TÍNH ĐỐI KHÁNG CỦA CÁC PHƯƠNG TIỆN PHÒNG VỆ CỦA BÊN CÓ NGHĨA VỤ TRẢ NỢ TRONG GIAO DỊCH THẾ CHẤP QUYỀN ĐÒI NỢ

TS. VŨ THỊ HỒNG YẾN – Khoa Pháp luật dân sự, Đại học Luật Hà Nội

THS. BÙI ĐỨC GIANG – Công ty Luật Audier and Partners Vietnam LLC

Theo quy định hiện hành, sau khi quyền đòi nợ được thế chấp, bên có nghĩa vụ trả nợ phải thanh toán cho bên nhận thế chấp khi bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ được bảo đảm (điểm a, khoản 2, điều 22, Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm được bổ sung, sửa đổi năm 2012 – Nghị định 163). Khi được yêu cầu thanh toán, bên có nghĩa vụ trả nợ có thể sẽ viện ra một số căn cứ (hợp đồng giao dịch liên quan đến quyền đòi nợ được thế chấp bị thay đổi, chấm dứt hay hủy bỏ, bù trừ nghĩa vụ, v.v…), hay còn gọi là những phương tiên phòng vệ (defences) để từ chối thanh toán hay chỉ thanh toán một phần khoản nợ.

Tuy vậy, pháp luật về giao dịch bảo đảm còn chưa đề cập đến các trường hợp này. Vấn đề đặt ra là liệu các phương tiện phòng vệ này của bên có nghĩa vụ trả nợ có giá trị pháp lý hay nói cách khác có tính đối kháng với bên nhận thế chấp hay không? Trong thực tế, ngay cả các ngân hàng thương mại với tư cách là bên nhận thế chấp cũng còn khá lúng túng trước vấn đề này[2]. Bài viết sẽ thử đi tìm lời giải trong các quy định pháp luật hiện hành và đề xuất một số gợi ý cũng như giải pháp thực tiễn.

1. Phân loại các phương tiện phòng vệ mà bên có nghĩa vụ trả nợ có thể áp dụng

Như đã nêu ở phần trên, các quy định về thế chấp quyền đòi nợ của Bộ luật dân sự và Nghị định 163 vẫn còn bỏ ngỏ vấn đề tính đối kháng đối với bên nhận thế chấp của các phương tiên phòng vệ mà bên có nghĩa vụ trả nợ có thể đưa ra để từ chối thanh toán hay chỉ thanh toán một phần khoản nợ cho bên nhận thế chấp. Trên cơ sở mối quan hệ với hợp đồng làm phát sinh quyền đòi nợ, có thể chia các phương tiện phòng vệ mà bên có nghĩa vụ trả nợ có thể viện ra để từ chối thanh toán hoặc giảm nghĩa vụ thanh toán của mình làm hai loại : các căn cứ gắn liền với quyền đòi nợ và các căn cứ tách biệt với quyền đòi nợ.

1.1. Các căn cứ gắn liền với quyền đòi nợ

Các căn cứ gắn liền với quyền đòi nợ là các căn cứ bắt nguồn trực tiếp từ hợp đồng làm phát sinh quyền đòi nợ. Chúng được dẫn xuất từ quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng.

Liên quan đến việc giao kết hợp đồng, đó là các căn cứ làm hợp đồng vô hiệu mà bên có nghĩa vụ trả nợ có thể viện ra được quy định tại điều 122 và điều 127 Bộ luật dân sự. Nếu bên có nghĩa vụ trả nợ khởi kiện đến Tòa án tuyên bố hợp đồng đã giao kết vô hiệu do đã vi phạm các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thì sẽ có nguy cơ ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ. Theo quy định của điều 137 Bộ luật dân sự, một trong những hậu quả pháp lý của hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu là không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm giao kết; do vậy, quyền đòi nợ được phát sinh từ hợp đồng đó được coi như chưa phát sinh. Điều này kéo theo hậu quả là đối tượng của hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ không còn và bên nhận thế chấp rơi vào tình trạng rủi ro coi như cho vay mà không có tài sản bảo đảm[3].

Đọc tiếp

NHỮNG BẤT CẬP VỀ GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

LS. NGUYỄN VĂN HẬU – Trưởng văn phòng Luật sư Nguyễn Văn Hậu và Cộng sự

Hiện nay những quy định về cấp GCNQSDĐ cho người dân trong các văn bản pháp luật có liên quan đã phần nào phát huy được hiệu quả, tạo sự thống nhất trong quản lý nhà, đất. Tuy nhiên cạnh đó, các văn bản này cũng dần lộ rõ sự bất hợp lý, cần được xem xét lại.

Với việc sửa đổi, bổ sung Luật dất đai 2003 và sự ra đời của Nghị định số 88/2009/NĐ – CP ngày 19/10/2009 về cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất,  hai loại GCN về quyền sử dụng đất (sổ đỏ) cấp theo Nghị định 181//2004/NĐ-CP và quyền sở hữu nhà (sổ hồng) cấp theo Nghị định 90/2006/NĐ –CP trước đây đã được gộp vào thành một sổ mới (sổ đỏ mới).

Hiện tại có 5 loại mẫu GCN cho nhà và đất song song tồn tại, gồm: sổ đỏ được cấp theo Luật Đất đai năm 1993; sổ đỏ cấp theo Luật đất đai năm 2003; GCN quyền sở hữu nhà ở (sổ hồng) cấp theo Nghị định 61/CP năm 1994 về mua bán kinh doanh nhà ở; GCN quyền sở hữu nhà (sổ hồng mới) cấp theo Luật Nhà ở và Nghị định 90/2006/NĐ – CP năm 2006 và cuối cùng là sổ đỏ được cấp theo Nghị Định số 88/2009/NĐ – CP.

Nghị định 88/2009/NĐ – CP được ban hành nhằm giải quyết một số vấn đề bất cập trong các quy định trước đây về cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu tài sản. Cụ thể: (i) Hạn chế việc đi lại của người dân, để đăng ký được GCN này thì người dân chỉ phải làm thủ tục tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh, cấp huyện (nếu ở cấp huyện không thành lập văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thì làm thủ tục tại phòng Tài nguyên và môi trường tại huyện đó); (ii) Bốn loại mẫu GCN hiện hành không phù hợp yêu cầu chứng nhận QSDĐ và QSHTS (Tên gọi từng loại mẫu không bao quát hết; Nội dung các loại mẫu không bao hàm tất cả các loại đất, các loại tài sản;\.

Một số hạn chế của từng loại mẫu: Phần dành cho chỉnh lý biến động ít; Không thống nhất nội dung giữa các loại GCN; Hình thức thì giấy quá dầy…) ; (iii) Thống nhất về thẩm quyền cấp GCN ở văn phòng đăng ký QSDĐ ở 2 cấp: cấp huyện cấp giấy cho hộ gia đình, cá nhân và cấp tỉnh, thành phố cấp cho tổ chức…

Bên cạnh những ưu điểm đạt được thì với quy định mới về cấp GCNQSDĐ hiện nay đang gặp phải một số khó khăn nhất định. Những bất cập, khó khăn này sẽ được chúng tôi phân tích trên 2 phương diện về lý luận và trên thực tế.

Về  lý luận

Thứ nhất, Người dân có nhu cầu thực tế nhưng Luật lại không cho nhận chuyển QSDĐ nông nghiệp. Theo Điều 1 Nghị quyết 1126/NQ – QH ngày 21/6/2007 có quy định người dân sẽ bị hạn chế trong việc nhận chuyển QSDĐ nông nghiệp. Điểm bất hợp lý này được thể hiện thông qua việc, nếu Nông dân cần ứng dụng Khoa học – Công nghệ vào toàn bộ quá trình sản xuất nông nghiệp như trồng, chăm sóc và thu hoạch lúa…trên quy mô lớn nhằm nâng cao tối đa năng suất, giảm chi phí sản xuất. Để đạt mục đích trên thì yêu cầu cơ bản là diện tích đất sản xuất phải lớn.

Đọc tiếp

BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU DƯỚI GÓC ĐỘ LUẬT SO SÁNH

TS. NGUYỄN HỮU HUYÊN – Bộ Tư pháp

Quyền sở hữu là vấn đề xương sống của luật dân sự, là tiền đề của các quan hệ pháp luật dân sự về tài sản. Chính vì vậy, Bộ luật dân sự của các quốc gia trên thế giới đều coi đây là chế định cơ bản cần tập trung quy định, làm cơ sở cho việc quy định các chế định khác như hợp đồng dân sự, nghĩa vụ dân sự, thừa kế… Bộ luật dân sự của Việt Nam năm 2005 (sau đây gọi tắt là BLDS) đã dành Phần thứ hai với tổng số 117 điều (từ Điều 163 đến Điều 279) để quy định về ‘‘Tài sản và quyền sở hữu’’.

I. Khái niệm quyền sở hữu và bảo vệ quyền sở hữu

Quyền sở hữu là vấn đề xương sống của luật dân sự, là tiền đề của các quan hệ pháp luật dân sự về tài sản. Chính vì vậy, Bộ luật dân sự của các quốc gia trên thế giới đều coi đây là chế định cơ bản cần tập trung quy định, làm cơ sở cho việc quy định các chế định khác như hợp đồng dân sự, nghĩa vụ dân sự, thừa kế… Bộ luật dân sự của Việt Nam năm 2005 (sau đây gọi tắt là BLDS) đã dành Phần thứ hai với tổng số 117 điều (từ Điều 163 đến Điều 279) để quy định về ‘‘Tài sản và quyền sở hữu’’.

Đã có không ít công trình nghiên cứu ở Việt Nam về vấn đề bảo vệ quyền sở hữu. Trong chuyên đề này, chúng tôi tiếp cận vấn đề này theo phương pháp đánh giá tính khả thi của các quy định, chế định về bảo vệ quyền sở hữu trong thời gian qua, đồng thời đặt nó trong mối tương quan so sánh với pháp luật của các nước tiêu biểu cho các hệ thống luật khác nhau trên thế giới, để từ đó rút ra một số đề xuất, kiến nghị nhằm phục vụ cho việc sửa đổi, bổ sung BLDS 2005.

Dưới đây chúng ta cùng xem xét một số khái niệm cơ bản:

1. Quyền sở hữu:

Điều 164 BLDS quy định:

“Quyền sở hữu

Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.

Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản”.

Đọc tiếp

HỘI THẢO KHOA HỌC “CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM” Hà Nội, ngày 11 tháng 12 năm 2007

clip_image002

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

KHOA LUẬT DÂN SỰ

Bộ môn Luật Dân sự

HỘI THẢO KHOA HỌC

CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

Hà Nội, ngày 11 tháng 12 năm 2007
DANH MỤC CÁC BÁO CÁO KHOA HỌC

1. TS. Trần Thị Huệ. Quyền sở hữu và quyền năng của chủ sở hữu.

2. ThS. Vương Thanh Thúy. Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại.

3. TS. Nguyễn Minh Tuấn. Qui định về kiện đòi lại tài sản trong pháp luật dân sự Việt Nam và một số nước trên thế giới.

4. TS . Phùng Trung Tập. Kiện đòi lại tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình.

5. ThS. Nguyễn Như Quỳnh. Kiện đòi lại tài sản làđộng sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình.

6. TS. Nguyễn Văn Cường. Một số vấn đề thực tiễn trong việc kiện đòi nhà, đất do người khác chiếm hữu không có căn cứ pháp luật tại Tòa án nhân dân.

7. ThS. Vũ Thị Hồng Yến. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi chủ sở hữu kiện đòi lại tài sản.

8. ThS. Nguyễn Thị Tuyết. Bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự – những ưu điểm và hạn chế so với các phương thức khác.

9. ThS. Vũ Thị Hải Yến. Tự bảo vệ quyền sở hữu – Nhưng ưu điểm và hạn chế so với các biện pháp khác

10. ThS. Trần Kim Chi. Thực trạng về biện pháp dân sự bảo vệ quyền sở hữu.

11. ThS. Bùi Thị Huyền. Một số vấn đề về thủ tục tố tụng dân sự trong bảo vệ quyền sở hữu tài sản tại Tòa án nhân dân.

QUI ĐỊNH KIỆN ĐÒI TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ CỦA MỘT SỐ NƯỚCTRÊN THẾ GIỚI

TS. NGUYỄN MINH TUẤN – KHOA LUẬT DÂN SỰ ĐHL HÀ NỘI

Sau khi cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nhân dân ta giành được chính quyền từ tay đế quốc, phong kiến, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà cần phải xây dựng chính quyền nhân dân và chuẩn bị đối phó với ngoại xâm, vì thế những năm 1945 đến 1959 Nhà nước ta chưa tập trung vào xây dựng hệ thống pháp luật mới. Cho nên, trong lĩnh vực dân sự áp dụng các qui định trong các Bộ luật dân sự của chế độ cũ để giải quyết các tranh chấp trong xã hội mới nhưng phải tuân theo nguyên tắc của Sắc lệnh số 97/SL về sửa đổi một số qui lệ và chế định trong dân luật. Điều 1 qui định: ” Những quyền dân sự đều được luật bảo vệ khi người hành xử nó đúng với quyền lợi của nhân dân “.

Thời kỳ quá độ lên CNXH, nền kinh tế của Việt Nam lạc hậu và gồm nhiều thành phần kinh tế, muốn xóa bỏ các hình thức sở hữu phi XHCN thì cần phải có thời gian để cải tạo quan hệ sản xuất phong kiến, xây dựng quan hệ sản xuất XHCN, vì vậy Nhà nước ta thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế ba năm và chuẩn bị điều kiện cho việc thực hiện kế hoạch năm năm lần thứ nhất, nhằm đẩy mạnh công cuộc cải tạo XHCN đối với các thành phần kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công, những người lao động riêng lẻ khác. Đối với thành phần kinh tế tư bản tư doanh, dần dần đưa họ vào làm ăn tập thể, phát triển kinh tế theo con đường của CNXH. Để tạo cơ sở pháp lý cho các chủ thể trong các thành phần kinh tế khác nhau an tâm lao động sản xuất, Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu của người lao động riêng lẻ và quyền sở hữu của các nhà tư bản đối với các tư liệu sản xuất họ đang được phép sản xuất kinh doanh. Điều 11 Hiến pháp 1959 quy định :

ở nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong thời kỳ qua độ, các hình thức sở hữu chủ yếu về tư liệu sản xuất hiện nay là: hình thức sở hữu của Nhà nước, của nhân dân lao động, hình thức sở hữu của người lao động riêng lẻ và hình thức sở hữu của nhà tư sản dân tộc”.

Như vậy pháp luật của nhà nước ta ghi nhận và bảo vệ quyển sở hữu tài sản của các chủ thể. Nếu quyền sở hữu bị xâm phạm, thì cho phép chủ sở hữu khởi kiện yêu cầu toà án bảo vệ quyền lợi cho mình. Toà án sẽ căn cứ vào đường lối chính sách của Đảng để giải quyết tranh chấp về sở hữu.

Từ những năm 1960 đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, nhiệm vụ chính của nhân dân miền Bắc là tập trung sức người, sức của để chi viện cho đồng bào miền Nam, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, vì vậy trong thời gian này, các giao lưu dân sự để phục vụ nhu cầu sinh hoạt của nhân dân như mua bán lương thực, thực phẩm và nhu yếu phẩm cần thiết khác, Nhà nước phân phối theo chỉ tiêu. Thời kỳ này các quan hệ dân sự chủ yếu mang tính hành chính, cho nên tranh chấp dân sự hầu như không xảy ra. Tuy nhiên, trong giao lưu dân sự có các giao dịch như mua bán nhà ở, đất đai, cho vay thóc gạo…Nếu có tranh chấp về những hợp đồng này thì việc giải quyết bằng biện pháp hoà giải ở hợp tác xã. Đối với những tranh chấp dân sự không hoà giải được thì giải quyết tại Toà án. Để thống nhất đường lối giải quyết các tranh chấp về dân sự, TANDTC tổng kết kinh nghiệm xét xử và ban hành văn bản hướng dẫn TAND các cấp về đường lối xét xử.

Năm 1986, Đại hội VI của Đảng đề ra đường lối phát triển kinh tế của nước ta theo hướng xoá bỏ cơ chế bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường định hướng XHCN. Nền kinh tế của nước ta phát triển dựa trên các quan hệ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân. Nhà nước coi hình thức sở hữu tư nhân là cần thiết trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH. Sau năm năm thực hiện nghị quyết Đại hội VI (1986), công cuộc đổi mới do Đảng đề xướng đã đạt được những thành tựu quan trọng. Để tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới đó, Đại hội VII (1991) của Đảng đề ra định hướng phát triển kinh tế-xã hội của đất nước trong giai đoạn mới và tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước theo hướng Nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân, Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Để thực hiện mục tiêu trên, Đại hội đã đề ra hướng sửa đổi Hiến pháp 1980 và tăng cường sửa đổi và xây dựng hệ thống pháp luật về kinh tế, văn hoá, hình sự, dân sự, hành chính…

Trong lĩnh vực dân sự, nhà nước ban hành hệ thống các pháp lệnh: Pháp lệnh về Quyền sở hữu công nghiệp 1989, Pháp lệnh về Thừa kế 1990, Pháp lệnh về Nhà ở 1991, Phấp lệnh về Hợp đồng dân sự 1991, Pháp lệnh về Quyền tác giả 1994. Mục đích của việc xây dựng hệ thống pháp lệnh về dân sự nhằm chuẩn bị cho việc xây dựng Bộ luật dân sự 1995. Vì thế khi xây dựng BLDS, các pháp lệnh trên đã đã được xây dựng thành các phần cơ bản của Bộ luật dân sự 1995.

Như vậy trước Bộ luật dân sự 1995, hệ thống pháp luật dân sự không có văn bản pháp qui qui định về quyền sở hữu tài sản. Quyền sở hữu của công dân, các tổ chức được qui định trong Hiến pháp và rải rác trong các văn bản pháp luật khác. Vì các qui định về quyền sở hữu chưa được xây dựng thành một chế định pháp luật trong hệ thống pháp luật dân sự, cho nên việc giải quyết các tranh chấp về tài sản được áp dụng các nguyên tắc chung của pháp luật luật dân sự đó là Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu của công dân theo Điều 27 Hiến pháp 1980 và Điều 58 Hiến pháp 1992.

Lần đầu tiên chế định sở hữu được qui định trong Bộ luật dân sự 1995 tại Phần thứ hai: Tài sản và quyền sở hữu và Chương VI q ui định về bảo vệ quyền sở hữu. Điều 284 BLDS qui định:

“ Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó, trừ trường hợp qui định tại khoản 1, Điều 255 của Bộ luật này”.

Theo tinh thần của điều 284, thì chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền đòi lại tài sản trong trường hợp sau đây:

-Thứ nhất, chủ sở hữu không chuyển tài sản của mình cho bất cứ người thứ hai nào, mà người đó đang chiếm giữ tài sản của chủ sở hữu mà không trả lại tài sản cho chủ sở hữu. Trường hợp này người đang chiếm hữu tài sản có thể thực hiện hành vi bất hợp pháp như trộm cắp, cướp giật…Hoặc hành vi chiếm hữu ban đầu là có căn cứ như thông qua hợp đồng, hoặc nhặt được tài sản đánh rơi, bỏ quên…nhưng không chịu trả lại tài sản cho chủ sở hữu, do đó hành vi thực tế chiếm hữu tài sản là không có căn cứ (bất hợp pháp).

- Thứ hai, chủ sở hữu chuyển tài sản cho người khác thông qua giao dịch như cho mượn, gửi giữ…người chiếm hữu hợp pháp không chuyển cho người thứ ba nhưng người thứ ba thực tế đang chiếm hữu vật. Trường hợp này người chiếm hữu hợp pháp có quyền kiện đòi lại tài sản từ người chiếm hữu không căn cứ để bảo vệ quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản của mình.

-Thứ ba, chủ sở hưũ chuyền tài sản cho người chiếm hữu hợp pháp, người chiếm hữu hợp pháp chuyển tài sản cho người thứ ba không được sự đồng ý của chủ sở hữu. Trường hợp này, người thứ ba có thể ngay tình hoặc không ngay tình đều phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu.

Như vậy, căn cứ pháp lý để chủ sở hữu đòi lại tài sản trong các trường hợp hợp trên là chủ sở hữu không chuyển quyền sở hữu tài sản của mình cho người khác, thì trong mọi trường hợp người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật đều phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu. Căn cứ thực tế để chủ sở hữu đòi lại tài sản là người đang chiếm hữu tài sản làm cho chủ sở hữu không khai thác, sử dụng được tài sản của mình. Vì vậy, cần cho phép chủ sở hữu tự bảo vệ tài sản của mình hoặc yêu cầu toà án giải quyết.

Bộ luật dân sự 1995, được xây dựng vào thời kỳ đất nước ta đang bắt đầu đổi mới, chúng ta đang chuẩn bị xây dựng hệ thống pháp luật của nhà nước pháp quyền XHCN, vì vậy trình độ hiểu biết pháp luật của nhân dân chưa cao, cho nên pháp luật cần phải bảo vệ quyền của chủ sở hữu tài sản để tránh những trường hợp lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như như người mượn, thuê tài sản bán cho người thứ ba…sẽ gây thiệt hại cho chủ sở hữu. Vì thế trong tất cả các trường hợp chủ sở hữu đều có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu không có căn cứ ngay tình hoặc không ngay tình.

Sau gần 20 năm đổi mới, nhà nước ta đã xây đựng thành công cơ chế thị trường định hướng XHCN, hệ thống pháp luật được xây dưng tương đối đầy đủ theo yêu cầu của việc hội nhập với nền kinh tế thế giới. Vì thế, hệ thống pháp luật cần phải phù hợp với pháp luật của các nước, cho nên, Nhà nước đã tiến hành sửa đổi bổ sung nhiều luật và bộ luật, trong đó có Bộ luật dân sự 2005.

Về vấn đề bảo vệ quyền sở hữu, theo tinh thần của Bộ luật dân sự 2005, Nhà nước ta không những bảo vệ chủ sở hữu mà còn bảo vệ người thứ ba ngay tình.

Điều 256 Quyền đòi lại tài sản

Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 247 của Bộ luật này. Trong trường hợp tài sản đang thuộc sự chiếm hữu của người chiếm hữu ngay tình thì áp dụng Điều 257 và Điều 258 của Bộ luật này.

Điều-257- Quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình

Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trong trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu.

Điều- 258. Quyền đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình

Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản, trừ trường hợp người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa.

Từ Điều 284 BLDS 1995, Bộ luật dân sự 2005 đã bổ sung hai điều mới là Điều 257 và 258. Đây là những hạn chế quyền đòi tài sản có điều kiện của chủ sở hữu đối với người ngay tình.

Nội dung Điều 257 qui định về đòi lại tài sản không đăng ký quyền sở hữu. Điều luật này có hai vấn đề chính: Thứ nhất, nếu vật rời khỏi chủ sở hữu theo ý chí, người thư ba ngay tình thông qua hợp đồng không đền bù thì phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu. Khi chủ sở hữu chuyển giao cho người chiếm hữu hợp pháp, người chiếm hữu đó cho tặng người thứ ba, thì người thứ ba phải trả lại tài sản. Theo nguyên tắc, chủ sở hữu đẫ chuyển giao cho người chiếm hữu bằng một giao dịch, cho nên nguời muợn, thuê phải chịu trách nhiệm theo hợp đồng với chủ sở hữu khi chuyển dịch tài sản cho người thứ ba. Tuy nhiên trường hợp này, người thứ ba có tài sản thông qua giao dịch không đền bù, vì thế nếu phải trả lại cho chủ sở hữu thì cũng không bị thiệt hại về tài sản, cho nên pháp luật cho phép chủ sở hữu kiện đòi lại tài sản.

Ngược lại, nếu người thứ ba có tài sản thông qua giao địch có đền bù thì không phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu và chủ sở hữu có quyền kiện đòi người chiếm hữu bồi thường thiệt hại. Qui định này dựa trên các căn cứ pháp lý và thực tiễn sau :

Về mặt pháp lý, khi chủ sở hữu chuyển dịch tài sản cho người thứ hai, thì giữa chủ sở hữu và người thứ hai có một giao dich, cho nên chủ sở hữu cần phải đề phòng những trường hợp người được chuyển giao tài sản không trả lại tài sản, do đó phải áp dụng các biện pháp bảo đảm mà pháp luật cho phép nhằm khống chế hành vi vi phạm của người được chuyển giao tài sản.

Xét về mặt thực tiễn, người thứ ba có nhu cầu sử dụng tài sản, cho nên họ đã mua hoăc đổi tài sản để có tài sản phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc nhu cầu kinh doanh. Khi tham gia giao dịch họ không biết tài sản sản đó là của người thứ ba, cho nên hành vi của họ là ngay tình. Vì thế pháp luật cần phải bảo vệ lợi ích của người ngay tình, cho phép người thứ ba xác lập quyền sở hữu với tài sản đó. Mặt khác pháp luật cũng bảo vệ quyền của chủ sở hữu, cho phép chủ sở hữu yêu cầu người chiếm hữu hợp pháp bồi thường giá trị tài sản.

Thứ hai là vật rời khỏi chủ sở hữu ngoài ý chí (không chuyển cho vật người khác) thì người chiếm hữu vật phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu. Nội dung này giống với Điều 284 BLDS 1995.

Nội dung Điều 258 BLDS gôm hai vấn đè cơ bản là: thứ nhất, chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình. Những tài sản phải đăng ký quyền sở hữu khi chuyển giao cho người khác cần phải sang tên tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, vì thế nếu người chủ sở hữu không chuyển quyền sở hữu, thì người ngay tình không thể có quyền sở hữu đối với tài sản.

Thứ hai, nếu tài sản phải đăng ký quyền sở hữu được chuyển giao cho người khác thông qua việc bán đấu giá hoặc giao dịch với người thưa ba mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu và sau đó bản án hoặc quyết định đó bị huỷ, thì người mua có quyền sở hữu đối với tài sản. Chủ sở hữu kiện người gây thiệt hại cho mình phải bồi thường giá trị tài sản. Trường hợp này, người mua hoàn toàn không có lỗi trong việc mua bán. Đây là lỗi của Toà án hoặc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc công nhận quyền sở hữu cho chủ sở hữu vì thế, Toà án hoặc cơ quan nhà nước phải chịu trách nhiệm dân sự theo Điều 619 hoặc Điều 620 BLDS.

Điều 257 và 258 BLDS 2005 đã bảo vệ quyền của chủ sở hữu và lợi ích người chiếm hữu ngay tình. Mặc khác, qui trách nhiệm dân sự cho cơ quan nhà nước và Toà án nếu cán bộ công chức hoặc Thẩm phán do trình độ chuyên môn yếu hoặc do hành vi cố ý công nhận quyền sở hữu cho cá nhân, tổ chức trái pháp luật.

Trong cuộc sống, cơ sở để con người tồn tại và xã hội phát triển là tài sản, vì thế pháp luật cần phải bảo hộ quyền sở hữu tài sản cho cá nhân và tổ chức.Tuy nhiên mỗi chế độ xã hội khác nhau thì phuơng thức và nội dung bảo hộ khác nhau.

Bộ luật dân sự của Liên bang Nga 1994, Chương 20 qui định bảo vệ quyền sở hữu và các quyền tài sản khác.

Điều 301 qui định về yêu cầu đòi tài sản từ người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật ngay tình. Theo nội dung điều luật này, chủ sở hữu có quyền đòi tài sản từ người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật. Đây là qui định mang tính nguyên tắc bảo hộ quyền của chủ sở hữu khi người khác chiếm giữ tài sản của mình một cách bất hợp pháp không ngay tình.

Điều 302 qui định về yêu cầu đòi tài sản từ người chiếm hữu không căn cứ nhưng ngay tình.

Khoản 1 qui định là chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản trong trường hợp tài sản bị chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu chuyển cho đã đánh rơi hoặc bị mất trộm hoặc người khác chiếm hữu bằng các phương thức khác trái với ý chí của chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp.

Qui này tương tư như điều 257 BLDS Viêt Nam 2005 trong các trường hợp vật rời khỏi chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp ngoài ý chí thì chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu đòi lại tài sản.

Khoản 2 Điều 302 qui định người chiếm hữu ngay tình thông qua giao dịch không đền bù có tài sản thì phải trả lại cho chủ sở hữu tài sản. Như vậy có thể hiểu ngược lại là người ngay tình thông qua hợp đồng có đền bù thì không phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu.

Khoản 3 qui định, đối với tiền và giấy tờ có giá người cầm giữ không được yêu cầu nguời chiêm hữu ngay tình trả lại.

Qua nội dung của hai điều luật trên cho thấy những điểm tương đồng và khác biêt giữa hai bộ luật dân sư của Việt Nam và Liên bang Nga như sau.

Về nguyên tắc luật bảo vệ quyền của người chủ sở hữu khi vật bị người khác chiếm hữu không có căn cứ pháp luật không ngay tình và bảo vệ lợi ích của người ngay tình có tài sản thông qua giao dịch có đền bù thì được quyền sở hữu đối với tài sản.

Điểm khác nhau giữa hai bộ luật này là: Bộ luật dân sự Liên Bang Nga không phân biệt việc đòi lại tài sản phải đăng ký quyền sở hữu và tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu. Vì vậy theo tinh thần của Điều 302 BLDS Liên bang Nga, thì người ngay tình thông qua giao dịch có đền bù, không phải trả lại tài sản trong tất cả các trường hợp. Qui định như vậy là phù hợp với thực tế, vì người ngay tình không có lỗi trong việc chiếm hữu tài sản, cho nên cần phải bảo vệ lợi ích hợp pháp của họ. Nếu tài sản phải đăng ký quyền sở hữu mà việc chuyển giao có giấy tờ do cơ quan nhà nước cấp đúng thẩm quyền thì người ngay tình cũng cần được bảo hộ.

Ngoài ra, khoản 3 Điều 302 BLDS Liên bang Nga qui định về chiếm hữu ngay tình đối với tiền hoặc giấy tờ có giá thì người ngay tình không phải lại cho người có các giấy tờ đó và không phân biệt về nguyên nhân, nguồn gốc chiếm hữu ngay tình. Đây là một qui định riêng đối với tài sản là tiền và giấy tờ có giá, trên thực tế người chiếm hữu ngay tình không thể biết được nguồn gốc hợp pháp của tiền và giấy tờ có giá, cho nên để đảm bảo cho các giao lưu dân sự phát triển ổn định, pháp luật công nhận quyền sở hữu của người ngay tình.

Trong Bộ luật dân sự của Cộng hoà Pháp quyền sở hữu được qui đinh tại Quyển thứ hai, gồm bốn Thiên. Tuy nhiên, trong Quyền hai không qui định về bảo vệ quyền sở hữu. Phương thức bảo vệ quyền sở hữu được qui định tại Thiên thứ hai mươi- Thời hiệu và chiếm hữu.

Điều 2229 qui định để hưởng thời hiệu chiếm hữu phải liên tục không bị gián đoạn, phải yên ổn, công khai, minh bạch và được thực hiện bởi danh nghĩa là chủ sở hữu.

Điều 2229 không qui định về chiếm hữu ngay tình, tuy nhiên người chiếm hữu phải chiếm hữu bởi danh nghĩa chủ sở hữu, trên thực tế được coi như chủ sở hữu. Qui định này giống như việc chiếm hữu ngay tình trong luật dân sự Việt Nam.

Điều 2265 qui định người ngay tình xác lập quyền sở hữu đối với bất động sản đã mua là 10 năm nếu người chủ sở cư trú trong địa phân quản hạt có bất động sản, 25 năm nếu chủ sở hữu cư trú ngoài quản hạt. Như vậy, nếu một người mua bán bất động sản ngay tình thì được xác lập quyền sở hữu đối với vật mua, cho nên chủ sở hữu không đòi lại vật được. Ngược lại, người mua chưa đủ thời hạn xác lập quyền sở hữu phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu. Điều luật cũng không qui định việc mua bán theo phương thức nào (đấu giá..), bỏi vì đây là trường hợp xác lập quyền sở hữu đặc biệt. Thông thường thời hiệu khởi kiện đối với tài sản hoặc quyền nhân thân đều 30 năm, tuy nhiên trường hợp mua bán ngay tình bất động sản là 10 năm, thì xác lập quyền sở hữu. Qui định này hợp lý hơn so với Điều 258 BLDS Việt Nam.

Điều 2279 qui định người đánh mất hoặc đã bị lấy trộm vật thì có thể đòi lại từ người đang giữ trong thời hạn 3 năm kể từ ngày mất vật, người giữ vật có thể kiện đòi người đã chuyển nhượng vật cho mình. Trường hợp này người đang thực tế giữ vật là ngay tình, cho nên theo thời hiều xác lập quyền sở hữu trong trường hợp đặc biệt này là 3 năm. Do vậy trong thời hạn 3 năm kể từ ngày mất vật chủ sở hữu có quyền đòi lại vật từ người chiếm hữu ngay tình và người ngay tình có quyền đòi tiền mua từ người bán cho mình.

Điều 2280 qui định, người đang giữ vật của người khác bị mất mà đã mua vật đó ở chợ, hội chợ, bán đấu giá, thì chủ sở hữu chỉ có quyền lấy lại vật bằng cách trả cho người giữ vật số tiền đã mua. Ngoài ra, điều luật này còn qui định, người cho thuê muốn đòi lại động sản cho thuê đã bị chuyển dich, muốn đòi lại vật thì phải trả cho người có vật số tiền mua vật đó.

Theo qui định của Điều 2280 nếu người ngay tình mua thông qua bán đấu giá, tại hội chợ chưa được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu thì chủ sở hữu chỉ có thể lấy lại tài sản bằng phương thức mua lại tài sản đó. Qui định này phù hợp với thực tế, bởi lẽ người mua qua đấu giá, hoặc trong hội chợ thì không buộc phải biết nguồn gốc tài sản có hợp pháp hay không, vì đó là cuộc mua bán công khai nơi công cộng mà ai cũng có thể mua và bán, vì thế để đảm bảo cho các giao lưu dân sự thông thoáng, ổn định, thì cần phải bảo vệ người mua ngay tình.

Bảo vệ quyền sở hữu là trách nhiệm của các nhà nước đối với công dân và các tổ chức, tuy nhiên mỗi quốc gia có phương thức bảo vệ riêng. Mỗi phương thức đó đều tồn tại điểm manh và yếu và nếu kết hợp được các phương thức trên thì quyền sở hữu sẽ được bảo vệ tốt nhát.

——————————————————————

CHUYÊN ĐỀ CHO HỘI THẢO KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG DO BỘ MÔN LUẬT DÂN SỰ – KHOA LUẬT DÂN SỰ – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI TỔ CHỨC VÀO NGÀY 11/12/2007

CÁC BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN:

1. TS. Trn Th Hu. Quyn s hu và quyn năng ca ch s hu. 2. ThS. Vương Thanh Thúy. Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. 3. TS. Nguyễn Minh Tuấn. Qui định về kiện đòi lại tài sản trong pháp luật dân sự Việt Nam và một số nước trên thế giới. 4. TS . Phùng Trung Tập. Kiện đòi lại tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình. 5. ThS. Nguyễn Như Quỳnh. Kiện đòi lại tài sản làđộng sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình. 6. TS. Nguyễn Văn Cường. Một số vấn đề thực tiễn trong việc kiện đòi nhà, đất do người khác chiếm hữu không có căn cứ pháp luật tại Tòa án nhân dân. 7. ThS. Vũ Thị Hồng Yến. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi chủ sở hữu kiện đòi lại tài sản. 8. ThS. Nguyễn Thị Tuyết. Bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự – những ưu điểm và hạn chế so với các phương thức khác. 9. ThS. Vũ Thị Hải Yến. Tự bảo vệ quyền sở hữu – Nhưng ưu điểm và hạn chế so với các biện pháp khác 10. ThS. Trần Kim Chi. Thực trạng về biện pháp dân sự bảo vệ quyền sở hữu. 11. ThS. Bùi Thị Huyền. Một số vấn đề về thủ tục tố tụng dân sự trong bảo vệ quyền sở hữu tài sản tại Tòa án nhân dân.

BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN THÔNG QUA THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN SỰ

THS. BÙI THỊ HUYỀN – KHOA LUẬT DÂN SỰ ĐHL HÀ NỘI

Bảo vệ quyền sở hữu tài sản là vấn đề tất yếu nhằm bảo đảm cho chủ sở hữu thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản một cách có hiệu quả và trọn vẹn nhất. Vì vậy, Điều 255 Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS) quy định: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của mình, tài sản đang chiếm hữu hợp pháp bằng những biện pháp theo quy định của pháp luật”. Một trong các phương thức bảo vệ quyền sở hữu tài sản có hiệu quả nhất đó là phương thức khởi kiện đến Toà án theo thủ tục tố tụng dân sự. Trong phạm vi của hội thảo, chúng tôi xin trao đổi một số vấn đề liên quan đến việc bảo vệ quyền sở hữu tài sản bằng con đường Toà án mà trong thực tiễn áp dụng pháp luật hiện có các quan điểm khác nhau .

1. Thẩm quyền xét xử của Toà án

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, thủ tục giải quyết các tranh chấp, yêu cầu của các chủ thể tại Toà án được chia thành hai thủ tục: Thủ tục giải quyết việc dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự. Ở Việt Nam, trước khi ban hành BLTTDS không có khái niệm vụ việc dân sự mà chỉ có khái niệm vụ án dân sự. Khái niệm vụ án dân sự dùng để chỉ những tranh chấp, yêu cầu phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự (theo nghĩa hẹp), những tranh chấp, yêu cầu phát sinh từ quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình. Cho nên, bên cạnh khái niệm vụ án dân sự còn có các khái niệm vụ án kinh tế, vụ án lao động. BLTTDS ra đời đã thống nhất ba loại thủ tục TTDS, kinh tế, lao động thành thủ tục TTDS và các loại việc được giải quyết tại Toà án theo thủ tục TTDS là vụ việc dân sự. Tuy không đưa ra khái niệm vụ việc dân sự nhưng theo Điều 1 của BLTTDS thì vụ việc dân sự bao gồm: vụ án dân sự và việc dân sự, trong đó việc dân sự là những yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động được Toà án thụ lý, giải quyết (Điều 26, 28, 30, 32 BLTTDS). Còn vụ án dân sự là những tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động được Toà án thụ lý, giải quyết (Điều 25, 27, 29, 31 BLTTDS). Như vậy, các tranh chấp về quyền sở hữu tài sản được Toà án thụ lý, giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự.

Hiện nay, BLTTDS không quy định giá trị tối thiểu đối với những tài sản có tranh chấp được khởi kiện đến Toà án. Vì vậy, cho dù các đương sự tranh chấp về một vật có giá trị rất nhỏ thì Toà án vẫn phải thụ lý, giải quyết, nếu vật đó là tài sản theo quy định của pháp luật dân sự. Tuy nhiên, xét từ góc độ hiệu quả kinh tế của việc giải quyết tranh chấp dân sự thì vấn đề giới hạn giá trị của tài sản khi xác định thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Toà án còn có các ý kiến khác nhau.

Hầu hết các tranh chấp về tài sản đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo thủ tục tố tụng dân sự. Song trong một số trường hợp, việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đối với tài sản còn phụ thuộc vào các giấy tờ pháp lý liên quan đến tài sản đó. Chẳng hạn, đối với tranh chấp về nhà ở liên quan đến chính sách cải tạo nhà, tranh chấp về đất đai mà người sử dụng đất chư được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chưa có một trong các loại giấy tờ theo Điều 50 luật đất đai sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Uỷ ban nhân dân.

Thông thường tranh chấp về tài sản thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án nhân dân cấp huyện. Tuy nhiên, đối với các tranh chấp về tài sản hiện đang ở nước ngoài hoặc có một trong các đương sự ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp ra nước ngoài thì thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án nhân dân cấp tỉnh. Thông thường các tranh chấp về tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nơi cư trú của bị đơn. Các đương sự cũng có quyền thoả thuận Toà án nơi cư trú của nguyên đơn để giải quyết tranh chấp (điểm a, b khoản 1 Điều 35 BLTTDS). Riêng đối với tranh chấp về bất động sản, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 35 BLTTDS thì Toà án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết, các đương sự không có quyền thoả thuận về việc yêu cầu Toà án nơi khác giải quyết, kể cả nơi cư trú của nguyên đơn hoặc bị đơn. Bởi lẽ, bất động sản là một loại tài sản gắn liền với đất đai không thể di dời nên khi giải quyết tranh chấp này, thông thường Toà án phải thực hiện việc xem xét tại chỗ theo yêu cầu của đương sự. Hơn nữa, các giấy tờ tài liệu liên quan đến tài sản này sẽ do các cơ quan có thẩm quyền nơi có bất động sản đó lưu giữ. Vì vậy, Toà án nơi có bất động sản sẽ có điều kiện thực hiện việc xem xét tại chỗ và thu thập các giấy tờ tài liệu liên quan đến tài sản đó một cách tốt nhất.

Các tranh chấp về quyền sở hữu tài sản là các tranh chấp về quyền chiếm hữu, sử dụng định đoạt tài sản. Tuy nhiên, do tài sản là đối tượng của các giao dich dân sự nên các tranh chấp này thường được biểu hiện dưới các dạng tranh chấp cụ thể về hợp đồng mua bán, hợp đồng cho thuê, bồi thường thiệt hại, về việc phân chia tài sản (kể cả việc tranh chấp về tài sản trong các vụ việc về hôn nhân gia đình). Cho nên, hiện nay có ý kiến khác nhau về việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp liên quan đến bất động sản:

Ví dụ: A (có nơi cư trú tại huyện X tỉnh H) cho B (có nơi cư trú tại huyện Y tỉnh H) thuê một căn nhà tại số 10 huyện Z tỉnh H. Hết hạn hợp đồng B không trả nhà cho A.

Ý kiến thứ nhất: Đây là tranh chấp về hợp đồng thuê nhà nên Toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là Toà án nơi cư trú của bị đơn (huyện Y tỉnh H).

Ý kiến thứ hai: Đây là tranh chấp về về bất động sản nên Toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phải là Toà án nơi có bất động sản (huyện Z tỉnh H).

Theo chúng tôi, đây là tranh chấp về hợp đồng thuê tài sản nhưng đối tượng của hợp đồng thuê nhà lại là bất động sản. Để giải quyết vụ án này một cách tốt nhất, Toà án phải thực hiện việc xem xét tại chỗ, kiểm tra các giấy tờ tài liệu liên quan đến việc thuê nhà. Vì vậy, quan điểm thứ hai là hợp lý hơn.

2. Xác định tư cách của các đương sự

Các đương sự trong vụ án dân sự bao gồm: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền, nghĩa vụ liên quan. Việc xác định tư cách của các đương sự căn cứ vào Điều 56 BLTTDS. Tuy nhiên, đối với việc xác định tư cách của các đương sự trong vụ án bảo vệ quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản thông qua hợp đồng có đền bù còn có các ý kiến khác nhau.

Ví dụ: A cho B mượn chiếc xe đạp, B bán cho C.

Ý kiến thứ nhất: Theo quy định tại Điều 56 BLTTDS: “Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do Bộ luật nàyquy định khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyền đơn bị người đó xâm phạm”. Do đó, A có quyền khởi kiện C để đòi lại chiếc xe đạp vì A là chủ sở hữu chiếc xe và C là người giả thiết đã xâm phạm quyền sở hữu của A. Toà án phải xác định A là nguyên đơn, C là bị đơn, B là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Ý kiến thứ hai: Theo điều 257 BLDS thì trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản thông qua “hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu tài sản có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hợc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu”. Vì vậy, A không có quyền đòi lại chiếc xe của C mà A chỉ có quyền yêu cầu B bồi thường giá trị của chiếc xe. Toà án phải xác định A là nguyên đơn, B là bị đơn, C là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Nếu B và C tranh chấp với nhau về hợp đồng mua bán chiếc xe thì B sẽ là nguyên đơn, C là bị đơn, A là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Theo chúng tôi, Điều 56 BLTTDS quy định: “Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyền đơn bị người đó xâm phạm”. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa bị đơn khởi kiện ai thì người đó là bị đơn. Trong nhiều trường hợp do không hiểu biết pháp luật nguyên đơn đã khởi kiện không đúng. Do đó, để đảm bảo việc giải quyết đúng đắn vụ án Toà án phải xác định đúng tư cách của các đương sự. Đối với tranh chấp về sở hữu tài sản, việc xác định tư cách của các đương sự còn phải dựa vào phương thức mà người khởi kiện khởi kiện đến Toà án theo quy định của BLDS. Vì vậy, chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ hai.

Trên đây là hai vấn đề có các quan điểm khác nhau trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, chúng tôi rất mong nhận được sự trao đổi của các quý vị.

Các bài viết cùng tác giả: http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/?s=%22B%C3%B9i+Th%E1%BB%8B+Huy%E1%BB%81n%22

——————————————————————

CHUYÊN ĐỀ CHO HỘI THẢO KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG DO BỘ MÔN LUẬT DÂN SỰ – KHOA LUẬT DÂN SỰ – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI TỔ CHỨC VÀO NGÀY 11/12/2007

KIỆN ĐÒI LẠI TÀI SẢN LÀ ĐỘNG SẢN KHÔNG PHẢI ĐĂNG KÝ QUYỀN SỞ HỮU TỪ NGƯỜI CHIẾM HỮU NGAY TÌNH

TS. PHÙNG TRUNG TẬP – Khoa Luật dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Kiện đòi lại tài sản là một trong các phương thức bảo vệ quyền sở hữu theo qui định của pháp luật. Theo qui định tại Điều 255 BLDS, thì: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu Toà án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại”.

Quyền sở hữu tài sản là quyền dân sự của chủ sở hữu, được pháp luật bảo hộ. Trong trường hợp tài sản của chủ sở hữu đang do người khác chiếm hữu không dựa trên sự định đoạt ý chí của chủ sở hữu, thì chủ sở hữu có quyền yêu cầu người đang thực tế chiếm hữu tài sản có nghĩa vụ trả lại tài sản cho mình. Ngoài chủ sở hữu tài sản, người có quyền chiếm hữu hợp pháp tài sản của chủ sở hữu cũng có quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án buộc người đang chiếm hữu tái sản có nghĩa vụ trả lại tài sản. Người chiếm hữu hợp pháp tài sản là người được chủ sở hữu chuyển giao tài sản thông qua một giao dịch dân sư (cho thuê, mượn, gửi giữ, cầm cố…). Người chiếm hữu hợp pháp còn là người đang quản lý tài sản chung (di sản thừa kế chưa chia, quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng). Như vậy, chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp có quyền kiện đòi lại tài sản từ người chiếm hữu bất hợp pháp. Quan hệ về quyền sở hữu tài sản là quan hệ pháp luật dân sự, do vậy chủ sở hữu tự mình thể hiện ý chí trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản. Tuy nhiên, trong quan hệ xã hội và pháp luật, tài sản của chủ sở hữu trong những hoàn cảnh cụ thể đã dời khỏi chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp ngoài ý chí, do có hành vi chiếm đoạt trái pháp luật tài sản đó. Bộ luật dân sự qui định chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó, nếu tài sản đó chưa được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu ở người đang chiếm hữu (Điều 256).

Tài sản theo tính chất được phân thành động sản và bất động sản, động sản phải đăng ký quyền sở hữu và động sản không phải đăng ký quyền sở hữu, theo đó việc chủ sở hữu có quyền kiện đòi lại tài sản hay không có quyền kiện đòi lại tài sản (kiện vật quyền). Tuy nhiên, theo qui định tại Điều 258 BLDS, quyền của chủ sở hữu kiện đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản không được đáp ứng, nếu người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được các tài sản đó thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa. Qui định tại Điều 258, không những nhằm bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu tài sản, mà trong những điều kiện nhất định thì quyền của người đang thực tế chiếm hữu tài sản vẫn được bảo vệ theo căn cứ xác lập quyền sở hữu hợp pháp của người đó đối với động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản.

Trong bài tham luận này, chúng tôi bàn về việc kiện đòi lại tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình.

Theo qui định tại Điều 257 BLDS: “Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trong trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu”.

Theo qui định trên, quyền đòi lại tài sản của chủ sở hữu đối với động sản không phải đăng ký quyền sở hữu với điều kiện:

- Người chiếm hữu động sản đó được xác định là chiếm hữu ngay tình;

- Người chiếm hữu ngay tình tài sản đó thông qua một giao dịch không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản.

Theo những qui định trên, đã loại trừ những trường hợp cho dù một người chiếm hữu tài sản của chủ sở hữu thông qua một giao dịch có đền bù, nhưng hành vi của người chiếm hữu tài sản đó được xác định là hành vi không ngay tình khi chiếm hữu, thì người này có trách nhiệm trả lại tài sản cho chủ sở hữu. Qui định này nhằm bảo vệ lợi ích tuyệt đối của chủ sở hữu, đồng thời nhằm ngăn chặn các hành vi lợi dụng để chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu thông qua giao dịch.

Như vậy, quyền đòi lại tài sản của chủ sở hữu động sản không phải đăng ký quyền sở hữu phụ thuộc vào ý chí và hành vi của người đang chiếm hữu được xác định là ngay tình, nhưng người đang chiếm hữu đó có được tài sản do người không có quyền chuyển giao theo hợp đồng không có đền bù. Người không có quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu thường là người thuê, mượn, nhận gửi giữ, người vận chuyển, người nhận cầm cố, người nhận đặt cọc tài sản của chủ sở hữu động sản không phải đăng ký quyền sở hữu, không được sự cho phép của chủ sở hữu nhưng người chiếm hữu vẫn chuyển giao tài sản thông qua hợp đồng không có đền bù cho người thứ ba như tặng cho tài sản, thì chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản. Qui định này nhằm ngăn chặn hành vi lạm dụng lòng tin để chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu. Hơn nữa, người đang chiếm hữu tài sản được chuyển giao cho dù là chiếm hữu ngay tình, vẫn có nghĩa vụ phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu và lợi ích của người này cũng không bị xâm phạm. Ngược lại, nếu người đang chiếm hữu tài sản của chủ sở hữu được xác định là chiếm hữu không ngay tình, thì cho dù hợp đồng chuyển giao tài sản đó là hợp đồng có đền bù, người chiếm hữu không ngay tình vẫn có nghĩa vụ trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu.

Nhằm ngăn chặn hành vi lấy cắp tài sản của chủ sở hữu, và tài sản đó do người lấy cắp chuyển giao cho người thứ ba thông qua hợp đồng có đền bù, thì chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản ở người đang chiếm hữu, cho dù hành vi chiếm hữu của người này là ngay tình hoặc không ngay tình.

Quyền đòi lại tài sản của chủ sở hữu động sản không phải đăng ký quyền sở hữu được đáp ứng kể cả trong trường hợp tài sản này bị mất và trong những trường hợp khác, loại động sản này dời khỏi chủ sở hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu.

Quyền kiện đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu, chỉ được đáp ứng trong trường hợp tài sản đó vẫn còn. Như vậy, nếu động sản là đối tượng của vụ kiện không còn tồn tại (do bị mất, bị tiêu huỷ…), thì mục đích kiện đòi lại động sản đó của chủ sở hữu hoặc của người chiếm hữu hợp pháp không được đáp ứng. Trong trường hợp này, quyền của chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp chỉ được bảo vệ theo phương thức kiện trái quyền.

Kiện đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu, theo qui định tại Điều 257 BLDS, là nhằm bảo vệ quyền của chủ sở hữu trong những trường hợp cụ thể. Tuy nhiên, nội dung Điều 257 BLDS đã làm phức tạp hoá những vấn đề rất đơn giản do qui định: “động sản không phải đăng ký quyền sở hữu”. Tài sản của chủ sở hữu cho dù có đăng ký hoặc không đăng ký cũng không vì thế mà làm tăng lên hoặc giảm sút quyền của chủ sở hữu tài sản đó. Thủ tục đăng ký động sản không có sự liên quan nào đến quyền kiện đòi lại tài sản của chủ sở hữu trong trường hợp tài sản của chủ sở hữu đang bị người khác chiếm hữu trái pháp luật, trái ý chí của chủ sở hữu. Về bản chất, việc đăng ký động sản chỉ có ý nghĩa nhằm ngăn chặn hành vi xâm phạm đến tài sản đó nếu có; để chủ sở hữu có căn cứ xác định tài sản đó là của mình. Việc đăng ký động sản hay không đăng ký động sản của chủ sở hữu không ảnh hưởng đến quyền của chủ sở hữu tài sản. Vì chủ sở hữu tài sản thực hiện quyền sở hữu của mình theo qui định của pháp luật, không phụ thuộc vào tài sản đó có giá trị lớn hay nhỏ, là động sản hay bất động sản, tài sản đó có phải đăng ký hay không. Bất luận, khi tài sản của chủ sở hữu đang bị người khác chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp, thì người đó có quyền kiện hoặc không kiện để yêu cầu người đang thực tế chiếm hữu tài sản phải trả lại tài sản đó cho mình, không phụ thuộc vào việc tài sản đó có đăng ký hay không.

Theo chúng tôi, Điều 257 nên sửa đổi bằng việc loại bỏ những chữ thừa, mà chỉ cần qui định: Quyền đòi lại động sản từ người chiếm hữu ngay tình, là đủ. Sửa đổi theo phương án này, điều luật vừa có tính khái quát, vừa hiện đại và cũng nhằm loại bỏ những thủ tục hành chính rườm rà, đã gây cản trở không nhỏ cho chủ sở hữu động sản trong giai đoạn hiện nay.

Qui định tại Điều 257 BLDS, còn hạn chế là chưa đề cập đến những trường hợp động sản không phải đăng ký của chủ sở hữu, do người chiếm hữu ngay tình sử dụng, khai thác đã thu được những lơi ích nhất định trong thời gian chiếm hữu, trong trường hợp chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp được đòi lại vật, thì người chiếm hữu ngay tình có nghĩa vụ hoàn trả những lợi ích vật chất đó cho chủ sở hữu không? Theo nguyên tắc, chủ sở hữu tài sản được hưởng những lợi ích vật chất từ tài sản. Vì trong thời gian tài sản của chủ sở hữu do người khác chiếm hữu, nhưng vẫn thuộc quyền sở hữu của chủ sở hữu động sản đó. Một trường hợp khác, lợi ích của người thuê động sản không phải đăng ký quyền sở hữu đã không được đáp ứng, do động sản đó lại đang do người khác chiếm hữu, khai thác thu lợi nhuận, mà người thuê tài sản đó vẫn có nghĩa vụ trả tiền thuê tài sản cho chủ sở hữu, khoản tiền đó sẽ được giải quyết như thế nào để bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu và quyền của người thuê tài sản đó?

Kiện đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình là phương thức kiện dân sự được sử dụng khá phổ biến trong đời sống xã hội. Những qui định pháp luật về vấn đề này đã nhằm bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu hoặc của người chiếm hữu hợp pháp. Tuy nhiên, những qui định của pháp luật về vấn đề này vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định như chúng tôi đã chỉ ra trên đây. Những hạn chế này cần phải được khắc phục khi BLDS của nước ta được sửa đổi, bổ sung./.

——————————————————————

CHUYÊN ĐỀ CHO HỘI THẢO KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG DO BỘ MÔN LUẬT DÂN SỰ – KHOA LUẬT DÂN SỰ – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI TỔ CHỨC VÀO NGÀY 11/12/2007

CÁC BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN:

1. TS. Trn Th Hu. Quyn s hu và quyn năng ca ch s hu. 2. ThS. Vương Thanh Thúy. Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. 3. TS. Nguyễn Minh Tuấn. Qui định về kiện đòi lại tài sản trong pháp luật dân sự Việt Nam và một số nước trên thế giới. 4. TS . Phùng Trung Tập. Kiện đòi lại tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình. 5. ThS. Nguyễn Như Quỳnh. Kiện đòi lại tài sản làđộng sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình. 6. TS. Nguyễn Văn Cường. Một số vấn đề thực tiễn trong việc kiện đòi nhà, đất do người khác chiếm hữu không có căn cứ pháp luật tại Tòa án nhân dân. 7. ThS. Vũ Thị Hồng Yến. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi chủ sở hữu kiện đòi lại tài sản. 8. ThS. Nguyễn Thị Tuyết. Bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự – những ưu điểm và hạn chế so với các phương thức khác. 9. ThS. Vũ Thị Hải Yến. Tự bảo vệ quyền sở hữu – Nhưng ưu điểm và hạn chế so với các biện pháp khác 10. ThS. Trần Kim Chi. Thực trạng về biện pháp dân sự bảo vệ quyền sở hữu. 11. ThS. Bùi Thị Huyền. Một số vấn đề về thủ tục tố tụng dân sự trong bảo vệ quyền sở hữu tài sản tại Tòa án nhân dân.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỰC TIỄN TRONG VIỆC KIỆN ĐÒI NHÀ, ĐẤT DO NGƯỜI KHÁC CHIẾM HỮU KHÔNG CÓ CĂN CỨ PHÁP LUẬT TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN

TS. NGUYỄN VĂN CƯỜNG -Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Vấn đề bảo vệ chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp tài sản luôn luôn được nhà nước quan tâm, được ghi nhận trong Hiến pháp, Bộ luật Dân sự và hàng loạt văn bản khác. Trong đó, quy định chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp tài sản có quyền tự bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của mình hoặc tài sản đang chiếm hữu hợp pháp bằng những biện pháp luật định, như: yêu cầu Toà án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người xâm phạm trả lại tài sản và bồi thường thiệt hại xẩy ra hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu. Tuy nhiên, việc chiếm hữu tài sản trong thực tiễn diễn ra rất phong phú, đa dạng; có thể qua các giao dịch dân sự hay thông qua hành vi chiếm dụng tài sản không có căn cứ pháp luật. Trong bài viết này, tác giả chỉ đề cập thực trạng giải quyết tại Tòa án nhân dân việc giải quyết việc kiện đòi nhà, đất đối với người chiếm giữ không có căn cứ pháp luật.

I. Tình hình giải quyết việc kiện đòi nhà, đất đối với người chiếm giữ không có căn cứ pháp luật

1.1. Trường hợp nguồn gốc nhà, đất thuộc quyền sở hữu của chủ cũ nhưng do chiến tranh tàn phá nhà bị sập hoàn toàn. Năm 1975 chủ mới đã tự ý xây dựng nhà trên diện tích đất của chủ cũ, có trường hợp được chính quyền địa phương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chủ mới. Hiện nay giải quyết có nhiều quan điểm khác nhau, nên bác yêu cầu của chủ cũ hay công nhận cho chủ mới.

Trường hợp thứ 1: Vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn là Huỳnh Thị M và bị đơn là bà Kiều Thị T.

Nguồn gốc khu đất có diện tích 497 m2 toạ lạc tại thị xã TH thuộc quyền sử dụng đất của bà T (mẹ bà M). Năm 1965 bà T chết có để lại di chúc giao toàn bộ diện tích nhà đất trên cho bà M. Năm 1967 do chiến tranh ác liệt bà M phải đi tản cư. Năm 1975 ông Huỳnh R (cha bà M) cùng bà T (vợ hai ông R) xây dựng nhà tại khu đất có diện tích 497m2 toạ lạc thị xã TH để ở. Năm 2001 bà T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay bà M yêu cầu bà T trả đất.

Toà án nhân dân huyện TH (bản án dân sự sơ thẩm 518/DSST/2001 ngày 15 tháng 9 năm 2001) buộc bà T phải giao trả bà M diện tích đất 497m2 thị xã TH. Bà M thanh toán bà T 2.269.000 đồng.

Ngày 12/10/2002, bà T kháng cáo.

Toà án nhân dân Tỉnh PhY (bản án dân sự phúc thẩm số 23/DSPT/2003 ngày 26 tháng 3 năm 2003) về cơ bản vẫn giữ nguyên bản án cấp sơ thẩm chỉ thay đổi số tiền bà M phải thanh toán cho bà Th là 3.399.000 đồng.

Sau khi xét xử phúc thẩm, bà T có đơn khiếu nại.

Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị (quyết định số 43/2006/DS-KN ngày 24-03-2006) bản án phúc thẩm nêu trên.

Toà Dân sự Toà án nhân dân tối cao (Quyết định giám đốc thẩm số 112/GĐT-DS ngày 25-05-2006) huỷ bản án dân sự phúc thẩm số 23/DSPT/2003 ngày 26 tháng 3 năm 2003 của Toà án nhân dân Tỉnh PY và bản án dân sự sơ thẩm 518/DSST/2001 ngày 15 tháng 9 năm 2001 của Toà án nhân dân Huyện TH; giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân Huyện TH xét xử sơ thẩm lại. Với nhận định: Mặc dù nguồn gốc nhà đất của gia đình bà M nhưng do chiến tranh tàn phá nhà của gia đình bà M bị sập hoàn toàn (bà M không chứng minh còn nên mong nhà cũ), Năm 1975 bà T, ông R đã xây dựng nhà trên diện tích đất đang tranh chấp và năm 2001 được chính quyền địa phương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong trường hợp này lẽ ra cần bác yêu cầu của bà M nhưng Tòa án các cấp lại buộc gia đình bà T trả đất cho bà M là không đúng.

Trường hợp 2: vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất ở PY giữa nguyên đơn là bà Đ, bà Đông, chị A, chị Nh, anh ch với bị đơn là bà Lâm Bích Ng (chết), người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bà Ng là các con bà Ng bao gồm các anh chị: A, Ph, S, Tr, Th, M, H.

Nguồn gốc nhà đất tại 122, Phan Đình Phùng, thị xã TH, tỉnh PhY thuộc quyền sở hữu của cụ X và cụ L (cha, mẹ bà Đ, bà Đông, chị A, chị Nh, anh ch) nhưng do chiến tranh nhà bị sập hoàn toàn chỉ còn nền móng. Năm 1955 ông H chiếm dụng đất và nền móng nhà của cụ X để làm nhà ở, năm 1976 ông H cho bà Ng thuê, quá trình sử dụng bà Ng xây nhà và năm 1993 bà Ng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay các con của cụ X và cụ L là bà Đ, bà Đông, chị A, chị Nh, anh Ch yêu cầu bà Ng phải trả đất.

Tòa án nhân dân thị xã TH (bản án sơ thẩm số 28/DSST ngày 28,29-10-2002) bác yêu cầu của bà Đ, bà Đông, chị A, chị Nh, anh Ch.

Sau khi xét xử sơ thẩm bà Đ, bà Đông, chị A, chị Nh, anh Ch có đơn kháng cáo.

Tòa án nhân dân tỉnh PhY (bản án phúc thẩm số 61/DSPT ngày 19,22-09-2003) ghi nhận bà Đ, bà Đông, chị A, chị Nh, anh Ch không đòi giá trị diện tích 105 m2 nằm trong khuôn viên nhà, đất đang tranh chấp mà gia đình bà Ng đã cất nhà ở và các anh chị (con bà Ng) là: A, Ph, S, Tr, Th, M, H được quyền sử dụng đất tại nhà số 122 Ph Đ Ph, thị xã TH, tỉnh PhY nhưng phải thối lại giá trị diện tích 99, 93 m2 đất là 300 triệu đồng cho bà Đ, bà Đông, chị A, chị Nh, anh Ch (là con cháu ông Hg, bà L).

Sau khi xét xử phúc thẩm, nguyên đơn có đơn khiếu nại.

Chánh án Toà án nhân dân tối cao kháng nghị (quyết định số 116/KN-DS ngày 27-12-2004) bản án phúc thẩm nêu trên.

Toà Dân sự Toà án nhân dân tối cao (Quyết định giám đốc thẩm số 28/GĐT-DS ngày 21- 02-2005) huỷ bản án dân sự phúc thẩm số 61/DSPT ngày 19,22- 09-2003 của Tòa án nhân dân tỉnh PhY; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh PhY xét xử phúc thẩm lại. Với nhận định: Tòa án cấp phúc thẩm ghi nhận bà Đ, bà Đông, chị A, chị Nh, anh Ch không đòi giá trị diện tích 105 m2 nằm trong khuôn viên nhà, đất đang tranh chấp mà gia đình bà Ng đã cất nhà ở và công nhận phần còn lại thuộc quyền sử dụng đất của nguyên đơn là đúng (vì chưa có cơ quan nhà nước nào thu hồi đất và nền móng của cụ X, cụ L và cũng không thuộc diện điều chỉnh theo quyết định 111/CP ngày 14- 04-1977), nhưng lại giao toàn bộ đất cho gia đình bà Ng và buộc gia đình bà Ng thanh toán giá trị đất cho nguyên đơn là không xem xét đến nhu cầu sử dụng đất của nguyên đơn. Mặt khác, Tòa án cấp phúc thẩm trích 99.720.000 đồng cho bà Ng, vì có công bảo quản và tôn tạo đất là không có cơ sở.

Chúng tôi đồng tình về cách xử lý của Toà án cấp giám đốc thẩm đối với hai vụ án nêu trên.

1.2. Trường hợp nguồn gốc đất thuộc quyền sử dụng của chủ cũ nhưng bỏ hoang, sau đó UBND thu lại và cấp cho người khác trong thời gian dài, nay chủ cũ yêu cầu trả đất.

Vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất ở VL giữa nguyên đơn là Nguyễn Thị H với bị đơn là Phùng Thị T.

Nguồn gốc 4200 m2 đất ruộng của ông L, bà H nhưng ông L, bà H bỏ hoang, nên 1985 Hợp tác xã đã thu giao diện tích đất này cho bà T canh tác và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay bà H yêu cầu bà T phải trả lại đất.

Tòa án nhân dân huyện BM (bản án sơ thẩm số 14/DSST ngày 26- 02-2003) đã bác yêu cầu đòi đất của bà H. Bà H kháng cáo.

Tòa án nhân tỉnh VL (bản án phúc thẩm dân sự số 269/DSPT ngày 16-09-2003) buộc bà T trả lại diện tích đất nêu trên cho bà H.

Bản án phúc thẩm nói trên đã bị Chánh án Toà án nhân dân tối cao kháng nghị.

Tại quyết định giám đốc thẩm số 17/GĐT-DS ngày 01- 02-2005, Toà Dân sự đã huỷ bản án phúc thẩm số (269/PTDS) nêu trên; giao hồ sơ cho Toà án nhân dân tỉnh VL xét xử phúc thẩm lại theo hướng bác yêu cầu của nguyên đơn.

Chúng tôi thấy rằng, việc cấp sơ thẩm và cấp giám đốc thẩm bác yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở, mặc dù nguồn gốc đất thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn nhưng đã bị UBND thu hồi, cấp cho người khác. Mặc dù việc thu hồi không đúng quy định của pháp luật nhưng phía nguyên đơn không có ý kiến gì, nhà nước không có chủ trương xem xét lại chính sách thù hồi đất trong thời kỳ thực hiện chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với đất đai, thực tế bị đơn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dung đất.

1.3. Trường hợp đương sự lợi dụng sơ hở, lòng tin của chủ sở hữu nhà và đã đưa giấy tờ mua bán để chủ sở hữu nhà ký nhằm chiếm đoạt nhà của chủ sở hữu.

Vụ án mua bán nhà đất giữa anh A và ông Th ở tỉnh An Giang.

Nội dung vụ việc diễn biến như sau: Theo Anh Huỳnh Ngọc A và chị Võ Thị Kim M thì, khoảng tháng 3 năm 1997, thấy ông Th đăng bảng bán nhà, vợ chồng anh chị đã thỏa thuận mua căn nhà 358/18B của ông Th với giá 60.000.000 đồng. Nhà có diện tích xây dựng là 70m2 (cũng là diện tích đất sử dụng). Vợ chồng anh chị nhận giấy tờ nhà đất, làm các thủ tục hợp pháp hóa chủ quyền đất cho ông Th. Ngày 01-08-1997 ông Th ký giấy bán nhà cho vợ chồng anh, gia đình anh giao đủ cho ông Th 60.000.000 đồng theo đúng thỏa thuận. Vợ chồng anh đã làm các thủ tục chuyển quyền sử dụng đất và được cấp giấy chứng nhận ngày 6-11-1997. Nhưng ông Th vẫn không chịu giao nhà cho vợ chồng anh. Nay anh A và chị M yêu cầu buộc ông Th phải giao nhà theo đúng cam kết của hợp đồng mua bán.

Còn ông Lê Văn Th cho rằng, ông có vay anh A, chị M nhiều lần. Tính đến 1996, ông còn nợ anh A 30.000.000 đồng. Anh A có nói với ông giúp hợp thức hóa chủ quyền, để bán nhà có giá cao. Khi làm xong chủ quyền, bán được nhà, ông sẽ trả nợ anh A và trả chi phí mà anh A đi làm thủ tục. Ông đã đưa cho anh A toàn bộ giấy tờ về nhà đất, khoảng 7 ngày sau anh A dẫn người đến đo đạc, ông và hàng xóm có ký vào các giấy tờ về xác minh nhà đất. Sau một thời gian anh A gặp lại ông, nói là hồ sơ trước ký nhầm phải ký lại. Ông cũng tin tưởng anh A ký lại theo yêu cầu của anh A mà không coi lại giấy tờ.

Tháng 11-1997 anh A cho xem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh A và đòi ông phải giao nhà. Ông ra Ban tư pháp phường mới biết bị lừa ký vào các giấy tờ mua bán nhà. Ông yêu cầu hủy bỏ các giấy tờ mà ông bị lừa ký vào hợp đồng.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 76/DSST ngày 29-4-1998, TAND thị xã LX, tỉnh AG quyết định:

Bác yêu cầu của anh A và chị M.

Hủy hợp đồng ký ngày 1-8-1997 về mua bán nhà và chuyển quyền sử dụng đất tại 358/18B nêu trên, vì “vô hiệu do bị lừa dối”.

Kiến nghị Ủy ban nhân dân tỉnh AG, hủy quyết định chứng nhận quyền sử dụng đất 6-11-1997 đối với anh A và khôi phục quyền sử dụng đất cho ông Th theo giấy chứng nhận ngày 19-7-1997.

Ngày 8-5-1998, anh A kháng cáo.

Tại án phúc thẩm dân sự số 25/DSPT ngày 30-6-1998, TAND tỉnh AG quyết định: Công nhận hợp đồng mua bán chuyển nhượng nhà đất giữa anh A và ông Th.

Buộc ông Th phải giao căn nhà 70,1 m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 06-11-1997 cho vợ chồng anh A, chị M.

Sau khi xét xử phúc thẩm, ông Th có đơn khiếu nại.

Tại Quyết định số 149/KN-DS ngày 20-11-1998, Phó Chánh án TANDTC kháng nghị đối với bản án phúc thẩm nêu trên.

Tại Quyết định số 45/GĐ-DS ngày 24-2-1999, Tòa Dân sự TANDTC quyết định: hủy án phúc thẩm dân sự số 253/DSPT ngày 30-6-1998 của TAND tỉnh AG. Giao cho TAND tỉnh AG xét xử lại từ giai đoạn phúc thẩm.

Tòa dân sự TANDTC nhận định: thực tế không có hợp đồng viết về mua bán nhà giữa ông Th và anh A. Ông Th chỉ ký vào (đơn xin mua bán nhà) đề ngày 01- 8-1997. Đơn này chỉ là văn bản dự kiến ký kết hợp đồng, đề nghị cấp có thẩm quyền cho phép ký kết hợp đồng mua bán nhà. Ngoài ra, ông Th còn ký vào một số giấy tờ có nội dung chuyển quyền sử dụng đất chứ không phải mua bán nhà. Đơn xin mua bán nhà chưa hề có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. Ông Th khai rằng ông bị lừa ký vào một số giấy tờ (đơn xin mua bán nhà và giấy tờ chuyển quyền sử dụng đất cho anh A) là vì trước đó anh A làm hộ thủ tục hợp thức hóa chủ quyền nhà đất cho ông, nên ông đã ký những giấy tờ tương tự. Việc anh A giúp ông là vì ông nợ tiền anh A 30.000.000 đồng, có dự kiến phải bán nhà trả nợ. Lời khai của ông Th phù hợp với giao dịch thông thường và phù hợp lời khai các nhân chứng là hàng xóm đã ký giấy tờ xin đứng tên quyền sử dụng đất của ông Th. Anh A và chị M khai rằng họ chỉ ngẫu nhiên đến mua nhà khi thấy ông Th đăng bảng bán nhà. Ông Th khai rằng ông không đăng bảng bán nhà và các nhân chứng cũng xác nhận như vậy. Ngay việc từ trước tháng 8-1997 anh A đã nhận giấy tờ về chủ quyền nhà đất của ông Th, đứng xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Th, anh A không hề trình bày trong các đơn từ gửi đến Ủy ban nhân dân phường và TAND khi mới tranh chấp.

Việc mua nhà và chuyển quyền sử dụng đất sang tên anh A không có nhân chứng nào chứng kiến, kể cả bà T là người đang chung sống với ông Th là việc không bình thường. Khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Th, thì anh A có xin xác nhận của các hộ liền kề, nhưng khi làm thủ tục chuyển sang tên mình (anh A) không xin xác nhận của những người này mặc dù trong mẫu đơn cũng bắt buộc phải có.

Về việc thực hiện hợp đồng, anh A khai rằng đã giao cho ông Th 60.000.000 đồng. Ông Th không thừa nhận và anh A cũng không xuất trình được tài liệu chứng cứ nào khác về việc giao tiền này. Với diễn biến chứng cứ như đã nêu trên, án sơ thẩm xác định giao dịch chuyển nhượng nhà đất giữa anh A và ông Th là “giao dịch dân sự do bị lừa dối” theo Điều 142 BLDS là đúng.

Chúng tôi cho rằng: Do không xem xét dưới góc độ hình sự, nên Tòa án các cấp giải quyết góc độ dân sự. Việc nhận định của Toà án cấp cấp giám đốc thẩm là có căn cứ.

1.4. Nhận xét chung

Do chính sách quản lý về nhà, đất nước ta chưa chặt chẽ, nên diễn ra tình trạng chiếm hữu không có căn cứ pháp luật còn nhiều, như: tự ý chiếm nền móng nhà và đất của người khác, chiếm đất liền kề (tranh chấp ranh giới) hoặc có sự hậu thuẫn của chính quyền địa phương…., nhất thời kỳ trước khi có Luật đất đai năm 1993, có trường hợp chủ sở hữu nhà, chủ sử dung đất có ý kiến nhưng có trường hợp thấy người khác sử dụng đất của mình không có ý kiến gì và khi chính quyền địa phương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người khác cũng không quan tâm, không có đơn khiếu nại. Có trường hợp việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân không theo đúng trình tự, thời gian.

Khi giải quyết tranh chấp tại Tòa án xẩy ra nhiều tình huống khác nhau, có trường hợp người đang sử dụng đất đã làm các thủ tục kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong khi đó chủ đất cũ không đăng ký kê khai và không thực hiện một nghĩa vụ nào với nhà nước, hoặc cũng có trường hợp chủ cũ kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thậm chí có trường hợp chính quyền địa phương cấp cho cả hai bên (chủ mới và chủ cũ) hoặc cả hai bên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi có đơn khởi kiện đòi lại đất của chủ cũ, Toà án các cấp không biết dựa tiêu chí nào để giải quyết. Nếu căn cứ vào thời gian của người sử dụng đất thì thời gian là bao nhiêu năm được coi là ổn định lâu dài?; nếu chỉ dưa vào nguồn gốc và việc chiếm hữu bất hợp pháp để buộc trả tài sản cho chủ cũ không phù hợp chính sách về đất đai. Nếu dựa vào giấy chứng nhận do chính quyền địa phương cấp thì Toà án hoàn toàn thụ động, không đảm bảo quyền lợi cho đương sự. Vì có địa phương cấp giấy CNQSD đất không đúng luật, không theo trình tự, không thông báo công khai…, có trường hợp khi Toà án yêu cầu cung cấp hồ sơ cấp GCNQSD đất, UBND trả lời mất giấy tờ gốc hoặc không cung cấp…

Về vấn đề này hiện nay tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, có quan điểm cho rằng: Trường hợp người đã quản lý sử dụng lâu dài, ổn định, đã làm nghĩa vụ nộp thuế với Nhà nước, đăng ký kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì áp dụng Luật đất đai bác yêu cầu đòi đất của chủ cũ, nếu chủ cũ được cấp GCNQSD đất thì buộc bên đang sử dụng đất phải trả lại. Còn quan điểm khác cho rằng cần tôn trọng quyền sử dụng đất của chủ cũ, vì chưa có văn bản pháp lý nào của Nhà nước thu hồi đất của chủ cũ giao cho chủ mới, khi giải quyết Toà án cần chấp nhận yêu cầu đòi lại đất của bên giao đất hoặc có trường hợp cho rằng cần buộc người sử dụng đất thanh toán giá trị đất cho chủ cũ.

II. Một số khuyến nghị khi giải quyết loại tranh chấp này

Tổng hợp các quan điểm giải quyết nêu trên và trên cơ sở văn bản pháp luật từ trước đến nay quy định bảo vệ quyền sở hữu, quyền sử dụng đất và các chính sách về đất đai của Nhà nước ta qua các thời kỳ. Tôi xin có một số ý kiến như sau:

1. Trước hết cần phải phân biệt trường hợp nào áp dụng quy định về đất đai để giải quyết và trường hợp nào áp dụng văn bản pháp luật về nhà ở để giải quyết.

a. Đối với trường hợp chủ cũ có nhà trên khuôn viên đất, nhưng sau đó bị xập hoàn toàn (kể cả trường hợp còn nền móng) và chủ sử dụng nhà đã xây nhà mới ở, nếu chủ cũ biết không có ý kiến gì, quá trình giải quyết chủ cũ đề cập đến việc trả đất (kể cả trường hợp chủ cũ yêu cầu trả nền móng) thì xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp quyền sử dụng đất và áp dụng các quy định về đất đai để giải quyết.

b. Đối với trường hợp chủ cũ có nhà trên khuôn viên đất, chủ sử dụng nhà đã phá nhà cũ đi để xây nhà mới ở, quá trình giải quyết chủ cũ chỉ đề cập đến việc trả đất, không đề cập đến việc trả nhà thì xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp quyền sử dụng đất và áp dụng các quy định về đất đai để giải quyết.

c. Đối với trường hợp chủ cũ có nhà trên khuôn viên đất, chủ sử dụng nhà đã phá nhà cũ đi để xây nhà mới ở, quá trình sử dụng người sử dụng đã lấn chiếm đất khuôn viên, khi giải quyết tranh chấp chủ cũ yêu cầu trả nhà đất, thì thì xác định quan hệ tranh chấp là nhà và áp dụng quy định pháp luật về nhà để giải quyết.

2. Khuyến nghị về hướng giải quyết đối với loại tranh chấp này.

Đối với trường hợp chiếm hữu quyền sở hữu nhà không có căn cứ pháp luật, khi giải quyết tại Toà án nhân dân thường không có vướng mắc hoặc vướng mắc không nhiều về mặt đường lối xử lý, vì quy định pháp luật tương đối rõ ràng, khó khăn chủ yếu là đánh giá chứng cứ. Do vậy, tác giả tập trung đề xuất vướng mắc trong việc xử lý đối với trường hợp chiếm hữu quyền sử dụng đất không có căn cứ pháp luật

2.1. Đối với trường hợp chiếm hữu quyền sử dụng đất không có căn cứ pháp luật nhưng xẩy ra trước 15-10-1993 (ngày luật đất đai có hiệu lực).

Căn cứ vào Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992, quy định của pháp luật dân sự và Điều 1, Điều 16 và Điều 18 Luật Đất đai năm 1987, Điều 2 Luật Đất đai năm 1993 và khoản 3 Điều 4, Khoản 4, Điều 5 Khoản 2 Điều 9, Điều 10 Luật Đất đai năm 2003, chúng tôi khuyến nghị cần có hướng dẫn về vấn đề này, như sau:

a. Trong tr­ường hợp chủ đất cũ có kê khai đứng tên trong sổ địa chính, đã đựơc cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó là có căn cứ pháp luật, hợp pháp, phù hợp với quy định của Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản pháp luật khác có liên quan, quá trình sử dụng người sử dụng xây dựng đều xin ý kiến của chủ cũ hoặc người sử dụng tự ý xây dựng nhưng bị chủ cũ phản đối và còn ng­ười đang sử dụng đất không kê khai, không đ­ựơc cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Toà án công nhận quyền sử dụng đất cho bên đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

b. Đối với trường hợp chủ cũ có nhà trên khuôn viên đất, nhưng sau đó bị sập hoàn toàn (kể cả trường hợp còn nền móng) người sử dụng nhà đã xây nhà mới ở hoặc bị chủ sử dụng nhà đã phá nhà cũ đi để xây nhà mới, chủ cũ biết không có ý kiến gì và người đang sử dụng đất đã kê khai, đăng ký đứng tên trong sổ địa chính và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng trình tự, thủ tục về việc kê khai, đăng ký và việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thực hiện đúng quy định của Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản pháp luật khác có liên quan; còn chủ cũ không kê khai, không thực hiện quyền quản lý, sử dụng của chủ sử dụng đất, thì Toà án cần bác yêu cầu đòi đất của chủ đất cũ và công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp cho ng­ười đã đựơc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

c. Đối với tr­ường hợp cả hai bên (chủ đất cũ và người đang sử dụng đất) đều đ­ược cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật đất đai năm 1987 hoặc Luật đất đai năm 1993 (cấp trùng nhau), nay các bên tranh chấp quyền sử dụng đất, thì Toà án căn cứ thời gian sử dụng đất; đồng thời thu thập các tài liệu, chứng cứ về việc khi người sử dụng đất đầu tư tài sản trên đất chủ cũ có ý kiến gì không và quá trình các bên thực hiện thủ tục kê khai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, căn cứ pháp lý để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cần l­ưu ý hỏi thêm ý kiến của cơ quan có thẩm quyền đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, để làm rõ trường hợp nào Uỷ ban nhân dân đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng pháp luật, để từ đó công nhận quyền sử dụng đất cho bên được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp.

d. Đối với trường hợp chưa bên nào được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng quá trình sử dụng người sử dụng đất đầu tư tài sản trên đất như: xây nhà, xây tường bao… chủ cũ biết không có ý kiến gì thì cần tham khảo ý kiến của chính quyền địa phương, sau đó tùy từng trường hợp để giải quyết. Nếu quá trình sử dụng người sử dụng đất đầu tư tài sản trên đất như xây nhà… chủ cũ biết phản đối và yêu cầu địa phương can thiệp thì cần công nhận quyền sử dụng đất cho chủ cũ. Nếu quá trình sử dụng người sử dụng đất đầu tư tài sản trên đất như xây nhà… chủ cũ biết không phản đối và cũng không yêu cầu địa phương can thiệp thì cần công nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng.

e. Cần lưu ý nếu Tòa án buộc người sử dụng đất phải trả đất cho chủ cũ thì phải căn cứ vào sự thỏa thuận của các bên và căn cứ vào yêu cầu, mức độ lỗi của các bên để giải quyết tài sản trên đất do người sử dụng đất đầu tư.

2.2. Đối với trường hợp chiếm hữu quyền sử dụng đất không có căn cứ pháp luật nhưng xẩy ra sau 15-10-1993 (ngày luật đất đai có hiệu lực).

Trường hợp người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật trong thời gian dài thì cần căn cứ vào những diễn biến cụ thể để xác định tại sao chủ cũ biết đất đang bị người khác chiếm hữu mà không đòi ?, chủ cũ có một trong các loại giấy tờ quy định tại Khoản 1, Điều 50 Luật đất đai 2003 hay không ? việc cấp giấy của UBND cho chủ mới có đúng trình tự thủ tục hay không?, chính sách đất đai đối với từng loại đất và căn cứ vào quy định BLDS, Luật đất đai… để xem xét việc chấp nhận việc đòi đất của chủ cũ hay không? (nếu là đất ruộng, đất nông nghiệp cần phải xem xét chính sách về đất đai đối với loại đất này, tham khảo với đề xuất nêu trên).

Trên đây là ý kiến của cá nhân tôi (thông qua tổng kết thực tiễn giải quyết khiếu kiện tại toà án nhân dân), rất mong các quý vị tham gia Hội thảo đóng góp ý kiến để bài viết thêm hoàn thiện.

——————————————————————

CHUYÊN ĐỀ CHO HỘI THẢO KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG DO BỘ MÔN LUẬT DÂN SỰ – KHOA LUẬT DÂN SỰ – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI TỔ CHỨC VÀO NGÀY 11/12/2007

CÁC BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN:

1. TS. Trn Th Hu. Quyn s hu và quyn năng ca ch s hu. 2. ThS. Vương Thanh Thúy. Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. 3. TS. Nguyễn Minh Tuấn. Qui định về kiện đòi lại tài sản trong pháp luật dân sự Việt Nam và một số nước trên thế giới. 4. TS . Phùng Trung Tập. Kiện đòi lại tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình. 5. ThS. Nguyễn Như Quỳnh. Kiện đòi lại tài sản làđộng sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình. 6. TS. Nguyễn Văn Cường. Một số vấn đề thực tiễn trong việc kiện đòi nhà, đất do người khác chiếm hữu không có căn cứ pháp luật tại Tòa án nhân dân. 7. ThS. Vũ Thị Hồng Yến. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi chủ sở hữu kiện đòi lại tài sản. 8. ThS. Nguyễn Thị Tuyết. Bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự – những ưu điểm và hạn chế so với các phương thức khác. 9. ThS. Vũ Thị Hải Yến. Tự bảo vệ quyền sở hữu – Nhưng ưu điểm và hạn chế so với các biện pháp khác 10. ThS. Trần Kim Chi. Thực trạng về biện pháp dân sự bảo vệ quyền sở hữu. 11. ThS. Bùi Thị Huyền. Một số vấn đề về thủ tục tố tụng dân sự trong bảo vệ quyền sở hữu tài sản tại Tòa án nhân dân.

KIỆN YÊU CẦU BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

ThS. VƯƠNG THANH THÚY – Khoa Luật dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Quyền sở hữu là một phạm trù pháp lý phản ánh các quan hệ sở hữu trong một chế độ sở hữu nhất định, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh những quan hệ về sở hữu trong xã hội. Các quy phạm pháp luật về sở hữu xác nhận, quy định và bảo vệ các quyền lợi của các chủ sở hữu trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình.

Khi thực hiện quyền sở hữu, chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp có thể bị xâm phạm bởi hành vi của các chủ thể khác. Công cụ được coi là hữu hiệu và thiết thực nhất để bảo vệ quyền sở hữu chính là pháp luật.

Bằng những quy phạm khác nhau, Nhà nước điều chỉnh bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp bằng nhiều ngành luật như luật hành chính với những thể lệ nhằm quản lý và bảo vệ tài sản Nhà nước, tổ chức và cá nhân công dân hay các biện pháp hành chính mang tính cưỡng chế, phòng ngừa, ngăn chặn; luật hình sự với việc quy định một số hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến quyền sở hữu là tội phạm; … Trong các phương thức pháp lý bảo vệ quyền sở hữu, phương thức dân sự, với những đặc điểm riêng, có vai trò to lớn và được coi là có hiệu quả thiết thực nhất vì nó khôi phục lại tình trạng ban đầu về mặt vật chất cho chủ sở hữu và người chiếm hữu hợp pháp.

Phương thức dân sự bảo vệ quyền sở hữu bằng việc quy định những phương thức kiện dân sự trước Toà án để chủ sở hữu có thể thông qua đó đòi lại tài sản của mình đang bị người khác chiếm giữ bất hợp pháp, đòi người khác phải bồi thường thiệt hại về tài sản hoặc yêu cầu ngăn chặn, chấm dứt hành vi xâm phạm quyền sở hữu.

Như vậy, kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là một phương thức kiện dân sự để yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi của người bị xâm phạm quyền sở hữu. Theo Điều 260 của Bộ luật Dân sự: ‘Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình bồi thường thiệt hại’.

Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại (còn được gọi là kiện trái quyền) là một trong những phương thức rất phổ biến được sử dụng để bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp. Để hiểu rõ về phương thức kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại, trong phạm vi bài viết này, những điều kiện làm phát sinh phương thức kiện cần được tìm hiểu như chủ thể nào có quyền khởi kiện, chủ thể nào có thể bị kiện và tình trạng tài sản thoả mãn điều kiện của phương thức kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. Nói cách khác, trong những trường hợp cụ thể nào, phương thức kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại có thể được áp dụng.

* Chủ thể thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại

Theo Điều 260 của Bộ luật Dân sự, chủ thể khởi kiện có thể là chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp.

Như vậy, ngoài chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp tài sản cũng có quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. Đối với vấn đề này, có một số điểm, theo chúng tôi, cần xác định rõ.

Thứ nhất, về quy định người chiếm hữu hợp pháp

Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt là ba quyền năng thuộc quyền sở hữu. Bộ luật Dân sự chỉ phân loại chiếm hữu thành hai hình thức là chiếm hữu có căn cứ pháp luật và chiếm hữu không có căn cứ pháp luật. Theo Điều 183 Bộ luật Dân sự, chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản trong các trường hợp: chủ sở hữu chiếm hữu tài sản; người không phải là chủ sở hữu chiếm hữu tài sản trong các trường hợp: được chủ sở hữu uỷ quyền quản lý tài sản, được chủ sở hữu chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật, phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm phù hợp với các điều kiện của pháp luật quy định, phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định và các trường hợp khác.

Như vậy, không có quy định trong Bộ luật Dân sự đề cập đến chiếm hữu hợp pháp là chiếm hữu của chủ thể nào. Theo cách hiểu thông thường, chiếm hữu hợp pháp là chiếm hữu có căn cứ pháp luật và chiếm hữu bất hợp pháp là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.

Nếu xét trên mặt ngữ nghĩa, cách hiểu này cũng chưa được thoả đáng. ‘Bất hợp pháp’ có nghĩa là không phù hợp quy định của pháp luật. ‘Không có căn cứ pháp luật’ là không tồn tại quy định nào của pháp luật để dựa vào. Hai ý nghĩa này không phải lúc nào cũng trùng khớp. Trong thực tế, sẽ có những trường hợp, sự chiếm hữu là không dựa trên quy định nào của pháp luật nhưng nó không trái với nguyên tắc chung của luật. Ví dụ với một số trường hợp người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật có nên xác định là chiếm hữu bất hợp pháp hay không?

Đặt giả thiết là cách hiểu này hoàn toàn hợp lý và chính xác về mặt ngữ nghĩa, quy định tại Điều 260 cũng vẫn tồn tại vấn đề cần xem xét. Nếu chiếm hữu hợp pháp là chiếm hữu có căn cứ pháp luật thì người chiếm hữu hợp pháp chính là chủ sở hữu và người không phải chủ sở hữu trong một số trường hợp đã nêu tại Điều 183. Điều 260 ghi rõ: ‘Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình bồi thường thiệt hại’. Vậy, ‘chủ sở hữu’ với tư cách là người chiếm hữu hợp pháp (Điều 183) và ‘chủ sở hữu’ nói riêng (Điều 260) có trùng nhau hay khác nhau?

Theo quan điểm của chúng tôi, ở đây, điều luật chỉ quy định về chủ sở hữu tài sản mà thôi.Vấn đề nằm ở chỗ, quy định của Điều luật chưa thực sự xác đáng, dẫn đến trùng lặp trong cách diễn đạt và cách hiểu. Để có thể hiểu chính xác hơn, theo chúng tôi, quy định này nên ghi nhận: Chủ sở hữu và người không phải chủ sở hữu chiếm hữu có căn cứ pháp luật có quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Thứ hai về quy định người có quyền khởi kiện

Theo quy định của luật Dân sự, để trở thành chủ sở hữu tài sản, một cá nhân không cần đáp ứng yêu cầu có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Căn cứ xác lập quyền sở hữu được Bộ luật Dân sự quy định rõ trong Chương XIV, Mục 1 từ Điều 233 đến Điều 247 với các trường hợp theo các căn cứ riêng biệt, theo hợp đồng dân sự hoặc theo các trường hợp cụ thể được pháp luật quy định như đối với tài sản do lao động, kinh doanh hợp pháp; tài sản bị đánh rơi, bỏ quên, chôn giấu, chìm đắm, vô chủ, không xác định chủ sở hữu; tài sản được thừa kế, …

Theo quy định của luật Tố tụng Dân sự, điều kiện khởi kiện vụ án dân sự bao gồm các điều kiện về chủ thể, thời hiệu, thẩm quyền của Toà án, vụ án chưa được xem xét giải quyết tại Toà án (trừ một số trường hợp do pháp luật quy định) và một số điều kiện về mặt hình thức khác (theo Điều 168 Bộ luật Tố tụng Dân sự). Trong đó, tư cách người khởi kiện là một điều kiện quan trọng.

Người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự mà tiến hành khởi kiện sẽ bị Toà án trả lại đơn khởi kiện. Không có quyền khởi kiện được hiểu là không có quyền và lợi ích hợp pháp giả thiết bị xâm phạm, không có tư cách đại diện cho người bị xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp hoặc không phụ trách lĩnh vực bị xâm phạm về quyền và lợi ích công cộng. Năng lực hành vi tố tụng dân sự, ngoài những trường hợp đặc biệt được quy định trong luật cũng trùng với năng lực hành vi dân sự. Đó là người từ đủ 18 tuổi trở lên, không thuộc các trường hợp mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Quy định tại Điều 260 Bộ luật Dân sự, chủ sở hữu và người chiếm hữu hợp pháp có quyền khởi kiện nên hiểu như thế nào? Đó là những người chỉ có quyền với ý nghĩa là năng lực pháp luật dân sự hay đó là những người có quyền thực tế thực hiện hành vi khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự?

Nếu họ là những người được thực tế thực hiện hành vi khởi kiện, quy định của luật Dân sự và quy định của luật Tố tụng Dân sự sẽ có điểm chưa hài hoà, đồng nhất. Theo quy định của luật Tố tụng Dân sự, năng lực hành vi tố tụng dân sự không quyết định tư cách nguyên đơn, bị đơn nhưng lại quyết định tư cách của người khởi kiện. Như vậy, nếu gặp trường hợp chủ sở hữu tài sản là người chưa có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, dù có thoả mãn các điều kiện có thể áp dụng phương thức kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại, họ vẫn không thể tiến hành kiện trên thực tế.

Do đó, theo quan điểm của chúng tôi, ‘quyền khởi kiện’ quy định tại Điều 260 Bộ luật Dân sự nên hiểu đó là năng lực pháp luật dân sự và năng lực pháp luật tố tụng dân sự của chủ sở hữu và những người khác. Có nghĩa là những người này theo quy định pháp luật có quyền và nghĩa vụ dân sự, có quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. Việc thực hiện hành vi khởi kiện, yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trên thực tế phải căn cứ vào mức độ năng lực hành vi dân sự của của các đương sự trong những trường hợp cụ thể.

* Điều kiện khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại

Để thực hiện phương thức kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại, theo chúng tôi, cần đáp ứng được hai nhóm điều kiện cơ bản. Đó là nhóm điều kiện về sự chiếm hữu vật và nhóm điều kiện về vật (tài sản bị kiện, đang tranh chấp) ở thời điểm khởi kiện.

Thứ nhất, nhóm điều kiện về sự chiếm hữu vật

Điều kiện về sự chiếm hữu vật có thể hiểu trên những góc độ sau: vật rời khỏi chủ sở hữu, người khác chiếm hữu có căn cứ pháp luật là theo ý chí của những người này, người thứ ba chiếm hữu được tài sản là thông qua giao dịch dân sự có đền bù và tài sản, đối tượng phương thức kiện là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu.

- Tài sản rời khỏi chủ sở hữu hoặc người khác chiếm hữu có căn cứ pháp luật theo ý chí của họ

Vấn đề đầu tiên cần xác định là tài sản đã rời khỏi sự chiếm hữu của người có quyền như thế nào, có theo ý muốn của họ hay không, có bị chiếm đoạt, tước đoạt quyền sở hữu hay không.

Điều kiện này cho thấy, tài sản tranh chấp không bị tước đoạt khỏi sự chiếm hữu có căn cứ pháp luật ngoài ý muốn của các chủ thể có quyền chiếm hữu. Nói cách khác, tài sản được chuyển giao sự chiếm hữu thông qua các hành vi có ý thức của người có quyền chiếm hữu như cho mượn, cho thuê, cho vay, …

- Người đang thực tế chiếm giữ vật là người thứ ba ngay tình, có được tài sản thông qua giao dịch dân sự có đền bù

Người thứ ba ngay tình là người chiếm giữ tài sản không dựa trên bất kỳ căn cứ nào tại Điều 183 Bộ luật Dân sự về các trường hợp chiếm hữu có căn cứ pháp luật nhưng không biết hoặc không buộc phải biết việc chiếm hữu là không có căn cứ pháp luật.

Người này có được tài sản bằng giao dịch dân sự có đền bù. Nghĩa là người này có được tài sản bằng hành vi mua bán, trao đổi tài sản, đổi một tài sản khác để được tài sản đang chiếm giữ.

- Tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu trừ một số ngoại lệ do pháp luật quy định.

Tài sản thoả mãn điều kiện của phương thức kiện, về nguyên tắc phải là động sản. Theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Dân sự, động sản là những tài sản không phải là bất động sản. Có nghĩa tài sản này không là đất đai, nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng, gắn liền với đất đai hoặc các một số tài sản theo quy định của pháp luật là bất động sản.

Ngoài ra, tài sản thoả mãn điều kiện của phương thức kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại còn phải là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu. Nghĩa là việc sở hữu các động sản này không cần đăng ký theo thủ tục nhất định tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Những tài sản này thông thường là những tài sản có giá trị không lớn, không ảnh hưởng đến nền kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng của đất nước và do vậy, không cần sự quản lý theo thủ tục đăng ký của các cơ quan chức năng.

Về nguyên tắc, chỉ có tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu mới thoả mãn điều kiện của phương thức kiện này. Nhưng theo quy định tại Điều 258, tài sản là động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản cũng có thể trở thành điều kiện của phương thức kiện này nếu như thuộc một trong hai trường hợp: người thứ ba ngay tình có được tài sản thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa. Những trường hợp này, lỗi xác định là từ phía cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Người tham gia giao dịch không thể biết được việc chiếm hữu của mình thực sự là không có căn cứ pháp luật. Họ không phải chịu trách nhiệm về lỗi của cơ quan Nhà nước. Do vậy, họ được bảo vệ quyền sở hữu.

Có thể thấy, nhóm quan hệ về sự chiếm hữu vật vừa nêu thuộc nội hàm của nguyên tắc bảo vệ người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu. Theo quan điểm của chúng tôi, nếu ba điều kiện này thoả mãn, chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu có căn cứ pháp luật khác không thể thực hiện phương thức kiện đòi tài sản với người đang chiếm hữu vật trên thực tế. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, họ chỉ có thể thực hiện phương thức kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Thứ hai, nhóm điều kiện về vật

Khi chủ sở hữu hoặc những người khác chiếm hữu có căn cứ pháp luật bị xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, họ có thể khởi kiện để đòi tài sản hoặc yêu cầu bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, khi vật, tài sản đã rời khỏi họ theo những điều kiện nêu trên, có những trường hợp, họ chỉ có thể khởi kiện theo phương thức kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại mà không thể kiện đòi tài sản. Đó chính là những đặc điểm của vật ở thời điểm khởi kiện.

Có hai đặc điểm cơ bản có thể nêu trong trường hợp này. Đó là vật hiện không còn trong tay người bị kiện (không xác định được người đang chiếm hữu vật); vật bị tiêu hủy hoặc không còn nguyên trạng như khi rời khỏi chủ sở hữu, người chiếm hữu có căn cứ pháp luật khác.

- Không xác định được người đang chiếm hữu thực tế vật

Sau khi vật rời khỏi chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu có căn cứ pháp luật khác theo ý chí của những người này, việc chiếm hữu vật có thể được chuyển giao cho người khác. Khi không thoả mãn các yếu tố có thể áp dụng nguyên tắc bảo vệ người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu, người đang chiếm giữ tài sản sẽ không được bảo vệ quyền sở hữu và có thể bị kiện đòi tài sản. Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng xác định được người này. Vì các chủ thể, các mối quan hệ trong xã hội rất đa dạng và phức tạp.

Ví dụ 1, A là chủ sở hữu của chiếc điện thoại di động Nokia N72 trị giá 5 triệu đồng. A cho B mượn điện thoại để sử dụng trong 1 tuần. Sau đó, B bị C móc trộm điện thoại khi đang đi trên đường.

Ví dụ 2, A là chủ sở hữu của chiếc điện thoại di động Nokia N72 trị giá 5 triệu đồng. A cho B mượn điện thoại để sử dụng trong 1 tuần. Sau khi gặp gỡ và làm quen một người lạ là C, B đã cho C chiếc điện thoại trên

Ví dụ 3, A là chủ sở hữu của chiếc điện thoại di động Nokia N72 trị giá 5 triệu đồng. B đã móc trộm điện thoại của A rồi bán cho C với giá 2 triệu đồng.

Trong cả ba trường hợp trên, C đều có thể bị khởi kiện đòi tài sản. Vì nguyên tắc bảo vệ người thứ ba ngay tình không được áp dụng. Tuy nhiên, nếu không thể xác định C hiện đang ở đâu hoặc C sau khi có được tài sản đã đem bán, tặng, cho người khác và người này không xác định hiện ở đâu thì dù có thoả mãn điều kiện kiện đòi tài sản, những trường hợp trên cũng không thể kiện đòi tài sản được. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, những chủ thể có quyền khởi kiện chỉ có thể khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại

- Vật bị tiêu hủy hoặc không còn nguyên trạng

Một đặc điểm rất điển hình của phương thức kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là tình trạng của vật.

Khi tất cả các điều kiện khác của kiện đòi tài sản đều được thoả mãn, các chủ thể đều được xác định rõ ràng, nếu vật bị kiện không còn tồn tại hoặc không còn nguyên trạng thì các chủ thể cũng không thể thực hiện được phương thức kiện đòi tài sản.

Ví dụ 1, tài sản, đối tượng kiện là vật tiêu hao đã bị người đang chiếm hữu sử dụng hết như sử dụng hết lương thực, thực phẩm, …

Ví dụ 2, tài sản, đối tượng kiện đã bị người đang chiếm hữu định đoạt số phận thực tế như đốt cháy, đập nát, vứt bỏ,…

Ví dụ 3, tài sản, đối tượng kiện đã bị người đang chiếm hữu tác động khiến không còn nguyên trạng ban đầu như không còn nguyên tính năng, công dụng của tài sản, phá hỏng tài sản đến mức không khôi phục được hoặc chế biến tài sản từ dạng nguyên vật liệu thành sản phẩm, chế biến tài sản từ hình dạng này sang hình dạng khác mà không thể khôi phục.

Trên thực tế, khi các chủ thể kiện đòi bồi thường thiệt hại, họ có thể nhận được tài sản bồi thường. Ví dụ, A kiện B yêu cầu bồi thường chiếc điện thoại Nokia N72, B sẽ trả cho A một chiếc điện thoại Nokia N72 tương ứng. Trong trường hợp này, tuy chủ sở hữu đã có được tài sản nhưng cần thiết phải xác định rõ, không phải là họ đòi lại được tài sản mà chỉ là được bồi thường một tài sản cùng loại mà thôi. Chính vì lý do này, theo một số ý kiến, đặc điểm của vật để có thể khởi kiện đòi tài sản phải là vật đặc định. Chúng ta hiểu vật đặc định trong trường hợp này không đồng nghĩa rằng chỉ trong trường hợp vật đó là duy nhất mới có thể kiện đòi tài sản, mà nên hiểu rằng vật đó đã được xác định, đặc định hoá từ những vật cùng loại khác. Vì vậy, khi vật đặc định không còn, phương thức bảo vệ quyền sở hữu chỉ có thể là kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại để nhận được một tài sản cùng loại tương ứng.

* Người bị kiện theo phương thức kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại

Qua những điều kiện đã phân tích ở trên có thể thấy người bị kiện không chỉ là người thứ ba chiếm hữu tài sản không ngay tình hoặc không qua giao dịch dân sự có đền bù; người có được tài sản từ sự tước đoạt quyền sở hữu từ chủ sở hữu; cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có lỗi để người thứ ba có được tài sản mà còn có thể là chính người chiếm hữu có căn cứ pháp luật dựa trên sự chuyển giao của chủ sở hữu.

Với những ví dụ và điều kiện đã nêu, trong trường hợp không thể xác định được người đang thực tế chiếm hữu tài sản hoặc người đang thực tế chiếm hữu tài sản là người thứ ba ngay tình được bảo vệ quyền sở hữu hoặc vật bị kiện đã bị tiêu huỷ, không còn nguyên trạng hoặc ngay cả trong trường hợp xác định được người thứ ba và người này có thể bị kiện, chủ sở hữu cũng có thể kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại với người đã được mình chuyển giao quyền chiếm hữu tài sản.

Bởi vì người này đã nhận sự chuyển giao quyền chiếm hữu tài sản theo ý chí của chủ sở hữu, họ phải chịu trách nhiệm hoàn trả tài sản cho chủ sở hữu. Nếu họ không hoàn trả được tài sản, họ hoàn toàn có thể trở thành bị đơn trước Toà án, tức là người giả thiết đã xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn và bị nguyên đơn hoặc người đại diện của nguyên đơn khởi kiện.

Nói tóm lại, phương thức kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là một trong những phương thức hữu hiệu để bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp. Để thực hiện phương thức kiện này, một số điều kiện nhất định cần thiết phải được đáp ứng để đảm bảo tuân thủ các quy định có liên quan của pháp luật về vấn đề này.

——————————————————————

CHUYÊN ĐỀ CHO HỘI THẢO KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG DO BỘ MÔN LUẬT DÂN SỰ – KHOA LUẬT DÂN SỰ – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI TỔ CHỨC VÀO NGÀY 11/12/2007

CÁC BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN:

1. TS. Trn Th Hu. Quyn s hu và quyn năng ca ch s hu. 2. ThS. Vương Thanh Thúy. Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. 3. TS. Nguyễn Minh Tuấn. Qui định về kiện đòi lại tài sản trong pháp luật dân sự Việt Nam và một số nước trên thế giới. 4. TS . Phùng Trung Tập. Kiện đòi lại tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình. 5. ThS. Nguyễn Như Quỳnh. Kiện đòi lại tài sản làđộng sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình. 6. TS. Nguyễn Văn Cường. Một số vấn đề thực tiễn trong việc kiện đòi nhà, đất do người khác chiếm hữu không có căn cứ pháp luật tại Tòa án nhân dân. 7. ThS. Vũ Thị Hồng Yến. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi chủ sở hữu kiện đòi lại tài sản. 8. ThS. Nguyễn Thị Tuyết. Bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự – những ưu điểm và hạn chế so với các phương thức khác. 9. ThS. Vũ Thị Hải Yến. Tự bảo vệ quyền sở hữu – Nhưng ưu điểm và hạn chế so với các biện pháp khác 10. ThS. Trần Kim Chi. Thực trạng về biện pháp dân sự bảo vệ quyền sở hữu. 11. ThS. Bùi Thị Huyền. Một số vấn đề về thủ tục tố tụng dân sự trong bảo vệ quyền sở hữu tài sản tại Tòa án nhân dân.

BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI THỨ BA NGAY TÌNH KHI CHỦ SỞ HỮU KIỆN ĐÒI LẠI TÀI SẢN

THS. VŨ THỊ HỒNG YẾN – Khoa Luật dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Giao dịch dân sự chính là công cụ hữu hiệu để các chủ thể tìm kiếm và trao đổi lợi ích với nhau. Nhưng thực tế cho thấy, đôi khi chủ thể đã xác lập, thực hiện một giao dịch dân sự nhưng lại không đạt được lợi ích mà mình mong muốn mặc dù họ hoàn toàn thiện chí và ngay thẳng khi tham gia vào giao dịch đó. Nhà làm luật gọi những chủ thể này là người thứ ba ngay tình. Nguyên nhân nằm ở chỗ lợi ích của họ bị đối kháng với lợi ích của một chủ thể khác – đó là chủ sở hữu đích thực của tài sản trong giao dịch. Hay nói cách khác người xác lập giao dịch với người thứ ba ngay tình là người không có quyền định đối đối với tài sản đó. Vậy pháp luật sẽ quy định như thế nào để bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu tài sản với quyền lợi của người thứ ba ngay tình, đó là câu hỏi mà chúng ta cần làm rõ trong phạm vi bài viết này.

1. Khái niệm người thứ ba ngay tình.

Người thứ ba ngay tình trước hết là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật đối với tài sản nhưng ngay tình. Theo quy định tại điều 189 – BLDS 2005 có 2 khái niệm: 1. Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu không phù hợp với quy định tại điều 183 – BLDS 2005, đó là hành vi chiếm hữu không rơi vào các trường hợp sau: Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản; Người được chủ sở hữu uỷ quyền quản lý tài sản; Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật như quan hệ mua bán, cho vay, tặng cho, trao đổi, cho thuê, cho mượn, gửi giữ…; Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm phù hợp với các điều kiện luật định; Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định. 2. Chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình là người chiếm hữu mà không biết và không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật. Theo nguyên tắc suy đoán của pháp luật dân sự, hành vi chiếm hữu không có căn cứ pháp luật sẽ là không ngay tình; vậy chủ thể chiếm hữu muốn khẳng định hành vi chiếm hữu của mình tuy không dựa trên căn cứ luật định nhưng là ngay tình thì phải có các chứng cứ để chứng minh. Làm thế nào để có thể chứng minh là ý chí của mình không biết được hành vi chiếm hữu là không có căn cứ pháp luật? Có thể chứng minh đó là hành vi chiếm hữu đối với loại tài sản không đăng ký quyền sở hữu – đó là trường hợp pháp luật không bắt buộc phải biết hành vi chiếm hữu của một người là hợp pháp hay không; do vậy không biết được người chuyển giao quyền chiếm hữu cho mình có phải là chủ sở hữu đích thực của tài sản hay không khi họ đang thực tế nắm giữ tài sản và khẳng định tư cách của sở hữu của họ; quan hệ giao dịch được thực hiện một cách công khai, minh bạch; tài sản được chuyển giao theo đúng giá trị. Ví dụ mua một chiếc xe đạp tại một cửa hàng tại chợ theo đúng giá trị của chiếc xe (không phải mua bán lén lút, mua với giá quá rẻ hay không có địa chỉ rõ ràng) nhưng sau đó được phát hiện là chiếc xe đó là xe bị trộm cắp mà người bán đã trả cửa hàng thuê ở cho và hiện không biết ở đâu. Còn trong trường hợp nào, người chiếm hữu chứng minh được ý chí của họ không thể biết việc chiếm hữu là không có căn cứ pháp luật. Đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu pháp luật buộc người xác lập giao dịch liên quan đến tài sản đó phải kiểm tra các giấy tờ đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản (có giấy tờ đăng ký quyền sở hữu không, giấy tờ đó có hợp pháp hay không) để chứng minh tư cách của người chuyển giao quyền chiếm hữu tài sản cho mình. Nếu giấy tờ được làm giả tinh vi đến mức người bình thường khó có thể nhận thấy, chỉ có cơ quan chức năng hay người có trình độ chuyên môn trong lĩnh vực tương ứng mới phát hiện được thì rõ ràng đó là trường hợp pháp luật buộc phải biết nhưng người chiếm hữu không thể biết hành vi chiếm hữu của mình là không có căn cứ pháp luật.

Vậy khi nào người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật ngay tình được gọi là người thứ ba ngay tình. Người thứ ba xuất hiện trong mối quan hệ với các chủ thể nào? Đó là mối quan hệ với chủ sở hữu đích thực của tài sản, nhưng đó là mối quan hệ bắc cầu thông qua một chủ thể trung gian nhất định. Chúng ta có thể hình dung mối quan hệ này như sau:

MQH 1

Chủ sở hữu tài sản————————Người trung gian —–

MQH 2

———————Người thứ ba ngay tình

Mối quan hệ 1: có thể là quan hệ bất hợp pháp: trộm cắp, cướp giật, lừa đảo; có thể là một giao dịch hợp pháp nhằm chuyển giao quyền sử dụng đối với tài sản như: cầm đồ, cho thuê, cho mượn…; có thể là hành vi chiếm hữu không có căn cứ pháp luật không ngay tình: nhặt được tài sản do chủ sở hữu đánh rơi, bỏ quên nhưng không thông báo theo luật định; có thể là hành vi được lợi về tài sản: tự nhiên có tài sản mà không biết…

Mối quan hệ 2: đó là các quan hệ có tính chất xâm phạm đến quyền lợi của chủ sở hữu đích thực của tài sản như những giao dịch có mục đích chuyển quyền sở hữu đối với tài sản như: cho vay, bán, tặng cho, trao đổi; hoặc đó là các quan hệ có khả năng dẫn đến chuyển quyền sở hữu đối với tài sản như thế chấp, cầm cố, cầm đồ.

Như vậy chủ thể cuối cùng trong mối quan hệ thứ 2 được gọi là người thứ ba và đó là chủ thể ngay tình bởi họ đã bị nhầm lẫn về tư cách của chủ thể đã xác lập giao dịch với mình. Họ tưởng rằng mình đã thực hiện giao dịch với người có quyền định đoạt đối với tài sản nhưng thực tế lại không phải vậy.

2. Kiện đòi tài sản là một trong các phương thức để bảo vệ quyền của chủ sở hữu tài sản.

Theo quy định của pháp luật dân sự, chủ sở hữu tài sản có quyền lựa chọn một trong 3 phương thức kiện sau đây để bảo vệ quyền của mình khi có hành vi xâm hại xảy ra trên thực tế: kiện yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu (điều 259 – BLDS 2005); kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại (điều 260 – BLDS 2005); kiện đòi lại tài sản (điều 256 – BLDS 2005). Thông thường chủ sở hữu nào cũng muốn lựa chọn phương thức đòi lại tài sản bởi vì đây là phương thức bảo hộ thiết thực và hiệu quả hơn so với phương thức kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại bởi không cần quan tâm đến khả năng tài chính của người phải thực hiện nghĩa vụ. Chủ sở hữu muốn đòi lại tài sản phải đáp ứng được các điều kiện sau: 1. Phải chứng minh được tư cách chủ sở hữu đích thực đối với tài sản; 2. Tài sản đó hiện đang còn tồn tại; 3. Người đang chiếm giữ tài sản là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật. Như vậy, sự ghi nhận của pháp luật đối với phương thức bảo vệ quyền sở hữu này đã thể hiện thái độ tôn trọng và bảo vệ tuyệt đối của Nhà nước đối với các quan hệ sở hữu hợp pháp.

3. Sự đối kháng về lợi ích giữa chủ sở hữu của tài sản với người thứ ba ngay tình.

Một nguyên tắc được thừa nhận trong chế định sở hữu đó là các quyền năng của chủ sở hữu sẽ được pháp luật tôn trọng và bảo vệ tuyệt đối, thông qua các quy định cho phép chủ sở hữu được đòi lại tài sản của mình từ những người chiếm hữu, người sử dụng, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật. Chủ sở hữu có quyền đòi tài sản từ những chủ thể có mối quan hệ trực tiếp với chủ sở hữu là lẽ hoàn toàn tất yếu, hợp cả về lý lẫn tình. Có thể phân chia mối quan hệ này thành 2 loại:

1. Những quan hệ mà tài sản rời khỏi chủ sở hữu phù hợp với ý chí của chủ sở hữu như quan hệ cho thuê, cho mượn tài sản, dùng tài sản để cầm cố, cầm đồ…Vậy, theo bản chất của những quan hệ này và sự thoả thuận của các bên trong quan hệ nên chủ sở hữu hoàn toàn có căn cứ để đòi lại tài sản của mình;

2. Những quan hệ mà tài sản rời khỏi chủ sở hữu ngoài ý chí của họ, có 2 loại: thứ nhất, tài sản bị chiếm đoạt trái pháp luật như bị trộm cắp, cướp giật, lừa đảo; thứ hai, tài sản của chủ sở hữu mà người khác có được do được lợi, do vô tình phát hiện nhặt được…nhưng không thông báo theo luật định. Công nhận cho chủ sở hữu được đòi lại tài sản trong trường hợp này là chính đáng bởi những chủ thể đang nắm giữ tài sản này có động cơ bất hợp pháp, không trong sáng và tham lam khi chiếm giữ tài sản.

Nhưng nếu người đang thực tế chiếm giữ tài sản là người thứ ba ngay tình (có mối quan hệ bắc cầu với chủ sở hữu qua người trung gian; và hoàn toàn thiện chí, ngay thẳng khi xác lập, thực hiện các giao dịch này) thì quyền đòi tài sản này của chủ sở hữu có được duy trì hay không? Ở đây, nhà làm luật cần phải cân nhắc sự xung đột về lợi ích giữa quyền của chủ sở hữu tài sản và lợi ích hợp pháp của người thứ ba ngay tình. Thực chất, đứng sau quyền lợi của người thứ ba ngay tình còn là lợi cíh chung của cả xã hội, cụ thể đó là sự ổn định và an toàn của các giao dịch dân sự đã được các chủ thể xác lập. Nếu tuyệt đối hoá hoàn toàn quyền được đòi tài sản của chủ sở hữu thì sẽ tất tạo ra tâm lý e dè, lo sợ của các chủ thể khi quyết định thực hiện một giao dịch dân sự để xác lập quyền sở hữu đối với một tài sản cụ thể. Và vô hình chung quy định này sẽ tạo ra một rào cản cho sự thúc đẩy các giao lưu dân sự, thương mại phát triển và kìm hãm sự phát triển kinh tế xã hội nói chung, đặc biệt trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường đang chuyển mình hội nhập của nước ta hiện nay. Để cân bằng sự xung đột về lợi ích trong trường hợp này, chế định bảo vệ quyền sở hữu trong BLDS 2005 đã có những quy định rất mềm dẻo và linh hoạt, đặc biệt đã dành một thái độ tôn trọng và bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình – một điểm tiến bộ hơn hẳn so với quy định của BLDS 1995 trước đó.

4. Quyền lợi của người thứ ba ngay tình được bảo vệ khi chủ sở hữu đòi lại tài sản.

Quyền lợi của người thứ ba ngay tình sẽ được bảo vệ trong 2 trường hợp sau:

Trường hợp 1: Chủ sở hữu được đòi lại tài sản theo các điều kiện luật định (xem điều 257 và 258 – BLDS 2005). Lúc này, người thứ ba ngay tình phải trả lại tài sản mà mình đang chiếm giữ cho chủ sở hữu đích thực của tài sản và lợi ích của họ sẽ được pháp luật bảo hộ dưới các góc độ sau:

- Được yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại (giá trị đòi bồi thường là giá trị của giao dịch mà họ đã xác lập và các thiệt hại khác nếu có như hệ số trượt giá của tài sản…) từ người đã trực tiếp chuyển giao tài sản cho mình. Quy định này hoàn toàn lô gíc về mặt lý thuyết: tuy mục đích trong giao dịch đã xác lập không đạt được (họ muốn sở hữu tài sản nhưng nay tài sản đã phải trả về cho chủ sở hữu) nhưng họ được quyền đòi lại những gì đã mất từ người đã trực tiếp xác lập giao dịch; nhưng xét dưới góc độ thực tế thì đây không phải là quy định mang tính lý tưởng. Bởi lẽ, chỉ có thể thi hành quy định này trên thực tế nếu thoả mãn được hay điều kiện: 1. tìm được người đã chuyển giao tài sản đó cho người thứ ba ngay tình; 2. người phải bồi thường có khả năng tài chính và tự nguyện thực hiện nghĩa vụ. Điều kiện thứ 1 là khó thực hiện được bởi vốn dĩ họ là người có động cơ tham lam, không trong sáng nên sau khi thực hiện giao dịch xong, đạt được lợi ích mong muốn họ thường tìm cách xoá mọi tin tức để tránh trách nhiệm sau này. Điều kiện thứ 2 phụ thuộc vào điều kiện thứ nhất có tồn tại hay không và cũng thường gặp những phức tạp như: người phải thi hành nghĩa vụ không có tiền để bồi thường hoặc họ tìm cách biển thủ tài sản để chây ì không chịu thực hiện nghĩa vụ.

- Được hưởng hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu đến thời điểm phải hoàn trả tài sản cho chủ sở hữu.

- Được thanh toán những chi phí đã bỏ ra để làm tăng giá trị cho tài sản.

Lưu ý: Nếu là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng không ngay tình phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu đích thực nhưng không bao giờ được hưởng tất cả các quyền lợi trên, cụ thể như sau:

- Không được quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại từ người đã trực tiếp chuyển giao tài sản cho mình, bởi họ bị coi như vị trí của người tiêu thụ tài sản do hành vi bất hợp pháp mà có

- Phải hoàn trả toàn bộ hoa lợi, lợi tức đã thu được từ tài sản.

- Không được thanh toán những chi phí đã bỏ ra để làm tăng giá trị cho tài sản, bởi nhà làm luật coi đó như là hành vi nguỵ trang đối với tài sản

- Phải bồi thường toàn bộ khoản lợi nhuận mà chủ sở hữu bị mất do khai thác và giá trị tài sản.

Trường hợp thứ 2: Chủ sở hữu đích thực không có quyền kiện đòi tài sản trong 2 trường hợp: không đáp ứng được các điều kiện về đòi tài sản được quy định tại điều 257, 258 – BLDS 2005 ;và người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu theo quy định tại điều 247 – BLDS 2005. Quyền lợi của người thứ ba ngay tình được bảo vệ trong trường hợp này là được công nhận là chủ sở hữu hợp pháp đối với tài sản mà mình đang chiếm hữu. Đây là phương thức bảo vệ lợi ích của người thứ ba ngay tình ưu việt nhất và có tính khả thi cao hơn so với cách thức đòi bồi thường thiệt hại như đã phân tích ở trên. Tuy nhiên cách thức bảo vệ này vẫn bộc lộ những khó khăn trong việc xác định các loại giấy tờ cần thiết nào và các trình tự thủ tục cụ thể gì để đăng ký quyền sở hữu tài sản cho người thứ ba ngay tình trong trường hợp họ đang chiếm hữu những tài sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của pháp luật.

Trên đây là một số trao đổi về vấn đề bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi chủ sở hữu kiện đòi lại tài sản của tác giả. Rất mong nhận được sự chia sẻ và đóng góp ý kiến của các quý vị để vấn đề nghiên cứu thêm sâu sắc và phong phú hơn./.

——————————————————————

CHUYÊN ĐỀ CHO HỘI THẢO KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG DO BỘ MÔN LUẬT DÂN SỰ – KHOA LUẬT DÂN SỰ – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI TỔ CHỨC VÀO NGÀY 11/12/2007

CÁC BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN:

1. TS. Trn Th Hu. Quyn s hu và quyn năng ca ch s hu. 2. ThS. Vương Thanh Thúy. Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. 3. TS. Nguyễn Minh Tuấn. Qui định về kiện đòi lại tài sản trong pháp luật dân sự Việt Nam và một số nước trên thế giới. 4. TS . Phùng Trung Tập. Kiện đòi lại tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình. 5. ThS. Nguyễn Như Quỳnh. Kiện đòi lại tài sản làđộng sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình. 6. TS. Nguyễn Văn Cường. Một số vấn đề thực tiễn trong việc kiện đòi nhà, đất do người khác chiếm hữu không có căn cứ pháp luật tại Tòa án nhân dân. 7. ThS. Vũ Thị Hồng Yến. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi chủ sở hữu kiện đòi lại tài sản. 8. ThS. Nguyễn Thị Tuyết. Bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự – những ưu điểm và hạn chế so với các phương thức khác. 9. ThS. Vũ Thị Hải Yến. Tự bảo vệ quyền sở hữu – Nhưng ưu điểm và hạn chế so với các biện pháp khác 10. ThS. Trần Kim Chi. Thực trạng về biện pháp dân sự bảo vệ quyền sở hữu. 11. ThS. Bùi Thị Huyền. Một số vấn đề về thủ tục tố tụng dân sự trong bảo vệ quyền sở hữu tài sản tại Tòa án nhân dân.

KIỆN ĐÒI LẠI TÀI SẢN LÀ ĐỘNG SẢN PHẢI ĐĂNG KÝ QUYỀN SỞ HỮU HOẶC BẤT ĐỘNG SẢN TỪ NGƯỜI CHIẾM HỮU NGAY TÌNH

THS. NGUYỄN NHƯ QUỲNH – Khoa Luật dân sự – Đại học Luật Hà nội

Pháp luật cho phép chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của mình, tài sản đang chiếm hữu hợp pháp bằng những biện pháp luật định. Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp còn được quyền yêu cầu Toà án, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Trong bài viết này, tác giả chỉ tập trung xem xét một trong các phương thức bảo vệ quyền sở hữu: phương thức kiện đòi lại tài sản. Cụ thể, phương pháp kiện đòi lại tài sản được đề cập tới trong trường hợp tài sản là động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình. Bài viết nhằm mục đích tìm câu trả lời cho những câu hỏi sau đây: Ai có quyền kiện đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình? Hiểu thế nào về người chiếm hữu ngay tình động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản? Tại sao pháp luật cho phép đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản từ người thứ ba ngay tình? Những trường hợp ngoại lệ nào chủ sở hữu không được quyền đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản từ người thứ ba chiếm hữu ngay tình?

Theo quy định tại Điều 258 BLDS năm 2005: “Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản, trừ trường hợp người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa”.

v Người có quyền khởi kiện đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản

Theo quy định tại Điều 258 BLDS năm 2005, quyền này chỉ thuộc về “chủ sở hữu”. Quy định như vậy không hợp lý, cần phải dành cho cả người chiếm hữu hợp pháp tài sản quyền khởi kiện đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình. Xin lấy một ví dụ sau đây: A là chủ sở hữu một xe máy 125cm3, A cho B thuê xe máy trong thời hạn 5 tháng. Trong thời hạn thuê, C ăn cắp xe. C làm giả toàn bộ giấy tờ xe và bán cho D, D không biết về nguồn gốc bất hợp pháp của xe máy mà D mua từ C. Theo quy định pháp luật, chỉ A có quyền kiện D đòi lại xe máy. Tuy nhiên, cần phải cho cả B quyền này vì một số lý do sau đây:

Thứ nhất, Điều 256 BLDS năm 2005 (về quyền đòi lại tài sản) dành quyền kiện đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật cho cả chủ sở hữu và người chiếm hữu hợp pháp.

Thứ hai, cho phép người chiếm hữu hợp pháp khởi kiện đòi lại tài sản nhằm đảm bảo thời hiệu khởi kiện.

Thứ ba, thừa nhận người chiếm hữu hợp pháp có quyền khởi kiện đòi lại tài sản còn giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho chính chủ sở hữu. Trong ví dụ kể trên, giả sử A đi xa và gần hết thời hạn thuê xe, A mới trở về thì xe có thể không còn do D chiếm hữu nữa mà có thể đã được chuyển giao cho nhiều người khác. Bởi vậy, việc kiện đòi lại tài sản có A trở nên phức tạp hơn hoặc không thực hiện được nữa.

v Người thứ ba chiếm hữu ngay tình động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản

Trước đây, có một số người cho rằng không thể có người chiếm hữu ngay tình động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản. Theo những người này, trong mọi trường hợp, người thiết lập giao dịch có đối tượng là động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản buộc phải biết về nguồn gốc, tình trạng pháp lý của tài sản. Với Điều 258, BLDS năm 2005 đã khẳng định: tồn tại những người chiếm hữu ngay tình động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản. Tuy nhiên, về vấn đề người chiếm hữu ngay tình được quy định tại Điều 258 Bộ luật dân sự, cho đến nay vẫn tồn tại hai quan điểm như sau:

Theo quan điểm thứ nhất: Trong mọi trường hợp, nếu người thiết lập giao dịch có đối tượng là động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản nhưng không thể biết được nguồn gốc, tình trạng bất hợp pháp của tài sản, họ đều được coi là người thứ ba chiếm hữu ngay tình. Ở ví dụ trên đây, D được coi là người chiếm hữu ngay tình.

Theo quan điểm thứ hai: Chỉ người nhận được tài sản thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa mới được công nhận là người thứ ba chiếm hữu ngay tình (với điều kiện những người này không biết việc chiếm hữu của mình là không dựa trên căn cứ do pháp luật quy định). Nói cách khác, những người theo quan điểm này cho rằng quy định về người thứ ba chiếm hữu ngay tình tại Điều 258 chỉ đề cập đến người chiếm hữu trong hai trường hợp duy nhất này, những trường hợp khác đều bị coi là chiếm hữu không ngay tình. Theo quan điểm này, ở ví dụ trên đây, D là người chiếm hữu bất hợp pháp không ngay tình.

Cho dù chấp nhận quan điểm thứ nhất hay quan điểm thứ hai, vấn đề cơ bản, và mang tính thực tế cần phải lưu ý là: trừ hai ngoại lệ đối với người chiếm hữu ngay tình, chủ sở hữu đều có quyền kiện đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản từ người chiếm hữu bất hợp pháp (ngay tình hay không ngay tình). Tức là, trong ví dụ trên, A luôn có quyền kiện đòi lại tài sản từ D.

v Về nguyên tắc, “[c]hủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản” từ người thứ ba chiếm hữu ngay tình

Theo quy định pháp luật, nếu động sản không phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao cho thứ ba chiếm hữu ngay tình, về nguyên tắc, chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản, giao dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực (Điều 138). Chủ sở hữu chỉ có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người thứ ba chiếm hữu ngay tình trong một số trường hợp nhất định quy định tại Điều 257. Đó là hai trường hợp: a. Người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; b. Người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng có đền bù mà động sản bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu.

Ngược lại, nếu động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản đã được chuyển giao cho người thứ ba chiếm hữu ngay tình, về nguyên tắc, chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản của mình từ người chiếm hữu ngay tình, trừ hai trường hợp ngoại lệ (được đề cập dưới đây). Sở dĩ, chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu ngay tình động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản, trừ hai trường hợp ngoại lệ, bởi vì “tài sản giao dịch là bất động sản hoặc là động sản phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba bị vô hiệu…” (khoản 2 Điều 138 BLDS năm 2005). Hơn nữa, cá nhân, tổ chức dễ dàng hơn trong việc chứng minh là chủ sở hữu động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản so với chứng minh là chủ sở hữu động sản không phải đăng ký quyền sở hữu.

Khi chủ sở hữu đòi lại tài sản từ người thứ ba chiếm hữu ngay tình, người thứ ba có quyền yêu cầu người đã thiết lập giao dịch với mình phải hoàn trả tài sản mà người thứ ba đã chuyển cho người kia để có được động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản.

v Chủ sở hữu không được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người thứ ba chiếm hữu ngay tình trong một số trường hợp ngoại lệ

Ngoại lệ thứ nhất: Người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản thông qua bán đấu giá;

Người mua được tài sản bán đấu giá từ một cuộc bán đấu giá do Trung tâm bán đấu giá tài sản, Tổ chức kinh doanh dịch vụ bán đấu giá hoặc Hội đồng bán đấu giá tài sản (gọi chung là tổ chức bán đấu giá) thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định tại Nghị định 05/2005/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 18/01/2005 về bán đấu giá tài sản mà không biết và không thể biết được về nguồn gốc, tình trạng pháp lý của tài sản bán đấu giá thì người mua được coi là chiếm hữu ngay tình. Chủ sở hữu không được kiện đòi tài sản từ người chiếm hữu ngay tình.

Trong thực tế, một số trường hợp sau đây có thể xảy ra:

(1) A ăn cắp xe máy của B, A làm giấy tờ đăng ký xe giả mang tên A và đem xe bán đấu giá. Cuộc bán đấu giá được tổ chức đúng theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. C mua được xe. Tổ chức bán đấu giá và C không biết và cũng thể biết về nguồn gốc của xe.

(2) A ăn cắp xe máy của B, A làm giấy tờ đăng ký xe giả mang tên A và đem xe bán đấu giá. Cuộc bán đấu giá vi phạm trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. C mua được xe. C không biết về nguồn gốc xe và không biết về việc vi phạm trình tự, thủ tục bán đấu giá.

(3) A ăn cắp xe máy của B, A làm giấy tờ đăng ký xe giả mang tên A và đem xe bán đấu giá. Cuộc bán đấu giá vi phạm trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. C mua được xe. C không biết về nguồn gốc xe máy nhưng biết rõ về việc vi phạm trình tự, thủ tục bán đấu giá.

(4) A ăn cắp xe máy của B, A làm giấy tờ đăng ký xe giả mang tên A và đem xe bán đấu giá. Tổ chức bán đấu giá biết rõ hành vi vi phạm pháp luật của A nhưng vẫn tổ chức bán đấu giá theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định. C mua được xe. C không biết nguồn gốc của xe.

Liên quan đến các trường hợp này, có nhiều ý kiến khác nhau. Một số người cho rằng A không có quyền đòi lại tài sản trong trường hợp (1) và có quyền đòi lại tài sản trong ba trường hợp còn lại. Bởi vì, trường hợp (2), (3), (4) có sự vi phạm trình tự thủ tục bán đấu giá, có lỗi của tổ chức bán đấu giá và cuộc bán đấu giá không thành. Cho nên, C phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu. Còn một số người khác lại cho rằng, trong cả bốn trường hợp này, C đều được coi là người chiếm hữu ngay tình và A không được kiện đòi lại tài sản. Ở trường hợp thứ (3), mặc dù C biết rõ về việc vi phạm trình tự, thủ tục bán đấu giá của tổ chức bán đấu giá, tuy nhiên C không biết về nguồn gốc của xe (rằng A ăn cắp xe của B). Theo ý kiến này, chủ sở hữu chỉ được đòi lại tài sản từ người mua được tài sản bán đấu giá là động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản nếu người mua biết rõ người bán tài sản không phải là chủ sở hữu tài sản và cũng không được chủ sở hữu uỷ quyền bán tài sản.

Nếu xem xét các trường hợp kể trên trên cơ sở Điều 258 BLDS năm 2005, C được coi là chiếm hữu ngay tình trong trường hợp (1), (2), (4). Nghĩa là B không có quyền kiện đòi tài sản từ C trong ba trường hợp này. B có quyền kiện đòi lại tài sản từ C trong trường hợp (3) vì C chiếm hữu không ngay tình.

Nếu xem xét các trường hợp kể trên trên cơ sở các quy định pháp luật về bán đấu giá tài sản, A có quyền kiện đòi lại tài sản trong cả bốn trường hợp. Bởi vì, theo quy định tại Điều 32 Nghị định 05/2005/NĐ-CP của Chính Phủ về bán đấu giá tài sản và điểm 7 Thông tư 03/2005/TT-BTP ngày 4/5/2005 của Bộ Tư pháp hướng dẫn Nghị định 05/2005/NĐ-CP thì kết quả bán đấu giá bị huỷ trong cả bốn trường hợp trên. Trong trường hợp kết quả bán đấu giá tài sản bị huỷ, các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau tài sản đã nhận. Do đó, theo quy định này, C phải hoàn trả xe máy cho tổ chức bán đấu giá tài sản. B phải kiện tổ chức bán đấu giá để đòi lại tài sản. Trong trường hợp (1), (2), (4), C được quyền yêu cầu tổ chức bán đấu giá phải hoàn trả khoản tiền đã mua xe. C không có quyền này trong trường hợp (3) và khoản tiền bán đấu giá tài sản được sung vào công quỹ Nhà nước.

Để giải quyết thoả đáng những trường hợp này, cần phải xem xét quy định của Điều 258 BLDS trong mối quan hệ với quy định pháp luật về bán đấu giá tài sản. Vậy giải pháp cho những trường hợp này như thế nào để đảm bảo sự ổn định giao lưu dân sự và bảo vệ quyền lợi cho người thứ ba ngay tình?

Ngoại lệ thứ hai: Người thứ ba chiếm hữu ngay tình giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa.

Theo quy định của BLTTDS năm 2004, bản án, quyết định của Toà án bị huỷ, sửa trong những trường hợp sau đây:

(1) Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm nếu Toà án cấp sơ thẩm quyết định không đúng pháp luật trong các trường hợp: 1. Việc chứng minh và thu thập chứng cứ đã thực hiện đầy đủ và theo đúng quy định tại Chương VII của BLTTDS; 2. Việc chứng minh và thu thập chứng cứ chưa thực hiện đầy đủ ở cấp sơ thẩm nhưng tại phiên toà phúc thẩm đã được bổ sung đầy đủ (Điều 276).

(2) Hội đồng xét xử phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án trong các trường hợp: 1. Việc chứng minh và thu thập chứng cứ không theo đúng quy định tại Chương VII của BLTTDS hoặc chưa được thực hiện đầy đủ mà tại phiên toà phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được; 2. Thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng quy định của BLTTDS hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng (Điều 277).

(3) Hội đồng xét xử phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án nếu trong quá trình giải quyết vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm, vụ án thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 192 của BLTTDS (Điều 278).

(4) Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết định huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị để xét xử sơ thẩm lại hoặc xét xử phúc thẩm lại trong các trường hợp: 1. Việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa thực hiện đầy đủ hoặc không theo đúng quy định tại Chương VII của BLTTDS; 2. Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án hoặc có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật; 3. Thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm không đúng quy định của BLTTDS hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng (Điều 299).

(5) Hội đồng giám đốc thẩm quyết định huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ giải quyết vụ án, nếu vụ án đó thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 192 của BLTTDS (Điều 300).

(6) Hội đồng tái thẩm có quyền: Huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại; Huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ giải quyết vụ án (Điều 309).

Điều kiện áp dụng ngoại lệ thứ hai là: a. Người thiết lập giao dịch với nguời là chủ sở hữu tài sản theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải là người chiếm hữu ngay tình. Người này không biết và không thể biết người thiết lập giao dịch với mình không phải là chủ sở hữu tài sản; b. Giao dịch được thiết lập giữa người thứ ba chiếm hữu ngay tình với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản; c. Do bản án, quyền định bị huỷ, sửa nên người thiết lập giao dịch giao dịch với người thứ ba ngay tình không còn là chủ sở hữu tài sản nữa. Thông thường, bản án, quyết định của Toà án bị huỷ, sửa do vi phạm của cơ quan tiến hành tố tụng, trừ những trường hợp huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ giải quyết vụ án. Đây cũng là một trong những lý do quan trọng dẫn đến người thứ ba ngay tình được bảo vệ khi bản án, quyết định của Toà án bị huỷ, sửa.

Về ngoại lệ thứ hai, ví dụ như sau: Theo bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật, A là chủ sở hữu căn nhà. Do đó, A đã giao kết hợp đồng bán căn nhà này cho B, hợp đồng được chứng thực tại UBND cấp có thẩm quyền. Sau đó, Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết định huỷ bản án dân sự phúc thẩm để xét xử phúc thẩm lại do kết luận trong bản án không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án. Trong bản án xét xử lại, Toà án phán quyết căn nhà thuộc sở hữu của C. Trong trường hợp này, B không phải trả lại nhà cho C mà A phải chuyển cho C số tiền nhận từ B trong hợp đồng mua bán nhà.

So với BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 thể hiện rõ những tiến bộ trong quy định về bảo vệ người thứ ba ngay tình (Điều 138) và kiện đòi lại tài sản từ người chiếm hữu ngay tình (Điều 257 và Điều 258). BLDS năm 2005 quy định cụ thể, chi tiết hơn về những vấn đề này với mục đích bảo vệ và dung hoà lợi ích của chủ sở hữu và người thứ ba chiếm hữu ngay tình, đồng thời đảm bảo sự ổn định trong giao lưu dân sự. Tuy nhiên, phân tích trên đây cho thấy: quy định về quyền đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động từ người chiếm hữu ngay tình tại Điều 258 còn những điểm cần phải làm rõ. Do đó, để tháo gỡ những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn giải quyết loại việc này, Toà án nhân dân tối cao cần giải thích cụ thể hơn quy định tại Điều 258 trong văn bản hướng dẫn xét xử./.

——————————————————————

CHUYÊN ĐỀ CHO HỘI THẢO KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG DO BỘ MÔN LUẬT DÂN SỰ – KHOA LUẬT DÂN SỰ – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI TỔ CHỨC VÀO NGÀY 11/12/2007

CÁC BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN:

1. TS. Trn Th Hu. Quyn s hu và quyn năng ca ch s hu. 2. ThS. Vương Thanh Thúy. Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. 3. TS. Nguyễn Minh Tuấn. Qui định về kiện đòi lại tài sản trong pháp luật dân sự Việt Nam và một số nước trên thế giới. 4. TS . Phùng Trung Tập. Kiện đòi lại tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình. 5. ThS. Nguyễn Như Quỳnh. Kiện đòi lại tài sản làđộng sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình. 6. TS. Nguyễn Văn Cường. Một số vấn đề thực tiễn trong việc kiện đòi nhà, đất do người khác chiếm hữu không có căn cứ pháp luật tại Tòa án nhân dân. 7. ThS. Vũ Thị Hồng Yến. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi chủ sở hữu kiện đòi lại tài sản. 8. ThS. Nguyễn Thị Tuyết. Bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự – những ưu điểm và hạn chế so với các phương thức khác. 9. ThS. Vũ Thị Hải Yến. Tự bảo vệ quyền sở hữu – Nhưng ưu điểm và hạn chế so với các biện pháp khác 10. ThS. Trần Kim Chi. Thực trạng về biện pháp dân sự bảo vệ quyền sở hữu. 11. ThS. Bùi Thị Huyền. Một số vấn đề về thủ tục tố tụng dân sự trong bảo vệ quyền sở hữu tài sản tại Tòa án nhân dân.

BIỆN PHÁP TỰ BẢO VỆ – NHỮNG ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ SO VỚI CÁC BIỆN PHÁP KHÁC

THS. VŨ HẢI YẾN – Khoa Luật dân sự, Đại học Luật Hà Nội

1. Khái niệm chung về biện pháp tự bảo vệ quyền sở hữu

Quyền sở hữu là một trong những loại quyền dân sự cơ bản được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Bên cạnh việc ghi nhận các quyền của chủ sở hữu và người chiếm hữu hợp pháp tài sản, pháp luật sở hữu còn ghi nhận các biện pháp pháp lý để bảo vệ quyền sở hữu chống lại các hành vi xâm phạm. Bảo vệ quyền sở hữu là biện pháp Nhà nước tác động bằng pháp luật tới hành vi xử sự của con người nhằm thông qua đó bảo đảm cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của mình.

Ở Việt Nam, quyền sở hữu được bảo vệ thông qua nhiều biện pháp khác nhau, do nhiều ngành luật điều chỉnh. Trong các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu, biện pháp dân sự có ý nghĩa thực tế nhất vì nó khôi phục lại tình trạng ban đầu về mặt vật chất cho chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp. Bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự là việc chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp, Tòa án hoặc các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Quan hệ sở hữu là loại quan hệ tài sản mang tính chất hàng hóa – tiền tệ đặc thù, trong đó thể hiện quyền tự định đoạt cao độ của chủ thể. Quyền tự định đoạt trong quan hệ sở hữu không chỉ thể hiện trong việc chủ thể của quyền sở hữu có quyền tự do định đoạt tài sản của mình mà còn thể hiện trong việc tự do lựa chọn các biện pháp, cách thức để bảo vệ quyền sở hữu. Pháp luật dân sự ghi nhận nhiều biện pháp khác nhau để bảo vệ quyền sở hữu, trong đó biện pháp tự bảo vệ là biện pháp thể hiện tính định đoạt cao nhất của chủ thể.

Điều 255 Bộ luật dân sự ghi nhận “chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của mình, tài sản đang chiếm hữu hợp pháp bằng những biện pháp theo quy định của pháp luật”.

Tự bảo vệ quyền sở hữu là việc chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp tài sản tự mình tiền hành các biện pháp trong khuôn khổ pháp luật nhằm bảo vệ quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của mình.

Biện pháp tự bảo vệ cho phép chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp được áp dụng các biện pháp nhất định để ngăn cản bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp, truy tìm, đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng không có căn cứ pháp luật, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ. Hành vi xâm phạm trước tiên làm phát sinh quan hệ giữa chủ thể quyền và người xâm phạm. Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp hơn ai hết là người biết rõ mức độ và hậu quả của hành vi xâm phạm. Việc tự bảo vệ gắn liền với quyền lợi thiết thân của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp. Vì vậy, tự bảo vệ cũng chính là việc thực hiện hành vi bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp.

Biện pháp tự bảo vệ cũng xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự và nguyên tắc hòa giải. Quan hệ tài sản dựa trên cơ sở bình đẳng, độc lập giữa các chủ thể tham gia. Vì vậy, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu các chủ thể khác tôn trọng quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của mình. Khi nảy sinh tranh chấp, pháp luật luôn khuyến khích các bên chủ thể chủ động thương lượng, hoà giải. Hòa giải là cách thức chủ yếu để chủ thể của quyền sở hữu tự bảo vệ quyền sở hữu của mình.

Biện pháp tự bảo vệ là biện pháp được áp dụng rất phổ biến trong đời sống. Lý do chính là quan niệm truyền thống của nhân dân ta là “dĩ hòa vi quý”, “vô phúc đáo tụng đình”. Người dân rất ngại phải liên quan đến việc kiện tụng. Chỉ trong những trường hợp bất đắc dĩ, không có cách giải quyết nào khác họ mới đưa nhau ra tòa.

2. Đặc trưng của biện pháp tự bảo vệ so với các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu khác

· Việc tự bảo vệ là một yêu cầu cần thiết trong mọi phương thức bảo vệ quyền sở hữu. Dù tự bảo vệ hay yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bảo vệ, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp luôn đóng vai trò quan trọng trong quá trình bảo vệ. Khi yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bảo vệ, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp phải cung cấp các chứng cứ, tài liệu là cơ sở để giải quyết. Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu chỉ được thực hiện có hiệu quả nếu chủ thể thực sự tự bảo vệ một cách tích cực. Nói một cách khác, chủ sở hữu, người chiếm hữu không chỉ thể hiện vai trò chủ động của mình trong việc tự bảo vệ mà ngay cả khi có sự hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

· Là biện pháp thể hiện tính định đoạt cao độ của chủ thể: Khi phát hiện ra hành vi xâm phạm quyền, lợi ích chính đáng của mình, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền chủ động lựa chọn cách thức bảo vệ phù hợp như: yêu cầu người xâm phạm chấm dứt hành vi xâm phạm, yêu cầu người chiếm hữu bất hợp pháp phải trả lại tài sản hoặc bồi thường thiệt hại. Chủ thể có quyền chủ động thương lượng, hòa giải bất cứ lúc nào trong quá trình giải quyết tranh chấp.

· Về cách thức: Biện pháp tự bảo vệ có thể tiến hành dưới bất kỳ cách thức nào, miễn là không trái pháp luật và đạo đức xã hội, trong khi việc khởi kiện hoặc yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết phải tuân thủ theo những điều kiện, trình tự, thủ tục nhất định như: điều kiện về chủ thể khởi kiện, thẩm quyền giải quyết, hình thức tiến hành…

· Về tính kinh tế: Biện pháp tự bảo vệ là biện pháp có tính kinh tế cao nhất do tiết kiệm được thời gian, chi phí tốn kém cho việc giải quyết tranh chấp. Trong khi việc giải quyết tranh chấp bằng biện pháp khởi kiện không chỉ tốn kém về thời gian cho việc giải quyết theo trình tự tố tụng mà còn tốn kém chi phí cho việc tham gia tố tụng, chi phí giám định.

· Hiệu quả bảo vệ: Biện pháp tự bảo vệ là biện pháp mang tính kịp thời, tạo khả năng ngăn chặn hành vi xâm phạm ngay từ đầu. Ngay khi phát hiện ra có hành vi xâm phạm hoặc khả năng xâm phạm, chủ thể có thể áp dụng ngay lập tức mà không cần chờ bất kỳ một thủ tục nào. Đặc điểm này cũng phần nào tránh được vụ việc xâm phạm trở nên nghiêm trọng hơn. Biện pháp tự bảo vệ bên cạnh những ưu điểm về hiệu quả bảo vệ như: nhanh chóng, kịp thời, một hạn chế lớn nhất của biện pháp này là hiệu quả bảo vệ không cao do không được bảo đảm bằng tính cưỡng chế nhà nước. Yêu cầu của chủ thể không được bảo đảm bằng cơ chế mang tính quyền lực Nhà nước mà hoàn toàn trông chờ, phụ thuộc vào sự tự nguyện và thiện chí của bên xâm phạm. Do vậy, nếu bên xâm phạm không tự nguyện, thiện chí chấm dứt hành vi xâm phạm, khắc phục hậu quả đã gây ra thì biện pháp này không mang lại hiệu quả.

3. Các hình thức tự bảo vệ quyền sở hữu

3.1. Truy tìm và đòi lại tài sản

Thông thường, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp là người có quyền nắm giữ, quản lý tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của mình. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều trường hợp tài sản rời khỏi sự nắm giữ, quản lý của họ đến tay người khác hoàn toàn ngoài sự kiểm soát của họ. Để bảo vệ quyền sở hữu, quyền chiếm hữu tài sản của mình, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền truy tìm tài sản của mình. Truy tìm tài sản là hình thức đầu tiên để tự bảo vệ quyền sở hữu, cũng là cơ sở để chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp thực hiện được việc tự đòi lại tài sản hoặc kiện đòi lại tài sản.

Khi phát hiện tài sản của mình đang nằm trong sự chiếm hữu, sử dụng bất hợp pháp của người khác, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có thể thực hiện quyền đòi lại tài sản. Điều 256 BLDS quy định “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó”.

Dù tự đòi lại tài sản hay yêu cầu Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp phải trả lại tài sản, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp vẫn có vai trò trung tâm, quyết định trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ.

- Họ phải tự chứng minh quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của mình; chứng minh tài sản đang do người khác chiếm hữu trái pháp luật.

- Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp phải xác định tài sản đang nằm trong sự chiếm hữu không có căn cứ pháp của ai.

- Tự yêu cầu người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật phải trả lại tài sản hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người này phải trả lại tài sản.

3.2. Yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp

Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản để thoả mãn nhu cầu của mình trong đời sống sinh hoạt cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh. Mọi chủ thể được thực hiện các hành vi theo ý chí của mình nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Vì vậy, trong trường hợp chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp nhận thấy chủ thể khác có hành vi cản trở, xâm phạm hoặc có khả năng xâm phạm đến việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình, họ có quyền thông báo, nhắc nhở, yêu cầu chủ thể này phải chấm dứt các hành vi đó. Biện pháp tự bảo vệ trong trường hợp này tạo khả năng bảo vệ quyền sở hữu, quyền chiếm hữu một cách nhanh chóng, kịp thời, nhiều trường hợp có thể tránh được thiệt hại xảy ra.

3.3. Yêu cầu bồi thường thiệt hại

Đây là biện pháp bảo vệ được áp dụng khi hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu gây ra thiệt hại về tài sản. Yêu cầu bồi thường thiệt hại có thể là yêu cầu độc lập hoặc kết hợp với yêu cầu đòi lại tài sản. Thiệt hại có thể là do tài sản bị hư hỏng một phần hoặc toàn bộ, tài sản bị huỷ hoại, tiêu huỷ… Trong trường hợp chủ sở hữu không thể đòi lại tài sản, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có thể yêu cầu người có lỗi gây ra thiệt hại về tài sản phải bồi thường. Khi yêu cầu bồi thường thiệt hại, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp phải nêu rõ từng khoản thiệt hại thực tế đã xảy ra, mức yêu cầu bồi thường và phải có các chứng từ, giấy biên nhận hợp lệ về các khoản chi phí đã bỏ ra để khắc phục thiệt hại.

Tóm lại, trong việc bảo vệ quyền sở hữu, vai trò tự bảo vệ của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp rất quan trọng. Tự bảo vệ vừa là quyền, trong nhiều trường hợp còn là trách nhiệm của chủ sở hữu trong việc bảo vệ quyền sở hữu. Biện pháp tự bảo vệ góp phần giảm thiểu các tranh chấp tại Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền, giúp giải quyết tranh chấp được nhanh chóng, kịp thời, tiết kiệm thời gian và chi phí.

——————————————————————

CHUYÊN ĐỀ CHO HỘI THẢO KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG DO BỘ MÔN LUẬT DÂN SỰ – KHOA LUẬT DÂN SỰ – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI TỔ CHỨC VÀO NGÀY 11/12/2007

CÁC BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN:

1. TS. Trn Th Hu. Quyn s hu và quyn năng ca ch s hu. 2. ThS. Vương Thanh Thúy. Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. 3. TS. Nguyễn Minh Tuấn. Qui định về kiện đòi lại tài sản trong pháp luật dân sự Việt Nam và một số nước trên thế giới. 4. TS . Phùng Trung Tập. Kiện đòi lại tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình. 5. ThS. Nguyễn Như Quỳnh. Kiện đòi lại tài sản làđộng sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình. 6. TS. Nguyễn Văn Cường. Một số vấn đề thực tiễn trong việc kiện đòi nhà, đất do người khác chiếm hữu không có căn cứ pháp luật tại Tòa án nhân dân. 7. ThS. Vũ Thị Hồng Yến. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi chủ sở hữu kiện đòi lại tài sản. 8. ThS. Nguyễn Thị Tuyết. Bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự – những ưu điểm và hạn chế so với các phương thức khác. 9. ThS. Vũ Thị Hải Yến. Tự bảo vệ quyền sở hữu – Nhưng ưu điểm và hạn chế so với các biện pháp khác 10. ThS. Trần Kim Chi. Thực trạng về biện pháp dân sự bảo vệ quyền sở hữu. 11. ThS. Bùi Thị Huyền. Một số vấn đề về thủ tục tố tụng dân sự trong bảo vệ quyền sở hữu tài sản tại Tòa án nhân dân.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN SỰ TRONG BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN

THS. BÙI THỊ HUYỀN – Khoa Luật dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Bảo vệ quyền sở hữu tài sản là vấn đề tất yếu nhằm bảo đảm cho chủ sở hữu thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản một cách có hiệu quả và trọn vẹn nhất. Vì vậy, Điều 255 Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS) quy định: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của mình, tài sản đang chiếm hữu hợp pháp bằng những biện pháp theo quy định của pháp luật”. Một trong các phương thức bảo vệ quyền sở hữu tài sản có hiệu quả nhất đó là phương thức khởi kiện đến Toà án theo thủ tục tố tụng dân sự. Trong phạm vi của hội thảo, chúng tôi xin trao đổi một số vấn đề liên quan đến việc bảo vệ quyền sở hữu tài sản bằng con đường Toà án mà trong thực tiễn áp dụng pháp luật hiện có các quan điểm khác nhau .

1. Thẩm quyền xét xử của Toà án

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, thủ tục giải quyết các tranh chấp, yêu cầu của các chủ thể tại Toà án được chia thành hai thủ tục: Thủ tục giải quyết việc dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự. Ở Việt Nam, trước khi ban hành BLTTDS không có khái niệm vụ việc dân sự mà chỉ có khái niệm vụ án dân sự. Khái niệm vụ án dân sự dùng để chỉ những tranh chấp, yêu cầu phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự (theo nghĩa hẹp), những tranh chấp, yêu cầu phát sinh từ quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình. Cho nên, bên cạnh khái niệm vụ án dân sự còn có các khái niệm vụ án kinh tế, vụ án lao động. BLTTDS ra đời đã thống nhất ba loại thủ tục TTDS, kinh tế, lao động thành thủ tục TTDS và các loại việc được giải quyết tại Toà án theo thủ tục TTDS là vụ việc dân sự. Tuy không đưa ra khái niệm vụ việc dân sự nhưng theo Điều 1 của BLTTDS thì vụ việc dân sự bao gồm: vụ án dân sự và việc dân sự, trong đó việc dân sự là những yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động được Toà án thụ lý, giải quyết (Điều 26, 28, 30, 32 BLTTDS). Còn vụ án dân sự là những tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động được Toà án thụ lý, giải quyết (Điều 25, 27, 29, 31 BLTTDS). Như vậy, các tranh chấp về quyền sở hữu tài sản được Toà án thụ lý, giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự.

Hiện nay, BLTTDS không quy định giá trị tối thiểu đối với những tài sản có tranh chấp được khởi kiện đến Toà án. Vì vậy, cho dù các đương sự tranh chấp về một vật có giá trị rất nhỏ thì Toà án vẫn phải thụ lý, giải quyết, nếu vật đó là tài sản theo quy định của pháp luật dân sự. Tuy nhiên, xét từ góc độ hiệu quả kinh tế của việc giải quyết tranh chấp dân sự thì vấn đề giới hạn giá trị của tài sản khi xác định thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Toà án còn có các ý kiến khác nhau.

Hầu hết các tranh chấp về tài sản đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo thủ tục tố tụng dân sự. Song trong một số trường hợp, việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đối với tài sản còn phụ thuộc vào các giấy tờ pháp lý liên quan đến tài sản đó. Chẳng hạn, đối với tranh chấp về nhà ở liên quan đến chính sách cải tạo nhà, tranh chấp về đất đai mà người sử dụng đất chư được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chưa có một trong các loại giấy tờ theo Điều 50 luật đất đai sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Uỷ ban nhân dân.

Thông thường tranh chấp về tài sản thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án nhân dân cấp huyện. Tuy nhiên, đối với các tranh chấp về tài sản hiện đang ở nước ngoài hoặc có một trong các đương sự ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp ra nước ngoài thì thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án nhân dân cấp tỉnh. Thông thường các tranh chấp về tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nơi cư trú của bị đơn. Các đương sự cũng có quyền thoả thuận Toà án nơi cư trú của nguyên đơn để giải quyết tranh chấp (điểm a, b khoản 1 Điều 35 BLTTDS). Riêng đối với tranh chấp về bất động sản, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 35 BLTTDS thì Toà án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết, các đương sự không có quyền thoả thuận về việc yêu cầu Toà án nơi khác giải quyết, kể cả nơi cư trú của nguyên đơn hoặc bị đơn. Bởi lẽ, bất động sản là một loại tài sản gắn liền với đất đai không thể di dời nên khi giải quyết tranh chấp này, thông thường Toà án phải thực hiện việc xem xét tại chỗ theo yêu cầu của đương sự. Hơn nữa, các giấy tờ tài liệu liên quan đến tài sản này sẽ do các cơ quan có thẩm quyền nơi có bất động sản đó lưu giữ. Vì vậy, Toà án nơi có bất động sản sẽ có điều kiện thực hiện việc xem xét tại chỗ và thu thập các giấy tờ tài liệu liên quan đến tài sản đó một cách tốt nhất.

Các tranh chấp về quyền sở hữu tài sản là các tranh chấp về quyền chiếm hữu, sử dụng định đoạt tài sản. Tuy nhiên, do tài sản là đối tượng của các giao dich dân sự nên các tranh chấp này thường được biểu hiện dưới các dạng tranh chấp cụ thể về hợp đồng mua bán, hợp đồng cho thuê, bồi thường thiệt hại, về việc phân chia tài sản (kể cả việc tranh chấp về tài sản trong các vụ việc về hôn nhân gia đình). Cho nên, hiện nay có ý kiến khác nhau về việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp liên quan đến bất động sản:

Ví dụ: A (có nơi cư trú tại huyện X tỉnh H) cho B (có nơi cư trú tại huyện Y tỉnh H) thuê một căn nhà tại số 10 huyện Z tỉnh H. Hết hạn hợp đồng B không trả nhà cho A.

Ý kiến thứ nhất: Đây là tranh chấp về hợp đồng thuê nhà nên Toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là Toà án nơi cư trú của bị đơn (huyện Y tỉnh H).

Ý kiến thứ hai: Đây là tranh chấp về về bất động sản nên Toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phải là Toà án nơi có bất động sản (huyện Z tỉnh H).

Theo chúng tôi, đây là tranh chấp về hợp đồng thuê tài sản nhưng đối tượng của hợp đồng thuê nhà lại là bất động sản. Để giải quyết vụ án này một cách tốt nhất, Toà án phải thực hiện việc xem xét tại chỗ, kiểm tra các giấy tờ tài liệu liên quan đến việc thuê nhà. Vì vậy, quan điểm thứ hai là hợp lý hơn.

2. Xác định tư cách của các đương sự

Các đương sự trong vụ án dân sự bao gồm: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền, nghĩa vụ liên quan. Việc xác định tư cách của các đương sự căn cứ vào Điều 56 BLTTDS. Tuy nhiên, đối với việc xác định tư cách của các đương sự trong vụ án bảo vệ quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản thông qua hợp đồng có đền bù còn có các ý kiến khác nhau.

Ví dụ: A cho B mượn chiếc xe đạp, B bán cho C.

Ý kiến thứ nhất: Theo quy định tại Điều 56 BLTTDS: “Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do Bộ luật nàyquy định khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyền đơn bị người đó xâm phạm”. Do đó, A có quyền khởi kiện C để đòi lại chiếc xe đạp vì A là chủ sở hữu chiếc xe và C là người giả thiết đã xâm phạm quyền sở hữu của A. Toà án phải xác định A là nguyên đơn, C là bị đơn, B là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Ý kiến thứ hai: Theo điều 257 BLDS thì trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản thông qua “hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu tài sản có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hợc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu”. Vì vậy, A không có quyền đòi lại chiếc xe của C mà A chỉ có quyền yêu cầu B bồi thường giá trị của chiếc xe. Toà án phải xác định A là nguyên đơn, B là bị đơn, C là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Nếu B và C tranh chấp với nhau về hợp đồng mua bán chiếc xe thì B sẽ là nguyên đơn, C là bị đơn, A là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Theo chúng tôi, Điều 56 BLTTDS quy định: “Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyền đơn bị người đó xâm phạm”. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa bị đơn khởi kiện ai thì người đó là bị đơn. Trong nhiều trường hợp do không hiểu biết pháp luật nguyên đơn đã khởi kiện không đúng. Do đó, để đảm bảo việc giải quyết đúng đắn vụ án Toà án phải xác định đúng tư cách của các đương sự. Đối với tranh chấp về sở hữu tài sản, việc xác định tư cách của các đương sự còn phải dựa vào phương thức mà người khởi kiện khởi kiện đến Toà án theo quy định của BLDS. Vì vậy, chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ hai.

Trên đây là hai vấn đề có các quan điểm khác nhau trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, chúng tôi rất mong nhận được sự trao đổi của các quý vị.

Các bài viết cùng tác giả: http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/?s=%22B%C3%B9i+Th%E1%BB%8B+Huy%E1%BB%81n%22

——————————————————————

CHUYÊN ĐỀ CHO HỘI THẢO KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG DO BỘ MÔN LUẬT DÂN SỰ – KHOA LUẬT DÂN SỰ – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI TỔ CHỨC VÀO NGÀY 11/12/2007

CÁC BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN:

1. TS. Trn Th Hu. Quyn s hu và quyn năng ca ch s hu. 2. ThS. Vương Thanh Thúy. Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. 3. TS. Nguyễn Minh Tuấn. Qui định về kiện đòi lại tài sản trong pháp luật dân sự Việt Nam và một số nước trên thế giới. 4. TS . Phùng Trung Tập. Kiện đòi lại tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình. 5. ThS. Nguyễn Như Quỳnh. Kiện đòi lại tài sản làđộng sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình. 6. TS. Nguyễn Văn Cường. Một số vấn đề thực tiễn trong việc kiện đòi nhà, đất do người khác chiếm hữu không có căn cứ pháp luật tại Tòa án nhân dân. 7. ThS. Vũ Thị Hồng Yến. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi chủ sở hữu kiện đòi lại tài sản. 8. ThS. Nguyễn Thị Tuyết. Bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự – những ưu điểm và hạn chế so với các phương thức khác. 9. ThS. Vũ Thị Hải Yến. Tự bảo vệ quyền sở hữu – Nhưng ưu điểm và hạn chế so với các biện pháp khác 10. ThS. Trần Kim Chi. Thực trạng về biện pháp dân sự bảo vệ quyền sở hữu. 11. ThS. Bùi Thị Huyền. Một số vấn đề về thủ tục tố tụng dân sự trong bảo vệ quyền sở hữu tài sản tại Tòa án nhân dân.

BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU THÔNG QUA PHƯƠNG THỨC KIỆN DÂN SỰ NHỮNG ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ SO VỚI CÁC PHƯƠNG THỨC KHÁC

THS. NGUYỄN THỊ TUYẾT – Khoa Luật dân sự – Trường Đại học Luật Hà Nội

Quyền sở hữu là một chế định pháp luật quan trọng được Nhà nước quy định nhằm xác định nội dung về sở hữu.Theo Điều 164 Bộ luật Dân sự (BLDS) của Việt Nam thì: “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật”. Như vậy quyền sở hữu bao gồm ba quyền năng cơ bản: Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản tức là việc người chiếm hữu giữ vật trong phạm vi kiểm soát của mình, ví dụ, cất tiền bạc, tư trang trong tủ… Quản lý tài sản được hiểu là việc người chiếm hữu, kiểm soát sự tồn tại của tài sản và việc sử dụng tài sản; quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản; quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu tài sản. Từ nội dung này cho thấy chủ sở hữu một tài sản có toàn quyền đối với tài sản thuộc sở hữu của mình.

Quyền sở hữu tài sản là một trong các quyền dân sự cơ bản của cá nhân, tổ chức luôn được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, được thể hiện trên hai phương diện: Ở phương diện thứ nhất việc bảo vệ quyền sở hữu của cá nhân được đặt trong mối quan hệ với các cơ quan công quyền và do vậy có thể nói rằng phương tiện bảo vệ quyền sở hữu hữu hiệu nhất là dựa vào hoạt động của hệ thống tài phán hành chính. Các quyết định hành chính và hành vi hành chính, đặc biệt là các quyết định liên quan đến việc tịch thu hay trưng mua tài sản của tổ chức, cá nhân đều có thể bị kiện ra trước các toà hành chính. Trên phương diện thứ hai, bảo vệ quyền sở hữu được đặt trong mối quan hệ với các cá nhân, tổ chức khác thì phương tiện quan trọng để bảo vệ quyền sở hữu chủ yếu thông qua vai trò của hệ thống toà hình sự và dân sự.

Trên thực tế có rất nhiều chủ sở hữu bị xâm phạm tới các quyền sở hữu của mình. Chính vì lẽ đó mà Nhà nước đã có những quy định về việc bảo vệ quyền sở hữu của các chủ sở hữu hay người chiếm hữu hợp pháp thông qua các phương thức bảo vệ quyền sở hữu khác nhau. Phương thức bảo vệ quyền sở hữu chính là các biện pháp tác động bằng pháp luật đối với các hành vi xử sự của con người, ngăn ngừa những hành vi xâm hại đến chủ sở hữu khi người này hành xử quyền của mình. Việc bảo vệ quyền sở hữu được pháp luật được quy định thông qua nhiều biện pháp được quy định trong các ngành luật khác nhau như ngành luật hành chính, ngành luật hình sự, ngành luật dân sự. Trong phạm vi bài viết này, tác giả tìm hiểu các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trong hệ thống pháp luật Việt Nam, tập trung vào ba biện pháp là biện pháp hành chính, hình sự và dân sự; từ đó đi sâu vào những ưu điểm và hạn chế của biện pháp bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự so với các biện pháp khác.

1. Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu

a. Biện pháp hành chính

Ngành luật hành chính bảo vệ quyền sở hữu thông qua việc quy định những thể lệ nhằm quản lý và bảo vệ tài sản của Nhà nước, quy định nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể cho từng cơ quan nhà nước, đơn vị hành chính. Trong quản lý tài sản nhà nước, luật hành chính cũng phân chia việc quản lý đối với từng loại tài sản khác nhau như tài sản nhà nước trong khu vực hành chính sự nghiệp, tài sản nhà nước trong các doanh nghiệp nhà nước hoặc tài sản nhà nước là các kết cấu hạ tầng, phục vụ lợi ích công cộng quốc gia. Mỗi một loại tài sản đều có quy chế sử dụng tài sản khác nhau và được giao cho từng cơ quan quản lý chịu trách nhiệm bảo vệ đối với những tài sản đó.

Đồng thời, luật hành chính cũng quy định về các biện pháp hành chính mà Nhà nước được sử dụng để thực hiện việc bảo vệ quyền sở hữu khi có hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản nhà nước như các biện pháp cưỡng chế, phòng ngừa và ngăn chặn. Chủ thể thực hiện quyền bảo vệ này chính là các cơ quan Nhà nước và trong một số trường hợp nhất định thì Toà án cũng là chủ thể sử dụng các biện pháp hành chính nhằm bảo vệ quyền sở hữu.

b. Biện pháp hình sự

Ngành luật hình sự bảo vệ quyền sở hữu thông qua việc quy định những hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm quyền sở hữu bị coi là tội phạm và quy định các mức hình phạt tương đương. BLHS các tội xâm phạm quyền sở hữu tại chương XIV từ điều 133 đến điều 145, trong đó chia làm 2 nhóm chính: các tội xâm phạm quyền sở hữu của công dân và tội xâm phạm quyền sở hữu của nhà nước. Một trong những đặc điểm chung của các các tội xâm phạm sở hữu là dấu hiệu mục đích phải nhằm chiếm đoạt tài sản (từ điều 133 đến điều 142, chỉ có hai tội không có mục đích chiếm đoạt tài sản là các tội chiếm giữ trái phép tài sản quy định tại Điều 141 và tội sử dụng trái phép tài sản quy định ở Điều 142 BLHS. Tùy theo tính chất mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội và giá trị tài sản xâm phạm mà mỗi hành vi có một hình phạt tương ứng. Hính phạt thấp nhất là cải tạo không giam giữ và cao nhất là tử hình. Trong số 13 tội được quy định trong BLHS thì có 9 tội được quy định có thể là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, một tội được quy định là tội phạm ít nghiêm trọng. Số tội còn lại có thể là tội phạm nghiêm trọng hoặc là tội phạm rất nghiêm trọng. Ngoài ra, người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu còn có thể bị chịu một trong các hình phạt bổ sung như phạt tiền, tịch thu tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, quản chế hoặc cấm cư trú.

c. Biện pháp dân sự

Khác với các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu do luật hành chính và luật hình sự, chủ thể thực hiện hành vi bảo vệ quyền sở hữu do Nhà nước thực hiện thì thông qua biện pháp dân sự, cá nhân, tổ chức bị xâm phạm quyền sở hữu có thể dùng các phương thức dân sự để tự bảo vệ quyền sở hữu hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền sở hữu cho mình.

Điều 255 BLDS quy định “chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của mình, tài sản đang chiếm hữu hợp pháp bằng các quy định của pháp luật”. Quyền tự bảo vệ quyền của chủ sở hữu được hiểu là quyền của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có thể dùng bất kỳ biện pháp mà pháp luật không cấm để bảo vệ tài sản và quyền sở hữu tài sản của mình như cất giữ, quản lý… Ngoài ra, quyền tự bảo vệ của chủ sở hữu còn gắn liền với quyền ngăn cản bất kỳ chủ thể nào khác có hành vi xâm phạm quyền sở hữu của mình; có quyền truy tìm, đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp luật.[1]

Bên cạnh quyền tự bảo vệ, pháp luật dân sự còn quy định cho chủ sở hữu , người chiếm hữu hợp pháp có quyền “yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại”[2]. Những phương thức này gọi chung là phương thức kiện dân sự- phương thức được áp dụng khi chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp không thể tự mình bảo vệ được quyền sở hữu trước hành vi xâm hại của chủ thể khác gây ảnh hưởng tới việc thực hiện quyền của chủ sở hữu của mình. Xuất phát từ tính chất đa dạng trong bản thân sự xâm hại tới quyền sở hữu mà phương thức kiện dân sự cũng có rất nhiều loại khác nhau. Chủ sở hữu và người chiếm hữu hợp pháp có quyền lựa chọn một trong ba phương thức kiện sau đây khi đáp ứng được đầy đủ các điều kiện do pháp luật quy định:

(i) Kiện đòi lại tài sản (kiện vật quyền):

Quyền đòi lại tài sản là quyền của chủ sở hữu kiện yêu cầu một người đang chiếm hữu bất hợp pháp tài sản của mình phải trả lại cho mình. Khi xây dựng cơ chế kiện đòi lại tài sản, các nhà làm luật Việt Nam đã rất cân nhắc trong việc làm sao phải bảo đảm sự hài hoà giữa yêu cầu bảo vệ chủ sở hữu với bảo vệ quyền lợi chính đáng của người chiếm hữu ngay tình cũng như bảo đảm tính ổn định trong lưu thông dân sự. Vì vậy, một mặt, BLDS đã thiết kế các quy tắc kiện đòi lại tài sản dựa vào tiêu chí phân biệt giữa người chiếm hữu ngay tình và người chiếm hữu không ngay tình và mặt khác, dựa vào việc phân định giữa tài sản phải đăng ký quyền sở hữu và tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu. Tuy nhiên điều kiện chung áp dụng cho phương thức kiện đòi tài sản được quy định tại Điều 256, 257, 258 BLDS khi có các điều kiện sau:

- Vật rời khỏi chủ sở hữu hay dời khỏi người chiếm hữu hợp pháp ngoài ý chí của họ; hoặc theo ý chí của họ nhưng người thứ ba có vật thông qua giao dịch không đền bù như tặng cho, thừa kế theo di chúc;

- Người thực tế đang chiếm giữ vật là người chiếm giữ bất hợp pháp;

- Vật hiện đang còn trong tay người chiếm hữu bất hợp pháp;

- Vật là bất động sản hoặc động sản phải đăng ký quyền sở hữu, trừ trường hợp khác do pháp luật quy định.

(ii) Kiện yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp.

Đây là phương thức cho phép chủ sở hữu kiện tới toà án khi một người nào đó có hành vi trái pháp luật cản trở việc thực hiện quyền sở hữu hay quyền chiếm hữu hợp pháp để quyền yêu cầu người này phải chấm dứt hành vi đó. Nếu người này không tự nguyện chấm dứt thì chủ sở hữu có quyền yêu cầu Toà án, hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người đó chấm dứt hành vi vi phạm. Mục đích chính của phương thức này là nhằm bảo đảm để chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp được sử dụng và khai thác công dụng của tài sản một cách bình thường.

(iii) Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại (kiện trái quyền).

Trong trường hợp một người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại tới tài sản của người khác thì chủ sở hữu của tài sản của có quyền kiện tới toà án yêu cầu bồi thường thiệt hại. Đây được gọi là phương thức kiện trái quyền bởi vì nó chỉ được áp dụng trong trường hợp khi người chiếm hữu hợp pháp hoặc bất hợp pháp đã bán tài sản cho người khác mà không tìm thấy người mua nữa hoặc tài sản bị tiêu huỷ…Lúc này chủ sở hữu không lấy lại đc tài sản của mình và luật cho phép chủ sở hữu lựa chọn phương thức kiện đòi bồi thường thiệt hại. Tuỳ từng trường hợp, chủ sở hữu có quyền lựa chọn ba hình thức khởi kiện khác nhau. Nếu hành vi gây thiệt hại cho tài sản nằm trong khuôn khổ việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng một nghĩa vụ trong hợp đồng, chủ sở hữu có quyền kiện vi phạm hợp đồng. Nếu hành vi gây thiệt hại không phải là hành vi vi phạm hợp đồng, chủ sở hữu có quyền kiện đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Trong trường hợp hành vi gây thiệt hại cho tài sản người khác cấu thành tội phạm hình sự, chủ sở hữu cũng có thể yêu cầu giải quyết vấn đề dân sự (bồi thường thiệt hại) trong phiên toà hình sự hoặc tách ra thành vụ kiện dân sự để giải quyết trong phiên toà dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng.

2. Đánh giá việc bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự

Có thể nhận thấy rằng, so với các phương thức bảo vệ quyền sở hữu khác thì phương thức kiện dân sự có những điểm khác biệt và nó làm nên tính ưu việt cũng như cũng có những hạn chế nhất định so với các phương thức khác. Những ưu điểm chủ yếu của phương thức kiện dân sự gồm có:

Thứ nhất, đây là phương thức mang tính thực tế rất lớn. Tính thực tế này xuất phát từ chỗ những hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu thông thường nảy sinh trong đời sống xã hội, xâm phạm tới các quyền tài sản của các chủ thể và do vậy chủ yếu thuộc sự điều chỉnh của pháp luật dân sự. Do xuất phát điểm là các hành vi xâm phạm quyền sở hữu chủ yếu thuộc pháp luật dân sự nên biện pháp kiện dân sự cũng được áp dụng phổ biến hơn. Hơn nữa, mục đích lớn nhất của chủ thể khi sử dụng phương thức kiện dân sự nhằm bảo vệ quyền sở hữu của mình chính là việc khôi phục lại tình trạng ban đầu (tình trạng trước khi bị vi phạm) về mặt vật chất hay chính là đảm bảo sự nguyên vẹn của tài sản cho chủ sở hữu hoặc cho người chiếm hữu hợp pháp. Sau khi áp dụng các phương thức bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự, chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp có thể khôi phục lại trạng thái tài sản ban đầu hoặc được bù đắp về mặt vật chất cho những xâm phạm đến quyền sở hữu của họ, đáp ứng được lợi ích cơ bản của việc bảo vệ quyền sở hữu của các chủ thể được nhà nước ghi nhân. Mặc dù phương thức bảo vệ quyền sở hữu của ngành luật hành chính cũng nhằm mục đích này nhưng thông thường tài sản bị xâm phạm lại là các tài sản của Nhà nước. Còn phương thức bảo vệ quyền sở hữu của ngành luật hình sự thì mục đích lớn nhất lại là trừng trị và răn đe.

Thứ hai, phương thức kiện dân sự được áp dụng một cách rộng rãi hơn các biện pháp khác. Thông thường biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trong ngành luật hình sự chỉ áp dụng khi hành vi xâm phạm đó được cấu thành tội phạm theo quy định trong Bộ luật hinh sự sự (BLHS). Mà trong BLHS thì hiện nay quy định chỉ có vài chục hành vi xâm phạm vào 2 nhóm sở hữu chính là sở hữu Xã hội Chủ nghĩa và sở hữu của công dân (từ Điều 133 đến Điều 144 BLHS). Biện pháp thuộc ngành luật hành chính thông thường áp dụng khi tài sản bị xâm phạm tới là tài sản của Nhà nước. Chủ thể áp dụng biện pháp hành chính và biện pháp hình sự chỉ có thể là các cơ quan nhà nước bởi vậy trong rất nhiều trường hợp việc phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế không phát huy được hiệu quả một cách tuyệt đối. Riêng biện pháp kiện dân sự được áp dụng rộng rãi bởi lẽ: việc xâm phạm tài sản mang tính chất dân sự diễn ra phổ biến; các chủ thể có thể áp dụng các phương thức kiện dân sự một cách dễ dàng bằng việc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấm dứt hành vi vi phạm hoặc yêu cầu chủ thể vi phạm bồi thường thiệt hại.

Thứ ba, phương thức kiện dân sự tạo điều kiện rất thuận lợi và dễ dàng cho mọi chủ thể có quyền sở hữu bị xâm phạm tự mình chủ động thực hiện phương thức này. Đây là một điểm khác biệt rất lớn so với các phương thức khác. Phương thức bảo vệ trong ngành luật hành chính tuân thủ các thủ tục hành chính tương đối phức tạp của các cơ quan Nhà nước. Còn phương thức trong ngành luật hình sự thì đỏi hỏi phải đáp ứng đủ việc cấu thành tội phạm và tuân theo thủ tục tố tụng hình sự cũng tương đối phức tạp và mất thời gian, khó có thể khôi phục nhanh chóng tình trạng tái sản như ban đầu. Riêng phương thức kiện dân sự vì tuân theo thủ tục tương đối nhanh gọn, khắc phục nhanh chóng tình trạng như ban đầu, hơn nữa khi các chủ thể có thể đã đệ đơn yêu cầu toà án ra quyết định buộc chủ thể có hành vi xâm phạm quyền sở hữu chấm dứt hành vi, bồi thường thiệt hại hoặc đòi lại tài sản cho mình nhưng vẫn có thể được quyền thoả thuận và rút lại đơn kiện.

Trên đây là các điểm ưu điểm của phương thức kiện dân sự so với các phương thức bảo vệ quyền sở hữu khác. Tuy nhiên, phương thức kiện dân sự cũng mang những hạn chế nhất định, ví dụ trong nhiều trường hợp hiệu quả của các phương thức dân sự trong việc bảo vệ quyền sở hữu trên thực tế rất thấp. Trong các phương thức dân sự, tự bảo vệ là biện pháp được các chủ thể áp dụng phổ biến nhất nhưng do thiếu tính cưỡng chế và quyền lực nhà nước nên trên thực tế khi có hành vi xâm phạm các chủ thể vẫn phải áp dụng đồng thời các biện pháp khác để bảo vệ quyền sở hữu của mình.

Ngoài ra hiệu quả của việc bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự gắn liền với việc thi hành án dân sự nên trên thực tế bị ảnh hưởng rất nhiều bởi công tác thi hành án dân sự cũng là một hạn chế trong việc bảo vệ quyền lợi của các chủ sở hữu hợp pháp, người chiếm hữu hợp pháp trên thực tế.


[1] Giáo trình Luật Dân sự, Trường ĐH Luật HN, Tập 1, NXB Công an nhân dân, 2006, tr. 281

[2] Điều 255, BLDS

——————————————————————

CHUYÊN ĐỀ CHO HỘI THẢO KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG DO BỘ MÔN LUẬT DÂN SỰ – KHOA LUẬT DÂN SỰ – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI TỔ CHỨC VÀO NGÀY 11/12/2007

CÁC BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN:

1. TS. Trn Th Hu. Quyn s hu và quyn năng ca ch s hu. 2. ThS. Vương Thanh Thúy. Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. 3. TS. Nguyễn Minh Tuấn. Qui định về kiện đòi lại tài sản trong pháp luật dân sự Việt Nam và một số nước trên thế giới. 4. TS . Phùng Trung Tập. Kiện đòi lại tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình. 5. ThS. Nguyễn Như Quỳnh. Kiện đòi lại tài sản làđộng sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình. 6. TS. Nguyễn Văn Cường. Một số vấn đề thực tiễn trong việc kiện đòi nhà, đất do người khác chiếm hữu không có căn cứ pháp luật tại Tòa án nhân dân. 7. ThS. Vũ Thị Hồng Yến. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi chủ sở hữu kiện đòi lại tài sản. 8. ThS. Nguyễn Thị Tuyết. Bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp dân sự – những ưu điểm và hạn chế so với các phương thức khác. 9. ThS. Vũ Thị Hải Yến. Tự bảo vệ quyền sở hữu – Nhưng ưu điểm và hạn chế so với các biện pháp khác 10. ThS. Trần Kim Chi. Thực trạng về biện pháp dân sự bảo vệ quyền sở hữu. 11. ThS. Bùi Thị Huyền. Một số vấn đề về thủ tục tố tụng dân sự trong bảo vệ quyền sở hữu tài sản tại Tòa án nhân dân.

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 649 other followers

%d bloggers like this: