SỰ HÌNH THÀNH TẬP QUÁN QUỐC TẾ

LS. ĐIỀN ĐỨC THÀNH – Đoàn Luật sư TPHCM

Theo Điểm b khoản 1 Điều 38 Quy chế Tòa án quốc tế qui định những yếu tố để được công nhận là tập quán quốc tế là sự áp dụng thường xuyên của quốc gia và được thừa nhận là quy phạm pháp lý bắt buộc (opinio juris). Theo đó, nội dung của Điều 38 Tòa án quốc tế hướng dẫn tập quán quốc tế đã được thừa nhận là qui phạm pháp luật phải được các quốc gia thừa nhận và áp dụng thường xuyên, mà sự áp dụng thường xuyên này khó có thể chứng minh rõ ràng.

Tuy khó chứng minh, nhưng ở một khía cạnh nào đó, cũng có thể chứng minh được như qua các tài liệu chuẩn bị cho các thủ tục khác như phê chuẩn điều ước; đàm phán điều ước hoặc tham gia hội nghị quốc tế; xây dựng luật pháp quốc gia; những bản án của tòa án quốc gia; bầu cử trong Đại hội Đồng Liên hiệp quốc và các tổ chức quốc tế khác; những phát biểu của bộ trưởng đại diện chính phủ về ngoại giao; các văn kiện chính thức về ngoại giao, các ý kiến tư vấn hoặc bào chữa của luật sư trước Tòa án quốc gia và Tòa án quốc tế.

Những phán quyết của tòa án hoặc trọng tài quốc tế đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành về thừa nhận tập quán quốc tế. Ví dụ như quan hệ song phương về môi trường được hình thành từ phán quyết trọng tài đối với tranh chấp Trail Smelter năm 1941: ”Không quốc gia nào có quyền sử dụng hoặc cho phép sử dụng lãnh thổ của mình để phát tán khói gây thiệt hại nghiêm trọng đến lãnh thổ, tài sản và người dân của quốc gia khác” và nguyên tắc này được mở rộng bằng tuyên bố Stockholm: ”Các quốc gia có trách nhiệm bảo đảm những hoạt động chủ quyền quốc gia không gây thiệt hại đến môi trường của các quốc gia khác hoặc các khu vực vượt quá giới hạn chủ quyền quốc gia” (Môi trường và luật quốc tế về môi trường, Nhà xuất bản chính trị quốc gia 1996).

Đọc tiếp

HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN THỎA THUẬN CHỌN LUẬT ÁP DỤNG CHO HỢP ĐỒNG DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

THS. BÀNH QUỐC TUẤN – Khoa Luật, Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Hợp đồng dân sự (HĐDS) có yếu tố nước ngoài (YTNN) là HĐDS có chủ thể nước ngoài tham gia; căn cứ pháp lý làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt hợp đồng xảy ra ở nước ngoài hoặc theo pháp luật nước ngoài; tài sản liên quan đến hợp đồng nằm ở nước ngoài. Chính YTNN dẫn đến hiện tượng cùng một lúc có thể có nhiều hệ thống pháp luật cùng tham gia điều chỉnh hợp đồng. Từ đó, việc xác định luật áp dụng cho hợp đồng cũng như để bảo vệ lợi ích của các bên khi giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tất yếu sẽ gặp nhiều khó khăn. Để giải quyết vấn đề này, một trong những nguyên tắc quan trọng được pháp luật các nước cũng như các điều ước quốc tế (ĐƯQT) ghi nhận là các bên tham gia quan hệ hợp đồng có quyền thỏa thuận chọn luật áp dụng cho hợp đồng.

1. Quy định của pháp luật Việt Nam về quyền thỏa thuận chọn luật áp dụng cho hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài

Xuất phát từ nguyên tắc tự do thỏa thuận trong quan hệ hợp đồng, pháp luật các nước đều thừa nhận luật áp dụng cho nội dung HĐDS có YTNN trước tiên là luật do các bên tham gia quan hệ hợp đồng thỏa thuận lựa chọn. Dĩ nhiên, sự lựa chọn này phải đáp ứng những điều kiện do chính hệ thống pháp luật đó đặt ra. Nhìn vào các HĐDS có YTNN, đặc biệt là mua bán hàng hóa quốc tế chúng ta thấy ngoài những nội dung cơ bản được ghi nhận tương tự với HĐDS trong nước như chủ thể, đối tượng, quyền và nghĩa vụ của các bên… còn xuất hiện điều khoản luật áp dụng (applicable law). Vận dụng nguyên tắc này, pháp luật Việt Nam đã quy định quyền thỏa thuận chọn luật áp dụng cho HĐDS có YTNN trong nhiều văn bản pháp luật: Bộ luật Hàng hải năm 2005 (khoản 2 Điều 4); Luật Thương mại 2005 (khoản 2, khoản 3 Điều 4); Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2006 (khoản 2, khoản 3 Điều 4). Đặc biệt, đoạn 1 khoản 1 Điều 769 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 quy định rõ: “Quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thỏa thuận khác”. Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, cơ sở đầu tiên để xác định luật áp dụng cho quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên tham gia quan hệ hợp đồng.

Tuy nhiên, để có thể áp dụng điều khoản thỏa thuận chọn luật áp dụng cho hợp đồng, có hai vấn đề cần phải làm rõ là sự thỏa thuận lựa chọn luật này phải đáp ứng những điều kiện gì mới trở thành hợp pháp và căn cứ vào luật pháp nước nào để xác định những điều kiện này?

Trả lời câu hỏi thứ nhất liên quan đến việc xác định rõ phạm vi những vấn đề trong hợp đồng mà pháp luật cho phép các bên thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng. Tư pháp quốc tế các nước trên thế giới đều xác định phạm vi những vấn đề mà các bên được quyền thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng và như vậy, những vấn đề khác các bên không được phép thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng mà phải tuân theo sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật bắt buộc áp dụng cho HĐDS có YTNN đó. Như vậy, điều kiện thứ nhất để thỏa thuận chọn luật hợp pháp là sự lựa chọn phải nằm trong phạm vi mà pháp luật cho phép lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng. Cụ thể, khoản 1 Điều 769 BLDS năm 2005 chỉ cho phép các bên thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng đối với quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng; còn đối với vấn đề hình thức hợp đồng, các bên không được thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng mà phải tuân theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng (Điều 770); hoặc vấn đề xác định nơi giao kết hợp đồng trong trường hợp giao kết hợp đồng vắng mặt thì phải tuân theo pháp luật của nước nơi cư trú của cá nhân hoặc nơi có trụ sở chính của pháp nhân là bên đề nghị giao kết hợp đồng (Điều 771).

Đọc tiếp

NGUYÊN TẮC TỰ DO CHỌN LUẬT CHO HỢP ĐỒNG TỪ CÔNG ƯỚC ROME 1980 ĐẾN QUI TẮC ROME I VÀ NHÌN VỀ VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ HỒNG TRINH – Khoa Luật, Đại học Huế

Các bên trong hợp đồng có yếu tố nước ngoài được tự do lựa chọn luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng giữa họ là một nguyên tắc chung của luật hợp đồng được thừa nhận rộng rãi trên thế giới1. Nguyên tắc này bắt đầu phát triển vào thế kỉ 202 và thịnh hành ở Mỹ, châu Âu sau nhiều năm tranh luận. Phần lớn các hợp đồng quốc tế đều có điều khoản chọn luật và điều khoản này đến nay đều được Tòa án xem xét khi có tranh chấp xảy ra3. Công ước Rome 1980 về luật áp dụng cho nghĩa vụ hợp đồng4 và Quy tắc Rome I5 cũng cho phép các bên chọn luật điều chỉnh hợp đồng giữa họ. Nguyên tắc này được pháp luật Việt Nam ghi nhận tại Điều 769 của Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS). Bài viết phân tích nguyên tắc tự do chọn luật áp dụng cho hợp đồng trong Công ước Rome và sự phát triển ở Quy tắc Rome I. Từ đó so sánh với quy tắc chọn luật của pháp luật Việt Nam.

1. Nguyên tắc các bên tự do lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng

Nguyên tắc cơ bản được Điều 3 Công ước Rome và Điều 3 Quy tắc Rome I đưa ra là “hợp đồng sẽ được điều chỉnh bởi luật do các bên lựa chọn”. Điều 769 của BLDS Việt Nam quy định: “Quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được xác định theo luật nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thỏa thuận khác”. Như vậy, so với sự ghi nhận trực tiếp của Công ước Rome và Quy tắc Rome I, pháp luật Việt Nam dùng cụm từ “nếu không có thỏa thuận khác” thì có phần chung chung và không rõ ràng bằng. Trong khi cả Công ước Rome và Quy tắc Rome I đều có Điều 3 về quyền tự do chọn luật với 4 khoản thì Điều 769 của BLDS Việt Nam chỉ ghi nhận trong cụm từ “nếu không có thỏa thuận khác”. Điều này dẫn đến hệ quả là có một số khía cạnh của quyền tự do chọn luật áp dụng cho hợp đồng được tư pháp quốc tế thế giới, trong đó có hai văn bản trên đề cập thì pháp luật Việt Nam lại chưa quy định hoặc nếu có cũng chưa rõ ràng6.

1.1. Các bên có được lựa chọn luật của một nước không phải là thành viên của Liên minh châu Âu không?

Công ước Rome ghi nhận quyền của các bên được tự do lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng dù đó là luật của các nước thành viên EU hay không. Điều 2 Công ước quy định: “Bất kỳ luật nào được chỉ định bởi Công ước sẽ được áp dụng mặc cho đó là luật của nước ký kết Công ước hay không”. Tương tự, Quy tắc Rome I có đề cập đến vấn đề này tại Điều 2 nhưng với tiêu đề bao trùm hơn “áp dụng phổ biến (universal application)” như sau: “Bất cứ luật được chỉ định bởi Quy tắc này sẽ được áp dụng cho dù đó có phải là luật của nước thành viên hay không”. Như vậy, luật được lựa chọn không giới hạn trong luật của các quốc gia ký kết Công ước Rome hay luật của nước thành viên Liên minh châu Âu7.

Đọc tiếp

TỪ MỘT QUI ĐỊNH VỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ CÁC VỤ VIỆC DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI CỦA TÒA ÁN

THS. BÀNH QUỐC TUẤN – Khoa Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của các quan hệ kinh tế quốc tế thì các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài xảy ra ngày càng tăng, kéo theo đó là các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài ngày càng nhiều. Khi một tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài được khởi kiện tại Tòa án của một quốc gia, vấn đề đầu tiên là Tòa án phải xác định xem mình có thẩm quyền thụ lý giải quyết hay không?

Ở Việt Nam, thẩm quyền xét xử các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài của Tòa án trước hết được xác định theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; trong trường hợp không có điều ước quốc tế điều chỉnh thì xác định theo các quy định của Bộ luật Dân sự; Chương XXXI, XXXV của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (BLTTDS). Đặc biệt, Khoản 2, Điều 410 của BLTTDS đã có những quy định chung về thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.

1. Quy định của pháp luật

Khoản 2, Điều 410 của BLTTDS đã liệt kê những trường hợp mà Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, bao gồm các trường hợp:

- a) Bị đơn là cơ quan, tổ chức nước ngoài có trụ sở chính tại Việt Nam hoặc bị đơn có cơ quan quản lý, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam.

Ở đây, Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết quan hệ dân sự có cơ quan, tổ chức nước ngoài tham gia khi cơ quan, tổ chức nước ngoài là bị đơn và phải có trụ sở chính hoặc cơ quan quản lý tại Việt Nam. Quy định này là cần thiết trong điều kiện hiện nay khi có nhiều cơ quan, tổ chức nước ngoài hoạt động tại Việt Nam và phát sinh tranh chấp trong quá trình tham gia các quan hệ pháp luật tại Việt Nam. Theo Khoản 20, Điều 4 của Luật Doanh nghiệp năm 2005, doanh nghiệp có quốc tịch Việt Nam khi thành lập, đăng ký kinh doanh tại Việt Nam. Như vậy, trong trường hợp doanh nghiệp đăng ký kinh doanh ở nước ngoài (có quốc tịch nước ngoài) nhưng có trụ sở chính hoặc cơ quan quản lý ở Việt Nam thì, các đối tác của doanh nghiệp vẫn có quyền khởi kiện doanh nghiệp tại Tòa án Việt Nam.

Đọc tiếp

NHỮNG VƯỚNG MẮC KHI ÁP DỤNG NGHỊ QUYẾT 1037/2006/NQ-UBTVQH11 NGÀY 27-07-2006 CỦA UBTVQH VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP NHÀ Ở CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI.

THU CHINH

Ngày 27/7/2006, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết 1037/2006/ NQ-UBTVQH11 quy định về giao dịch dân sự về nhà ở xác lập trước 01/07/1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia.

Sự kiện này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với những người tham gia giao dịch có yếu tố nước ngoài mà phát sinh tranh chấp, quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm, bởi vì trước đây họ là những chủ thể chưa được cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết do Nghị quyết 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 24-08-1998 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định. Đến nay họ đã có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi cho mình..

Những quy định của Nghị quyết 1037/2006/NQ-UBTVQH11  là cơ sở pháp lý nhằm giải quyết các vướng mắc trong giao dịch dân sự về nhà ở xác lập trước ngày 1-7-1991 có yếu tố nước ngoài còn tồn đọng cho đến nay.

Nghiên cứu Nghị quyết 1037/2006/NQ-UBTVQH! thì thấy các giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1-7-1991 có yếu tố nước ngoài được NQ điều chỉnh có 2  nội dung giao dịch thực tế phát sinh tranh chấp nhiều nhất là mượn nhà ở, ở nhờ nhà ở và mua bán nhà ở.

Đối với nội dung mượn nhà ở, ở nhờ nhà ở, Nghị quyết 1037 quy định về thời hạn, cách thức, hình thức thay đổi, chấm dứt giao dịch các trường hợp cụ thể như sau:

Với trường hợp bên cho mượn, bên cho ở nhờ nhà ở là người Việt Nam định cư ở nước ngoài; bên mượn, bên ở nhờ nhà ở thường trú tại Việt Nam .

Trường hợp thời hạn cho mượn, cho ở nhờ nhà ở theo hợp đồng đã hết trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực thì bên cho mượn, bên cho ở nhờ nhà ở được lấy lại nhà ở, trừ trường hợp có thoả thuận khác nhưng phải thông báo bằng văn bản cho bên mượn, bên ở nhờ nhà ở biết trước ít nhất sáu tháng.

Đọc tiếp

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI DO HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH GÂY RA

ĐỖ VĂN ĐẠI

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp trong và ngoài nước luôn phải đối mặt với các hoạt động cạnh tranh, trong đó có cả cạnh tranh không lành mạnh. Qua một số ví dụ giả thiết, bài viết phân tích những hạn chế trong pháp luật về xử lý xung đột pháp luật trong các tranh chấp về bồi thường thiệt hại có yếu tố nước ngoài do cạnh tranh không lành mạnh và đưa ra kiến nghị sửa đổi Khoản 4, Điều 835 Bộ luật Dân sự.

Xung đột pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh có yếu tố nước ngoài

Toà án Việt Nam có thể được yêu cầu giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại có yếu tố nước ngoài do hành vi cạnh tranh không lành mạnh (CTKLM) gây ra trong hai hoàn cảnh:

1. Hành vi CTKLM thực hiện trên thị trường Việt Nam

1.1. Trường hợp bên thực hiện hành vi CTKLM là tổ chức, cá nhân nước ngoài và bên bị thiệt hại là tổ chức, cá nhân Việt Nam

Ví dụ thứ nhất: Để có thêm khách hàng, một doanh nghiệp Đài Loan đã thực hiện chương trình quảng cáo trên phương tiện thông tin đại chúng Việt Nam. Nhưng theo một doanh nghiệp Việt Nam X., chương trình quảng cáo đó đã gây ra tổn thất đến doanh nghiệp của mình, đây là hành vi CTKLM. Doanh nghiệp X. yêu cầu Toà án buộc doanh nghiệp Đài Loan phải bồi thường thiệt hại. Toà án sẽ giải quyết tranh chấp theo pháp luật Đài Loan hay pháp luật Việt Nam?

1.2 Trường hợp bên thực hiện hành vi là doanh nghiệp Việt Nam và bên bị thiệt hại là doanh nghiệp nước ngoài

Đọc tiếp

XỬ LÝ PHÁ SẢN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

CIVILLAWINFOR – Bài viết này được tác giả viết năm 2003 để đóng góp vào Dự thảo Luật phá sản sửa đổi và Luật phá sản sửa đổi đã được ban hành năm 2004. Civillawinfor đăng lại để có thêm thông tin cho quí vị nghiên cứu.

PHẠM HẢI ĐĂNG – Vụ Tài chính đối ngoại Bộ Tài chính

Có thể nói rằng về cơ bản đến dự thảo 6 Luật Phá sản sửa đổi, Ban soạn thảo đã thực hiện được một sự cải cách khá toàn diện Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993, trong đó có nhiều qui định rất mới và hết sức thiết thực cho việc vận dụng khi xử lý các trường hợp phá sản trong tình hình quan hệ kinh tế hết sức phong phú, phức tạp do môi trường kinh doanh của chúng ta đã thay đổi rất sâu sắc trong 10 năm qua.

Tuy nhiên, cũng còn một số nội dung của Dự thảo cần được tranh luận để làm rõ và giải quyết triệt để hơn, cụ thể như sau:

1/ Về nguyên tắc của Luật: ở phần lời nói đầu Dự thảo Luật đã thể hiện một số nguyên tắc xây dựng Luật Phá sản lần này. Tuy nhiên, theo quan điểm của tôi, cần qui định rõ trong một điều khoản các nguyên tắc chung để không những quá trình xây dựng Luật phải tuân theo mà cả các văn bản hướng dẫn sau này như Nghị định, thông tư ( Do các ban soạn thảo khác biện soạn) tuân thủ. Thí dụ: Nguyên tắc đối xử ngang bằng giữa các chủ nợ ( giữa chủ nợ trong nước và chủ nợ nước ngoài, giữa chủ nợ không có bảo đảm với nhau, giữa các chủ nợ có bảo đảm…v.v).

2/ Về đối tượng áp dụng và tên gọi của Luật Phá sản sửa đổi: Tôi cho rằng, tên gọi do Ban soạn thảo đưa ra là Luật Phá sản là một sự đổi mới thể hiện quan điểm giải quyết triệt để hơn và phạm vi áp dung của Luật rộng hơn là hợp lý. Luật Phá sản mới sẽ không chỉ giải quyết các trường hợp phá sản của pháp nhân hay doanh nghiệp mà còn mở rông ra các đối tượng tham gia hoạt động kinh doanh khác không thành lập pháp nhân hoặc chưa được coi là doanh nghiệp. Về nguyên tắc những đối tượng tham gia vào hoạt động kinh doanh theo qui định của các luật hiện hành như Luật Thương mại (thương nhân) Luật doanh nghiệp, Luật hợp tác xã…là hết sức rộng rãi và những đối tượng này đều có thể lầm vào "tình trạng phá sản". Khi đã tham gia hoạt động kinh doanh mà lâm vào tình trạng phá sản thì đối tượng kinh doanh đó rất có thể mắc nhiều khoản nợ với nhiều chủ nợ. Nếu nhìn từ quan điểm bảo vệ các chủ nợ đòi nợ một cách trật tự và công bằng thì đương nhiên phải áp dụng luật phá sản đối với những đối tượng này cho dù là pháp nhân hay thể nhân, cho dù được coi là doanh nghiệp hay thương nhân. Mặt khác, Luật phá sản ra đời là để bảo đảm sự phân bố lại tài sản một cách có trật tự giữa các chủ thể tham gia hoạt động "kinh doanh" vì vậy nên chăng cần có quan điểm là Luật phá sản áp dụng như một thủ tục đòi nợ tập thể liên quan đến kinh doanh, có nghĩa là, xét theo chủ thể, liên quan đến đối tượng tham gia kinh doanh (mắc nợ). Xác định đối tượng đầy đủ hơn như vậy, theo quan điểm của tôi sẽ thuận tiện hơn trong việc sử lý phá sản dây truyền (như tại các nước Châu á trong khủng hoảng năm 1997. Những đối tượng, như doanh nghiệp tư nhân, thành viên công ty hợp danh, hộ kinh doanh cá thể, do trách nhiệm là vô hạn cũng cần thiết phải tuyên bố miễn trách nhiệm cho họ sau khi đã thực hiện thủ tục thanh toán xong và Toà án Tuyên bố phá sản. Lý do là: Quan điểm trách nhiệm vô hạn nên được hiểu về mặt tài sản tại thời điểm giải quyết phá sản, là toàn bộ tài sản của nhứng đối tượng này, không phân biệt tài sản đưa vào kinh doanh với tài sản không đưa vào kinh doanh phải được đem ra xử lý ( cần xác định rõ là mọi tài sản thuộc sở hữu của họ tại thời điểm giải quyết phá sản) chứ không nên hiểu là vô hạn về mặt thời gian, nghĩa là theo suốt cuộc đời họ. Với quan điểm như vậy, nhiều năm sau đối tượng đó còn có cơ hội quay lại gây dựng sự nghiệp và tham gia môi trường kinh doanh. Đạo lý Luật Phá sản còn bảo vệ cả con nợ là ở chỗ này.

Đọc tiếp

VƯỚNG MẮC TRONG VIỆC XÉT XỬ ÁN DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Còn nhiều vướng mắc và bất cập do hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, không tương thích và do cả trình độ thẩm phán – rất nhiều thẩm phán phát biểu như vậy về thực tiễn xét xử án dân sự có yếu tố nước ngoài. Đây cũng chính là nguyên nhân vì sao số vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài được xét xử chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ so với số vụ án được thụ lý cũng như so với số vụ án hằng năm mà ngành Tòa án giải quyết.

Hiểu thế nào là người Việt Nam định cư ở nước ngoài?

Thực tiễn giải quyết án dân sự có yếu tố nước ngoài cho thấy, việc xác định thế nào là “người Việt Nam định cư ở nước ngoài” rất khó. Theo quy định của Luật Quốc tịch thì “‘Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn sinh sống lâu dài ở nước ngoài” (khoản 2 Điều 4 Luật Quốc tịch). Vậy thời hạn bao lâu thì được xác định là lâu dài? Trường hợp người Việt Nam đi công tác, học tập hoặc du lịch nhưng họ không về nước khi hết thời hạn có được coi là người Việt Nam định cư ở nước ngoài hay không? Vấn đề này đã được ngành Tòa án đưa ra thảo luận lấy ý kiến, hiện có nhiều quan điểm khác nhau và vẫn chưa thống nhất đường lối giải quyết nên cách hiểu và áp dụng ở các tòa chưa thống nhất. Điều này cũng ảnh hưởng đến việc xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp tỉnh hay cấp huyện.

Cũng chính vì quy định này mà hiện nay đối với các giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1-7-1991 mà có yếu tố nước ngoài thì Tòa án chưa thụ lý giải quyết, trường hợp đã thụ lý rồi thì Tòa án tạm đình chỉ chờ hướng dẫn mới (theo Nghị quyết 58/1998/NQ-UBTVQH/QH10 và Thông tư liên tịch số 01 hướng dẫn thi hành Nghị quyết này). Thực tế, có nhiều vụ án TAND cấp tỉnh đã thụ lý giải quyết và ra quyết định tạm đình chỉ khi xác định có người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã bị TANDTC hủy để xác định đương sự có “định cư” ở nước ngoài hay không. Việc xác định vấn đề này hết sức khó khăn, đến nay chưa có văn bản hướng dẫn cơ quan nào có thẩm quyền xác định và cung cấp cho Tòa án.

Hiệp định Tương trợ tư pháp – Nhiều vướng mắc trong thực hiện ủy thác tư pháp

Thực tế, những việc mà Tòa án Việt Nam ủy thác tư pháp cho Tòa án nước ngoài kết quả trả lời thường rất chậm, thậm chí nhiều trường hợp không nhận được sự trả lời, ngay cả đối với các nước mà Tòa án đã ký kết và gia nhập điều ước quốc tế. Chính vì vậy việc lấy lời khai, tống đạt các văn bản của Tòa án hoặc xác định tài sản ở nước ngoài là không thực hiện được làm cho vụ án kéo dài, vi phạm thời hạn xét xử.

Đơn cử việc giải quyết án ly hôn có yếu tố nước ngoài, nhiều vụ không thể thụ lý giải quyết do công dân Việt Nam xin ly hôn chỉ cung cấp cho Tòa án bản đăng ký kết hôn có địa chỉ của bên kia, ngoài ra không có một thông tin nào khác. Trước đây, những trường hợp này sau hai lần Tòa án ủy thác tư pháp qua Bộ Tư pháp, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài và Tòa án nước ngoài điều tra tống đạt nhưng hết thời hạn sáu tháng không có kết quả trả lời Tòa án phải tạm đình chỉ vì không tìm được hoặc không có lời khai của bị đơn. Điều này dẫn đến thực tế nhiều cuộc hôn nhân chỉ mang tính hình thức vẫn bị kéo dài ảnh hưởng đến cuộc sống vật chất cũng như tinh thần của nguyên đơn.

Ông Tạ Quốc Hùng – Phó Chánh án TAND tỉnh Hà Tây cho biết: Mặc dù TANDTC đã ban hành Nghị quyết 01/2003/HĐTP có hướng dẫn: Với những trường hợp công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài nhưng người nước ngoài đã về nước mà không liên hệ với công dân Việt Nam, nay công dân Việt Nam xin ly hôn thì Tòa án thụ lý giải quyết nhưng thực tế, các Tòa án không phải sau khi thụ lý một vài tháng là có thể đưa ra xét xử, mà vẫn phải tiến hành điều tra, xác minh và ủy thác tư pháp, đến khi không có kết quả trả lời từ phía cơ quan nhận ủy thác tư pháp thì Tòa mới xử cho ly hôn, do đó, các vụ án vẫn kéo dài. Bên cạnh đó thủ tục hợp thức hóa lãnh sự đối với các việc mà Tòa án Việt Nam yêu cầu thì nhiều Tòa án nước ngoài chưa đáp ứng kịp thời cũng gây khó khăn cho việc xét xử.

Và một số bất cập khác

Rất nhiều vụ án trở nên phức tạp do chính sự bất cẩn của chính nguyên đơn khi họ không tìm hiểu kỹ “đối tác” của mình (về nhân thân, địa chỉ…). Điều này không chỉ khiến họ phải gánh chịu thiệt thòi mà còn gây khó khăn, tốn kém về thời gian, công sức cho Tòa án. Cũng có những vụ án gặp vướng do ý thức pháp luật của bị đơn – chẳng hạn bị đơn bỏ về nước trốn tránh nghĩa vụ ra tòa – Tòa án rất khó có biện pháp bắt buộc triệu họ về Việt Nam để tham gia vụ kiện.

Trình độ thẩm phán cũng còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu hiện nay. Do không được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức thường xuyên nên nhiều thẩm phán không nắm vững, không thường xuyên cập nhật được chuyên môn của tư pháp quốc tế. Mặt khác, nhìn chung trình độ ngoại ngữ của đội ngũ thẩm phán còn hạn chế, rất khó khăn trong việc tiếp cận với pháp luật nước ngoài cũng như khi tiến hành tố tụng trong những vụ án có công dân nước ngoài, pháp nhân nước ngoài. Hơn nữa, việc mời phiên dịch trong những vụ án này cũng gặp nhiều khó khăn phiền toái khi chúng ta chưa có quy định rõ cơ quan nào có trách nhiệm làm phiên dịch cũng như chi phí của việc mời phiên dịch sẽ được tính dựa trên tiêu chí nào…

SOURCE: Pháp luật Việt Nam

GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ VIỆT NAM

ĐỖ VĂN ĐẠI – Giảng viên Khoa luật Trường Đại học Aix-Marseille III (Trung tâm Aix-en-Provence Cộng hòa Pháp

1. Thừa kế là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh sự truyền lại tài sản của người đã chết cho người khác theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật1. Trong điều kiện giao lưu và hợp tác quốc tế, một số quan hệ thừa kế vượt ra khỏi phạm vi điều chỉnh của hệ thống pháp luật một quốc gia, đó là những quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài2. Về quan hệ thừa kế, pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật nước ngoài phân biệt thừa kế theo pháp luật và thừa kế theo di chúc. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến việc giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài trong Tư pháp quốc tế Việt Nam.

2. Trước ngày Bộ luật dân sự (BLDS) Việt Nam có hiệu lực, vấn đề thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài được đề cập trong một số văn bản3. “Tuy nhiên, pháp luật nước ta thời kỳ đó mới chỉ đề cập trên nguyên tắc chung nhất, còn thiếu những quy định chi tiết, đặc biệt là các quy phạm xung đột để làm cơ sở giải quyết đối với những vụ việc cụ thể về thừa kế có yếu tố nước ngoài”4. Từ ngày BLDS có hiệu lực, một loạt quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được điều chỉnh bởi các quy phạm xung đột nhưng “chế định thừa kế còn để trống”5. Để đảm bảo an toàn pháp lý cho các chủ thể của quan hệ dân sự quốc tế, việc hoàn thiện Tư pháp quốc tế Việt Nam về vấn đề này là cần thiết. Một số tác giả đã mạnh dạn yêu cầu hoàn thiện vấn đề này; ví dụ theo tác giả Đoàn Năng “nếu các văn bản pháp luật chuyên ngành đã ban hành mà trong đó chưa có hoặc có những chưa đầy đủ quy phạm xung đột thì nên sớm tiến hành bổ sung vào các văn bản này những quy phạm xung đột cần thiết để áp dụng nhằm bảo đảm có đầy đủ quy phạm hướng dẫn chọn luật điều chỉnh tất cả các loại quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Ví dụ, quan hệ thừa kế thuộc phạm vi điều chỉnh của Bộ luật dân sự, nhưng Bộ luật dân sự năm 1995 và các văn bản khác có liên quan đang hiện hành chưa hề có quy phạm xung đột nào”6.

3. Cuốn Bình luận khoa học Bộ luật dân sự Việt Nam thừa nhận sự không hoàn thiện của Bộ luật dân sự nước ta về vấn đề thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài và tác giả Đoàn Năng mạnh dạn yêu cầu hoàn thiện Tư pháp quốc tế nước ta về vấn đề này, nhưng cả hai đều không đưa ra giải pháp cụ thể nào. Trước sự thiếu vắng này, chúng tôi xin kiến nghị giải pháp cho vấn đề xung đột pháp luật về thừa kế theo pháp luật trong Tư pháp quốc tế Việt Nam thông qua hai phần: Trong phần thứ nhất, chúng tôi trình bày những giải pháp có thể được sử dụng (I) và, trong phần thứ hai, chúng tôi trình bày giải pháp nên lựa chọn căn cứ vào hoàn cảnh nước ta hiện nay(II).

I- Những giải pháp của xung đột pháp luật về thừa kế theo pháp luật có thể được sử dụng trong Tư pháp quốc tế Việt Nam

1. Giải pháp hoàn thiện bằng cách khai thác những quy phạm xung đột đã tồn tại

4. Một trong những quy phạm xung đột đã tồn tại mà chúng ta có thể khai thác là Điều 833, khoản 1, Bộ luật dân sự. Theo điều khoản này, “việc xác lập, chấm dứt quyền sở hữu, nội dung quyền sở hữu đối với tài sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản đó, trừ trường hợp pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quy định khác”. Điều 833, khoản 1 không định nghĩa thế nào là “việc xác lập” quyền sở hữu đối với tài sản. Trước sự chung chung và trừu tượng này của Điều 833, khoản 1, thông qua việc giải thích pháp luật, chúng ta có thể coi thừa kế theo pháp luật là một “việc xác lập” quyền sở hữu đối với tài sản. Cách giải thích này có thể được chấp nhận vì theo Điều 176, khoản 5, BLDS, “quyền sở hữu được xác lập đối với tài sản trong các trường hợp sau đây […]: được thừa kế tài sản”.

5. Vậy, thông qua việc giải thích luật, chúng ta có thể hoàn thiện Tư pháp quốc tế nước ta về vấn đề xung đột pháp luật về thừa kế theo pháp luật và nếu chúng ta theo giải pháp này, chúng ta có quy phạm xung đột sau: Vấn đề thừa kế theo pháp luật được điều chỉnh bởi pháp luật của nước nơi có tài sản. Đây cũng là giải pháp được thừa nhận tại Mê-hi-cô, Pa-na-ma, U-ru-goay và Vê-nê-du-ê-la7.

6. Để hiểu rõ thêm giải pháp này, chúng tôi xin lấy một ví dụ minh họa. Năm 1975, anh N.V.A sang sống cùng gia đình tại Pháp và sau đó nhập quốc tịch Pháp. Với sự mở cửa, anh N.V.A về Việt Nam cư trú từ năm 1995. Do tai nạn, anh N.V.A qua đời tại Việt Nam năm 2001 và để lại di sản bao gồm: Một ngôi nhà ở ngoại ô Pháp (di sản P); một căn hộ cùng một số động sản tại Hà Nội (di sản V và v); một số động sản quý tại một ngân hàng Thụy Sĩ (di sản t) và một số động sản gửi chị gái đang làm ăn tại Đức (di sản d). Do không tự thỏa thuận được với nhau, con anh N.V.A, quốc tịch Pháp và em trai anh N.V.A quốc tịch Việt Nam yêu cầu Tòa án đứng ra giải quyết vấn đề thừa kế.

7. Áp dụng giải pháp bằng cách giải thích pháp luật, chúng ta dẫn đến kết quả sau: Vấn đề thừa kế nêu trên được điều chỉnh bởi pháp luật nơi có tài sản, cụ thể là di sản P được điều chỉnh bợi pháp luật Pháp, di sản t được điều chỉnh bởi pháp luật Thụy Sĩ, di sản d được điều chỉnh bởi pháp luật Đức và di sản V, v được điều chỉnh bởi pháp luật Việt Nam. Ngoài giải pháp khai thác quy phạm xung đột đã tồn tại bằng cách giải thích luật, để hoàn thiện.

Tư pháp quốc tế nước ta về vấn đề xung đột pháp luật về thừa kế, chúng ta có thể xây dựng thêm quy phạm xung đột mới để điều chỉnh vấn đề này.

2. Giải pháp hoàn thiện bằng cách thiết lập quy phạm xung đột mới

Khi hoàn thiện Tư pháp quốc tế nước ta bằng cách thiết lập quy phạm xung đột mới, hai loại giải pháp sau có thể được sử dụng:

a- Không phân biệt di sản là động sản hay bất động sản

8. Giải pháp thứ nhất có thể sử dụng khi không phân biệt di sản là động sản hay bất động sản là chúng ta cho phép pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có quốc tịch điều chỉnh vấn đề thừa kế. Đây là giải pháp được thừa nhận tại An-ba-ni (trừ trường hợp khi di sản là bất động sản ở An-ba-ni, An-giê-ri, Đức (nhưng luật Đức có thể được chọn để áp dụng khi di sản là bất động sản ở Đức), Andora, Áo, Bun-ga-ri, Cuba, Ai Cập, Tây-ban- nha, Phần Lan, Gha-na, Hy Lạp, Hung-ga-ri, In-đô-nê-xi-a, I-ran, Ý, Nhật, Gioóc-đa-ni, Li- băng, Ma-li, Ma-rốc, Mô-ri-ta-ni, Ni-giê-ri-a, Phi-líp-pin, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Xê-nê-gan, Xlo-va-ki, Thụy Điển, Xi-ri, Tiệp Khắc, Thổ Nhĩ Kỳ (trừ trường hợp di sản là bất động sản ở Thổ Nhĩ Kỳ), Va-ti-căng, Nam Tư (cũ)…8. Áp dụng giải pháp này vào ví dụ nêu trên, chúng ta có kết luận sau: Pháp luật Pháp sẽ là pháp luật điều chỉnh vấn đề thừa kế vì người để lại thừa kế có quốc tịch Pháp. Điều đó có nghĩa là pháp luật Pháp sẽ điều chỉnh di sản tại Pháp cũng như di sản ở Đức, ở Thụy Sĩ và ở Việt Nam ngay cả đối với bất động sản V.

9. Giải pháp thứ hai có thể sử dụng khi không phân biệt di sản là động sản hay bất động sản là chúng ta cho phép pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có nơi cư trú cuối cùng để điều chỉnh vấn đề thừa kế. Đây là giải pháp được thừa nhận tại Ac-hen-ti-na, Bra-xin, Cô-xta Ri-ca (trừ trường hợp đối với di sản là bất động sản ở Cô-xta Ri-ca), Chi lê, Cô-lôm- bia, Đan Mạch, Ê-cua-đo, En-Sa-va-đô, Ai-xlen, Na Uy, Pa-ra-goay (trừ trường hợp đối với di sản là bất động sản ở Pa-ra-goay), Mông Cổ, Nga (trừ trường hợp đối với di sản là bất động sản ở Nga), Thụy Sĩ9. Áp dụng giải pháp này vào ví dụ nêu trên, chúng ta có kết luận sau: Pháp luật Việt Nam là pháp luật điều chỉnh quan hệ thừa kế vì người để lại thừa kế có nơi cư trú cuối cùng tại Việt Nam. Điều đó có nghĩa là pháp luật Việt Nam sẽ điều chỉnh di sản V và v ở Việt Nam, di sản t ở Thụy Sĩ, di sản d ở Đức và di sản P tại Pháp ngay cả khi di sản P là bất động sản.

b- Phân biệt di sản là động sản hay bất động sản 10. Giải pháp thứ nhất có thể sử dụng khi phân biệt di sản là động sản hay bất động sản là chúng ta cho phép pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có nơi cư trú cuối cùng điều chỉnh di sản là động sản và pháp luật của nước nơi có tài sản điều chỉnh di sản là bất động sản. Giải pháp này được thừa nhận tại Nam Phi, Úc, Ba-ha-ma, Bỉ, Ca-na-da, Trung Phi, Trung Quốc, Công-gô, Bờ biển Ngà, Mỹ, Pháp, Ga-bông, Ma-li, Ấn Độ, Ix-ra-en, Ai-len, Luýchc-xăm-bua, Ma-đa-gát-xca, Ca-lê-đô-ni, Anh, Xu-đăng, U-ru-goay…10. Áp dụng giải pháp này vào ví dụ nêu trên, chúng ta có kết luận sau: Di sản là bất động sản được điều chỉnh bởi pháp luật nơi có tài sản, cụ thể ở đây là di sản P ở Pháp được điều chỉnh bởi pháp luật Pháp và di sản V ở Việt Nam được điều chỉnh bởi pháp luật Việt Nam. Đối với di sản là động sản, pháp luật Việt Nam là pháp luật điều chỉnh vì nơi cư trú cuối cùng của người để lại thừa kế là Việt Nam, cụ thể là pháp luật Việt Nam điều chỉnh vấn đề thừa kế đối với di sản d ở Đức, di sản t ở Thụy Sĩ và di sản v ở Việt Nam.

11. Giải pháp thứ hai có thể sử dụng khi phân biệt di sản là động sản hay bất động sản là chúng ta cho phép pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có quốc tịch điều chỉnh thừa kế đối với di sản là động sản và pháp luật nơi có tài sản để điều chỉnh vấn đề thừa kế đối với di sản là bất động sản. Đây là giải pháp được thừa nhận tại Ca-mơ-run, Mô-na-cô, Thái Lan, Ru-ma-ni…11.

II- Giải pháp của xung đột pháp luật về thừa kế theo pháp luật nên lựa chọn trong Tư pháp quốc tế Việt Nam

1. Phương hướng của việc chọn giải pháp cho xung đột pháp luật về thừa kế theo pháp luật trong Tư pháp quốc tế Việt Nam

12. Phương hướng thứ nhất: Trong Tư pháp quốc tế, khi chọn pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, chúng ta sẽ chọn hệ thống pháp luật có quan hệ mật thiết với loại quan hệ cần giải quyết. Vậy, trong lĩnh vực mà chúng ta nghiên cứu, chúng ta cũng sẽ chọn hệ thống pháp luật có quan hệ gắn bó với những vấn đề của thừa kế theo pháp luật. Thông thường, việc định hình hệ thống pháp luật có quan hệ mật thiết với loại quan hệ cần điều chỉnh khá dễ dàng, ví dụ: Pháp luật có quan hệ mật thiết với tranh chấp về quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng thường là pháp luật nơi thực hiện hợp đồng12. Tuy vậy, trong lĩnh vực mà chúng ta đang đề cập, việc định hình hệ thống pháp luật có quan hệ mật thiết với những vấn đề của thừa kế theo pháp luật lại khá phức tạp vì những vấn đề này có thể liên quan đến một vài hệ thống pháp luật khác nhau. Thứ nhất, vì có sự chuyển dịch quyền sở hữu tài sản của người để lại thừa kế cho người còn sống, quan hệ thừa kế là một quan hệ tài sản và do đó có quan hệ với pháp luật nơi có tài sản. Thứ hai, vì có sự chuyển dịch quyền sở hữu tài sản của người để lại thừa kế cho người còn sống trên cơ sở huyết thống, quan hệ thừa kế là một quan hệ nhân thân và do đó có quan hệ với pháp luật nhân thân của người để lại thừa kế. Thứ ba, khi chết, người để lại thừa kế có thể chưa chấm dứt các quan hệ dân sự thiết lập với các đối tác khác (người thứ ba), nhất là quan hệ dân sự trong hợp đồng và quan hệ dân sự ngoài hợp đồng, do vậy quan hệ thừa kế theo pháp luật cũng là quan hệ tài sản đối với người thứ ba. Nói tóm lại, quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài là một quan hệ phức tạp, có quan hệ gắn bó với nhiều hệ thống luật khác nhau, do đó, khi chọn hệ thống pháp luật để điều chỉnh, chúng ta không nên bỏ qua ba bản chất này của quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài.

13. Phương hướng thứ hai: Trong Tư pháp quốc tế các nước, khi chọn một hệ thống pháp luật để điều chỉnh quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài, các luật gia thường đưa ra một tiêu chí mà theo đó pháp luật của Tòa án là pháp luật sẽ thường xuyên được áp dụng để giải quyết trong thực tế. Lý do thứ nhất của xu hướng này là Tòa án biết rõ pháp luật nước mình hơn pháp luật nước ngoài về thừa kế, do đó việc áp dụng thường xuyên pháp luật của Tòa án sẽ làm giảm khó khăn trong công tác xét xử. Lý do thứ hai của xu hướng này là, nếu cho phép pháp luật nước ngoài là pháp luật áp dụng để giải quyết vấn đề thừa kế theo pháp luật, Tòa án cũng như các bên trong quan hệ thừa kế phải biết nội dung của pháp luật nước ngoài. Để biết nội dung pháp luật nước ngoài, Tòa án hoặc các bên trong tranh chấp sẽ tự tìm hiểu và do không biết nội dung pháp luật nước ngoài nên Tòa án cũng như các bên trong tranh chấp phải thuê chuyên gia về luật nước ngoài, đây là một việc khó và tốn kém. Chính vì hai lý do căn bản trên mà các nước sử dụng tiêu chí chọn luật khác nhau để làm sao pháp luật của Tòa án có nhiều cơ hội áp dụng hơn pháp luật nước ngoài. Ví dụ, vì Pháp là nước có nhiều dân nhập cư và ít dân di cư nên người để lại thừa kế thường là người có nơi cư trú cuối cùng ở Pháp và do đó việc cho phép pháp luật nơi cư trú cuối cùng điều chỉnh vấn đề thừa kế theo pháp luật sẽ dẫn đến một thực tế là pháp luật Pháp thường xuyên được sử dụng. Theo chúng tôi, vì sự hiểu biết nội dung pháp luật nước ngoài của Tòa án có giới hạn và việc thuê chuyên gia về pháp luật nước ngoài rất đắt, chúng ta nên đi theo xu hướng này, cụ thể là làm thế nào để pháp luật Việt Nam thường xuyên được sử dụng trong thực tế đối với vấn đề thừa kế theo pháp luật.

14. Phương hướng thứ ba: Vì di sản ở nước ngoài nên bản án của Tòa án sẽ có thể phải được thừa nhận ở nước nơi có di sản, nhất là khi di sản là bất động sản. Các nước đều đưa ra điều kiện để thừa nhận bản án nước ngoài, do đó việc chọn pháp luật để điều chỉnh quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài nên tính đến việc làm thế nào để bản án của Tòa án có nhiều cơ hội được thừa nhận ở nước ngoài nơi có di sản, nếu không việc đưa ra bản án cũng vô ích. Mặt khác, khi di sản ở nước ngoài, công tác xét xử đôi khi phải dùng đến biện pháp ủy thác tư pháp, do đó nên có chút thiện chí với hệ thống pháp luật nước ngoài nơi có di sản để các biện pháp ủy thác có thể gặp thuận tiện. Vậy phương hướng thứ ba mà chúng ta nên làm là sử dụng một tiêu chí chọn pháp luật mà theo đó bản án của Tòa án nước ta có nhiều cơ hội được thừa nhận ở nước nơi có di sản và các biện pháp ủy thác tư pháp không gặp nhiều bất lợi.

15. Giải pháp kiến nghị lựa chọn cho xung đột pháp luật về thừa kế theo pháp luật trong Tư pháp quốc tế Việt Nam 15. Nếu sử dụng giải pháp khai thác quy phạm xung đột đã tồn tại, chúng ta có quy phạm xung đột về thừa kế theo pháp luật là: Thừa kế theo pháp luật được điều chỉnh bởi pháp luật nơi có di sản. Giải pháp này có thể được chấp nhận vì chúng ta đã thấy rằng quan hệ thừa kế là một quan hệ tài sản đồng thời đơn giản vì chỉ cần giải thích rộng Điều 833 khoản 1 BLDS. Song theo chúng tôi, chúng ta không nên theo giải pháp này vì nó dẫn đến một thực tế rất phức tạp, chẳng hạn hậu quả của việc chọn luật cho ví dụ nêu trong phần số 6 là di sản P được điều chỉnh bởi pháp luật Pháp, di sản t được điều chỉnh bởi pháp luật Thụy Sĩ, di sản d được điều chỉnh bởi pháp luật Đức và di sản V, v được điều chỉnh bởi pháp luật Việt Nam. Vậy vấn đề thừa kế của anh N.V.A được điều chỉnh bởi bốn luật khác nhau: pháp luật của Pháp, pháp luật của Đức, pháp luật của Thụy Sĩ và pháp luật Việt Nam. Việc cho phép nhiều pháp luật khác nhau để điều chỉnh một vấn đề thừa kế theo pháp luật là không nên vì quá phức tạp và tốn kém, đi ngược lại với phương hướng thứ hai trình bày trong phần số 13. Vậy giải pháp thiết lập quy phạm xung đột mới cần được nghiên cứu.

16. Nếu theo giải pháp thứ nhất khi không phân biệt di sản là động sản hay bất động sản đề cập trong phần số 8 thì chúng ta có kết luận sau: Pháp luật điều chỉnh thừa kế là pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có quốc tịch. Áp dụng giải pháp này vào ví dụ nêu trên chúng ta có kết quả là pháp luật Pháp sẽ là pháp luật điều chỉnh vấn đề thừa kế vì người để lại thừa kế có quốc tịch Pháp. Điều đó có nghĩa là pháp luật Pháp sẽ điều chỉnh di sản tại Pháp cũng như di sản ở Đức, ở Thụy Sĩ và ở Việt Nam ngay cả đối với bất động sản V. Về mặt kinh phí, giải pháp này có nhiều ưu điểm hơn giải pháp trước vì chúng ta chỉ phải đầu tư vào nghiên cứu pháp luật Pháp. Nhưng giải pháp này vẫn còn một số nhược điểm: Thứ nhất, giải pháp này quá tôn trọng bản chất nhân thân và bỏ qua bản chất tài sản của quan hệ thừa kế theo pháp luật. Ở đây, chúng ta sẽ không cho phép pháp luật của nước nơi có di sản là bất động sản điều chỉnh di sản này, cụ thể trong ví dụ là không cho phép pháp luật Việt Nam điều chỉnh di sản là bất động sản ở Việt Nam. Điều này đi ngược lại với xu thế chung của pháp luật Việt Nam. Trong thực tế, vì quan hệ về tài sản là bất động sản liên quan mật thiết với hệ thống pháp luật của nước nơi có bất động sản, pháp luật Việt Nam có xu hướng cho phép pháp luật nơi có tài sản điều chỉnh bất động sản13. Cũng cần nói thêm là việc không cho phép pháp luật của nước nơi có di sản là bất động sản điều chỉnh quan hệ thừa kế liên quan đến di sản này có thể gây ra phản ứng không hay của nước nơi có di sản đối với một số biện pháp ủy thác hay đối với việc thừa nhận bản án của Tòa án nước ta trên nước này. Phát triển ví dụ trong phần 6, nếu anh N.V.A có một bất động sản ở Mỹ, áp dụng giải pháp này sẽ không cho phép pháp luật Mỹ điều chỉnh quan hệ thừa kế liên quan đến động sản này và do đó có thể gây phản ứng không hay của chính quyền Mỹ. Thứ hai, giải pháp này bất lợi đối với đối tác, người thứ ba, mà người để lại thừa kế thiết lập quan hệ trước khi chết vì thông thường những người này sống ở nước mà người để lại thừa kế có nơi cư trú cuối cùng14 và họ không có sự hiểu biết pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có quốc tịch, cụ thể trong ví dụ nghiên cứu phần lớn người thứ ba này ở Việt Nam và không có sự hiểu biết pháp luật Pháp. Vậy chúng ta không nên theo giải pháp này.

17. Nếu chúng ta theo giải pháp thứ hai khi không phân biệt di sản là động sản hay bất động sản thì chúng ta có kết luận sau: Pháp luật điều chỉnh quan hệ thừa kế theo pháp luật là pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có nơi cư trú cuối cùng. Áp dụng vào ví dụ nghiên cứu trong phần số 6 chúng ta có kết luận là pháp luật Việt Nam là pháp luật điều chỉnh quan hệ thừa kế vì người để lại thừa kế có nơi cư trú cuối cùng tại Việt Nam. Điều đó có nghĩa là pháp luật Việt Nam sẽ điều chỉnh di sản V và v ở Việt Nam, di sản t ở Thụy Sĩ, di sản d ở Đức và di sản P tại Pháp ngay cả khi di sản P là bất động sản. Giải pháp này cũng như giải pháp vừa nghiên cứu có ưu điểm là chỉ có một pháp luật điều chỉnh quan hệ thừa kế đồng thời giải pháp này không làm thiệt hại đến người thứ ba và tránh được những khó khăn trong việc xác định quốc tịch của người để lại thừa kế. Nhưng cũng như giải pháp vừa nghiên cứu, giải pháp này không cho phép pháp luật của nước nơi có di sản là bất động sản điều chỉnh quan hệ thừa kế liên quan đến di sản này, điều này có thể làm phát sinh những bất lợi liên quan đến một số biện pháp ủy thác cũng như vấn đề công nhận bản án tại nước nơi có di sản. Vậy chúng ta cũng không nên theo giải pháp này và nên phân biệt di sản là động sản hay bất động sản.

18. Trong trường hợp chúng ta phân biệt di sản là động sản và bất động sản chúng ta có giải pháp cho di sản là bất động sản như sau: Pháp luật nơi có di sản là bất động sản điều chỉnh vấn đề thừa kế theo pháp luật về di sản này. Đối với quan hệ thừa kế theo pháp luật về di sản là động sản, chúng ta có hai giải pháp: Vấn đề này được điều chỉnh bởi pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có quốc tịch hoặc bởi pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có nơi cư trú cuối cùng. Theo chúng tôi, trong hoàn cảnh nước ta hiện nay, chúng ta nên cho phép pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có quốc tịch điều chỉnh vấn đề thừa kế theo pháp luật về động sản. Giải pháp mà theo đó chúng ta cho phép pháp luật nơi có di sản điều chỉnh quan hệ thừa kế về bất động sản và pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có quốc tịch điều chỉnh vấn đề thừa kế theo pháp luật về động sản có hai nhược điểm cơ bản. Thứ nhất, giải pháp này dẫn đến phân chia di sản thành phần nhỏ và dẫn đến việc áp dụng hai hay nhiều pháp luật vào một quan hệ thừa kế theo pháp luật, nhất là khi người để lại thừa kế có di sản là bất động sản ở nhiều nước khác nhau. Song trong thực tế, trường hợp người để lại thừa kế có di sản là bất động sản ở nhiều nước khác nhau ít xảy ra, vậy nhược điểm này không cản trở nhiều cho giải pháp mà chúng tôi kiến nghị lựa chọn. Thứ hai, giải pháp này buộc chúng ta phải phân biệt di sản là động sản và bất động sản trong khi đó “các phạm trù động sản và bất động sản không phải đã được hiểu một cách thống nhất trong các hệ thống pháp luật hiện nay trên thế giới”15. Sự khác nhau về khái niệm động sản và bất động sản trong pháp luật các nước dẫn đến hiện tượng xung đột pháp luật về xác định, định danh, xung đột khái niệm pháp lý hay còn được gọi là xung đột kín tùy theo thuật ngữ sử dụng cho hiện tượng xung đột này16. Tuy nhiên, hiện tượng xung đột này không gây cản trở lớn cho giải pháp mà chúng tôi kiến nghị vì loại xung đột này đã có giải pháp: Theo khoản 3, Điều 833 BLDS Việt Nam, “việc phân biệt tài sản là động sản hoặc bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản đó”.

19. Theo chúng tôi, giải pháp vừa nêu trên là một giải pháp phù hợp nhất trong bối cảnh nước ta hiện nay vì nó có nhiều ứu điểm so với những giải pháp đã nghiên cứu.

Thứ nhất, giải pháp này tôn trọng bản chất tài sản và bản chất nhân thân của quan h quan hệ thừa kế. Ở đây, chúng ta tôn trọng bản chất tài sản của quan hệ thừa kế vì pháp luật nơi có di sản điều chỉnh quan hệ thừa kế về bất động sản, điều đó có thể tránh được những phản ứng không tốt của nước có di sản là bất động sản cho những biện pháp ủy thác cũng như việc thừa nhận bản án của Tòa án Việt Nam đối với tài sản này vì ở đây chúng ta áp dụng pháp luật của nước nơi có tài sản. Chúng ta tôn trọng bản chất nhân thân của quan hệ thừa kế vì di sản là động sản được điều chỉnh bởi pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có quốc tịch, tức là pháp luật nhân thân của người để lại thừa kế.

Thứ hai, giải pháp này sẽ cho phép pháp luật Việt Nam có nhiều cơ hội được áp dụng trong thực tế:

Hiện nay nhiều người dân nước ta sang làm ăn sinh sống ở nước ngoài nhưng vẫn giữ quốc tịch Việt Nam và khi chế để lại di sản ở nước ngoài cũng như ở Việt Nam. Mặt khác, do chiến tranh, một số người Việt Nam sang sống ở nước ngoài, có quốc tịch nước ngoài, nhất là quốc tịch Mỹ và Pháp, và hiện nay về Việt Nam cư trú. Nếu cho phép pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có quốc tịch điều chỉnh di sản là động sản, pháp luật Việt Nam có nhiều cơ hội được áp dụng. Đối với trường hợp thứ nhất, pháp luật Việt Nam sẽ được áp dụng đối với di sản là động sản vì chúng ta cho phép pháp luật nước mà người để lại thừa kế có quốc tịch điều chỉnh di sản là động sản. Đối với trường hợp thứ hai, lúc đầu chúng ta có thể kết luận là pháp luật nước ngoài sẽ được áp dụng thường xuyên vì người để lại thừa kế có quốc tịch nước ngoài. Thế nhưng, theo chúng tôi, nếu áp dụng linh hoạt Tư pháp quốc tế nước ta và chỉ cần một chút kiến thức về Tư pháp quốc tế nước ngoài, chúng ta sẽ cho phép pháp luật Việt Nam áp dụng thường xuyên, cụ thể là chúng ta sẽ sử dụng kỹ thuật dẫn chiếu trở lại trong Tư pháp quốc tế nước ta và các quy phạm xung đột của Tư pháp quốc tế nước ngoài về quan hệ thừa kế theo pháp luật. Theo Điều 827, khoản 3 BLDS Việt Nam, “Trong trường hợp việc áp dụng pháp luật nước ngoài được […] quy định hoặc […] viện dẫn, thì pháp luật nước ngoài được áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài; nếu pháp luật nước đó dẫn chiếu trở lại pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì áp dụng pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Vậy, nếu Tư pháp quốc tế nước ta cho phép pháp luật nước ngoài quyền điều chỉnh quan hệ thừa kế theo pháp luật nhưng pháp luật nước này từ chối và dẫn chiếu ngược lại thì chúng ta sẽ áp dụng pháp luật nước ta. Kỹ thuật này tạo cơ hội cho pháp luật Việt Nam được áp dụng đồng thời vẫn được lòng các cơ quan pháp luật nước ngoài vì chúng ta đã cho pháp luật nước họ thẩm quyền điều chỉnh nhưng pháp luật nước họ lại dẫn ngược lại pháp luật nước ta. Để minh họa cho vấn đề này, chúng tôi xin lấy ví dụ trường hợp mà theo đó người để lại thừa kế là gốc Việt, có quốc tịch Pháp hay Mỹ và có nơi cư trú cuối dùng tại Việt Nam (giả thiết này sẽ thường xuyên xảy ra trong thực tế Việt Nam vì nhiều Việt kiều về cư trú ở Việt Nam và vẫn giữ quốc tịch Pháp hay Mỹ). Nếu giải pháp mà chúng tôi kiến nghị được sử dụng thì pháp luật điều chỉnh thừa kế về động sản đối với di sản mà những người này để lại là pháp luật của nước mà họ có quốc tịch, ở đây là pháp luật Pháp hay pháp luật Mỹ. Nhưng trong phần số10, chúng ta thấy Tư pháp quốc tế của hai nước này đều cho phép pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có nơi cư trú cuối cùng điều chỉnh di sản là động sản, điều đó có nghĩa là pháp luật Pháp và Mỹ cho phép pháp luật Việt Nam điều chỉnh và thông qua kỹ thuật dẫn chiếu trở lại chúng ta áp dụng pháp luật nước ta. Vậy, thông qua kỹ thuật dẫn chiếu trở lại, giải pháp mà chúng tôi kiến nghị sẽ tạo thêm cơ hội cho phép pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ thừa kế thường xuyên hơn, điều đó đáp ứng được phương hướng thứ hai mà chúng tôi trình bày trong phần 13.

Theo chúng tôi, nếu cho phép pháp luật của nước nơi có di sản là bất động sản điều chỉnh quan hệ thừa kế về di sản này như chúng tôi kiến nghị, pháp luật Việt Nam cũng có thêm cơ hội được áp dụng trong thực tế và không làm phật lòng các cơ quan pháp luật của nước nơi có di sản. Trong phần số 8 và số 9, chúng ta thấy rằng Tư pháp quốc tế một số nước không phân biệt di sản là động sản hay bất động sản và cho phép pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có quốc tịch hay có nơi cư trú cuối cùng điều chỉnh, điều đó có nghĩa là pháp luật các nước này cho phép pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có quốc tịch hay có nơi cư trú cuối cùng điều chỉnh di sản là bất động sản. Vận dụng kỹ thuật dẫn chiếu trở lại như phần trên, chúng ta có thể tạo thêm cơ hội áp dụng pháp luật Việt Nam trong thực tế. Để minh họa, chúng tôi xin trích hai ví dụ: Ví dụ thứ nhất, trường hợp một người Việt Nam sang làm ăn ở Tây Ban Nha hay Phi-lip-pin và có một bất động sản ở đó khi chết. Nếu giải pháp mà chúng tôi kiến nghị được áp dụng, pháp luật điều chỉnh di sản này là pháp luật Tây Ban Nha hay Phi-lip-pin (pháp luật của nước nơi có vật), nhưng trong phần số 8, chúng ta thấy pháp luật hai nước này dẫn chiếu trở lại pháp luật nước mà người để lại thừa kế có quốc tịch, ở đây là pháp luật Việt Nam. Vậy, chúng ta có thêm cơ hội áp dụng luật Việt Nam trong trường hợp này. Ví dụ thứ hai, một người gốc Việt về Việt Nam cư trú sau một thời gian làm ăn sinh sống ở Thụy Sĩ và khi chết để lại một bất động sản ở Thụy Sĩ. Nếu giải pháp mà chúng tôi kiến nghị được áp dụng, pháp luật Thụy Sĩ là pháp luật điều chỉnh quan hệ thừa kế về bất động sản này (pháp luật của nước nơi có vật), nhưng trong phần số 9, chúng ta thấy pháp luật nước này dẫn chiếu trở lại pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có nơi cư trú cuối cùng, ở đây là pháp luật Việt Nam. Vậy, áp dụng kỹ thuật dẫn chiếu trở lại, chúng ta cũng tạo thêm cơ hội cho pháp luật Việt Nam được áp dụng đồng thời vẫn có thiện chí với pháp luật của nước nơi có bất động sản.

Có thể nói, chấp nhận giải pháp mà chúng tôi kiến nghị và vận dụng linh hoạt kỹ thuật dẫn chiếu trở lại, chúng ta được cả “tiếng” lẫn “miếng”. Chúng ta được “miếng” vì pháp luật nước ta được áp dụng thường xuyên trong thực tế và chúng ta được “tiếng” là vì chúng ta có thiện chí với pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có quốc tịch hay của nước nơi có di sản là bất động sản: Ở đây chúng ta cho pháp luật nước ngoài thẩm quyền điều chỉnh nhưng thực tế chúng ta lại áp dụng pháp luật nước ta và lý do của thực tế này là vì pháp luật nước ngoài cho phép chúng ta áp dụng pháp luật nước ta.

Một khó khăn khi dùng tiêu chí dẫn chiếu quốc tịch một cá nhân là đôi khi chúng ta không xác định được quốc tịch của cá nhân này. Nếu hoàn cảnh này xảy ra, theo chúng tôi, chúng ta nên quy định thêm như sau: Trong trường hợp không xác định được quốc tịch thì pháp luật điều chỉnh quan hệ thừa kế về động sản là pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có nơi cứ trú cuối cùng và, trong trường hợp không xác định được quốc tịch cũng như nơi cư trú cuối cùng, pháp luật điều chỉnh quan hệ thừa kế theo pháp luật về động sản là pháp luật của Tòa án, tức là pháp luật Việt Nam. Giải pháp luân phiên này cũng cho phép pháp luật nước ta có cơ hội được áp dụng thường xuyên.

20. Nói tóm lại, với hoàn cảnh nước ta hiện nay, giải pháp hợp lý nhất trong việc giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo pháp luật là phân biệt di sản thành động sản và bất động sản và việc điều chỉnh hai loại di sản này là như sau:

Thừa kế về bất động sản được điều chỉnh bởi pháp luật của nước nơi có tài sản.

Thừa kế về động sản được điều chỉnh bởi pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có quốc tịch. Trong trường hợp không xác định được quốc tịch thì pháp luật điều chỉnh quan

hệ thừa kế về động sản là pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có nơi cư trú cuối cùng và, trong trường hợp không xác định được quốc tịch cũng như nơi cư trú cuối cùng, pháp luật điều chỉnh quan hệ thừa kế theo pháp luật về động sản là pháp luật của Tòa án.

Để đảm bảo an toàn pháp lý cho các chủ thể trong quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài, chúng ta nên luật hóa giải pháp trình bày ở trên và trong khi chờ đợi, Tòa án tối cao có thể thừa nhận giải pháp này thông qua thông tư hoặc công văn hướng dẫn áp dụng luật như đã làm trong những vấn đề khác17 hoặc sử dụng một vụ việc cụ thể để làm án lệ18.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Về khái niệm thừa kế, xem thêm: Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 1997, tập II, tr. 239; Nguyễn Ngọc Điệp, 1200 thuật ngữ pháp lý Việt Nam, NXB TP. HCM, 1997, tr. 45; Từ điển luật học, NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội, 1999, tr. 486.

2 Quan hệ mà “trong đó: ít nhất có một người bên để lại di sản hoặc bên nhận thừa kế có quốc tịch nước ngoài; tài sản thừa kế tồn tại ở nước ngoài; di chúc được lập ở nước ngoài”, Từ điển luật học, NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội, 1999, tr. 486.

3 Ví dụ: Theo Điều 37 Pháp lệnh thừa kế ngày 30/8/1990, “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền thừa kế của người nước ngoài đối với tài sản có trên lãnh thổ Việt Nam theo quy chế về người

nước ngoài tại Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc công nhận”.

4 Giáo trình Tư pháp quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 2001, tr. 180.

5 Bình luận khoa học Bộ luật dân sự Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, 2001, tập III, tr. 368.

6 Đoàn Năng, Vấn đề hoàn thiện hệ thống quy phạm xung đột hướng dẫn chọn pháp luật điều chỉnh các quan

hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, 11/1998, tr. 50 và 51; Đoàn Năng, Một số vấn đề lý luận cơ bản về Tư pháp quốc tế, NXB Chính trị quốc gia, 2001, tr. 226.

7 Xem thêm G.A.L. DROZ và M. REVILLARD, Juris-Classeur, Droit international, Facr. 557-10 (2002), n.8.

8 Xem thêm G.A.L DROZ và M. REVILLARD, Juris-Classeur, Droit international, Fasc. 557-10 (2002), n 6;

H. BATIFFOL và P. LAGARDE, Droit international privé, NXB L.G.D.J, 1983, tập II, n 641; Giáo trình Tư pháp quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 2001, tr. 174.

9 Xem thêm G.A.L DROZ và M. REVILLARD, Juris-Classeur, Droit international, Fasc. 557-10 (2002), n 7;

Giáo trình Tư pháp quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 2001, tr. 175.

10 Xem thêm G.A.L DROZ và M. REVILLARD, Juris-Classeur, Droit international, Fasc. 557-10 (2002), n

10; H. BATIFFOL và P. LAGARDE, Droit international privé, NXB L.G.D.J, 1983, tập II, n 641; Giáo trình Tư pháp quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 2001, tr. 173.

11 Xem thêm G.A.L DROZ và M. REVILLARD, Juris-Classeur, Droit international, Fasc. 557-10 (2002), n

11.

12 Chính vì vậy mà theo Điều 843, khoản 2 BLDS Việt Nam “quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng dân sự được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thỏa thuận khác”.

13 Ví dụ theo Điều 833, khoản 1 BLDS Việt Nam, “Việc xác lập, chấm dứt quyền sở hữu, nội dung quyền sở hữu đối với tài sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản đó”. Vậy khi tài sàn là bất động sản

ở Việt Nam thì pháp luật Việt Nam điều chỉnh và ở nước ngoài thì pháp luật nước ngoài này điều chỉnh. Quan

điểm này được nhấn mạnh lại trong Điều 104, khoản 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2002: “Việc giải quyết

tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó” và Điều 934, khoản 3 BLDS Việt Nam: “Hợp đổng dân sự liên quan đến bất động sản ở Việt Nam phải tuân theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

14 Theo cuốn Bình luận khoa học Bộ luật dân sự Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, 2001, tập III, tr. 16: “Nơi

cư trú cuối cùng thường là nơi người có tài sản, nơi tập trung các giao dịch dân sự của người để lại di sản khi còn sống, nơi phát sinh các quyền tài sản và nghĩa vụ tài sản của người đó, nơi người đó thực hiện quyền tài sản và nghĩa vụ tài sản”.

15 Giáo trình Tư pháp quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 2001, tr. 121.

16 Xem thêm về vấn đề xung đột này: Giáo trình Tư pháp quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công

an nhân dân, 2001, tr. 121 và 174; Đoàn Năng, Một số vấn đề lý luận cơ bản về Tư pháp quốc tế, NXB Chính

trị quốc gia, 2001, tr. 84 và tiếp theo; Đỗ Văn Đại, Xung đột pháp luật về xác định, định danh trong Tư pháp quốc tế Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, tháng 10/2002, tr. 53 và tiếp theo.

17 Theo Điều 19, khoản 1 Luật tổ chức Tòa án nhân dân ngày 2 tháng 4 năm 2002, “Tòa án nhân dân tối cao

có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Hướng dẫn các Tòa án áp dụng thống nhất pháp luật, tổng kết kinh nghiệm xét xử của các Tòa án”. Xem tương tự, Luật tổ chức Tòa án nhân dân ngày 3 tháng 7 năm 1981, Điều 20, khoản 2 và Luật tổ chức Tòa án nhân dân ngày 6 tháng 10 năm 1992, Điều 18, khoản 1.

18 Xem thêm về vai trò của Tòa án trong việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam nói chung và Tư pháp quốc tế Việt Nam nói riêng: Pháp luật TP. HCM, Việt Nam cần có án lệ (Trang web http://vnexpress.net, ngày 19 tháng 4 năm 2002); Đỗ Văn Đại, Tư pháp quốc tế và vấn đề xây dựng “quy phạm pháp luật” bởi Tòa án ở Pháp và Việt Nam, Tạp chí Khoa học pháp lý, 7 (14)/2002, tr. 45 và tiếp theo.

Các bài viết cùng tác giả: http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/?s=%22%C4%90%E1%BB%96+V%C4%82N+%C4%90%E1%BA%A0I%22

SOURCE: Chưa xác định

GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA QUI ĐỊNH CÓ TÍNH "ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ"

TS. ĐỖ VĂN ĐẠI – NHÀ PHÁP LUẬT VIỆT – PHÁP

Khác với Hiến pháp một số nước (chẳng hạn như của Pháp), Hiến pháp Việt Nam đề cập đến điều ước quốc tế (Điều 84, 103, 112) nhưng lại chưa định rõ mối quan hệ giữa pháp luật quốc gia và điều ước khi chúng có sự khác nhau. Theo một số luật hay bộ luật của Việt Nam như Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Dân sự… thì khi có sự khác nhau giữa pháp luật quốc gia và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên thì áp dụng những quy định của điều ước quốc tế.

Khác với Hiến pháp một số nước (chẳng hạn như của Pháp), Hiến pháp Việt Nam đề cập đến điều ước quốc tế (Điều 84, 103, 112) nhưng lại chưa định rõ mối quan hệ giữa pháp luật quốc gia và điều ước khi chúng có sự khác nhau. Theo một số luật hay bộ luật của Việt Nam như Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Dân sự… thì khi có sự khác nhau giữa pháp luật quốc gia và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên thì áp dụng những quy định của điều ước quốc tế. Như vậy, quy định ghi nhận trong điều ước quốc tế có tính bắt buộc cao hơn các quy định của pháp luật quốc gia. Trong thực tiễn pháp lý, những quy định “có tính điều ước quốc tế” cũng có tính trội so với các quy định của pháp luật quốc gia. Ví dụ sau là một minh chứng:

Ông Khuông nguyên là cán bộ phòng cháy chữa cháy tại Sở Công an tỉnh TB. Ngày 01/01/1991, Xí nghiệp liên doanh (XNLD) Vietsovptro ký với ông Khuông một hợp đồng lao động với thời hạn ba năm. Nhưng đến ngày 9/4/2001, XNLD này ra quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với ông Khuông. Do vậy, ông Khuông kiện XNLD vi phạm Bộ luật Lao động.

Vấn đề mấu chốt cần xác định khi giải quyết vụ kiện là hợp đồng giữa ông Khuông và XNLD là hợp đồng xác định thời hạn hay không xác định thời hạn.

Theo Quyết định số 01/2003/HĐTP-LĐ ngày 28/2/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (HĐTP TANDTC) thì, ông Khuông trước đây thuộc biên chế của ngành công an, nhưng khi chuyển vào làm việc tại XNLD là ông đã chuyển từ chế độ lao động theo biên chế sang chế độ lao động theo hợp đồng. Điều 12, Nghị định 198/CP của Chính phủ quy định đối với cán bộ công nhân viên thuộc lực lượng thường xuyên trong các doanh nghiệp nhà nước khi chuyển sang giao kết hợp đồng lao động, thì hợp đồng lao động sẽ là loại không xác định thời hạn. Tuy nhiên, căn cứ vào Điều 3 Bộ luật Lao động và Điều 2 của Hiệp định liên doanh ký kết giữa Việt Nam và Liên Xô, XNLD đã ban hành quy chế đối với các cán bộ công nhân viên XNLD (được Bộ trưởng, Chủ nhiệm ủy ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư chứng nhận ngày 16/6/1993). Tại mục 2.2 của Quy chế nêu rõ: “XNLD ký hợp đồng lao động với cán bộ công nhân viên được tiếp nhận vào làm việc với thời hạn ba năm”. Đây là những quy định được thỏa thuận giữa Việt Nam và Liên Xô có tính điều ước quốc tế nên có hiệu lực bắt buộc thi hành. Vì vậy, thời gian hợp đồng ba năm được áp dụng cho mọi người lao động phía Việt Nam và cả phía Liên bang Nga. Theo đó, hợp đồng lao động giữa ông Khuông với XNLD là hợp đồng xác định thời hạn.

Vẫn theo HĐTP TANDTC,”căn cứ Điều 8 Quy chế lao động đối với các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ban hành kèm theo Nghị định số 233/HĐBT ngày 22/06/1990 của Hội đồng Bộ trưởng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cho rằng, hợp đồng lao động xác định thời hạn của ông Khuông… đã trở thành hợp đồng lao động với thời hạn không xác định là không chính xác. Bởi vì, tại Điều 1 cũng của Quy chế nêu trên quy định: “Quy chế này áp dụng cho cả người lao động và người nước ngoài, trừ các văn bản liên quan có quy định khác”. Như vậy, ông Khuông cũng như tất cả cán bộ công nhân trong XNLD đều phải tuân thủ nội dung Hiệp định và những quy định trong Quy chế của XNLD mà Chính phủ hai nước Việt Nam – Liên Xô đã thỏa thuận ký kết là ký kết hợp đồng lao động có thời hạn ba năm… Do các bên không đạt được thỏa thuận để ký hợp đồng lao động mới mà thời hạn hợp đồng lao động cũ đã hết, nên Tổng giám đốc XNLD đã có quyết định chấm dứt hợp đồng lao động đối với ông Khuông theo khoản 1 Điều 36 Bộ luật Lao động là có căn cứ, đúng pháp luật”.

Phần trình bày trên cho thấy có sự khác nhau giữa quy định của pháp luật của Việt Nam với một số quy định trong Quy chế của XNLD được thành lập theo Hiệp định Việt Nam – Liên Xô. Theo HĐTP TANDTC thì cần phải áp dụng những quy định nêu trong Quy chế bởi “đây là những quy định được thỏa thuận giữa Việt Nam và Liên Xô có tính điều ước quốc tế nên có hiệu lực bắt buộc thi hành”. Như vậy, HĐTP TANDTC đã đi xa hơn các luật và bộ luật đã được đề cập ở phần mở đầu vì theo các luật và bộ luật này, điều ước quốc tế có tính trội hơn quy định của pháp luật quốc gia nhưng theo HĐTP TANDTC thì, các quy định “có tính điều ước quốc tế” cũng có tính trội hơn quy định của pháp luật quốc gia. Vì vậy, các bên cần “phải tuân thủ” “những quy định trong Quy chế của XNLD”. ở đây, TANDTC đã đánh đồng “nội dung Hiệp định và những quy định trong Quy chế XNLD”. Giải pháp này có được chấp nhận hay không? Thiết nghĩ, câu trả lời phụ thuộc vào tính hợp lệ của những quy định nêu trong Quy chế trên.

Khi một hiệp định dẫn đến thiết lập một cơ quan, tổ chức, việc tôn trọng quy định liên quan đến cơ quan, tổ chức này là cần thiết. Bởi, cơ quan, tổ chức này không thể hoạt động nếu không có quy chế của mình. Quy chế này là những quy định được thiết lập để áp dụng hiệp định mà Việt Nam là thành viên. Tuy nhiên, nếu chấp nhận bất kỳ nội dung nào của quy chế thì nguy cơ làm biến dạng hiệp định được hai bên ký kết sẽ cao và đây là điều không thể chấp nhận được. Bởi vì, quy chế được xây dựng để cụ thể hoá hiệp định, nên thiết nghĩ, chúng ta chỉ chấp nhận nội dung của quy chế nếu:

Thứ nhất, nội dung của quy chế không đi ngược lại với nội dung hay tinh thần của hiệp định. ở đây, Quy chế cho rằng, hợp đồng lao động giữa XNLD và người lao động có thời hạn là ba năm. Liệu quy định này có đi ngược lại với nội dung hay tinh thần của Hiệp định Việt Nam – Liên Xô về XNLD Vietsovptro? Rất tiếc là Quyết định của HĐTP TANDTC không đi vào phân tích kỹ góc độ này. Chúng ta chỉ thấy HĐTP TANDTC nêu là “căn cứ vào quy định tại Điều 2 Hiệp định liên doanh ký kết giữa Việt Nam và Liên Xô, XNLD Vietsovptro đã ban hành quy chế đối với các cán bộ công nhân viên XNLD”.

Thứ hai, quy chế này phải được xây dựng theo trình tự, thủ tục phù hợp với hiệp định. Liệu Quy chế của Xí nghiệp liên doanh đã được thiết lập bởi người có thẩm quyền và theo trình tự phù hợp với hiệp định? Theo HĐTP TANDTC, Quy chế được Xí nghiệp liên doanh ban hành nhưng lại không nêu rõ người hay cơ quan cụ thể nào đã ban hành. Cũng theo HĐTP TANDTC, Quy chế trên đã “được Bộ trưởng, Chủ nhiệm ủy ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư chứng nhận ngày 16/6/1993″. Nhưng việc “chứng nhận” của Bộ trưởng, Chủ nhiệm ủy ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư có đủ để cho thấy rằng Quy chế của XNLD đã được thiết lập phù hợp với Hiệp định Việt Nam – Liên Xô?

Nói tóm lại, ví dụ liên quan đến Quy chế của XNLD được thành lập theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, theo TANDTC, đây là những quy định “có tính điều ước quốc tế” nên “có hiệu lực bắt buộc thi hành”. Trong thực tế, Quy chế trên được thiết lập để thực hiện điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia. Chúng ta cần phải tôn trọng không chỉ điều ước mà cả Quy chế đó. Bởi điều ước và Quy chế đó là một khối thống nhất. Tuy nhiên, việc tuân thủ này chỉ được chấp nhận với điều kiện là những quy định thiết lập để áp dụng điều ước quốc tế có nội dung không trái với nội dung hay tinh thần của điều ước và được thiết lập theo trình tự, thủ tục và người có thẩm quyền phù hợp với điều ước. Thiết nghĩ, những nhận xét trên cũng được áp dụng với mọi quy định “có tính điều ước quốc tế” khác khi chúng được xây dựng để áp dụng một điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Các bài viết cùng tác giả: http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/?s=%22%C4%90%E1%BB%96+V%C4%82N+%C4%90%E1%BA%A0I%22

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

VIỆC THỪA KẾ TẠI PHÁP ĐƯỢC GIẢI QUYẾT RA SAO

Một người thân vừa mới qua đời tại Pháp, không để lại di chúc. Người đã mất có thể là bố, mẹ, bác, cô, vợ, chồng, anh chị, em ruột hay anh chị em họ với một hoặc nhiều người sống tại Việt Nam. Xung quanh vấn đề thừa kế có yếu tố nước ngoài, có nhiều câu hỏi sẽ đặt ra: Ai sẽ là người được hưởng thừa kế? Luật của Pháp có quy định giống luật Việt Nam về quyền thừa kế của vợ hoặc chồng goá hay không? Trình tự giải quyết thừa kế ở pháp được tiến hành ra sao? Đâu là những khoản phí phải trả? Trong hàng loạt vấn đề pháp lý, thuế khoá do việc mở thừaa kế sẽ đặt ra, vấn đề nào cần phải giải quyết trước? Điều gì nên làm và điều gì tuyệt đối không nên làm? Xin chia sẻ cùng các đồng nghiệp một vài hiểu biết về thủ tục thừa kế tiến hành tại Pháp.


Trình tự giải quyết.


Việc giải quyết thừa kế tại Pháp sẽ qua bốn giai đoạn và do một Công chứng viên, được nhà nước uỷ quyền, chịu trách nhiệm thực hiện.

 

Lập danh sách những người thừa kế.

 

Trong giai đoạn đầu tiên này, cần lập danh sách những người có quyền hưởng thừa kế và kỳ phần tương ứng của họ.

Để làm việc này, người công chứng viên yêu cầu thân nhân của người quá cố cung cấp tài liệu xác định những thành viên của gia đình mà việc thừa kế có thể sẽ liên hệ đến ( sổ hộ khẩu gia đình, thoả ước hôn nhân bản án ly dị…) tiếp theo, người công chứng viên tập hợp những giấy tờ thể hiện ý chí của người quá cố định đoạt một phần hay toàn bộ di sản thừa kế: di chúc, hợp đồng tặng cho tài sản giữa vợ chồng. Người công chứng viên sẽ tra cứu cơ sở dữ liệu tại Trung tâm lưu trữ di chúc để kiếm những di chúc mà người quá cố đã lập.


Xác định khối di sản thừa kế.

 

Trong giai đoạn này, Công chứng viên thống kê khối di sản người quá cố để lại, trong đó liệt kê tài sản có (gồm số dư tài khoản, chứng khoản, động sản, bất động sản) cùng với ước tính giá trị của nhưng tài sản này và những khoản nợ. Để làm việc này, người công chứng viên thu thập những giấy tờ như chứng từ sở hữu, giấy báo có ngân hàng, sổ tiết kiệm, hoá đơn… cho phép xác tài sản có và tài sản nợ trong khối di sản. Những người thừa kế cũng cần cung cấp cho người công chứng viên những giao dịch khác nhau người quá cố đã thực hiện như mua, bán, đổi chác, lập công ty, tặng cho.. Tuỳ theo từng trường hợp mà người công chứng viên lập bản tình trạng khối di sản hoặc lập bản kiểm kê tài sản.

 

Kê khai thừa kế.

 

Sau hai bước trên, công chứng viên thực hiện các thủ tục liên quan đến đăng ký bất động sản (do có sự chuyển dịch quyền sở hữu) và khai thừa kế gồm lập và gửi cho Cơ quan quản lý thế chấp Giấy chứng nhận bất động sản đối với tài sản trả thuế do cơ quan thuế vụ trong thời hạn 6 tháng kể từ thời điểm mở thừa kế hoặc đề nghị trả chậm hoặc trả từng phần khoản thuế này.Những người thừa kế có thể quyết định trong giai đoạn này việc chia hoặc không chia, một phần hoặc toàn bộ di sản với lời tư vấn của công chứng viên.


Phân chia thực tế di sản thừa kế.

 

Việc phân chia thực tế khối di sản thừa kế là giai đoạn cuối cùng. Những người thừa kế có thể quyết định không phân chia khối di sản và trong trường hợp này, họ giữ chế độ sở hữu chung (theo phần) bao lâu tuỳ thích.

Tuy vậy, khi chế độ sở hữu chung tỏ ra không phù hợp, những người thừa kế (là đồng chủ sở hữu) có thể quyết định phân chia khối di sản. Về nguyên tắc, quyết định phân chia di sản có thể xảy ra bất cứ lúc nào và theo nguyên tắc tự chia và tự thoả thuận. Trong trường hợp có bất đồng nghiêm trọng (ví dụ như thành phần tài sản của mỗi suất thừa kế hay việc định giá những tài sản đó) tranh chấp sẽ do Toà án giải quyết (tốn thêm thời gian và tiền bạc cho vụ kiện dân sự).

 

Mất bao nhiêu thời gian ?

 

Thời gian giải quyết thừa kế tuỳ thuộc nhiều vào đặc điểm từng trường hợp. Trung bình là mất 6 tháng kể từ ngày mở thừa kế. Đó cũng là thời hạn mà luật yêu cầu phải nộp các khoản thuế từ thừa kế. Nếu chậm nộp, thì sẽ phải chịu phạt 0,75%/tháng trên khoản tiền chậm nộp.

Ngoài những trình tự giải quyết chung nói trên, có thể có thêm những thủ tục đặc biệt và như vậy, thời gian sẽ kéo dài thêm vài ba tháng. Ví dụ, nếu có người thừa kế là vị thành niên hoặc người không có năng lực hành vi (đặt dưới chế độ giám hộ hoặc đỡ đầu), thì có thể phải triệu tập Hội đồng gia đình, tham khảo ý kiến của thẩm phán giám hộ hoặc xin phép những người này. Một số tài sản phải được xử lý đặc biệt như sản nghiệp thương mại, nông trại, doanh nghiệp cần phải duy trì hay cần chuyển quyền khai thác cho người khác. Đôi khi phải trưng cầu giám định hoặc người quản lý tư pháp. Việc tìm kiếm những người thừa kế theo luật hoặc theo di chúc đôi khi được trao cho chuyên gia phả hệ, và có thể nói trước thời gian tìm kiếm là bao lâu.

Còn có nhiều yếu tố khác có ảnh hưởng đến quá trình giải quyết thừa kế, và đến thời hạn giải quyết như: Mức độ hoà thuận giữa những người thừa kế, tầm quan trọng của khối di sản hoặc khoản nợ, sự xuất hiện người thừa kế nước ngoài hoặc tài sản thừa kế nằm ở nước ngoài.

 

Chi phí ?

 

Những chi phí mà những người thừa kế trả trong quá trình giải quyết thừa kế tại Pháp sẽ bao gồm 3 loại: Thuế trả cho Nhà nước Pháp (gồm thuế thu nhập từ thừa kế giao động từ 5% đến 60% tuỳ theo mức độ gần gũi giữa người thừa kế và người để lại thừa kế và giá trị tài sản được nhận, thuế tem, thuế trên giá trị gia tăng do chuyển nhượng bất động sản), các chi phí mà Công chứng viên đã chi (chi phí để xin một số giấy tờ bắt buộc, lệ phí đăng ký bất động sản) và tiền thù lao của công chứng viên chịu trách nhiệm giải quyết thừa kế (theo biểu thù lao Nhà nước qui định).


=========================

Luật sư Trần Nguyên Hạnh

Văn Phòng Luật sư Nam Á

Ngun thông tin: http://www.luatsuhanoi. org.vn

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 641 other followers

%d bloggers like this: