đang phát  triển với nhau  (6 vụ) và cuối cùng là giữa các nước phát triển (3 vụ). Trong đó, Mỹ là nước bị kiện nhiều nhất (7 vụ) và Ấn Độ là nước đi khởi kiện nhiều nhất (6 vụ) (xem biểu đồ 2). Bên  cạnh  đó,  các  tranh  chấp  về  hàng  dệt may chủ yếu diễn ra đối với các sản phẩm như: dệt may và các sản phẩm trang trí trên quần áo (5  vụ),  vải  cotton  (5  vụ),  dệt may  và  các  sản phẩm  dệt  (4  vụ).  Ngoài  ra,  còn  có một  số  vụ liên quan đến các  sản phẩm cụ  thể như: áo  sơ mi, áo khoác  len, chăn, ga  trải giường, đồ đi ở chân (tất), đồ lót, sợi cotton trải…

Đọc tiếp

TỰ DO HOÁ THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VÀ CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN?

NGUYỄN THÀNH HƯNG (Tổng hợp)

Dịch vụ, từ các dịch vụ chăm sóc sức khỏe đến các dịch vụ tài chính ngân hàng, đã và đang trở thành ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nền kinh tế quốc dân của nhiều nước trên thế giới. Dịch vụ không chỉ tạo công ăn việc làm và thu nhập tại nhiều quốc gia mà còn đóng vai trò là đầu vào (input) quan trọng để sản xuất ra các hàng hoá và dịch vụ khác (ví dụ: dịch vụ viễn thông). Do vậy một ngành dịch vụ hiệu quả cao là rất cần thiết cho tổng thể nền kinh tế. Và chính vì vậy, những thoả thuận về mở cửa thị trường dịch vụ có vai trò quyết định sự thành bại của các cuộc đàm phán thương mại toàn cầu hiện nay.

Mở cửa thị trường dịch vụ sẽ đem lại lợi ích cho tất cả các nền kinh tế, bao gồm cả các nước đang phát triển, với điều kiện được thực hiện một cách thận trọng. Tuy nhiên mở cửa thị trường dịch vụ là một vấn đề cực kỳ phức tạp. Trong bất cứ cuộc đàm phán nào về thương mại dịch vụ đều đặt ra một câu hỏi hóc búa rằng liệu những người cung cấp dịch vụ (các y tá, luật sư hoặc kỹ sư bảo trì máy tính…) có thể tới quốc gia khác để hành nghề hay không.

Các vòng đàm phán thương mại toàn cầu trước đây chỉ đạt được kết quả khiêm tốn trong mở cửa thị trường dịch vụ. Tuy nhiên sự phát triển của công nghệ đã tạo ra một xung lực riêng biệt cho việc mở cửa thị trường dịch vụ. Các dịch vụ trực tuyến (online services) (ví dụ: các trung tâm dịch vụ khách hàng qua điện thoại, qua e-mail) không nhất thiết phải được thiết lập ở trong cùng một quốc gia, thậm chí là cùng một châu lục. Các thị trường dịch vụ được mở cửa thông qua các hiệp định song phương và khu vực, thông qua các chương trình cải cách từ bên trong từng quốc gia.

Hiện tại các cuộc đàm phán tự do hoá thương mại dịch vụ trong khuôn khổ Chương trình nghị sự Đôha vì sự phát triển (DDA) của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) tạo cơ hội cho tất cả các nước ở những trình độ phát triển khác nhau đánh giá lại toàn bộ quá trình phát triển dịch vụ và thực thi mở cửa mạnh mẽ hơn nữa thị trường dịch vụ.

Ai hưởng lợi từ việc tự do hoá thương mại dịch vụ?

Những năm gần đây tỷ trọng dịch vụ trong nền kinh tế thế giới tăng đáng kể, và hiện nay dịch vụ chiếm khoảng 70% tổng giá trị sản xuất của các nước phát triển OECD. Ngành dịch vụ cũng ngày càng có vai trò quan trọng tại các nước có thu nhập trung bình và thấp, thay thế dần nông nghiệp và công nghiệp.

Đọc tiếp

VIỆT NAM CẢM NHẬN MẶT TRÁI CỦA THƯƠNG MẠI TỰ DO

image TRẦN LÊ ANH

Với việc thực thi Hiệp định Thương mại Song phương Việt Nam – Hoa Kỳ và gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), nền kinh tế của Việt Nam giờ đã hội nhập vào hệ thống thương mại toàn cầu. Thương mại hàng hoá chiếm hơn 150% tổng sản phẩm quốc nội (GDP).

Trong khoảng thời gian từ 2001 đến 2008, xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam tăng hơn ba lần, đạt gần 63 tỉ USD trong năm 2008. Sự suy thoái kinh tế toàn cầu đã đẩy xuất khẩu của Việt Nam xuống dưới 57 tỉ USD trong năm ngoái, nhưng nó được dự báo là sẽ phục hồi trở lại trong năm nay khi nhu cầu ở Mỹ và các thị trường xuất khẩu quan trọng khác tăng lên.

Mặc dù vậy, điều này không làm giảm bớt những lo ngại về thâm hụt thương mại gia tăng của Việt Nam, khi mà con số này đã lên đến bằng 12,8% GDP trong năm 2008. Thâm hụt thương mại đều đặn không hẳn là tiêu cực, đặc biệt là khi nó đưa đến việc nhập khẩu máy móc và công nghệ để thúc đẩy tăng trưởng, trường hợp của Việt Nam là có vấn đề với những lý do sau:

Việt Nam nhập khẩu số lượng lớn nguyên liệu và phụ tùng để phục vụ cho guồng máy xuất khẩu, đặc biệt là cho các ngành công nghiệp may mặc và giày dép. Điều này chứng tỏ Việt Nam thiếu các ngành công nghiệp phụ trợ cần thiết để thu lợi ích kinh tế lớn hơn từ xuất khẩu và đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá. Sự lệ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu đầu vào cũng làm cho kinh tế Việt Nam dễ bị tổn thương bởi những thay đổi từ thị trường bên ngoài, bao gồm cả sự biến đổi nhanh chóng của giá cả hàng nguyên liệu.

Thâm hụt thương mại gia tăng của Việt Nam với Trung Quốc kể từ năm 2001 là một nguyên nhân đặc biệt đáng quan tâm. Trong năm 2009, thâm hụt với Trung Quốc lớn hơn 11 tỷ USD, chiếm hơn 91% tổng thâm hụt thương mại của Việt Nam.
Thách thức từ hàng nhập khẩu Trung Quốc, vốn đã đe dọa sự phát triển của các ngành công nghiệp trong nước, có thể gia tăng khi Việt Nam tham gia vào tự do hóa thương mại hơn nữa thông qua Khu vực Thương mại Tự do Asean-Trung Quốc – điều này sẽ cho phép một tỷ lệ lớn hơn của hàng hóa Trung Quốc vào thị trường Việt Nam mà không phải chịu thuế nhập khẩu từ năm 2015.

Đọc tiếp

VIỆT NAM SAU 2 NĂM GIA NHẬP WTO

PHẠM GIA KHIÊM – Chủ tịch Ủy ban quốc gia Hợp tác kinh tế quốc tế

Việt Nam sau hai năm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới Phó Thủ tướng, Chủ tịch UBQG-HTKTQT Phạm Gia Khiêm Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 11-1-2007 là một dấu mốc quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta. Những thành tựu đạt được trong hai năm qua cho thấy, việc Việt Nam tham gia vào WTO là phù hợp với thực tế khách quan và xu thế hợp tác, hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ và sâu sắc trên thế giới hiện nay.

Trên tinh thần chủ động hội nhập, cùng với việc tham gia Khu vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA), Thỏa thuận ASEAN – Trung Quốc, ASEAN – Hàn Quốc,… thực hiện các thỏa thuận song phương như Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, Hiệp định đối tác Kinh tế toàn diện với Nhật Bản, tham gia các diễn đàn hợp tác kinh tế liên khu vực ASEM, APEC, Việt Nam đã thật sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới.

Ngay sau khi gia nhập WTO, chúng ta cũng đã bắt tay vào xây dựng Chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế. Ngày 5-2-2007, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/T.Ư về “Một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của WTO”. Theo đó, Chính phủ, các bộ, ngànhvà địa phương cũng đã ban hành các Chương trình hành động theo các định hướng lớn của Ðảng.

Ðể thực hiện nghĩa vụ thành viên WTO, Việt Nam đã tiến hành điều chỉnh chính sách thương mại theo hướng minh bạch và thông thoáng hơn, ban hành nhiều luật và các văn bản dưới luật để thực hiện các cam kết đa phương, mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ, cũng như các biện pháp cải cách đồng bộ trong nước nhằm tận dụng tốt các cơ hội và vượt qua thách thức trong quá trình hội nhập.
Mặc dù thời gian hai năm chưa đủ để có thể đánh giá toàn diện những tác động kinh tế – xã hội của việc gia nhập WTO, nhưng chúng ta cũng có thể thấy một số kết quả tích cực như sau:

Đọc tiếp

CÁC YÊU CẦU ĐỐI VỚI CHÍNH SÁCH KINH TẾ CHUNG KHI GIA NHẬP WTO

TRẦN HỮU BƯU, NGUYỄN VÂN CHI, PHẠM THỊ TƯỚC, TRƯƠNG THÙY LINH, TRẦN HÀO HÙNG VÀ TRỊNH MINH ANH 

Giới thiệu

Trong giai đoạn đầu của quá trình gia nhập, giống như các nước đang gia nhập khác, Việt Nam được yêu cầu cung cấp các thông tin chi tiết về cơ chế kinh tế và thương mại của mình. Các Hiệp định WTO không đưa ra các nghĩa vụ trực tiếp mà chính sách kinh tế của các Thành viên phải tuân thủ cũng như không quy định các công cụ chính để thực thi chính sách. Nhưng từ hệ thống của WTO có thể thấy rằng các chính sách kinh tế chung của các Thành viên có tác động quan trọng tới cơ chế thương mại nói chung và quyết định nội dung của các biện pháp thương mại một cách đáng kể.

Do đó, Việt Nam được yêu cầu cung cấp các thông tin chi tiết về chính sách thương mại của mình trong Bị vong lục về cơ chế Ngoại thương của mình, Bị vong lục được cung cấp cho WTO trong giai đoạn đầu của tiến trình gia nhập, và sau đó Việt Nam được yêu cầu cung cấp cho Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO (Ban công tác) những thay đổi lớn trong các chính sách kinh tế của mình.

1. Chính sách tài chính và tiền tệ

Như được chỉ ra tại các đoạn 9 – 17 trong Báo cáo của Ban công tác, đại diện của Việt Nam thông báo cho Ban công tác những yếu tố quan trọng nhất trong chính sách tài chính và tiền tệ của Việt Nam và các khía cạnh thể chế liên quan. Đại diện của Việt Nam khẳng định với Ban công tác rằng mục tiêu chính của chính sách tiền tệ của Việt Nam là ổn định giá trị của tiền Đồng nhằm kiểm soát lạm phát và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Đại diện này cũng cung cấp thông tin về sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại, kể cả lịch trình cổ phần hóa dự kiến. Quá trình cải cách hệ thống thuế cũng được mô tả chi tiết.

1.1. Thông tin chung và quá trình gia nhập WTO

Việt Nam phải thông báo chi tiết về hệ thống thanh toán và giao dịch ngoại hối của mình cho WTO do vai trò quyết định của hệ thống này đối với việc duy trì các mối quan hệ kinh tế phù hợp với các quy tắc của WTO4. Như đại diện của Việt Nam giải thích, Việt Nam đã thay thế hệ thống tỷ giá hối đoái cố định bằng một cơ chế tỷ giá linh hoạt thả nổi có quản lý từ năm 1989. Việt Nam đã bình thường hoá quan hệ tài chính với Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) vào năm 1993 và đã từng bước tuân thủ các yêu cầu tại Điều VIII trong Điều lệ IMF. Mục tiêu đưa Đồng Việt Nam trở thành đồng tiền chuyển đổi được đặt ra vào năm 2001 và các biện pháp kiểm soát giao dịch vãng lai đã dần dần được tự do hóa.

Đọc tiếp

CÁC KHÍA CẠNH PHÁP LÝ CỦA QUÁ TRÌNH GIA NHẬP WTO

PETER NARAY & NGUYỄN KHÁNH NGỌC

Giới thiệu

Trong quá trình đàm phán bất kỳ điều ước quốc tế nào, bên cạnh các cân nhắc về chính trị quyết định sự cần thiết và mục tiêu của điều ước, các khía cạnh pháp lý có tầm quan trọng đặc biệt. Đối với các nước theo cách tiếp cận “nhất nguyên” đối với các điều ước quốc tế, tức là các điều ước quốc tế đã ký kết có thể được áp dụng trực tiếp trong hệ thống luật pháp trong nước thì các điều ước quốc tế là một nguồn luật quan trọng. Dù một Thành viên WTO có cách tiếp cận pháp lý như thế nào đối với với các điều ước quốc tế mà Thành viên này tham gia, WTO coi việc thực hiện các nghĩa vụ trong WTO là yếu tố có tầm quan trọng quyết định, thể hiện ở quy định "Mỗi Thành viên sẽ đảm bảo việc các luật, quy định và thủ tục hành chính tuân thủ với các nghĩa vụ của Thành viên đó…”126.

Theo Luật Đàm phán, ký kết và gia nhập các Điều ước quốc tế của Việt Nam năm 2005 (“Luật Điều ước”) thì các điều ước quốc tế mà Việt Nam là Thành viên được thừa nhận là có hiệu lực pháp lý để áp dụng trực tiếp trong nội luật nếu như các cơ quan có thẩm quyền quyết định áp dụng trực tiếp và sẽ được ưu tiên áp dụng trong trường hợp luật trong nước quy định khác127. Do đó, không thể hiểu hết tác động pháp lý của việc trở thành Thành viên WTO cũng như các cam kết trong Tổ chức này nếu như không biết rõ hiệu lực pháp lý của các cam kết và cách thức các cam kết này được thực thi trong nội luật. Một công cụ pháp lý quan trọng đối với WTO là Nghị quyết số 71/2006/QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc hội về việc phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định WTO của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Nghị quyết phê chuẩn số 71). Một yếu tố nữa cũng quan trọng là năm 2001 Việt Nam đã trở thành Thành viên của Công ước Viên năm 1969 về Điều ước quốc tế, Công ước được thừa nhận là cơ sở pháp luật và hướng dẫn diễn giải tất cả các quy tắc và cam kết trong WTO128; do đó, Việt Nam phải thực thi các nghĩa vụ và cam kết của mình phù hợp với các quy tắc của WTO như được diễn giải theo các quy tắc của Công ước Viên.

Nghiên cứu này nhằm phân tích tác động của các khía cạnh pháp lý trong quá trình gia nhập WTO của Việt Nam thông qua rà soát các cam kết WTO liên quan tới lĩnh vực pháp lý129, như thực hiện các điều ước quốc tế (kể cả các cam kết WTO) thông qua quy định pháp luật trong nước, áp dụng thống nhất và minh bạch hóa chính sách (công bố luật, nhận xét của công chúng và công văn).

Đọc tiếp

TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI

PSG.TS. NGUYỄN NHƯ BÌNH – Khoa Kinh tế & Kinh doanh Quốc tế, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội

1.1. HỆ THỐNG THƯƠNG MẠI ĐA PHƯƠNG: NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT

1.1.1. Thương mại quốc tế và hội nhập toàn cầu

Thương mại quốc tế có lịch sử lâu đời. Từ thời trung cổ đã có hoạt động giao lưu buôn bán giữa các quốc gia trong phạm vi từng khu vực cũng như giữa Đông và Tây. Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản đã dẫn đến sự bùng nổ của thương mại quốc tế, gắn liền với chủ nghĩa thực dân cũ cướp bóc và nô dịch thuộc địa. Trong suốt các thế kỷ 16, 17 và 18, lý thuyết trọng thương có vai trò thống trị trong việc giải thích về thương mại quốc tế. Thế kỷ 19 với sự ra đời của lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, nhất là lý thuyết lợi thế so sánh của D. Ricardo, thương mại thế giới đã được dẫn dắt theo một chiều hướng khác: chuyên môn hóa và trao đổi, điều đó sẽ mang lại lợi ích cho các quốc gia tham gia thương mại quốc tế và cho nền kinh tế thế giới.

Hệ thống thương mại đa phương đã được thiết lập cùng với việc ký kết Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại vào năm 1947 (GATT 1947). Các lý thuyết thương mại quốc tế đã dẫn dắt và cổ vũ cho xu hướng tự do hóa thương mại trong hệ thống thương mại đa phương. Kể từ năm 1948 đến nay, thương mại quốc tế đã có những bước phát triển nhảy vọt. Năm 1948, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của thế giới đạt 58 tỷ USD và tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 62 tỷ USD. Các con số tương ứng về tổng kim ngạch xuất khẩu và tổng kim ngạch nhập khẩu của năm 1980 là 2.034 tỷ USD và 2.075 tỷ USD, năm 1990 là 3.449 tỷ USD và 3.550 tỷ USD, năm 2000 là 6.452 tỷ USD và 6.724 tỷ USD, và năm 2005 là 10.431 tỷ USD và 10.783 tỷ USD1.

Đọc tiếp

Ý NGHĨA CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO ĐỐI VỚI CHÍNH PHỦ VÀ CÁC DOANH NGHIỆP

MUTRAP

1. Bản chất của WTO

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1995 và là một bước phát triển toàn diện của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT). WTO quản lý các Hiệp định thương mại do các Thành viên ký kết, đặc biệt là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT), Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS) và Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs). Các quy định và thủ tục của WTO tạo ra một khuôn khổ cho việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ và sở hữu trí tuệ. Các nguyên tắc và quy định được các Thành viên đàm phán thông qua các cuộc thảo luận chính thức và không chính thức khác trong các diễn đàn khác nhau của WTO và các vòng đàm phán thương mại đa phương định kỳ như Vòng đàm phán Đôha vì sự phát triển hiện nay (DDA).

Các Thành viên WTO có trình độ kinh tế khác nhau, từ những nền kinh tế kém phát triển nhất cho tới những nền kinh tế phát triển nhất. Sự thành công của tổ chức này được thể hiện ở sự phát triển liên tục số lượng các nước tham gia. Kể từ khi tổ chức này được thành lập, đã có hai mươi hai nước – kể cả Việt Nam – gia nhập WTO, đưa tổng số Thành viên lên tới 150 (tới thời điểm tháng 10 năm 2007), chiếm trên 90% tổng thương mại toàn cầu. Các Thành viên mới của châu Á gia nhập WTO trước Việt Nam là Trung Quốc và Đài Loan, hai nền kinh tế gia nhập năm 2001 và 2002, Ácmênia (2003), Campuchia (2004) và Nêpan (2004).

WTO coi việc không phân biệt đối xử, mở cửa thị trường và cạnh tranh toàn cầu trong thương mại quốc tế sẽ thúc đẩy phúc lợi quốc gia tại tất cả các nước là triết lý nền tảng của mình. Một lý do khiến WTO tồn tại là các hạn chế về chính trị đã ngăn cản các Chính phủ áp dụng các chính sách thương mại hiệu quả hơn, và thông qua sự trao đổi có đi có lại các cam kết tự do hóa, các nước có thể vượt qua các hạn chế chính trị này. Các quy định và thủ tục của WTO (www.wto.org) được xây dựng dựa trên một số nguyên tắc chung, các nguyên tắc này có thể được tóm tắt dưới đây:

Đọc tiếp

CAM KẾT VỀ DỊCH VỤ KHI GIA NHẬP WTO: BÌNH LUẬN CỦA NGƯỜI TRONG CUỘC

MUTRAP

LỜI NÓI ĐẦU

Trong 2 năm qua, sau khi chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đã nghiêm túc thực hiện các cam kết của mình với tổ chức này trong tất cả các lĩnh vực như thuế, phi thuế, sở hữu trí tuệ, dịch vụ… Sự nghiêm túc của Việt Nam được các thành viên WTO và cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước đánh giá cao và đó cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng góp phần tạo ra kết quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài đầy ấn tượng trong 2 năm 2007 và 2008 vừa qua.

Tuy nhiên, như ở nhiều thành viên mới gia nhập WTO khác, quá trình thực thi cam kết ở Việt Nam cũng đã gặp một số vướng mắc gây khó khăn không nhỏ cho doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước hu quan. Những vướng mắc này chủ yếu phát sinh trong lĩnh vực dịch vụ, một lĩnh vực còn khá mới và hết sức phức tạp, không chỉ với nước ta mà còn với nhiều nước khác trên thế giới.

Sự phức tạp trong thực thi các cam kết dịch vụ bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân không dễ nhận biết nếu dịch vụ hoặc đàm phán dịch vụ không phải là lĩnh vực chuyên môn của người có liên quan. Trong những nguyên nhân này, có nguyên nhân thuộc về cách định nghĩa và phân loại dịch vụ, có nguyên nhân thuộc về cách thức cam kết mở cửa thị trường dịch vụ, nhưng cũng có những nguyên nhân bắt nguồn từ chiến thuật đàm phán của các nhà đàm phán, tức là không mấy liên quan tới bản chất và nội dung, khiến quá trình thực thi vốn đã phức tạp càng trở nên phức tạp và rắc rối hơn.

Sự phức tạp trong thực thi các cam kết dịch vụ đã và đang gây khó khăn cho các doanh nghiệp và cơ quan quản lý, cấp phép đầu tư tại các địa phương. Nhiều doanh nghiệp, do chưa hiểu rõ nội dung của Biểu cam kết dịch vụ, đã bỏ công điều tra, chắp nối, xây dựng nghiên cứu tiền khả thi và nộp đơn xin thành lập các dự án đầu tư trong những ngành hoặc phân ngành dịch vụ mà Biểu cam kết dịch vụ không cho phép hoặc chỉ cho phép sau một thời gian chuyển đổi, dẫn đến việc hồ sơ xin phép bị cơ quan cấp phép từ chối và doanh nghiệp phải gánh chịu những mất mát to lớn về thời gian và chi phí. Ở chiều ngược lại, cũng do chưa nắm rõ nội dung của Biểu cam kết nên rải rác đã xuất hiện tình trạng cơ quan quản lý nhà nước từ chối các quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư khiến nhà đầu tư phải khiếu nại, ảnh hưởng đến uy tín không chỉ của cơ quan quản lý nhà nước có liên quan mà còn của cả Chính phủ Việt Nam trong quá trình thực thi cam kết gia nhập WTO.

Đọc tiếp

CẦN TÔN TRỌNG NGHỊ QUYẾT 71/2006/NQ-QH11 CỦA QUỐC HỘI KHÓA 11 VỀ PHÊ CHUẨN VIỆC VIỆT NAM THAM GIA WTO

LG. CAO BÁ KHOÁT – Giám đốc Công ty TNHH Tư vấn doanh nghiệp K và Cộng sự

Trong quá trình gia nhập WTO, Việt Nam đã thoả hiệp nhiều vấn đề với các bên đàm phán. Trong đó, đoạn 502 và 503, Báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO (Báo cáo của Ban công tác) quy định: các liên doanh theo các cam kết trong Biểu cam kết dịch vụ và các liên doanh đã thành lập trước ngày Luật Doanh nghiệp 2005 có hiệu lực có quyền thoả thuận trong điều lệ liên doanh tỷ lệ đa số phiếu chính xác cần có để đưa ra tất cả các quyết định, bao gồm cả tỷ lệ đa số đơn giản là 51%.

Để thực thi cam kết này, ngày 29/11/2006, Quốc hội Việt Nam đã ban hành Nghị quyết 71/2006/NQ-QH11  (Nghị quyết 71) phê chuẩn việc Việt Nam gia nhập WTO, theo đó các cam kết WTO được áp dụng trực tiếp. Liên quan đến Luật Doanh nghiệp 2005, Nghị quyết 71 (Phần Phụ lục) quy định: Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần được quyền quy định trong Điều lệ công ty các nội dung sau:

-Số đại diện cần thiết để tổ chức cuộc họp và hình thức thông qua quyết định của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông;

-Các vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông;

-Tỷ lệ đa số phiếu cần thiết (kể cả tỷ lệ đa số 51%) để thông qua các quyết định của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông.

Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp 2005 lại quy định tỷ lệ tối thiểu cần có để thông qua quyết định của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông là 65% (Điều 52 và 104). Điều này mâu thuẫn với cam kết WTO của Việt Nam. Theo khoản 3 Điều 3 Luật Doanh nghiệp 2005 thì "trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế". Theo điều khoản trên, những quy định tại Nghị quyết 71 đã phải được thực hiện kể từ khi Nghị quyết này có hiệu lực. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có bất kỳ một văn bản nào hướng dẫn để thực hiện những quy định nêu trên của Nghị quyết 71.

Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 647 other followers

%d bloggers like this: