THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ HIẾN XÁC NHÂN ĐẠO, HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI ĐỂ PHỤC VỤ Y HỌC VÀ NGHIÊN CỨU TẠI VIỆT NAM

NGUYỄN ĐÌNH THẮM

Có thể nói rằng trong thời gian gần đây ngành y học của Việt Nam đang trên đà phát triển, có nhiều đột phá mới có tính chất đặc quan trọng tạo cơ sở tiền đề cần thiết cho việc khám và chữa bệnh, đã cứu chữa, chăm sóc cho nhiều bệnh nhân, góp phần làm cho xã hội ổn định và phát triển; người dân có trí và lực để bước vào công cuộc Công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước, chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới trên mọi lĩnh vực: kinh tế – xã hội, văn hoá, y học… Đó chính là một niềm tin đáng mừng, niềm hy vọng và mong đợi to lớn nhất về triển vọng phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam trong một tương lai gần để có thể ngang tầm với các nước trong khu vực và thế giới.

Nhưng xã hội ngày càng phát triển thì con người lại phải đối mặt với vô vàn các nguy cơ gây bất ổn định như: Chiến tranh, hoả hoạn, bão lũ, phân biệt sắc tộc… Đặc biệt là dịch bệnh, với vô vàn các căn bệnh nan y, để rồi hàng ngày – hàng giờ Việt Nam nói riêng cũng như các nước trong khu vực và thế giới đã có biết bao nhiêu người phải từ biệt gia đình, bạn bè – cuộc sống và người thân để ra đi trong hàng ngàn, hàng vạn các lý do khác nhau mà y học không thể can thiệp, đẩy lùi và cứu chữa được. Để hạn chế được điều này, khắc phục được sự chết chóc do các căn bệnh nan y gây ra cho con người. Thì mỗi chúng ta phải làm gì? các trung tâm nghiên cứu, các cơ sở y tế, ngành y học sẽ phải tìm ra những phương pháp nào? để có thể khắc phục một cách có hiệu quả điều này. Theo quan điểm của chúng tôi, thì sẽ có rất nhiều các biện pháp, cách thức để khắc phục, ngăn chặn và đẩy lùi các nguy cơ làm phát sinh cái chết cho con người.

Hiện nay ngành y học của Việt Nam nói riêng, khu vực và thế giới nói chung nên quan tâm đến vấn đề: “Hiến xác nhân đạo”, “hiến bộ phận cơ thể người”, Hiến mô tạng, hiến máu nhân đạo… để nghiên cứu phục vụ y học hơn nữa. Có rất nhiều lý do để có thể khẳng định vấn đề này là đúng, đặc biệt quan trọng và cần thiết trong xã hội “hiện đại” ngày nay. Hiện nay rất cần đến việc “Hiến xác nhân đạo”, “hiến bộ phận cơ thể người”, hiến mô tạng…để thức đẩy cho việc khám chữa bệnh, thức đảy ngành y học phát triển, góp phần làm tái sinh lại sự sống từ các bộ phận của người chết trên cơ thể của người sống, giúp cho các sinh viên y khoa được thực tập trên cơ thể người hiến xác trước khi “động dao, động kéo” chữa trị cho người sống, không lẽ sinh viên chỉ thực tập “mổ” trên lý thuyết? Hậu quả của “học chay” thế nào? chắc ai cũng hiểu? Theo PGS, TS Nguyễn Lân Cường: “cứ tưởng tượng, hiến một quả tim, sẽ cứu được một người, còn “xác” dành cho thực tập sẽ rèn luyện tay nghề cho hàng trăm bác sỹ, từ đó cứu được hàng ngàn người, cần lắm chứ!

Đọc tiếp

QUYỀN RIÊNG TƯ TRONG THỜI ĐẠI CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

THS. THÁI THỊ TUYẾT DUNG  – Giảng viên Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh

Ở Việt Nam khi đề cập đến quyền riêng tư, dường như mới chỉ dừng lại ở quyền về bí mật đời tư – Civillawinfor

Ở các nước phát triển, quyền riêng tư được công nhận từ rất sớm, là một trong những quyền cơ bản nhất của con người [1] và hiện đã trở thành một trong những quyền quan trọng nhất của quyền con người trong thời hiện đại. Quyền riêng tư của công dân ngày càng được thừa nhận rộng rãi trong hệ thống pháp luật của nhiều nước. Hiến pháp của hầu hết các quốc gia đều ghi nhận quyền này [2].

1. Sơ lược lịch sử phát triển của quyền riêng tư

Sự riêng tư có nguồn gốc sâu xa trong lịch sử. Ví dụ trong Kinh Thánh có nhiều điều đề cập đến quyền riêng tư; trong nền văn minh Hebrew, nền văn minh Hy Lạp cổ đại và cả Trung Quốc cổ đại cũng có đề cập đến bảo vệ sự riêng tư [3]. Nhưng có thể nói, quyền riêng tư sơ khai xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước.

Trong xã hội nguyên thủy, cuộc sống bầy đàn cũng như tính gắn kết cộng đồng cao, dường như tính riêng tư của cá nhân bị “bỏ quên”, và con người trong xã hội đó không có khái niệm cũng như không đòi hỏi cái gọi là “riêng tư” cho bản thân mình. Phải đến khi hình thái nhà nước đầu tiên thực sự xuất hiện – là nhà nước chiếm hữu nô lệ – thì “quyền riêng tư” mới manh nha xuất hiện như trường hợp lời thề Hippocrate trong ngành y, đó là việc các thầy thuốc phải tuyên thệ về việc giữ bí mật với hồ sơ bệnh án[4].

Tuy nhiên, trong một xã hội mang tính bất bình đẳng cao giữa các giai cấp như xã hội chiếm hữu nô lệ thì các quyền con người nói chung và quyền riêng tư nói riêng là quyền mà chỉ tầng lớp chủ nô mới có; còn giai cấp nô lệ – được xem là một thứ “tài sản biết nói” của chủ nô – thì không có gì liên quan đến nô lệ mà chủ nô không có quyền được biết. Những gì liên quan đến nô lệ, bao gồm cả bí mật đời tư đều thuộc sở hữu và quyền quyết định của chủ nô. Do đó, quyền riêng tư trong giai đoạn này và cả dưới chế độ phong kiến không được chính thức ghi nhận bởi pháp luật, nó được coi là một “đặc quyền” mà chỉ có các tầng lớp cao quý trong xã hội (chủ nô, lãnh chúa phong kiến…) mới được hưởng.

Quyền riêng tư bắt đầu manh nha xuất hiện trong xã hội chiếm hữu nô lệ và phát triển cho đến ngày nay. Tuy nhiên, tính rõ ràng của thuật ngữ cũng như tính pháp lý của quyền này chỉ thực sự được khẳng định cùng với sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản. Do đó, có thể nói, quyền riêng tư có nguồn gốc từ phương Tây[5] và phát triển nhờ sự phát triển của chủ nghĩa tư bản.

Đọc tiếp

PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ HIẾN MÔ, BỘ PHẬN CƠ THỂ VÀ HIẾN XÁC CỦA CÁ NHÂN

BÙI ĐỨC HIỂN – Viện Nhà nước và Pháp luật

Ở Việt Nam quyền hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người đã được quy định trong Bộ luật Dân sự 2005 và được cụ thể hóa trong Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác 2006. Tuy nhiên, pháp luật về vấn đề này vẫn còn những hạn chế, tồn tại, trong khi nhu cầu về hiến, lấy ghép mô, bộ phận cơ thể nước ta ngày càng tăng[1], đòi hòi phải nghiên cứu hoàn thiện hơn nữa pháp luật về vấn đề này. Điều đó cho thấy việc nghiên cứu pháp luật và kinh nghiệm nước ngoài đóng vai trò quan trọng. Bài viết này sẽ tập trung nghiên cứu khái quát các quy định pháp luật một số nước trên thế giới về hiến, lấy ghép mô, bộ phận cơ thể người và một vài gợi mở đối với Việt Nam.

1. Khái quát pháp luật quốc tế về hiến mô, bộ phận cơ thể người

Sự phát triển của y học, giải phẫu học thế giới đã làm cuộc sống con người thay đổi kỳ diệu, từ chỗ con người có thể bị chết do một bộ phận cơ thể nào đó bị bệnh, hỏng, con người lại có thể được tái sinh sự sống của mình qua việc được cấy, ghép một mô, bộ phận cơ thể của người nào đó đã bị chết hiến tặng…[2] Để tạo hành lang pháp lý cho sự kỳ diệu trên được phát triển, để cứu chữa người bệnh vượt qua hiểm nghèo thì không chỉ pháp luật các quốc gia mà pháp luật quốc tế cũng ghi nhận về vấn đề này từ rất sớm. Trong khuôn khổ pháp luật quốc tế đầu tiên có thể kể đến Công ước quốc tế về các Quyền kinh tế, văn hoá và xã hội, viết tắt tiếng Anh là CESCR, và Công ước quốc tế về các Quyền dân sự, chính trị, viết tắt tiếng Anh là CCPR, được Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua 16/12/1966 và có hiệu lực từ ngày 23/3/1976. Việt Nam gia nhập 2 Công ước này ngày 24/9/1982. Còn trong khuôn khổ Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã thông qua Nghị quyết về việc phát triển các hoạt động cấy ghép năm 2004. Thậm chí tổ chức UNNESCO đã thành lập một cơ quan trực tiếp liên quan đến lĩnh vực này là Ủy ban quốc tế về Đạo đức y sinh. Cơ quan này cũng đã công bố Tuyên bố toàn cầu về đạo đức sinh học và quyền con người. Trong đó đã đưa ra những nguyên tắc chung nhằm bảo vệ quyền con người và được thừa nhận rộng rãi như nguyên tắc không được thương mại hóa bộ phận cơ thể người, mô, máu, tế bào; nguyên tắc bảo vệ người chưa thành niên và những người được pháp luật bảo hộ; phải có sự đồng ý của đương sự về việc hiến.

Trong khuôn khổ Hội đồng châu Âu có Công ước về bảo vệ quyền con người và nhân phẩm con người trong việc ứng dụng các tiến bộ y học và sinh học ngày 4 tháng 4 năm 1997 (gọi tắt là Công ước OVIEDO). Công ước này đã đưa ra nguyên tắc cơ bản như: bắt buộc phải có sự đồng ý của đương sự; quyền được thông tin đối với cả người hiến và người nhận. Ngoài ra trong nguồn luật của Liên minh châu Âu có thể chỉ ra Chỉ thị 2004/23 về thiết lập các tiêu chuẩn chất lượng và an toàn áp dụng đối với các hoạt động hiến, lấy, kiểm soát, xử lý, bảo quản, lưu trữ phân phối mô và tế bào người…[3] Qua các Công ước quốc tế và khu vực có thể thấy hiến, ghép mô, bộ phận cơ thể có vai trò đặc biệt quan trọng và được coi là quyền con người và để đảm bảo cho hoạt động này được diễn ra hiệu quả, quốc tế đã có những quy định mang tính nguyên tắc về vấn đề này làm tiêu chuẩn và là nguồn quan trọng cho các quốc gia trong quá trình nghiên cứu xây dựng pháp luật nước mình về hiến mô, bộ phận cơ thể người.

Đọc tiếp

RIÊNG TƯ LÀ THIÊNG LIÊNG

HOÀNG HỒNG MINH

Riêng tư là thiêng liêng. Không có riêng tư, con người chỉ là tôi tớ của đám đông, của bạo quyền. Không có văn hóa này, người ta không hiểu giá trị làm người, và người ta ngông nghênh xúc phạm riêng tư, cuối cùng đời sống trở nên hỗn loạn.

Nếu lần đầu tiên bạn đi học tại một trường đại học ở Balê, hẳn bạn sẽ có nhiều bỡ ngỡ. Cả năm trời, không ai biết điểm các bài kiểm tra của bạn cả, trừ vài giáo viên trực tiếp liên quan. Và ngược lại, bạn cũng chẳng hề biết điểm của các bạn học khác. Không có biểu dương học sinh này, hay chê bai học sinh kia sồn sồn trong lớp học.
Kì lạ hơn, một số bài tập được giao về nhà để làm trong kì nghỉ. Hết kì nghỉ, bạn nộp bài, và được chấm điểm. Mà hầu như cũng chẳng ai hỏi nhờ ai làm bài hộ cả.
Bạn đá bóng trong một công viên nhỏ, chẳng may quả bóng rơi vào vườn nhà ai cạnh đó.
Bạn bấm chuông, không ai ra cả. Bạn không bao giờ tự trèo vào vườn đó để lấy lại quả bóng.
Rồi bạn đi làm. Chẳng ai biết lương của bạn là bao nhiêu, ngoài phòng tài chính, và có thể là ông chủ của hãng nhỏ. Và bạn cũng chẳng biết lương của ai khác. Phải xem báo nghe đài thống kê, hay qua nơi tư vấn công việc, để rồi ước đoán xem lương của mình như vậy đã hợp lý với khung lương chung chưa, để mà mặc cả.
Bạn ra tòa thị chính làm giấy tờ. Tờ cảnh báo lớn treo trên tường nhắc nhở mọi người: “dù có ai mặc đồ cảnh sát đến bấm chuông nhà bạn, chớ có mở cửa”. Nếu bạn là thủ phạm nguy hiểm, người ta khắc có công lệnh và phương tiện mở cửa nhà bạn, khỏi lo hộ!
Rồi bạn lập gia đình. Thư của nửa bên kia của bạn nằm trong thùng thư, bạn không có quyền bóc xem đâu nhé. Và dĩ nhiên không ai có quyền bóc thư gửi cho bạn, ngoài chính bạn.
Riêng tư là thiêng liêng. Không có riêng tư, con người chỉ là tôi tớ của đám đông, của bạo quyền.
Sở hữu chỉ là một phần của sự riêng tư này, và do vậy sở hữu hợp pháp cũng thiêng liêng. Không có văn hóa này, người ta không hiểu giá trị làm người, và người ta ngông nghênh xúc phạm riêng tư, cuối cùng đời sống trở nên hỗn loạn.

Đọc tiếp

THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN: CHO TÒA QUYỀN XÁC ĐỊNH LẠI GIỚI TÍNH?

THANH TÙNG

Luật pháp phải luôn điều chỉnh theo sự phát triển của xã hội và không được “bỏ quên” bất cứ yêu cầu nào, tranh chấp nào của người dân.

Thực tế đã có những trường hợp người dân nộp đơn yêu cầu tòa xác định lại giới tính, xác định nhiều tên gọi, nhiều hình ảnh cùng chỉ một người… Các yêu cầu này đều chính đáng và cấp thiết đối với đương sự nhưng tòa án phải từ chối thụ lý vì luật không quy định thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa.

Điều 36 Bộ luật Dân sự quy định một người có quyền xác định lại giới tính nếu giới tính bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác, cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ giới tính. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành lại chưa hề quy định loại việc này có được tòa giải quyết hay không, giải quyết theo thủ tục nào.

Tương tự, trường hợp tự chuyển giới bằng phẫu thuật thẩm mỹ rồi yêu cầu tòa công nhận giới tính khác cũng chưa được luật hóa.

Tòa không làm thì không ai làm

Thẩm phán Phạm Công Hùng, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM, nhận xét với trình độ phát triển của y học hiện nay và xu hướng sống thoáng của giới trẻ thì các yêu cầu như trên đã xuất hiện và sẽ ngày càng nhiều. Nhà làm luật nên mở rộng cho tòa quyền xác định lại giới tính một người theo yêu cầu vì nó là nhu cầu phát triển tất yếu của xã hội.

Mặt khác, về nhận thức, khi y học đã công nhận một người là nữ mà trong lý lịch nhân thân và pháp luật lại cứ phải ghi là nam thì rất vô lý. Trong khi đó, nếu tòa án không đứng ra công nhận, người dân sẽ không biết cậy nhờ đến cơ quan nào giải quyết.

Luật sư Trần Công Ly Tao, Đoàn Luật sư TP.HCM, bổ sung: Nhu cầu cải sửa giới tính trong xã hội ngày nay là nhu cầu có thật nên pháp luật phải tạo điều kiện cho đương sự thực hiện một cách công khai, hợp pháp và rõ ràng. Nếu luật tiếp tục bỏ ngỏ thì sẽ làm cho bản thân luật bị tụt hậu so với thời cuộc và cả các cơ quan tố tụng lẫn cơ quan quản lý nhà nước đều lúng túng, không biết giải quyết ra sao.

Đọc tiếp

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT AN TỬ

TRƯƠNG HỒNG QUANG – Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp

“Quyền được chết” được pháp luật một số nước coi là quyền nhân thân của con người và được quy định trong một đạo luật gọi là Luật An tử. Quyền được chết, hiểu một cách đơn giản là quyền của một người đã thành niên đang phải chịu sự đau đớn về thể chất hoặc tinh thần kéo dài và không thể chịu đựng được sau một tai nạn hay một bệnh lý không thể cứu chữa, rơi vào tình huống y tế không lối thoát1, nên đã chọn thực hiện quyền được chết.

Hiện nay, một số quốc gia như Hà Lan, Bỉ, Lúcxămbua, các bang của Hoa Kỳ đã thông qua đạo luật về an tử. Nhưng quyền được chết vẫn chưa được xem là quyền nhân thân trong pháp luật dân sự của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Nguyên nhân của vấn đề này xuất phát từ nhiều khía cạnh khác nhau: trình độ lập pháp, các khía cạnh kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa… đã tác động làm cho quyền được chết trở thành cuộc chiến không chỉ dừng lại ở phạm vi lập pháp2. Chúng tôi xin đưa ra những nghiên cứu ban đầu về nội dung của một đạo luật quy định về quyền này.

1. Quyền được chết và khả năng xây dựng Luật An tử ở Việt Nam

Tại kỳ họp thứ 6 và 7 Quốc hội khóa XI (2004, 2005), Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách năm 2005, vấn đề quyền được chết đã được đưa vào Dự thảo sửa đổi Bộ Luật Dân sự và được khá nhiều đại biểu Quốc hội quan tâm. Nhìn chung, các quan điểm đều nhìn nhận đây là một việc làm nhân đạo, nhưng lại là một vấn đề nhạy cảm, không phù hợp với đạo lý người Á Đông hiện nay. Hơn nữa, số lượng bệnh nhân giai đoạn cuối, mắc bệnh vô phương cứu chữa của Việt Nam còn ít so với thế giới3. Do đó, quyền được chết vẫn chưa được công nhận và thông qua tại Việt Nam.

Trong đại bộ phận dân cư, quyền được chết là một vấn đề còn xa lạ và còn có nhiều sự nhầm lẫn trong quan niệm cũng như nhận thức. Bên cạnh đó, phong tục, tập quán và truyền thống Á Đông đã chi phối đến việc tiếp cận những vấn đề mới, nhạy cảm có liên quan đến tín ngưỡng, văn hóa. Một điều phải công nhận là truyền thống phương Đông chúng ta luôn coi trọng sự sống con người, xem nó là thứ quý giá nhất. Từ lâu, quan niệm này đã ăn sâu vào gốc rễ tâm hồn mỗi người. Ngay cả phương Tây – nơi mà truyền thống, phong tục không quá nặng nề và tư tưởng “thoáng” hơn phương Đông – thì cũng chỉ có vài nước công nhận quyền được chết và lựa chọn cái chết êm ả. Nhưng ở phương Tây thì lý do để đa phần các quốc gia không chấp nhận an tử lại không phải là phong tục, tập quán mà là vì các lý do thuộc về luật pháp, tôn giáo và chính trị… Bên cạnh đó, sự lo sợ Luật An tử khi ban hành sẽ bị lạm dụng cũng góp phần thúc đẩy những quan điểm chống lại an tử phát triển như hiện nay.

Tại Hàn Quốc, năm 1997, bất chấp những đe dọa mạnh mẽ từ phía bác sĩ, một người vợ vẫn quyết định nên để cho người chồng 58 tuổi của mình tự chống đỡ với căn bệnh chảy máu não, do khó khăn tài chính của gia đình khiến bà này không thể làm khác hơn4. Tòa án ở địa phương đã kết án tù người vợ và hai bác sĩ vì đã để bệnh nhân – chồng của bà này, dù đang ở trong một tình trạng nguy kịch – vẫn phải rời khỏi bệnh viện mà không có biện pháp cứu chữa. Bộ luật Hình sự của Hàn Quốc quy định tội giết người cho bất cứ trường hợp nào kết thúc cuộc đời của người khác. Trong trường hợp này, mặc dù đã được sự đồng ý của bệnh nhân và các thành viên trong gia đình, nhưng việc không duy trì sự sống cho nạn nhân bằng cách không cho ăn, uống, không thuốc điều trị và các thiết bị hỗ trợ, sẽ bị coi là một tội ác. Hiện tại, mặc dù y học hiện đại đã có thêm nhiều hỗ trợ, trong đó có nhiều phản hồi tích cực từ tòa án khi một số lớn ý kiến cho rằng sẽ tốt hơn cho gia đình và bệnh nhân khi kết thúc những biện pháp điều trị vô nghĩa, nhất là đối với những bệnh nhân bị hôn mê mà không có một chút khả năng nào sẽ hồi phục, đồng thời sẽ giảm đi gánh nặng cho gia đình. Vụ án này chỉ là một trong những vụ án liên quan đến các tranh luận xung quanh vấn đề quyền được chết và Luật An tử trên thế giới trong nhiều năm qua. Thực sự, đây đã trở thành một chủ đề phức tạp với nhiều luận điểm trái ngược nhau.

Đọc tiếp

RẮC RỐI CHUYỆN BÍ MẬT ĐỜI TƯ CỦA CÁ NHÂN

LS. NGUYỄN BẢO TRÂM – Công ty Luật TNHH Sài Gòn Luật

Chuyện bí mật đời tư của cá nhân, quyền bí mật đời tư được bảo vệ đến đâu, như thế nào không là chuyện riêng của ca sĩ Hồ Ngọc Hà mà đã là vấn đề chung để giải quyết các trường hợp khác bị xâm phạm đến bí mật đời tư.

Đó cũng là chuyện phải cụ thể hóa quyền, nghĩa vụ của giới truyền thông khi phản ánh những thông tin, sự kiện có liên quan đến đời tư của cá nhân.

Hiện nay, chuyện chị X. nâng ngực, anh Y. “có những phút ngoài vợ”, ông M. bị bệnh ung thư giai đoạn cuối…, đặc biệt là những thông tin, tư liệu, hình ảnh cá nhân văn nghệ sĩ được thu thập một cách vô tư; được đưa ra bàn luận, đưa lên mạng, phương tiện thông tin đại chúng tràn lan. Có một số người thì cho đó là chuyện thú vị, phải có trong xã hội hiện đại. Thế nhưng không ít người, nhất là những người có chuyện riêng tư vốn là “niềm đau chôn giấu” nay bị phơi bày, bị bàn luận công khai lại bức xúc, cho đó là sự xâm phạm nghiêm trọng đến bí mật đời tư của cá nhân được pháp luật bảo vệ.

Quy định pháp luật: Chỗ mờ, chỗ tối

Cho đến nay, pháp luật Việt Nam chưa có quy định rõ ràng về bí mật đời tư là gì, phạm vi của bí mật đời tư là như thế nào, mà chỉ có một số quy định như trong Bộ luật Dân sự (Ðiều 38), Luật Giao dịch điện tử (khoản 2 Điều 46) quy định quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ; việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư cá nhân phải được người đó đồng ý, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; thư từ, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được bảo đảm an toàn, bí mật và việc kiểm soát các loại này được thực hiện khi pháp luật có quy định và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Riêng Bộ luật Hình sự (Điều 125) có quy định: Người nào có hành vi trái pháp luật xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì tùy trường hợp sẽ bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 5 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm, phạt tù đến hai năm.

Đọc tiếp

NÊN GIỚI HẠN THỜI GIAN KIỂM TRA VIỆC CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT VỀ CƯ TRÚ CỦA CÔNG DÂN

XUÂN VIỄN

Pháp luật về cư trú của công dân là quy định bắt buộc và cần thiết nhằm phục vụ có hiệu quả công tác quản lý hộ khẩu, nhân khẩu của cơ quan công an. Liên quan đến vấn đề này, Nhà nước đã ban hành rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, các văn bản pháp luật có liên quan đến việc quản lý hộ khẩu, nhân khẩu, cư trú của công dân đều chưa có quy định cụ thể về giới hạn thời gian kiểm tra việc chấp hành pháp luật về cư trú của cá nhân, cơ quan có thẩm quyền.

Theo quy định tại điều 46 của Bộ Luật dân sự và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì cá nhân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Tổ chức, cá nhân muốn vào chỗ ở của người khác thì phải có sự đồng ý của người đó. Chỉ trong trường hợp được pháp luật quy định và phải có quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mới được tiến hành khám xét chỗ ở của người khác và phải tuân theo trình tự, thủ tục quy định của pháp luật. Theo Thông tư số 06/2007/TT-BCA-C11 thì cán bộ, chiến sỹ công an nhân dân có thẩm quyền quản lý vấn đề liên quan đến cư trú tại địa bàn đảm nhận. Như vậy, căn cứ theo quy định hiện hành, cán bộ, chiến sỹ công an nhân dân cấp phường, thị trấn, trưởng công an xã có thẩm quyền kiểm tra trực tiếp việc chấp hành pháp luật về cư trú đối với công dân, hộ gia đình, tổ chức thuộc địa bàn quản lý theo thời gian định kỳ, đột xuất, hoặc do yêu cầu của công tác phòng chống tội phạm. Có nghĩa là pháp luật không giới hạn về thời gian kiểm tra, cơ quan chức năng có thể kiểm tra việc chấp hành pháp luật về cư trú của công dân bất cứ lúc nào. Trong thực tế, cũng có  những đợt kiểm tra việc chấp hành pháp luật về nhân khẩu, hộ khẩu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành vào đêm khuya, làm ảnh hưởng đến sinh hoạt người dân.

Nếu chỉ kiểm tra việc chấp hành pháp luật về cư trú liên quan đến vấn đề đăng ký thường trú, tạm trú thì cơ quan có thẩm quyền hoàn toàn có thể tiến hành trong một khoảng thời gian nhất định (có thể quy định trước 22 giờ). Trong trường hợp liên quan đến yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm hoặc những trường hợp đặc biệt khác pháp luật mới không giới hạn về thời gian. Hiện nay, việc kiểm tra chấp hành pháp luật về cư trú vào bất kỳ thời điểm nào như quy định hiện hành là chưa hợp lý. Nên quy định một số trường hợp "đặc biệt" mới giao thẩm quyền kiểm tra bất kỳ cho các cá nhân, tổ chức.

Đọc tiếp

HỘ KHẨU VÀ QUYỀN LAO ĐỘNG

NGUYỄN QUANG A

Năm 2006 khi thảo luận về Luật Cư trú, nhiều người trong đó có người viết những dòng này, đã đề nghị bãi bỏ chế độ hộ khẩu vì nó ảnh hưởng xấu đến thị trường lao động, gây ra sự phân biệt đối xử, vi phạm Hiến pháp, vi phạm các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã long trọng ký kết, nhưng các quy định hạn chế quyền cư trú phổ quát mà cụ thể là chế độ hộ khẩu vẫn được thông qua.

Theo đó, để được đăng ký thường trú ở thành phố công dân phải chứng minh mình có chỗ ở hợp pháp và đã tạm trú liên tục từ 1 năm trở lên.

Ngay cả quy định trên của Luật Cư trú cũng nên được xem xét lại theo hướng huỷ bỏ, thế mà Dự thảo Luật Thủ đô dự kiến sẽ được trình Quốc hội trong năm nay lại đi ngược lại hướng đó, thậm chí còn quy định khắt khe hơn: thay cho "1 năm trở lên" dự thảo lại quy định thời gian tạm trú là "5 năm trở lên". Dự thảo đã dấy lên nhiều ý kiến phản đối.

Đây là điều không thể chấp nhận được, không chỉ vì nó vi phạm các quyền cơ bản của con người, vi phạm Hiến pháp, vi phạm bản thân Luật Cư trú (hay những người soạn thảo hiểu "từ 1 năm trở lên" có thể là 5, 10 hay 50 năm trở lên cũng hợp luật?)  mà cũng bởi vì nó không phục vụ cho sự phát triển của chính Thủ đô, nó cản trở sự linh động của thị trường lao động, cản trở sự phát triển kinh tế-xã hội của Thủ đô và đất nước.

Tuy nhiên, nó tạo quyền cho những người quản lý. Đừng thấy khó quản lý thì tìm cách cấm. Đó là cách hành xử của những người không có năng lực, hay của những người bị lợi ích nhóm chi phối.

Người ta thường hay vin cớ "an ninh" để giữ chế độ hộ khẩu, chế độ khai báo. Việc đó cũng chẳng khác gì việc: vì một số người mắc bệnh hiểm nghèo mà bắt toàn dân phải uống thuốc đặc trị, vừa tốn phí nguồn lực quốc gia, vừa gây phiền hà cho người dân và thậm chí gây nguy hiểm cho họ. Có các cách quản lý khác hữu hiệu hơn nhiều.

Đọc tiếp

QUI ĐỊNH BỔ SUNG HỘ TỊCH CẦN ĐƯỢC ÁP DỤNG THÔNG NHẤT

NGUYỄN THANH

So với Nghị định 83 (Nghị định 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của chính phủ về việc đăng ký hộ tịch – Civillawinfor) trước đây, các quy định về điều chỉnh, bổ sung hộ tịch ngày càng thông thoáng hơn. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng, các cơ quan có thẩm quyền chưa thực hiện thống nhất, dẫn đến khó khăn cho người dân khi có yêu cầu đăng ký hộ tịch.

Sai, khi ra quyết định bổ sung hộ tịch

Nghị định 158 (Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngyaf 27/12/2005 của Chính phủ về việc đăng ký và quản lý hộ tịch – Civillawinfor) quy định rõ: UBND cấp xã, nơi đã đăng ký khai sinh trước đây, hay UBND cấp huyện mà trong địa hạt của huyện đó đương sự đã đăng ký khai sinh trước đây có thẩm quyền giải quyết bổ sung hộ tịch cho mọi trường hợp, không phân biệt độ tuổi. Theo quy định, người yêu cầu bổ sung hộ tịch phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định), xuất trình bản chính Giấy khai sinh của người cần bổ sung hộ tịch và các giấy tờ liên quan để làm căn cứ cho việc bổ sung hộ tịch. Việc bổ sung hộ tịch được giải quyết ngay sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ. Nội dung bổ sung được ghi trực tiếp vào những cột, mục tương ứng trong Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh. Cán bộ Tư pháp hộ tịch đóng dấu vào phần ghi bổ sung. Cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh và mặt sau của bản chính Giấy khai sinh phải ghi rõ nội dung bổ sung; căn cứ ghi bổ sung; họ, tên, chữ ký của người ghi bổ sung; ngày, tháng, năm bổ sung. Cán bộ Tư pháp hộ tịch đóng dấu vào phần đã ghi bổ sung. Trường hợp nội dung Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh trước đây không có cột mục cần ghi bổ sung, thì nội dung bổ sung được ghi vào mặt sau của bản chính Giấy khai sinh và cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh. Trong trường hợp, việc đăng ký hộ tịch trước đây do UBND cấp xã thực hiện, nhưng sổ hộ tịch chỉ còn lưu tại UBND cấp huyện, thì UBND cấp huyện thực hiện việc bổ sung.  Sau khi thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, nội dung bổ sung hộ tịch đã được ghi vào Sổ đăng ký khai sinh, thì bản sao Giấy khai sinh từ Sổ đăng ký khai sinh sẽ ghi theo nội dung đã thay đổi, cải chính hoặc bổ sung. Như vậy, trong quy trình bổ sung hộ tịch theo Nghị định 158, cơ quan giải quyết việc bổ sung hộ tịch không phải ra bất cứ quyết định bổ sung hộ tịch nào, mà chỉ căn cứ vào các giấy tờ liên quan để làm căn cứ cho việc bổ sung hộ tịch.

Đọc tiếp

KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI QUYỀN NHÂN THÂN

TS. BÙI ĐĂNG HIẾU – Trường Đại học Luật Hà Nội

Điều 24 Bộ luật dân sự (BLDS) 2005 quy định: “Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Quy định này đã nêu lên khái niệm về quyền nhân thân thông qua hai đặc điểm cơ bản là: gắn liền với cá nhân, không chuyển dịch. Nếu chỉ dừng lại ở những đặc điểm đó thì khái niệm quyền nhân thân sẽ vướng phải một số bất cập nhất định sau đây.

Thứ nhất, hai đặc điểm nêu trên thực sự chưa đủ để phân biệt quyền nhân thân với các quyền dân sự khác, bởi lẽ có một số quyền tài sản cũng mang đủ hai đặc điểm này. Pháp luật hôn nhân và gia đình quy định rằng quyền được cấp dưỡng và nghĩa vụ cấp dưỡng cũng được gắn liền với những cá nhân nhất định như: giữa cha mẹ và con, giữa anh chị em với nhau, giữa ông bà và cháu, giữa vợ và chồng. Quyền yêu cầu cấp dưỡng và nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng các quyền, nghĩa vụ khác và cũng “không thể chuyển giao cho người khác” (Điều 50 Luật Hôn nhân và gia đình 2000). Quyền này là quyền tài sản chứ không phải là quyền nhân thân. Điều 309 BLDS 2005 cũng quy định một số quyền tài sản không thể chuyển giao cho người khác như “quyền yêu cầu cấp dưỡng, yêu cầu bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm uy tín”. Các quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại này được phát sinh khi các quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm, chúng là quyền tài sản nhưng cũng gắn liền với cá nhân người bị thiệt hại và cũng không dịch chuyển được sang cho chủ thể khác.

Thứ hai, Điều 24 BLDS 2005 quy định rằng quyền nhân thân là quyền “gắn liền với mỗi cá nhân”, vậy thì các chủ thể khác (như pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác) có các quyền nhân thân của mình không? Điều 604 và Điều 611 BLDS 2005 có đề cấp đến “danh dự, uy tín của pháp nhân, chủ thể khác”, vậy đây có được coi là quyền nhân thân của pháp nhân và các chủ thể khác không? Điều 1 Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP ngày 28/04/2004, cũng như Điều 1 Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/07/2006 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, đều quy định giống nhau rằng “Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin … vì bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức phải chịu”. Các quy định đó đều hướng tới sự thừa nhận các quyền nhân thân đối với pháp nhân và các chủ thể khác.

Đọc tiếp

ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH CÒN PHIỀN HÀ

NGUYỄN HUỲNH HUYỆN

Hơn 2 năm thi hành Nghị định 158 của Chính phủ, những vướng mắc phát sinh trong quá trình đăng ký và quản lý hộ tịch đã cơ bản được khắc phục. Tuy nhiên, quá trình giải quyết các thủ tục đăng ký hộ tịch cho người dân ở cơ sở vẫn nảy sinh sai sót, vướng mắc.

Trước hết là việc cấp khai sinh theo yêu cầu công dân. Theo Điều 13 của Nghị định 158 thì trách nhiệm và thẩm quyền đăng ký khai sinh cho công dân thuộc UBND cấp xã, tuy nhiên một số địa phương vẫn chưa thực hiện đúng quy định này, cụ thể vẫn còn đặt ra một số thủ tục hành chính mà luật pháp không quy định như: phải xác minh trước khi đăng ký, yêu cầu xuất trình sổ hộ khẩu, hoặc chứng minh nhân dân… Có nơi, để được thực hiện đăng ký khai sinh còn phải hoàn thành các nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, nghĩa vụ lao động, hoặc các khoản phí và lệ phí khác của địa phương… Chính phủ, Bộ Tư pháp đã có văn bản chỉ đạo và nghiêm cấm, khi thực hiện đăng ký khai sinh, UBND cấp xã không được đặt ra một điều kiện ràng buộc nào để hạn chế quyền được khai sinh của trẻ em.

Nghị định 158 của Chính phủ còn quy định, giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi cá nhân. Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có nội dung ghi về họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với giấy khai sinh của người đó. Tuy nhiên, một số cơ quan chưa coi giấy tờ hộ tịch do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp cho cá nhân là căn cứ pháp lý xác nhận sự kiện hộ tịch của cá nhân đó. Cụ thể, theo quy định, những giấy tờ khác của công dân như hộ khẩu, chứng minh nhân dân, các chứng chỉ, bằng cấp, lý lịch… phải căn cứ vào giấy khai sinh gốc để cải sửa cho phù hợp, nhưng một số nơi, Ngành Giáo dục, Công an, Lao động, Thương binh – Xã hội… không căn cứ vào giấy khai sinh (bản chính) để cải sửa, lại hướng dẫn cho công dân làm các thủ tục khác để cải chính, gây tốn kém thời gian, không đúng quy định pháp luật.

Đọc tiếp

THÔNG TIN ĐƯỢC TIẾP CẬN VÀ NỘI HÀM CỦA QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN

CHU THỊ THÁI HÀ – Bộ Tư pháp 

1. Thông tin được tiếp cận

1.1 Thông tin được tiếp cận theo kinh nghiệm quốc tế

Luật về quyền tiếp cận thông tin của các nước quy định về phạm vi thông tin được tiếp cận không giống nhau. Có hai cách chính quy định trong luật về phạm vi thông tin được tiếp cận, đó là: liệt kê một loạt các loại thông tin cơ quan công quyền có trách nhiệm phải công bố trong thời hạn luật định và sau đó là những thông tin miễn trừ tiết lộ (cách 1) hoặc xác định và liệt kê những loại thông tin không công khai, hạn chế, miễn trừ tiếp cận (cách 2).

Áp dụng theo cách thứ nhất:

Theo Pháp lệnh về Công khai thông tin của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa thì phạm vi công bố thông tin là: lợi ích cốt yếu của công dân, pháp nhân hoặc tổ chức khác; các yêu cầu mở rộng kiến thức hoặc sự tham gia của công chúng; việc thành lập, nghĩa vụ hoặc các thủ tục hành chính của các cơ quan nhà nước; các thông tin khác phải được công bố theo quy định của các luật, văn bản pháp quy khác… (Điều 9 của Pháp lệnh). Ngoài ra, Pháp lệnh còn quy định danh mục các vấn đề mà chính quyền các cấp (từ cấp xã đến cấp tỉnh) có trách nhiệm cung cấp thông tin cho nhân dân, trong đó cũng phải chú trọng đến những thông tin cơ bản mà người dân quan tâm (Điều 10, Điều 11, Điều 12). Tuy nhiên, Pháp lệnh không liệt kê các thông tin không được phép tiết lộ mà chỉ quy định nguyên tắc chung tại Điều 8 là các cơ quan nhà nước không được gây tổn hại tới an ninh quốc gia, trật tự công cộng; an ninh kinh tế và sự ổn định xã hội khi công bố thông tin của chính quyền. Và cơ quan nhà nước phải thiết lập một cơ chế toàn diện để kiểm tra và bảo vệ bí mật thông tin của chính quyền trước khi công bố (Điều 14).

Đọc tiếp

NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT TIẾP CẬN THÔNG TIN MỘT SỐ NƯỚC

TS. NGUYỄN KIM THOA – Vụ pháp luật hình sự – hành chính, Bộ Tư pháp

Tự do thông tin là một quyền cơ bản đối với mỗi con người. Quyền này cho phép và tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đây là một sự bảo vệ quan trọng chống lại các hình thức lạm dụng, các việc làm sai trái và tham nhũng. Quyền này cũng có thể đem lại lợi ích cho các Chính phủ thông qua việc đem lại sự minh bạch và cởi mở trong các quá trình ra quyết định và qua đó cải thiện lòng tin của công chúng đối với các hoạt động của Chính phủ (1).

1. Lợi ích của việc ban hành luật tiếp cận thông tin

Đến năm 2009, đã có 86 nước trên thế giới ban hành Luật về Tiếp cận thông tin. Quốc gia đầu tiên ban hành luật liên quan đến quyền tiếp cận thông tin là Thụy Điển (năm 1766), sau đó một số nước khác cũng có đạo luật riêng như Mỹ ban hành Luật Tự do thông tin (năm 1966), Canada (1983), Hungary (1992), Anh (năm 2000), Nam Phi (năm 2000)… Ở châu á, một số nước đã ban hành luật này như Thái Lan (12/1997), Hàn Quốc (1/1998), Nhật Bản (4/2001), Ấn Độ (năm 2005), Inđônêxia, Trung Quốc, Thái Lan, Philippines… Một số quốc gia khác cũng đang trong quá trình chuẩn bị ban hành luật này hoặc ban hành nghị định riêng để điều chỉnh về vấn đề này.

Theo Báo cáo về tiếp cận thông tin trên thế giới thì việc ban hành luật về tiếp cận thông tin mang lại một số lợi ích cơ bản sau đây:

1.1. Thu hút sự tham gia của công chúng và thực hiện dân chủ

Tự do thông tin là yếu tố quan trọng trong việc thu hút sự tham gia của công chúng vào các công việc xã hội. Đồng thời, công chúng chỉ thực sự có khả năng tham gia vào các quá trình dân chủ khi họ có đầy đủ các thông tin về các chính sách và hoạt động của Chính phủ. Dân chủ là dựa trên sự đồng thuận của các công dân và sau đó Chính phủ thông báo cho các công dân về các hoạt động của mình và thừa nhận quyền của các công dân được tham gia vào các công việc của Chính phủ.

Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 669 other followers

%d bloggers like this: