MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ QUYỀN THỪA KẾ TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

NGUYỄN PHƯƠNG THẢO & LỤC THANH THỦY, Vụ Tổ chức – Cán bộ TANDTC

Thừa kế là một chế định quan trọng trong pháp luật dân sự Việt Nam, có ý nghĩa rất lớn trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực thừa kế. Từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1959, Sắc lệnh 90/SL ngày 10/10/1945 cho phép tạm thời áp dụng những văn bản pháp luật dân sự của chế độ cũ với điều kiện "những luật lệ ấy không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể cộng hoà". Tại Điều 27 Hiến pháp năm 1980 cũng ghi nhận "Pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân". Tiếp theo, Thông tư số 81 ngày 27/7/1981 của Toà án nhân dân tối cao đã hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế. Ngày 30/8/1990, Hội đồng Nhà nước nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua Pháp lệnh thừa kế.

Qua hơn 4 năm thực hiện Pháp lệnh thừa kế đã cho thấy về cơ bản những quy định của Pháp lệnh phù hợp với thực tế đời sống, do đó chế định thừa kế trong Bộ luật dân sự năm 1995 đã kế thừa hầu hết các quy định của Pháp lệnh thừa kế. Tuy nhiên, những quy định về thừa kế trong Bộ luật dân sự vẫn còn tồn tại những điểm chưa hợp lý, rõ ràng.

Tại Điều 58 Hiến pháp năm 1992 khẳng định: "Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác…Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân."

Trên tinh thần của Hiến pháp năm 1992, Bộ luật Dân sự năm 1995 được ban hành là một bước phát triển mới trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự ở nước ta. Nội dung của Bộ luật dân sự năm 1995 tương đối đồng bộ và toàn diện nên về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu thực tế của xã hội thời kỳ này. Chế định thừa kế trong Bộ luật dân sự năm 1995 đã kế thừa hầu hết các quy định của Pháp lệnh thừa kế nói trên. Bên cạnh đó, Bộ luật dân sự năm 1995 đã bổ sung một số vấn đề mới trong lĩnh vực thừa kế, đặc biệt là việc thừa kế quyền sử dụng đất của cá nhân và thành viên của hộ gia đình, đây là những cơ sở pháp lý để nâng cao chất lượng thực thi quyền thừa kế tài sản trong đời sống xã hội.

Qua 10 năm thi hành Bộ luật Dân sự năm 1995, thực tiễn xét xử cho thấy những quy định pháp luật về thừa kế đã đi vào cuộc sống. Tuy nhiên, từ sau năm 1995 đến nay đã có hàng loạt văn bản pháp luật có liên quan được ban hành như Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, Luật Đất đai năm 2003, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (sửa đổi), Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi), dẫn đến những bất cập nhất định, trong đó có những quan hệ liên quan đến thừa kế. Vì vậy, Bộ luật Dân sự năm 2005 vừa được ban hành đã bổ sung, chỉnh sửa một số quy định về thừa kế tài sản phù hợp và mang tính khả thi hơn.

Đọc tiếp

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ QUYỀN THỪA KẾ

PHƯƠNG DUNG – HÀ GIANG

I/ Khái niệm quyền thừa kế

Người có quyền thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam là công dân, tổ chức. Quyền thừa kế thuộc về cá nhân được thể hiện theo hai chủ thể nhất định, đó là chủ thể để lại tài sản (quyền của người để lại di sản) và chủ thể hưởng thừa kế di sản (quyền của người nhận di sản). Quyền thừa kế thuộc về tổ chức được thể hiện theo một chủ thể nhất định, đó là chủ thể hưởng thừa kế di sản (và chỉ trong trường hợp thừa kế theo di chúc).

Khi xem xét về vấn đề thừa kế thì di sản là một trong những vấn đề được quan tâm trước tiên. Di sản là cơ sở để thiết lập di chúc bên cạnh các căn cứ khác. Chỉ khi di sản còn tồn tại trên thực tế thì người lập di chúc mới có “cái” để định đoạt.

Những người được thừa kế theo quy định của pháp luật không phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi. Người có hay không có năng lực hành vi hoặc người có năng lực hành vi không đầy đủ đều có quyền thừa kế. Trong trường hợp này, người giám hộ sẽ thực hiện giúp những người này các quyền và nghĩa vụ trong phạm vi tài sản của họ.

II/ Quyền của người để lại tài sản – một số vấn đề vướng mắc

Đối với cá nhân người để lại tài sản, với tư cách là chủ sở hữu hợp pháp đối với những tài sản của mình, cá nhân có quyền lập di chúc để thực hiện quyền định đoạt tài sản của bản thân. Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân trong việc định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của họ trước khi chết.

Theo quy định tại Điều 648 Bộ luật dân sự thì, người lập di chúc có các quyền sau đây:

1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;

2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;

3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;

4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;

5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

Ngoài ra, tại Điều 662 BLDS còn quy định, người lập di chúc có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc.

Đọc tiếp

THỰC TIỄN THI HÀNH BỘ LUẬT DÂN SỰ: VỢ CHỒNG LẬP DI CHÚC CHUNG, NHIỀU RẮC RỐI

HOÀNG YẾN

Việc vợ chồng cùng lập di chúc chung ngày càng phổ biến. Tuy nhiên, xung quanh chuyện này, thực tế đã nảy sinh nhiều vướng mắc pháp lý chưa có hướng gỡ…

BLDS cho phép vợ chồng được lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung. Vợ, chồng có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung bất kỳ lúc nào nếu được sự đồng ý của người kia; nếu một người đã chết thì người kia có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình.

Hiện nay, ngày càng có nhiều cặp vợ chồng lập di chúc chung nhằm bảo toàn tài sản để lại cho con cháu nhưng thực tiễn đã nảy sinh khá nhiều vướng mắc pháp lý.

Không thể định đoạt tài sản của mình

Theo nhiều chuyên gia, vướng mắc lớn nhất là việc khi vợ hoặc chồng chết trước thì người còn lại cũng như người thừa kế theo di chúc không thể định đoạt di sản như bán, thế chấp… Có việc này bởi di chúc chung của vợ chồng chủ yếu định đoạt nhà, đất. Nhà, đất là tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng, chưa phân định phần nào là sở hữu của mỗi người nên khi một người chết trước thì không thể công chứng việc mua bán phần tài sản thuộc sở hữu của người còn sống được. Mặt khác, theo luật di chúc chung chỉ có hiệu lực sau khi cả vợ chồng cùng chết hoặc người sau cùng chết. Do vậy, khi một trong hai người vẫn còn sống thì chưa thể làm thủ tục khai nhận thừa kế hoặc thỏa thuận phân chia di sản.

Chẳng hạn trường hợp của ông VTH ở TP Tân An (Long An). Thương người con gái độc thân, vợ chồng ông lập di chúc để lại căn nhà đang ở cho chị. Năm 2006, vợ ông H. bệnh nặng qua đời. Hai năm sau, ông H. bị tai biến, nằm liệt tại chỗ. Việc chữa trị, chăm sóc ông rất tốn kém trong khi chỉ một tay người con gái bươn chải. Nợ nần chồng chất, ông H. và con bàn nhau bán nhà trả nợ, còn lại mua một căn nhà nhỏ để cha con sống và có dư một ít tiền làm vốn cho người con mua bán sinh nhai.

Sau đó, người con đem hồ sơ nhà đất và tờ di chúc ra phòng công chứng khai nhận di sản thì bị từ chối. Theo phòng công chứng, đây là di chúc chung của vợ chồng nên khi ông H. còn sống thì di chúc chưa có hiệu lực. Ông H. muốn thay đổi nội dung di chúc nhằm có thể tự bán phần một nửa căn nhà của ông nên nhờ cậy một luật sư tư vấn miễn phí. Tuy nhiên, luật sư cho biết một nửa căn nhà của ông gắn liền với phần tài sản của người vợ đã mất, mặt khác theo luật, khi sửa đổi di chúc chung của vợ chồng thì không được làm thay đổi bản chất nội dung của di chúc. Nghĩa là dù ông H. có định đoạt lại nửa căn nhà phần ông thế nào thì cũng không thể thay đổi, hủy bỏ việc cho người con gái căn nhà đó được.

Đọc tiếp

THỰC TIỄN THI HÀNH BỘ LUẬT DÂN SỰ: MỘT PHẦN DI SẢN HẾT THỜI HIỆU KHỞI KIỆN, XỬ SAO?

imageLS. NGUYỄN HỒNG HÀ – Đoàn Luật sư tỉnh Khánh Hòa

Nhiều tòa án địa phương đã đề nghị TAND Tối cao có văn bản hướng dẫn chính thức nhưng chính TAND Tối cao cũng thấy lúng túng.

Giải quyết tranh chấp di sản thừa kế, các tòa đã gặp nhiều trường hợp mà một phần di sản còn thời hiệu khởi kiện, một phần di sản hết thời hiệu và cũng không thuộc trường hợp chuyển sang để chia tài sản chung. Gặp tình huống này, vì chưa có quy định nên mỗi tòa xử một kiểu…

Ông NQB (Việt kiều Mỹ) và ông NTT ngụ TP Nha Trang vốn là hai anh em ruột. Năm 1996, cha của họ mất, đến năm 2008, người mẹ cũng qua đời, để lại di sản thừa kế là nhà đất. Tranh chấp, ông B. đã khởi kiện ông T. ra tòa.

Tòa chấp nhận chia

Hòa giải không thành, tòa sơ thẩm đã đưa vụ kiện ra xét xử, tuyên chấp nhận chia di sản thừa kế như yêu cầu của ông B.

Ông T. kháng cáo án sơ thẩm về nhiều nội dung, trong đó có chuyện tòa sơ thẩm đã sai khi xử chia phần di sản thừa kế mà người cha để lại vì thời hiệu khởi kiện đã hết (đã quá 10 năm).

Tòa phúc thẩm đã bác kháng cáo của ông T. với nhận định khối di sản đang tranh chấp là tài sản chung của cha mẹ hai bên đương sự vì vậy không thể tách rời phần di sản của người cha ra để xác định còn hay không còn thời hiệu. Mặt khác, tòa lập luận do các đương sự không có tranh chấp gì về diện, hàng thừa kế, đều xác định tài sản của người cha chưa chia nên tòa giải quyết theo quan hệ chia tài sản chung. (Đây là điều khá vô lý vì tên gọi vụ kiện vẫn là tranh chấp di sản thừa kế và không có các điều kiện để chuyển sang chia tài sản chung như hướng dẫn trong Nghị quyết 02 ngày 8-10-2004 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao – NV).

Tòa không chia nhưng lúng túng

Trái ngược với hướng giải quyết trên, gặp tình huống tương tự, nhiều tòa khác lại chọn cách chỉ phân chia phần di sản còn thời hiệu, còn phần di sản hết thời hiệu thì tách ra để đó. Vấn đề là xử lý phần tách ra này theo hướng nào thì các tòa còn rất lúng túng.

Đọc tiếp

QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG TRƯỜNG HỢP NÀO ĐƯỢC XÁC ĐỊNH LÀ DI SẢN THỪA KẾ?

NGUYỄN THANH HẢI – Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, Hà Nội

Một trong những di sản là đối tượng tranh chấp nhiều về thừa kế đó là “quyền sử dụng đất”. Vì quyền sử dụng đất được xem là loại di sản mới và đặc biệt hơn so với các loại di sản khác, nên kéo theo đó là cách giải quyết cũng theo một cơ chế riêng. Gần đây, một số văn bản pháp luật, cụ thể là Luật Đất đai năm 2003, Bộ luật Dân sự năm 2005 và Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình (sau đây xin gọi tắt là Nghị quyết số 02) đã khẳng định rõ và ghi nhận “quyền sử dụng đất” là di sản thừa kế. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết các vụ kiện đòi chia thừa kế về quyền sử dụng đất đã nảy sinh các ý kiến khác nhau về nhận thức quyền sử dụng đất là di sản thừa kế.

Trong phạm vi bài viết này, xin bàn thêm cùng bạn đọc về vấn đề nêu trên thông qua một số ví dụ cụ thể sau:

Ví dụ 1: Ông bà A – B sinh được 2 người con là C và D. Sinh thời ông bà A – B có tạo lập được 1 mảnh đất có diện tích là 500m2. Năm 1989, anh C đứng tên kê khai mang tên anh. Năm 2000, ông bà A – B đều qua đời. Tháng 6/2005, anh D có đơn khởi kiện yêu cầu Toà án chia thừa kế quyền sử dụng 500m2 đất trên do bố mẹ để lại.

Về việc giải quyết vụ việc nêu trên còn có các ý kiến khác nhau:

* ý kiến thứ nhất cho rằng, việc ông D khởi kiện yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng 500m2 đất do bố mẹ để lại là không được chấp nhận vì 500m2 đất không phải di sản thừa kế, bởi lẽ:

- Tại tiểu mục 1.1 và 1.2 Mục 1 Phần II Nghị quyết số 02 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về thừa kế, tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất, hướng dẫn về việc xác định quyền sử dụng đất là di sản như sau:

+ Tiểu mục 1.1: “Đối với đất do người chết để lại (không phân biệt có tài sản hay không có tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất) mà người đó đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 thì quyền sử dụng đất đó là di sản”.

Đọc tiếp

“DI TẶNG” THEO QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 671 BỘ LUẬT DÂN SỰ

THS. VŨ THỊ LAN HƯƠNG – Bộ môn Luật, Đại học Lao động – xã hội

1. Điều kiện để được nhận di tặng

Điều 671 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 quy định về di tặng: “1. Di tặng là việc người lập di chúc dành một phần di sản để tặng cho người khác. Việc di tặng phải được ghi rõ trong di chúc. 2. Người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này”.

Theo quy định này, căn cứ phát sinh di tặng là do người lập di chúc chỉ định cho người được di tặng được hưởng di sản trong một bản di chúc có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, người được di tặng không phải là người thừa kế theo di chúc. Mặc dù họ cũng được hưởng một phần di sản của người lập di chúc giống như người thừa kế theo di chúc, nhưng họ lại không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ của người này. Đây là căn cứ xác định sự khác biệt giữa người được di tặng với người thừa kế theo di chúc.

Nhưng Điều 671 không quy định cụ thể điều kiện để một người được nhận di tặng mà chỉ quy định chung: Người lập di chúc được dành một phần tài sản để di tặng cho người khác. Vậy “người khác” ở đây được hiểu như thế nào? Chỉ là cá nhân hay có thể bao gồm cả cơ quan, tổ chức?

Theo chúng tôi, người được di tặng có thể là cá nhân và cũng có thể là cơ quan, tổ chức. Bởi lẽ, mặc dù không quy định cụ thể “người khác” bao gồm những ai, nhưng BLDS cũng không quy định: người được di tặng chỉ có thể là cá nhân.

Vấn đề được đặt ra ở đây là, người được di tặng có cần thỏa mãn các điều kiện như đối với người thừa kế hay không?

Nếu là cá nhân, người được di tặng có cần phải là “đã thành thai trước khi người để lại di sản chết” hay không? Nếu là tổ chức thì tổ chức đó có phải “tồn tại vào thời điểm mở thừa kế” hay không? Sở dĩ phải đặt ra vấn đề này là do trong thực tế, có rất nhiều trường hợp người để lại di sản đã lập di chúc định đoạt một phần tài sản của mình với mục đích tặng cho các quỹ (quỹ học bổng, quỹ từ thiện…).

Đọc tiếp

GÓP Ý SỬA ĐỔI, BỔ SUNG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005: DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ CHỒNG CÓ HIỆU LỰC KHI NÀO

QUANG THÀNH

Qua 5 năm thực hiện, Bộ luật dân sự (BLDS) đã phát huy hiệu quả trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, góp phần cũng cố và bảo vệ các quyền dân sự cơ bản của công dân, đồng thời thúc đẩy sự phát triển các quan hệ kinh tế và các quan hệ khác đáp ứng các yêu cầu của cuộc sống. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của đời sống xã hội, các quy định của BLDS nảy sinh những bất cập đòi hỏi phải có sự sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với sự vận động của xã hội. Trong phạm vi bài viết này, người viết chỉ đề cập tới quy định về di chúc chung của vợ chồng.

Điều 663 BLDS quy định vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung. Quy định này nhằm tạo điều kiện cho vợ, chồng cùng thể hiện được ý chí thống nhất trong việc định đoạt tài sản chung của vợ chồng và nó đã góp phần vào thúc đẩy các quan hệ dân sự cũng như vấn đề  tôn trọng và bảo vệ các quyền dân sự của chủ sở hữu tài sản.

Tuy nhiên trên thực tế, việc thực hiện di chúc chung của vợ, chồng còn nhiều vướng mắc, bất cập, đặc biệt nó làm giới hạn quyền của chủ sở hữu trong việc định đoạt tài sản. Theo khoản 1 Điều 664 BLDS thì vợ, chồng có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đó bất cứ lúc nào. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 664 quy định việc sửa đổi, bổ sung, thay thế , hủy bỏ di chúc chung phải được sự đồng ý của người kia; nếu một người chết trước thì người kia chỉ có thể sửa đổi, bổ sung, di chúc liên quan đến phần tài sản của mình. Như vậy, trong trường hợp này, ý chí của người lập di chúc chung không thể độc lập trong việc định đoạt tài sản – kể cả phần tài sản của mình trong khối tài sản chung của vợ chồng khi vợ hoặc chồng không đồng ý.

Đọc tiếp

MỐI LIÊN HỆ GIỮA DI SẢN THỪA KẾ KHÔNG PHỤ THUỘC VÀO NỘI DUNG DI CHÚC VỚI DI SẢN THỪA KẾ THEO DI CHÚC

THS. VŨ THỊ LAN HƯƠNG – Bộ môn Luật, Đại học Lao động xã hội

Phần di sản dành cho người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc lần đầu tiên được quy định trong Thông tư 81 ngày 24/7/1981 của Tòa án nhân dân tối cao. Theo Thông tư này, nếu bằng di chúc người có di sản định đoạt, vì lợi ích của người khác, một phần tài sản lớn hơn giá trị của di sản trừ đi giá trị các “phần tài sản cho những người thừa kế bắt buộc” thì các phần di sản được hưởng theo di chúc sẽ bị cắt giảm theo yêu cầu của những người này. Những người “thừa kế bắt buộc” bao gồm vợ, chồng; con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, bố mẹ già yếu và túng thiếu. Phần này được ấn định bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật.

Kế thừa các quy định tại Thông tư 81, Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 bổ sung: 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật được tính bằng cách giả định toàn bộ di sản được chia theo pháp luật (Điều 20). Pháp lệnh cũng thay cụm từ “phần tài sản cho những người thừa kế bắt buộc” thành “những người được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc”.

Sau Pháp lệnh Thừa kế, Bộ luật Dân sự (BLDS) 1995 và 2005 tiếp tục quy định về vấn đề này. Cụ thể, Điều 669 BLDS năm 2005 quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc như sau: “Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động.

Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc được hưởng một phần di sản tối thiểu bằng 2/3 một suất theo luật được xác định bằng cách giả định toàn bộ di sản chia theo pháp luật”.

Đọc tiếp

HẾT THỜI HIỆU KHỞI KIỆN THỪA KẾ: RỐI KHI CHIA DI SẢN

HỒNG TÚ

Để giải quyết tranh chấp di sản sau khi đã hết thời hiệu khởi kiện thừa kế, TAND Tối cao hướng dẫn các tòa thụ lý yêu cầu phân chia theo dạng chia tài sản chung… Thực tế áp dụng vẫn phát sinh vướng mắc. Nhiều chuyên gia cho rằng nên bỏ hẳn hướng dẫn này vì vô hiệu hóa thời hiệu khởi kiện.

Theo quy định, thời hiệu khởi kiện thừa kế là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế, tức sau thời hạn này, đương sự sẽ mất quyền khởi kiện và có tranh chấp thì tòa cũng không xem xét.

Một bên không thừa nhận, tòa bó tay

Vì nhiều lý do, không ít vụ tranh chấp di sản thừa kế chỉ phát sinh sau khi đã hết thời hiệu khởi kiện. Vì thế, ngày 10-8-2004, Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao đã ban hành Nghị quyết 02 (hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình). Theo đó, khi hết thời hiệu khởi kiện thừa kế mà các đồng thừa kế có yêu cầu nhờ tòa chia giúp khối di sản thì tòa vẫn thụ lý, giải quyết nếu các đồng thừa kế có văn bản cam kết di sản là tài sản chung chưa chia, không có tranh chấp về hàng thừa kế và nhờ tòa phân chia giúp.

Thực tiễn đã có không ít trường hợp được giải quyết êm xuôi nhờ Nghị quyết 02. Nhưng ngược lại, hiện cũng đang có rất nhiều vụ việc bị ách tắc chỉ vì một nguyên nhân đơn giản: Một bên đương sự (thông thường là người quản lý, chiếm hữu di sản) không chịu thừa nhận đó là tài sản chung và không yêu cầu tòa phân chia giúp.

Chẳng hạn như trường hợp của anh Đ. Cha mẹ anh có tất cả tám người con. Hai cụ mất trước năm 1985, không để lại di chúc, chỉ để lại một căn nhà trên đường Lê Lai, quận Gò Vấp (TP.HCM). Sau đó, người anh cả đại diện các đồng thừa kế quản lý, sử dụng căn nhà. Rồi ông này tự tiến hành khai nhận di sản với tư cách đại diện thừa kế duy nhất để chiếm trọn 600 triệu đồng tiền đền bù giải tỏa nhà.

Đọc tiếp

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

TƯỞNG DUY LƯỢNG – Chánh Tòa dân sự, TANDTC

Đất đai là tài nguyên của quốc gia, là một loại tài sản đặc biệt, có ý nghĩa kinh tế chính trị, xã hội, nó liên quan đến mọi người, mọi cơ quan, tổ chức, được nhà nước hết sức quan tâm. Do đó, nó có một chế độ pháp lý riêng biệt. Có lẽ không có loại tài sản nào gắn với mọi người, mọi nhà nhưng lại chỉ có một chủ thể được quyền sở hữu đó là Nhà nước, còn người sử dụng đất, tuy không phải là chủ sở hữu nhưng lại có 10 quyền tương tự như các quyền của một chủ sở hữu tài sản và đương nhiên vì không phải chủ sở hữu nên người sử dụng loại tài sản đặc biệt này có những hạn chế nhất định.

Kể từ năm 1980, khi hiến pháp quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, đến nay quyền của người sử dụng đất không ngừng được phát triển. Từ chỗ người sử dụng đất chỉ có quyền khai thác các công dụng của đất đai, không có quyền mua bán, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, thừa kế… quyền sử dụng đất. Tóm lại, người sử dụng đất không được pháp luật cho phép thực hiện các giao dịch dân sự về đất đai, đến khi có Hiến pháp năm 1992, Luật Đất đai năm 1993 và đặc biệt là khi Bộ luật Dân sự năm 1995 ra đời, thì Nhà nước đã thừa nhận cho người dân có 5 quyền sử dụng đất. Khi Bộ luật Dân sự năm 2005 ra đời, Nhà nước thừa nhận người sử dụng đất có 10 quyền và trong tương lai các hạn chế về quyền của người sử dụng đất sẽ ngày càng ít đi. Quyền năng của người quản lý, sử dụng đất hợp pháp sẽ được bảo đảm ngày càng tốt hơn, thể hiện sự bình đẳng giữa các chủ thể và cũng là để quản lý, khai thác đất đai có hiệu quả hơn.

Trong các quyền năng của người sử dụng đất, thì quyền thừa kế có vị trí hết sức đặc biệt. Do tính chất pháp lý đặc thù của loại tài sản này, nên Bộ luật Dân sự năm 1995 có quy định thừa kế quyền sử dụng đất thành một chương riêng, nhưng Bộ luật Dân sự năm 2005 không còn quy định chế độ pháp lý riêng biệt về thừa kế quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, khi xem xét về thừa kế quyền sử dụng đất thì phải vận dụng cả các quy định của Luật Đất đai để việc giải quyết phù hợp với tính chất đặc biệt của loại tài sản này.

Đọc tiếp

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ CHỨNG MINH TÀI SẢN KHI CÔNG CHỨNG, CHỨNG THỰC DI CHÚC

LS. NGUYỄN HỒNG LÂM – CÔNG CHỨNG VIÊN. PHAN VĂN CHEO

1.  Lập di chúc khi chưa có tài sản thật?

Theo quy định của pháp luật dân sự, di chúc là sự thể hiện ý chí cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Tài sản của người lập di chúc để lại được gọi là di sản. Người lập di chúc có toàn quyền định đoạt đối với di sản của mình (để lại cho ai, tỉ lệ thừa hưởng…).

Hiện nay, khi có yêu cầu công chứng, chứng thực di chúc, người lập di chúc phải chứng minh tài sản của mình là hợp pháp và có thật (nếu là nhà, xe, cổ phần, cổ phiếu… thì phải có chứng từ sở hữu; nếu là tiền thì được thể hiện qua tài khoản ngân hàng). Nói cách khác, đó phải là tài sản cụ thể. Nếu không chứng minh đuợc tài sản ấy có thật thì cơ quan thẩm quyền sẽ từ chối công chứng, chứng thực di chúc. Đáng nói là có nhiều người lập di chúc có yêu cầu để lại những tài sản của mình có được tại thời điểm qua đời, tức bao gồm cả những tài sản hình thành trong tương lai. Mà những tài sản này thì không thể chứng minh tính có thật. Từ đó làm phát sinh tình huống mỗi lần được sở hữu một tài sản mới thì chủ sở hữu phải lập di chúc mới, có liệt kê thêm tài sản mới thì mới đảm bảo quyền định đoạt của mình đối với di sản.

Được biết, nhiều công chứng viên đang hành nghề tại các phòng công chứng và văn phòng công chứng đều không đồng ý công chứng vào di chúc có đề cập đến tài sản hình thành trong tương lai. Việc từ chối được căn cứ vào các quy định của Luật Công chứng. Cụ thể, người đi công chứng các hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng phải nộp bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc bản sao giấy tờ thay thế được pháp luật quy định.

Đọc tiếp

THỜI ĐIỂM CÓ HIỆU LỰC CỦA DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ CHỒNG

THS. LÊ MINH HÙNG – Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

Vấn đề hiệu lực pháp luật của di chúc chung vốn đã gây rất nhiều tranh luận giữa các chuyên gia pháp luật thừa kế, khi góp ý cho Dự thảo Bộ luật Dân sự năm 2005 (sau đây viết tắt là BLDS 2005). Tuy nhiên, sau khi Bộ luật Dân sự năm 2005 được ban hành, vấn đề này vẫn chưa được giải quyết triệt để, nên vẫn còn nhiều bất cập, đặc biệt là quy định về thời điểm có hiệu lực của di chúc chung không trùng với thời điểm mở thừa kế (1).

Hệ quả là, khi một bên vợ hoặc chồng chết trước, người được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc chung không thể yêu cầu chia di sản do người chết trước để lại, những người thuộc diện thừa kế bắt buộc của người vợ hay chồng đã chết trước không được yêu cầu chia thừa kế bắt buộc của người vợ hoặc chồng đã chết và nếu ngoài di chúc chung, một bên vợ, chồng chết trước còn để lại nhiều di chúc khác nhau thì vấn đề xác định hiệu lực của các di chúc sẽ gặp rất nhiều khó khăn.

Chúng tôi xin được tập trung làm rõ thêm những bất cập trong quy định của BLDS 2005 về thời điểm có hiệu lực của di chúc chung của vợC, chồng và đưa ra một số kiến nghị cụ thể.

1. Những bất cập của quy định về thời điểm có hiệu lực của di chúc chung

Điều 668 BLDS 2005 quy định: “Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết”. Giải pháp này đã đơn giản hoá việc thực thi di chúc chung (vì chỉ chia thừa kế theo di chúc chung một lần), so với giải pháp của BLDS 1995 (2).

Mặc dù vậy, việc xác định di chúc chung của vợ chồng phát sinh tại một thời điểm người sau cùng chết lại phát sinh những vấn đề phức tạp khác sau đây:

Thứ nhất: việc phải chia thừa kế nhiều lần đối với di sản của người vợ hay chồng chết trước, sẽ gây khó khăn cho các bên liên quan và cho cả các cơ quan tiến hành tố tụng.

Đọc tiếp

TRANH CHẤP ĐẤT HƯƠNG HỎA TÍNH SAO?

KHẢI HÀ

Có ý kiến cho rằng với loại đất của chung họ tộc thì không nên chia thừa kế.

Năm 2007, bà A. huyện (Châu Thành, Long An) mất không để lại di chúc. Sáu người con của bà đã khởi kiện đòi phân chia di sản của mẹ để lại. Số di sản này gồm có gần 10.000 m2 đất lúa, đất vườn, đất thổ, trên đó có một căn nhà thờ và nhiều mồ mả của ông bà, dòng họ.

Giành đất để cúng giỗ

Theo người con trưởng, mặc dù đất đai do mẹ đứng tên nhưng đó là đất của thân tộc. Ông giành quyền quản lý, sử dụng số tài sản trên để làm nơi thờ cúng tổ tiên, đồng thời yêu cầu người em út kiếm nơi khác ở.

Người em gái út không đồng ý, viện lẽ có nhu cầu canh tác phần ruộng của mẹ để lại để lo việc cúng giỗ.

Sau đó, năm người em thống nhất đòi chia thừa kế di sản. Đối với nhà làm nhà thờ và các tài sản bên trong, họ xin được hưởng và giao lại phần của mình cho người em út để có nơi thờ cúng ông bà.

TAND huyện Châu Thành đã xử bác yêu cầu của người con trưởng. Theo tòa, không có cơ sở cho đó là đất của gia tộc (ngay cả khi trên đất có mồ mả). Bởi lẽ mảnh đất trên được cha mẹ ông trực tiếp quản lý, sử dụng từ trước đến nay. Khi mẹ ông được cấp chủ quyền mảnh đất trên cho đến khi bà mất, bản thân ông và thân tộc không khiếu nại.

Tòa này quyết định chia tài sản thành sáu phần đều nhau và cho phép năm người em hưởng phần đất có ngôi nhà thờ để người em út tiếp tục việc thờ cúng.

Đọc tiếp

GIẢI QUYẾT THỪA KẾ CỔ PHẦN NGÂN HÀNG PHẢI PHÙ HỢP VỚI PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN

LS. NGUYỄN VĂN PHƯƠNG

Việc chuyển quyền sở hữu cổ phần của các cổ đông không chỉ được thực hiện với mục đích thương mại mà còn được thực hiện theo quy định của pháp luật về thừa kế. Với số lượng cổ đông lên đến hàng trăm nghìn người, thì hằng năm số vụ thừa kế cổ phần được ngân hàng giải quyết và làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho người thừa kế là tương đối lớn. Do vậy, các ngân hàng thương mại cổ phần đã không còn xa lạ với việc giải quyết thừa kế cổ phần và thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu cổ phần theo yêu cầu của người thừa kế.

Tuy nhiên, sự đa dạng, phong phú của các vụ thừa kế cổ phần ngân hàng phát sinh từ thực tế và hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện đã gây khó khăn cho các ngân hàng thương mại cổ phần ban hành văn bản hướng dẫn giải quyết thống nhất, cụ thể.

1. Sức hấp dẫn của cổ phần ngân hàng và quy định hiện hành về thừa kế cổ phần ngân hàng

Cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu xảy ra ở Mỹ từ đầu năm 2008 đến quý III/2008 đã tác động, ảnh hưởng đến nền kinh tế của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Do đó, các quốc gia đã phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp để hạn chế những tác động, ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính đó. Trong khi các nước đang phải đối phó với tác động của cuộc khủng hoảng tài chính, thì nền kinh tế thế giới lại chuyển sang giai đoạn suy thoái (bắt đầu từ tháng 10/2008 đến nay), nên các quốc gia buộc phải tìm, áp dụng biện pháp mới để ngăn chặn suy thoái kinh tế. Những diễn biến phức tạp và khó lường của nền kinh tế thế giới đã tác động đến môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp đã phải ngừng hoạt động, giải thể, phá sản hoặc phải cắt giảm nhân công, hạn chế đầu tư để hoạt động cầm chừng, chờ cơ hội kinh doanh mới. Trong hoàn cảnh đó, các ngân hàng đã biết cách vượt qua khó khăn, biến thách thức thành cơ hội kinh doanh để tồn tại và phát triển. Theo báo cáo kết quả kinh doanh của các ngân hàng năm 2008, thì không có ngân hàng nào bị lỗ. Đứng đầu danh sách các ngân hàng kinh doanh có lãi năm 2008 (tính theo lợi nhuận trước thuế) phải kể đến Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam -Vietcombank (đạt 3.352 tỷ đồng), Ngân hàng Công thương Việt Nam-VietinBank (đạt 2.437 tỷ đồng), Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu – ACB (đạt 2.560 tỷ đồng), Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam – Techcombank (đạt 1.600 tỷ đồng), Ngân hàng thương mại cổ phần xuất – nhập khẩu Việt Nam- Eximbank (đạt 1.500 tỷ đồng), Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương tín – Sacombank (đạt 1.091 tỷ đồng)…

Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 641 other followers

%d bloggers like this: