BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CHO CỘNG ĐỒNG

LS. NGUYỄN HỮU DANH – ĐOÀN LUẬT SƯ TPHCM

Thời gian qua, vấn đề bồi thường thiệt hại cho hàng trăm, thậm chí hàng ngàn dân, trong các vụ ô nhiễm môi trường, an toàn thực phẩm, đã xảy ra tại nhiều địa phương như: Vụ công ty VEDAN xả chất thải gây ô nhiễm sông Thị Vải, ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng ngàn nhân dân; … Trong vụ này, hơn 1000 dân ở 3 tỉnh, thành phố (tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh) uỷ quyền cho 1 số luật sư để nộp đơn khởi kiện tại Toà án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Sau đó, những nông dân chưa nộp đơn khởi kiện thì Công ty VEDAN đã chủ động bồi thường thiệt hại theo sự kê khai của các hộ dân và thẩm định thiệt hại của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Vấn đề đòi bồi thường thiệt hại của hàng ngàn dân nói trên mang tính cộng đồng, được giải quyết theo Bộ luật dân sự như thế nào? Nói cách khác, Cộng đồng là chủ thể trong quan hệ dân sự không?

I. Về cộng đồng

Tự điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ năm 2000, nêu khái niệm cộng đồng: “Toàn thể những người cùng sống, có những điểm giống nhau, gắn bó thành một khối trong sinh hoạt xã hội; như: Cộng đồng làng xã, Cộng đồng ngôn ngữ, Cộng đồng người Việt ở nước ngoài

Cộng đồng là chủ thể nêu trong Quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng, được ban hành kèm Quyết định số 80/2005/QĐ-TTg ngày 18/04/2005 của Thủ tướng Chính phủ (gọi tắt Quy chế giám sát).

Điều 1 của Quy chế nêu: “Giám sát đầu tư của cộng đồng là hoạt động tự nguyện của dân cư sinh sống trên địa bàn xã, phường hoặc thị trấn (sau đây gọi chung là xã) theo quy định của Quy chế này và các quy định pháp luật khác có liên quan, nhằm theo dõi, đánh gía việc chấp hành các quy định về quản lý đầu tư của cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư, của chủ đầu tư, ban quản lý dự án các nhà thầu và đơn vị thi công dự án trong quá trình đầu tư; phát hiện, kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về các việc làm vi phạm các quy định về quản lý đầu tư đề kịp thời ngăn chặn và xử lý các việc làm sai quy định, gây lãng phí, thất thoát vốn và tài sản nhà nước, xâm hại lợi ích của cộng đồng.

Đọc tiếp

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ LIÊN QUAN ĐẾN GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU

VŨ THÀNH LONG

Chương VI phần thứ nhất của Bộ luật Dân sự quy định về giao dịch dân sự. Theo đó tại Điều 121 quy định: Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

Điều 122. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự.

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.

Như vậy, để một giao dịch dân sự không bị coi là vô hiệu thì giao dịch đó phải thoả mãn các điều kiện quy định tại Điều 122 Bộ luật Dân sự. Còn nếu giao dịch dân sự không thoả mãn các điều kiện trên thì giao dịch đó được coi là giao dịch dân sự vô hiệu.

Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại Điều 137 Bộ luật Dân sự như sau:

Giao dịch dân sự không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.

Hiện nay khi giải quyết các vụ án hình sự có bồi thường thiệt hại phát sinh từ giao dịch dân sự được coi là vô hiệu còn nhiều quan điểm khác nhau chưa thống nhất. Vì vậy, trong phạm vi bài viết này, xin trao đổi một số cơ sở lý luận và thực tiễn xác định việc bồi thường thiệt hại có liên quan đến giao dịch dân sự được coi là vô hiệu theo quy định của Bộ luật Dân sự. Để tiện theo dõi chúng tôi xin nêu ra một số ví dụ cụ thể sau:

Đọc tiếp

THOÁI THÁC TRÁCH NHIỆM BẰNG HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU

HOÀNG DUY

Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, thực hiện hợp đồng khó khăn và không còn có lợi như trước, nhiều doanh nghiệp (DN) đã tìm cách thoái thác trách nhiệm thực hiện hợp đồng bằng cách đề nghị Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu.

Hàng loạt hợp đồng được đề nghị tuyên vô hiệu

Khi môi trường kinh doanh thay đổi theo chiều hướng xấu tại nhiều DN, nhiều hợp đồng đã ký kết từ giai đoạn trước không còn mang lại lợi ích, thậm chí sẽ thua thiệt nếu tiếp tục thực hiện. Do đó, không ít DN trì hoãn thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết và khi tranh chấp xảy ra, các bên bèn “săm soi” xem có chỗ nào, điều khoản nào trong hợp đồng có sơ hở để đề nghị Tòa án, Trung tâm trọng tài kinh tế tuyên hợp đồng vô hiệu.

Vụ tranh chấp hợp đồng bảo hiểm xây dựng và lắp đặt Công trình Thủy điện Mường Hum giữa CTCP Bảo hiểm Viễn Đông (VASS) và CTCP Phát triển năng lượng Sơn Vũ (Công ty Sơn Vũ) là một ví dụ. Theo quy định, mọi công trình xây dựng phải mua bảo hiểm, nhưng khi công trình xây dựng và lắp đặt xong, phía thi công đã không thanh toán nốt phần phí bảo hiểm còn lại. Đến khi bị kiện đòi phí thì Công ty Sơn Vũ phản tố, đề nghị Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu do người ký kết của VASS không có thẩm quyền, mặc dù người có thẩm quyền ký kết của VASS không phản đối và nhận mọi trách nhiệm, nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng.

Một trường hợp khác là vụ tranh chấp hợp đồng mua bán cổ phần và chuyển giao tài sản giữa CTCP Tập đoàn Y dược Bảo Long và CTCP Bảo Sơn. Sau khi phát sinh tranh chấp, phía Bảo Long đã chỉ ra nhiều yếu tố dẫn đến hợp đồng vô hiệu như người ký kết không đúng thẩm quyền, tài sản chuyển giao vi phạm điều cấm của pháp luật, quyền sở hữu trí tuệ chưa được định giá nên không thể chuyển giao…

Đọc tiếp

VỀ CHẾ ĐỊNH “MIỄN TRỪ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ TRONG HỢP ĐỒNG”

THS. LS. PHẠM THANH BÌNH – Công ty Luật Bảo Ngọc, Hà Nội

Miễn trừ trách nhiệm dân sự trong hợp đồng là việc người có quyền trong hợp đồng dân sự cho phép bên chủ thể vi phạm nghĩa vụ gây thiệt hại không bị áp dụng một phần hoặc toàn bộ các chế tài nhằm khôi phục tình trạng ban đầu về tài sản và nhân thân cho bên chủ thể bị vi phạm.

Bản chất của miễn trừ trách nhiệm dân sự là việc bên chủ thể vi phạm nghĩa vụ đáng lẽ phải gánh chịu toàn bộ và đầy đủ trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên bị vi phạm, tuy nhiên, vì thiệt hại xảy ra trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định mà bên vi phạm nghĩa vụ được miễn trừ toàn bộ hoặc một phần trách nhiệm bồi thường thiệt hại đó. Đây là một trong những vấn đề có ý nghĩa quan trọng của pháp luật dân sự, không chỉ bảo đảm quyền lợi của các bên giao kết hợp đồng, bảo đảm sự tự nguyện thỏa thuận của các bên mà còn là yếu tố hạn chế việc một bên lợi dụng quy định về miễn trừ trách nhiệm để trốn tránh trách nhiệm dân sự. Tuy nhiên, vấn đề này chưa được pháp luật dân sự quy định cụ thể và toàn diện dẫn tới việc áp dụng trong thực tế còn gặp nhiều khó khăn và thiếu thống nhất. Do vậy, trong quá trình nghiên cứu xây dựng dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật dân sự 2005, chúng tôi cho rằng cần nghiên cứu một số nội dung liên quan đến chế định này như sau:

1. Về các trường hợp miễn trừ trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng:

Thứ nhất, theo các quy định tại khoản 2, 3 Điều 302, khoản 6 Điều 402 Bộ luật dân sự 2005 thì có 03 trường hợp được miễn trừ trách nhiệm dân sự trong hợp đồng bao gồm: Sự kiện bất khả kháng, thiệt hại xảy ra là hoàn toàn do lỗi của bên bị vi phạm thỏa thuận của các bên chủ thể trong hợp đồng. Trong khi đó, khoản 1 Điều 294 Luật Thương mại 2005 lại quy định 04 căn cứ miễn trừ trách nhiệm dân sự trong hợp đồng, bao gồm: Thỏa thuận của các chủ thể trong hợp đồng, sự kiện bất khả kháng, hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia và hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng. Như vậy, giữa quy định của Bộ luật dân sự – bộ luật gốc, với quy định của Luật Thương mại liên quan tới vấn đề miễn trừ trách nhiệm dân sự trong hợp đồng có sự không thống nhất với nhau.

Đọc tiếp

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KHOẢN TIỀN BÙ ĐẮP VỀ TINH THẦN DO BỊ XÂM PHẠM VỀ TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE, DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN QUY ĐỊNH TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

THS. ĐINH VĂN QUẾ

Khoản tiền “bù đắp về tinh thần” do bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín là khoản tiền mà người bị xâm phạm hoặc người thân thích của người bị xâm phạm được hưởng theo quy định của Bộ luật Dân sự.

Trước khi Quốc hội thông qua Bộ luật Dân sự năm 1995, chưa có quy định nào của pháp luật buộc người gây thiệt hại phải bồi thường khoản tiền này, do còn quan niệm cho rằng, tổn thất về tinh thần, danh dự, nhân phẩm, uy tín không thể tính ra thành tiền được và “tinh thần” được coi là một phạm trù “phi vật chất”. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử trong nhiều năm cho thấy, việc buộc người gây thiệt hại phải bồi thường một khoản tiền để “bù đắp về tinh thần” cho người bị thiệt hại (nếu là sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm) hoặc cho người thân thích của người bị thiệt hại (nếu là tính mạng bị xâm phạm) là cần thiết, phù hợp với tập quán và truyền thống văn hoá xã hội của dân tộc Việt Nam.

Mặc dù Bộ luật dân sự năm 1995 đã quy định về khoản tiền “bù đắp về tinh thần” nhưng chỉ quy định: Tuỳ từng trư­ờng hợp, Toà án quyết định buộc người xâm phạm phải bồi thư­ờng một khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần, còn khoản tiền đó là bao nhiêu thì Bộ luật dân sự năm 1995 chưa quy định. Do vậy, thực tiễn xét xử các Toà án địa phương đã áp dụng không thống nhất. Để khắc phục tình trạng này, ngày 28-4-2004, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; trong đó có khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết này thì:

Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm,…

Đọc tiếp

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KHOẢN TIỀN BÙ ĐẮP VỀ TINH THẦN DO BỊ XÂM PHẠM VỀ TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE, DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN QUY ĐỊNH TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

THS. ĐINH VĂN QUẾ

Khoản tiền “bù đắp về tinh thần” do bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín là khoản tiền mà người bị xâm phạm hoặc người thân thích của người bị xâm phạm được hưởng theo quy định của Bộ luật Dân sự.

Trước khi Quốc hội thông qua Bộ luật Dân sự năm 1995, chưa có quy định nào của pháp luật buộc người gây thiệt hại phải bồi thường khoản tiền này, do còn quan niệm cho rằng, tổn thất về tinh thần, danh dự, nhân phẩm, uy tín không thể tính ra thành tiền được và “tinh thần” được coi là một phạm trù “phi vật chất”. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử trong nhiều năm cho thấy, việc buộc người gây thiệt hại phải bồi thường một khoản tiền để “bù đắp về tinh thần” cho người bị thiệt hại (nếu là sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm) hoặc cho người thân thích của người bị thiệt hại (nếu là tính mạng bị xâm phạm) là cần thiết, phù hợp với tập quán và truyền thống văn hoá xã hội của dân tộc Việt Nam.

Mặc dù Bộ luật dân sự năm 1995 đã quy định về khoản tiền “bù đắp về tinh thần” nhưng chỉ quy định: Tuỳ từng trư­ờng hợp, Toà án quyết định buộc người xâm phạm phải bồi thư­ờng một khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần, còn khoản tiền đó là bao nhiêu thì Bộ luật dân sự năm 1995 chưa quy định. Do vậy, thực tiễn xét xử các Toà án địa phương đã áp dụng không thống nhất. Để khắc phục tình trạng này, ngày 28-4-2004, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; trong đó có khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết này thì:

Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm,…

Đọc tiếp

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO CÔNG CHỨNG VIÊN GÂY RA

TS. ĐỖ VĂN ĐẠI – Đại học Luật TPHCM

Hệ thống công chứng ở nước ta được chính thức thành lập khi Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 về Công chứng nhà nước (CCNN). Từ đó đến khi có Luật Công chứng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2007), Chính phủ đã có thêm hai lần ban hành các nghị định về công chứng. Đó là Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 về Tổ chức và hoạt động CCNN và Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 về công chứng, chứng thực.

Hoạt động công chứng là một hoạt động đặc thù và trong quá trình thực hiện công việc của mình, Công chứng viên (CCV) có thể gây thiệt hại và vấn đề bồi thường được đặt ra. Bài viết phân tích cơ sở pháp lý giải quyết bồi thường thiệt hại (BTTH) và điều kiện để phát sinh trách nhiệm BTTH do CCV gây ra.

1. Qua các vụ việc cụ thể

Vụ việc thứ nhất: Chiều ngày 05/02/2009, bà Nga đến Văn phòng Công chứng (VPCC) Ba Đình đề nghị công chứng hợp đồng chuyển quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở với tư cách là bên mua với bên bán là vợ chồng bà Thủy, ông Chín. Sau khi kiểm tra hồ sơ, CCV đã thụ lý. Do bên bán không đến công chứng tại trụ sở VPCC (vì đau chân) nên đã đề nghị CCV tiến hành ký hợp đồng ngoài trụ sở. Sau khi tiến hành soạn hợp đồng, đến 19h ngày 05/02/2009, CCV đã đến địa chỉ theo bà Nga yêu cầu để tiến hành công chứng. Ngày 06/02/2009, CCV đóng dấu tại Văn phòng và bà Nga đến VPCC để đóng phí công chứng và nhận 04 bộ hợp đồng bản gốc. Sau khi ký kết hợp đồng, bà Nga đã giao tiền đầy đủ cho vợ chồng bà Thuỷ và ông Chín, đồng thời vợ chồng bà Thuỷ, ông Chín giao lại “sổ đỏ” căn nhà nói trên. Ngày 20/8/2009, bà Nga đến Văn phòng đăng ký đất đai Hà Nội để tiến hành thủ tục sang tên “sổ đỏ” thì được Văn phòng đăng ký đất đai Hà Nội trả lời rằng, mảnh đất và căn nhà của bà Thuỷ và ông Chín đã được bà Thuỷ và ông Chín thế chấp cho Công ty da giày Hà Nội bằng Hợp đồng công chứng số 01/HĐTC ngày 23/7/2008 của VPCC Ba Đình cũng do chính CCV Dũng chứng nhận để vay hai tỉ đồng. Việc thế chấp này chưa được giải chấp, nên bà Nga không đủ tư cách để thực hiện việc sang tên “sổ đỏ”. Bà Nga đã có đơn khiếu nại và yêu cầu BTTH.

Vụ việc thứ hai: Vợ chồng ông Tấn nợ bà Ri hơn hai tỷ đồng. Cấp sơ thẩm (ngày 03/08/2007), phúc thẩm (ngày 02/11/2007) đều tuyên vợ chồng ông Tấn phải trả cho bà Ri số tiền hơn 2,1 tỷ đồng. Vợ chồng ông Tấn mới trả cho bà Ri được hơn 600 triệu (còn thiếu khoảng hơn 1,4 tỷ) thì đã có yêu cầu Phòng công chứng số 1 Tiền Giang công chứng việc sang nhượng hai căn nhà của mình (đã thế chấp cho Ngân hàng và Ngân hàng đồng ý cho chuyển nhượng) cho bà Tuyết và chị Thi. Biết được việc sang nhượng này nên bà Ri đã có đơn gửi Phòng công chứng số 1 Tiền Giang để ngăn chặn không cho sang nhượng. Tuy nhiên, bà Trúc (CCV) vẫn chứng thực cho vợ chồng ông Tấn bán hai căn nhà này. Cho rằng hành vi của CCV gây thiệt hại cho mình, bà Ri kiện Phòng công chứng số 1 Tiền Giang đòi BTTH số tiền hơn 1,4 tỷ đồng.

Đọc tiếp

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ: ĐÒI BỒI HOÀN TIỀN THUÊ LUẬT SƯ, ĐƯỢC KHÔNG?

PHAN THƯƠNG

Tòa buộc bên thua kiện phải bồi hoàn tiền thuê luật sư cũng là một cách răn đe các vi phạm tương tự, tránh việc kiện tụng tào lao?

Hiện nay ra tòa, không ít trường hợp đương sự yêu cầu phía bên kia phải bồi hoàn chi phí thuê luật sư, người đại diện. Hầu hết các tòa đều bác yêu cầu này nhưng cá biệt cũng có tòa chấp nhận với những lập luận còn tranh cãi…

Gần đây nhất, tháng 3-2011, trong một vụ kiện, TAND quận 1 (TP.HCM) đã bác yêu cầu phản tố đòi bồi thường 120 triệu đồng phí thuê luật sư, thuê người đại diện theo ủy quyền của phía bị đơn đối với nguyên đơn.

Tòa: Nơi bác, nơi chấp nhận

Trong vụ này, nguyên đơn là một giảng viên Trường ĐH Ngân hàng TP.HCM đã kiện hiệu trưởng và chủ tịch công đoàn đòi bồi thường 108 triệu đồng, công khai xin lỗi… vì cho rằng họ xúc phạm danh dự của mình. Sau đó, hiệu trưởng và chủ tịch công đoàn cùng phản tố, yêu cầu nguyên đơn phải bồi hoàn 120 triệu đồng phí thuê luật sư, thuê người đại diện mà họ phải bỏ ra.

Trong phiên sơ thẩm, yêu cầu phản tố của phía bị đơn đã bị TAND quận 1 bác với lập luận: Việc các bị đơn thuê luật sư, thuê người đại diện tham gia tố tụng không phải là việc làm theo quy định bắt buộc của pháp luật đối với cá nhân họ.

Trái với phán quyết trên, ở một vụ án khác, TAND tỉnh Tiền Giang lại buộc bên thua kiện phải bồi hoàn phí thuê luật sư cho bên thắng kiện.

Cho rằng mình bị nhái thương hiệu, năm 2010, Công ty TP kiện Công ty TG ra TAND tỉnh Tiền Giang, yêu cầu chấm dứt hành vi sản xuất, xuất khẩu loại bánh gây tranh chấp, thu hồi toàn bộ lượng bánh đã xuất khẩu, bán tại Mỹ. Ngoài ra, Công ty TP còn yêu cầu Công ty TG phải thanh toán hơn 153 triệu đồng chi phí mà họ bỏ ra thuê luật sư tham gia vụ kiện. Xử sơ thẩm, TAND tỉnh Tiền Giang đã chấp thuận yêu cầu khởi kiện của Công ty TP. Về phần phí luật sư, tòa nhận định khoản phí này của Công ty TP là hợp lý, cần thiết, cần chấp nhận.

Luật quy định sao?

Thực tiễn xét xử án dân sự hiện nay, hầu hết các tòa đều bác yêu cầu đòi bồi hoàn phí thuê luật sư, bởi cho rằng đó không phải là chi phí hợp lý bắt buộc mà bên thua kiện phải trả cho người thắng kiện.Theo nhiều thẩm phán, yêu cầu bồi hoàn phí thuê luật sư là một dạng đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, phải áp dụng Bộ luật Dân sự 2005 và Nghị quyết 03/2006 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao để giải quyết.

Đọc tiếp

TRANH CHẤP VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ: KIỆN BỒI THƯỜNG BỨC TRANH

HOÀNG YẾN

Chủ nhân bức tranh sơn dầu đòi bồi thường 200 triệu đồng, còn bên kia bảo việc kiện tụng trên là phi lý.

Ngày 3-6, ông L., ngụ huyện Bình Chánh (TP.HCM) đã nộp đơn khởi kiện, đòi ông K. bồi thường 200 triệu đồng do đã làm bẩn bức tranh sơn dầu của mình …

Bức tranh bị bẩn

Theo hồ sơ, ông L. có bức tranh “Dáng Huế” vẽ một thiếu nữ Huế mặc áo dài trắng cầm cành hoa sen, được giới trong nghề nhận định rất giá trị.

Ngày 9-4, qua giới thiệu, ông K. tìm đến thỏa thuận mua với giá khoảng 128 triệu đồng. Tuy nhiên, trước khi trả tiền, ông muốn mượn bức tranh trong một tuần để đem đi nhờ người thẩm định. Ông L. đồng ý và buộc ông K. phải trả 5 triệu đồng cho việc mượn tranh.

Sau một tuần, ông K. đem trả lại do không thích tranh này và chỉ trả 5 triệu đồng tiền mượn tranh. Mở bức tranh ra xem lại, ông L. phát hiện một góc tranh bị vấy bẩn và tranh có một số hạt màu lốm đốm. Ông nhất quyết không nhận lại tranh và yêu cầu ông K. phải mua lại bức tranh trên như giá thỏa thuận ban đầu…

Phải trả lại nguyên bản…

Hai bên tranh cãi mãi mà vẫn không thống nhất nên ông L. phải gửi đơn đến tòa một quận ở TP.HCM phân xử. Ông L. yêu cầu tòa buộc ông K. đền lại bức tranh y nguyên bản ban đầu, nếu không đền được ông K. phải bồi thường thiệt hại khoảng 200 triệu đồng. Bởi ngoài giá trị 128 triệu đồng mà đôi bên đã đồng ý mua bán, ông còn bị tổn thất về tinh thần do bức tranh là tài sản quý mà cha ông đã để lại cho gia đình…

Ngược lại, phía ông K. cho rằng yêu cầu đòi bồi thường của ông L. là hết sức phi lý. Bức tranh ông hoàn trả là nguyên vẹn. Ông L. bảo ông làm nó vấy bẩn là không chính xác. Vết vấy bẩn trên tranh có từ khi nào ông không rõ và không phải do ông gây ra. Ông yêu cầu tòa đưa bức tranh đi thẩm định giá phần thiệt hại đồng thời nếu có cơ sở chứng minh ông làm hư bức tranh thì ông mới bồi thường. Cuối cùng ông khẳng định thêm, giá trị bức tranh không thể nào lên tới 128 triệu đồng.

Đọc tiếp

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ TRONG HỢP ĐỒNG

TRẦN VIỆT ANH – Công ty Luật TNHH Baker&McKenzie

Để thực hiện mục tiêu “Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng theo hướng tôn trọng thoả thuận của các bên giao kết hợp đồng, không trái với đạo đức xã hội, không xâm phạm trật tự công cộng, phù hợp với tập quán, thông lệ thương mại quốc tế”1, các nội dung sửa đổi, bổ sung pháp luật về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS 2005) đã nhận được sự quan tâm nhiệt tình của các cơ quan, tổ chức và giới luật học. Bài viết nêu lên những bất cập và đưa ra các kiến nghị hoàn thiện chế định trách nhiệm dân sự (TNDS) trong hợp đồng hay TNDS do vi phạm hợp đồng.

1. Bất cập trong thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự 2005 về trách nhiệm dân sự trong hợp đồng

Trong thực tiễn áp dụng pháp luật hợp đồng và công tác xét xử của Tòa án hiện nay, xuất hiện một số tồn tại, vướng mắc liên quan đến áp dụng các quy định về TNDS do vi phạm hợp đồng như sau:

- Với vai trò là BLDS thống nhất, BLDS 2005 đã đặt những nền tảng cơ bản nhằm điều chỉnh các quan hệ dân sự theo các quy tắc chung, mà quan hệ hợp đồng là một trong số đó. Mặc dù vậy, vẫn tồn tại những quy định mâu thuẫn nhau của Luật Thương mại 2005 và BLDS 2005 liên quan đến vấn đề hợp đồng.

Ví dụ, về trách nhiệm bồi thường thiệt hại (BTTH), theo BLDS 2005, có bốn căn cứ để xác định trách nhiệm BTTH: có hành vi vi phạm, có lỗi của bên vi phạm, có thiệt hại thực tế xảy ra, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại. Còn trong Luật Thương mại 2005 lại không quy định yếu tố lỗi là một căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH.

Về căn cứ miễn trách nhiệm vi phạm nghĩa vụ hợp đồng cũng tồn tại một vài điểm chưa thống nhất. Nếu BLDS chỉ đặt ra hai căn cứ miễn trách nhiệm là sự kiện bất khả kháng và lỗi của bên bị vi phạm (còn lại là trường hợp miễn trách nhiệm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng) thì Luật Thương mại 2005 lại quy định bốn trường hợp là căn cứ miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm tại Điều 294 bao gồm: các trường hợp miễn trách nhiệm do các bên thỏa thuận, sự kiện bất khả kháng, hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia và hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng.

Đọc tiếp

MỘT SỐ NỘI DUNG TRONG LUẬT TRÁCH NHIỆM XÂM HẠI QUYỀN LỢI CỦA NƯỚC CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA

TS. ĐỔNG HIỂU TÙNG (Dong XiaoSong)- Giảng viên Trường Luật – Đại học Vân Nam (Trung Quốc)

Ngày 26/12/2009, Hội nghị lần thứ 12 của Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Quốc hội) khóa XI đã biểu quyết thông qua Luật Trách nhiệm xâm hại quyền lợi của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Luật Trách nhiệm xâm hại quyền lợi – Luật TNXHQL). Luật có hiệu lực từ ngày 1/7/2010. Tiếp sau các luật Luật Hợp đồng, Luật Vật quyền, đây là một đạo luật quan trọng trong lĩnh vực dân sự ở Trung Quốc. Đạo luật này sẽ là một trong các cơ sở để xây dựng xã hội pháp quyền, nó cũng có nghĩa là Trung Quốc tiến thêm một bước mới tới việc định hình một Bộ luật Dân sự.

1. Quá trình xây dựng luật

Những sự việc xâm hại quyền lợi cá nhân như trách nhiệm trong y tế, trách nhiệm với sản phẩm, tai nạn giao thông… xảy ra thường xuyên, hàng ngày. Cùng với sự phát triển của kinh tế – xã hội, các hình thức xâm hại quyền lợi của cá nhân cũng xuất hiện ngày càng nhiều.

Tuy nhiên, những quy định trong pháp luật hiện hành hoặc là mang tính nguyên tắc, hoặc là phân tán trong các đạo luật đơn lẻ, và còn thiếu những quy định về các vấn đề chung đối với trách nhiệm xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể dân sự. Một số quy định lại không còn phù hợp với nhu cầu của cuộc sống xã hội và của thực tiễn tư pháp. Để bảo vệ ngày càng tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể dân sự, xây dựng một xã hội hài hòa, ổn định, cần thiết phải đưa ra những quy định đối với trách nhiệm của việc xâm hại các quyền và lợi ích hợp pháp mang tính quy phạm, đáp ứng nhu cầu cấp thiết của cuộc sống xã hội, xây dựng một đạo luật tương đối hoàn chỉnh về trách nhiệm đối với việc xâm hại quyền lợi hợp pháp.

Việc xây dựng Luật TNXHQL của Trung Quốc được bắt đầu từ khi soạn thảo Bộ luật Dân sự năm 2002. Ngày 23/12/2002, Dự thảo Bộ luật Dân sự được trình lên Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khóa IX thẩm định, sau đó công bố lấy ý kiến của nhân dân trong cả nước, gọi là Dự thảo Luật Dân sự (bản trưng cầu ý kiến). Trong Dự thảo này, đã có một phần nói về TNXHQL. Vì vậy, phần 8 trong Dự thảo Luật Dân sự có thể coi là “sơ thảo lần thứ nhất” của Luật TNXHQL của Trung Quốc.

Sau đó, các nhà lập pháp thấy rằng, Dự thảo Luật Dân sự (bản trưng cầu ý kiến) gồm hơn 1.200 điều, đề cập đến quá nhiều lĩnh vực, nội dung phức tạp, việc sửa đổi, thẩm định của một đạo luật như vậy cần một thời gian quá dài, khả năng hoàn chỉnh là rất khó khăn. Do vậy, các nhà lập pháp quyết định chia Dự thảo Luật Dân sự thành từng phần để sửa đổi và thông qua, ban hành dưới các hình thức đạo luật đơn hành. Sau khi ban hành các đạo luật đơn hành, sẽ ghép các đạo luật này lại thành hình thức một Bộ luật để biên soạn Bộ luật Dân sự.

Đọc tiếp

KINH NGHIỆM QUẢN LÝ DỊCH VỤ ĐÒI NỢ TẠI HÀN QUỐC

image N.A

Trước năm 1995, tại Hàn Quốc dịch vụ đòi nợ vẫn chưa có sự điều chỉnh bởi pháp luật. Do đó, giai đoạn này dịch vụ đòi nợ hợp pháp hoạt động rất yếu, trong khi đó dịch vụ đòi nợ bất hợp pháp lại rất phát triển dưới hình thức đòi nợ thuê do các băng nhóm xã hội đen thực hiện. Để khắc phục tình trạng này, đồng thời đáp ứng nhu cầu về dịch vụ đòi nợ của các doanh nghiệp trong nền kinh tế, năm 1995 Hàn Quốc đã ban hành Luật về thông tin tín dụng, trong đó có quy định về dịch vụ đòi nợ.

Sự ra đời của Bộ Luật này và các văn bản hướng dẫn thực hiện đã tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi cho sự phát triển của dịch vụ đòi nợ hợp pháp tại Hàn Quốc. Đáng chú ý là, từ sau cuộc khủng hoảng tài chính khu vực năm 1997, nhu cầu về dịch vụ đòi nợ tại Hàn Quốc tăng đột biến, làm cho hoạt động dịch vụ đòi nợ hợp pháp đã phát triển nhanh chóng tại Hàn Quốc. Theo thống kê, đến năm 2005, tại Hàn Quốc đã có 22 công ty dịch vụ đòi nợ hoạt động trong phạm vi toàn quốc, các công ty này đã có những đóng góp tích cực vào việc giải quyết nhanh tình trạng công nợ dây dưa ở Hàn Quốc trong những năm gần đây, đặc biệt là tình trạng công nợ xấu phát sinh từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997. Trong phạm vi bài viết này xin giới thiệu về kinh nghiệm quản lý dịch vụ đòi nợ tại Hàn Quốc để bạn đọc tham khảo.

Tại Hàn Quốc, hoạt động dịch vụ đòi nợ được hiểu là việc đại diện cho chủ nợ để đòi nợ thông qua các hoạt động thúc giục khách nợ trả nợ như: Gọi điện thoại, gửi thư hoặc gặp trực tiếp khách hàng để yêu cầu trả nợ. Hoạt động dịch vụ đòi nợ còn bao gồm cả việc điều tra tình hình tài sản và tài chính của khách nợ trên cơ sở khai thác những thông tin cá nhân của khách nợ tại các trung tâm lưu giữ thông tin của Nhà nước, như thông tin về tên, tuổi, địa chỉ, tình trạng hôn nhân của khách nợ, thông tin về thu nhập và tình trạng nộp thuế của khách nợ, thông tin về tình hình đăng ký tài sản (như nhà, đất, phương tiện vận tải, chứng khoán,…) thuộc sở hữu của khách nợ (tức là không nhất thiết chỉ thuộc phạm vi tài sản thế chấp). Ngoài ra, hoạt động dịch vụ đòi nợ không bao gồm hoạt động tư vấn pháp luật liên quan đến việc đòi nợ.

Pháp luật Hàn Quốc quy định, phạm vi các khoản nợ được phép thực hiện bởi hoạt động dịch vụ đòi nợ là các khoản nợ giữa các tổ chức kinh tế với các tổ chức kinh tế, giữa tổ chức kinh tế với cá nhân mà trong quan hệ đó tổ chức kinh tế là chủ nợ. Các khoản nợ này bao gồm cả nợ trong nước và nợ có yếu tố nước ngoài. Các khoản nợ về thuế và các khoản nợ mà cá nhân là chủ nợ chưa được phép thực hiện bởi dịch vụ đòi nợ.

Tuy nhiên, pháp luật Hàn Quốc cũng quy định, cá nhân không được phép kinh doanh dịch vụ đòi nợ. Chỉ các công ty dịch vụ đòi nợ được cấp giấy phép hoạt động mới được phép kinh doanh dịch vụ đòi nợ. Các công ty dịch vụ đòi nợ không được phép đồng thời kinh doanh các ngành nghề khác ngoài hoạt động dịch vụ đòi nợ, đặc biệt là không được phép kinh doanh ngành nghề mua bán nợ. Quy định này nhằm đảm bảo cho hoạt động dịch vụ đòi nợ được thực hiện đúng pháp luật, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nợ và khách nợ.

Đọc tiếp

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC: BỊ TÒA KÊ BIÊN LỐ, KIỆN SAO?

QUỲNH BĂNG – SONG NGUYỄN

Có văn bản kết luận thẩm phán làm trái pháp luật, có thiệt hại xảy ra rồi nhưng không phải trường hợp nào đương sự cũng được khiếu nại, khởi kiện để đòi bồi thường.

Từ khi Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước có hiệu lực (1-1-2010), đã xuất hiện một số vụ người dân khởi kiện tòa án đòi bồi thường vì cho rằng thẩm phán làm sai trong tố tụng dân sự, gây thiệt hại nhưng đều bị từ chối giải quyết hoặc bác đơn. Có chuyện này cũng bởi pháp luật quy định về phạm vi, điều kiện, trình tự yêu cầu bồi thường rất chặt mà không phải ai cũng biết…

Trong một vụ tranh chấp dân sự tại TAND TP Đ. (tỉnh Q.), bà H., nguyên đơn đã yêu cầu tòa áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là phong tỏa nhà đất của bà Y.- bị đơn, do nghi ngờ bà Y. tẩu tán tài sản.

Đòi bồi thường, chỉ được một phần

Tòa tìm hiểu và được Phòng Tài nguyên và Môi trường TP thông báo nhà đất nói trên đang được bà Y. chuyển nhượng cho người khác. Thẩm phán của TAND TP Đ. bèn ra quyết định kê biên phong tỏa nhà đất của bà Y. và yêu cầu các cơ quan liên quan dừng việc chuyển nhượng.

Bà Y. khiếu nại rằng giá trị nhà đất bị phong tỏa của bà cao hơn giá trị nghĩa vụ mà bà có trách nhiệm thi hành đối với bà H. Khiếu nại này được chánh án TAND TP Đ. chấp nhận và quyết định phong tỏa tài sản của thẩm phán đã được gỡ bỏ. Sau đó, bà Y. khởi kiện hai đồng bị đơn là TAND TP Đ. và bà H. ra TAND tỉnh Q. đòi bồi thường.

Xử sơ thẩm, TAND tỉnh Q. đã không chấp thuận yêu cầu đòi bồi thường của bà Y. đối với TAND TP Đ. vì cho rằng không phù hợp với pháp luật. Với đồng bị đơn còn lại, tòa tuyên bà H. phải bồi thường cho bà Y. vì đã yêu cầu tòa ra quyết định khẩn cấp sai. Mới đây, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại Đà Nẵng đã y án sơ thẩm cũng với nhận định tương tự.

Đọc tiếp

BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC: KINH NGHIỆM GÌ CHO VIỆT NAM?

TS. NGUYỄN QUỐC VINH

Không hiểu sao bài viết được đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn điện tử ngày 12/12/2010 nhưng nội dung tác giả vẫn góp ý vào Dự thảo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước vốn đã được ban hành và có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 – Civillawinfor

Việc một người dân TPHCM khởi kiện cơ quan phụ trách giao thông và công chính thành phố vì thiệt hại kinh tế do lô cốt gây ra thu hút sự chú ý của đông đảo các giới. Công chúng chờ đợi kết cục về trách nhiệm đối với những bất ổn an sinh họ đang gánh chịu. Còn với các luật gia, vụ án này sẽ đánh dấu sự tiến bộ (hay không) của pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tại Việt Nam.

Cho đến nay, số vụ kiện bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tại Việt Nam xảy ra ít, thông thường chỉ xảy ra trong một số lĩnh vực như tai nạn giao thông, xây dựng công trình dân dụng… chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong các tranh chấp dân sự.

Điều này trái ngược với tỷ lệ thực tế tại các nước phát triển. Lấy ví dụ tại Nhật Bản, số vụ tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chiếm hơn 60% tổng số tranh chấp dân sự. Hơn 30% còn lại chia cho các tranh chấp hợp đồng, hưởng lợi không có căn cứ chính đáng và thực hiện công việc không có ủy quyền.

Vài kinh nghiệm từ Nhật Bản

Một trong những bị đơn thường xuyên trong các vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tại các nước phát triển là nhà nước hoặc cơ quan nhà nước như chính quyền địa phương. Họ trở thành bị đơn vì đã được xã hội giao cho các quyền (nghĩa vụ) thực hiện công việc nhất định như cấp phép, bảo đảm chất lượng cuộc sống, xây dựng công trình công cộng… nhưng đã không hoàn thành những công việc này mà còn gây thiệt hại cho người khác.

Lấy ví dụ tại Nhật Bản, từ năm 1947 nước này đã ban hành Luật về bồi thường nhà nước (Kokka baisho ho) quy định về những trường hợp nhà nước phải bồi thường. Cụ thể điều 1.1 luật này quy định: “Khi thực thi công vụ, nếu một quan chức chính quyền có hành vi vi phạm, dù cố ý hoặc vô ý, mà gây thiệt hại cho người khác thì nhà nước hoặc cơ quan có liên quan phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại”. Điều 2.1 luật này quy định: “Trong trường hợp có khiếm khuyết khi xây dựng hoặc quản lý đường sá, sông ngòi và các cơ sở công cộng khác mà gây thiệt hại cho người khác thì nhà nước hoặc cơ quan có liên quan phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 654 other followers

%d bloggers like this: