BÁN TÀI SẢN LÀ KHOẢN VAY THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT ANH

THS. BÙI ĐỨC GIANG – Công ty Luật Audier and Partners Vietnam, LLC & NCS Khoa Luật, Đại học Paris 2 Panthéon Assas, Cộng hòa Pháp

Trong các hợp đồng tín dụng (credit facility) giữa một bên là một doanh nghiệp hay ngân hàng nước ngoài (offshore company/bank) và một bên là doanh nghiệp hay ngân hàng Việt Nam được điều chỉnh bởi pháp luật Anh thường có một điều khoản về các thay đổi đối với bên cho vay (changes to lenders).

Trong thực tế, sau khi ký kết hợp đồng vay và thực hiện giải ngân một phần hay toàn bộ khoản vay, có rất nhiều lý do khiến bên cho vay thực hiện việc định đoạt khoản vay (tăng tính thanh khoản nguồn vốn, hạn chế rủi ro tín dụng, đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật về an toàn vốn, đầu tư vào các khoản vay mới hứa hẹn khả năng sinh lời cao hơn, tìm thêm các thành viên cho vay hợp vốn mới, v.v…). Pháp luật Anh đưa lại cho các bên khá nhiều lựa chọn để đạt được mục đích này. Đây là một trong số các yếu tố làm tăng tính hấp dẫn của pháp luật Anh vốn thường được các bên lựa chọn là luật áp dụng cho các hợp đồng tài chính của mình. Việc nắm bắt được các phương thức bán tài sản là khoản vay rất hữu ích đối với doanh nghiệp hay ngân hàng Việt Nam là bên đi vay, bên chuyển giao hay bên nhận chuyển giao khoản vay. Bài viết tập trung giới thiệu bốn hình thức định đoạt khoản vay phổ biến nhất theo quy định hiện hành của nền pháp luật này.

1. Chuyển giao quyền và nghĩa vụ của một bên trong hợp đồng (novation)

Cơ chếNovation cho phép một bên trong hợp đồng có thể chuyển giao toàn bộ các quyền và nghĩa vụ của mình phát sinh từ hợp đồng. Giao dịch này phải được sự chấp thuận của tất cả các bên trong hợp đồng. Thông qua novation một ngân hàng mới sẽ thay thế cho ngân hàng là bên cho vay ban đầu bằng việc đảm nhiệm toàn bộ các quyền và nghĩa vụ của ngân hàng này quy định trong hợp đồng tín dụng. Nói cách khác, với sự đồng ý của tất cả các bên trong hợp đồng tín dụng ban đầu, quan hệ hợp đồng giữa bên chuyển giao và bên đi vay hết hiệu lực, chấm dứt và được thay thế bằng một quan hệ hợp đồng mới giữa bên nhận chuyển giao và bên đi vay. Ngay khi ký kết hợp đồng tín dụng ban đầu các bên có thể quy định trước việc thay đổi bên cho vay thông qua novation và xác định một cơ chế hợp đồng cho phép thực hiện novation một cách tự động khi xảy ra một sự kiện cụ thể. Tuy vậy, trong thực tế hợp đồng cấp tín dụng hợp vốn thường được soạn thảo theo hướng quy định việc chuyển giao khoản vay chỉ có hiệu lực khi nhận được sự chấp thuận bằng văn bản của bên nhận chuyển giao (bên cho vay mới) theo đó bên này sẽ đảm nhận các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đối với các bên khác như thể bên này là một bên của hợp đồng ban đầu.

Đọc tiếp

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CẤU TRÚC, VẬT QUYỀN VÀ TRÁI QUYỀN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ ĐỨC MÀ VIỆT NAM CÓ THỂ THAM KHẢO TRONG QUÁ TRÌNH SỬA ĐỔI BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

THS. NGUYỄN THỊ HẠNH – Vụ Pháp luật Dân sự – Kinh tế, Bộ Tư pháp

Bộ luật Dân sự Đức được ban hành năm 1896 gồm có 2385 Điều và đã trải qua 2 lần sửa đổi quan trọng (năm 1977 và năm 2002) trong vòng 116 năm (do yêu cầu sửa đổi liên quan đến quyền bình đẳng nam nữ và yêu cầu sửa đổi khi gia nhập liên minh Châu Âu). Bộ luật Dân sự Đức được đánh giá là một Bộ luật có sự ảnh hưởng lớn và đã được nhiều nước tham khảo trong quá trình soạn thảo và sửa đổi Bộ luật Dân sự của mình. Sau đây là một số vấn đề cơ bản của Bộ luật Dân sự  Đức mà Việt Nam có thể tham khảo trong quá trình sửa đổi Bộ luật Dân sự năm 2005.

I. Cấu trúc của Bộ luật dân sự Đức (BLDS Đức)

BLDS Đức gồm 5 quyển, bao gồm: Quyển 1 là những quy định chung; Quyển 2 là những quy định về trái quyền; Quyển 3 là những quy định về vật quyền; Quyển 4 là những quy định về hôn nhân và gia đình; Quyển 5 là những quy định về thừa kế. Trong đó, mỗi quyển chia thành phần, chương, mục.

Về cấu trúc của Bộ luật, thông thường thế giới có hai trường phái pháp điển hóa Bộ luật dân sự, đó là trường phái cấu trúc theo kiểu Institutiones – tập trung vào chức năng của chế định và trường phái cấu trúc theo kiểu Pandekten – cấu trúc các quy định mang tính lý luận. BLDS Pháp (Institutiones) và Đức (Pandekten) là tiêu biểu cho việc áp dụng hai phương thức này. Việc một BLDS nào đó như BLDS Việt Nam lựa chọn phương thức nào là tuỳ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh xã hội, không một phương thức nào có thể giải quyết được tất cả những gì được mong đợi. Không như Bộ luật dân sự một số nước (Pháp, Nhật Bản…) đưa những quy định về vật quyền lên trước những quy định về trái quyền, Bộ luật dân sự Đức sắp xếp hai phần này theo thứ tự ngược lại, nghĩa là những quy định về trái quyền được quy định trước những quy định về vật quyền. Tuy nhiên, thứ tự sắp xếp không dẫn đến sự bất cập về mặt nội dung. Cơ cấu của BLDS Việt Nam giống với BLDS Pháp và BLDS Nhật Bản, đó là các quy định về các vấn đề mang tính vật quyền được đặt trước phần quy định về các vấn đề mang tính trái quyền. Theo quan điểm của Đức, bản thân vật quyền, trái quyền có sự đan xen lẫn nhau. Vật quyền, chuyển dịch quyền, thụ đắc quyền, mất quyền còn liên quan đến cả quá trình thực hiện quyền đó, liên quan đến quy định về sử dụng, chiếm giữ tức là vận dụng quy định trái quyền để bảo vệ vật quyền. Do đó, trái quyền có ưu thế tổng quan hơn nên đưa lên trước.

Một số vấn đề sau đây có thể được xem là những vấn đề mà Việt Nam đang còn có nhiều quan điểm khác nhau và còn có sự lúng túng trong quá trình sửa đổi Bộ luật của mình.

* Quyền nhân thân

BLDS nằm trong hệ thống luật tư và đối diện với nó là luật công mà vẫn thường hay được gọi là tư pháp và công pháp (điều chỉnh mối quan hệ giữa Nhà nước và tư nhân hoặc giữa các tổ chức Nhà nước với nhau). Quyền nhân thân có tính chất là quyền cơ bản của con người và thường được quy định trong Hiến pháp như các quyền được quy định từ Điều 24 đến Điều 51 BLDS Việt Nam (quyền đối với họ, tên; quyền xác định dân tộc; quyền được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể…). Do vậy, cần nghiên cứu xem có cần thiết quy định trong BLDS hay không. Thực chất đây là những quy định liên quan đến pháp luật công, không nên đưa vào BLDS vì ít có yếu tố dân sự. Nếu điều chỉnh những vấn đề liên quan đến pháp luật công như vậy sẽ bị chi phối thường xuyên bởi các quyết định chính trị.

Đọc tiếp

CÁC QUY ĐỊNH VỀ GIÁM HỘ TRONG QUAN HỆ DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Tác giả viết bài này vào thời điểm năm 2004

THÁI CÔNG KHANH

Trong pháp luật thực định Việt Nam có những qui định về vấn đề giám hộ trong các quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài, nhất là trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, cụ thể là: Theo khoản 1, 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài giải quyết việc giám hộ có yếu tố nước ngoài; Theo khoản 3 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình, Toà án nhân dân cấp tỉnh giải quyết tranh chấp việc giám hộ có yếu tố nước ngoài; theo khoản 1 Điều 106 Luật Hôn nhân và gia đình, việc giám hộ trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được thực hiện tại Việt Nam, tại cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài phải tuân theo pháp luật Việt Nam; theo Điều 5 Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch, việc đăng ký và quản lý hộ tịch có yếu tố nước ngoài được thực hiện theo qui định của Nghị định này. Theo Điều 75 Nghị định này, việc đăng ký nhận giám hộ giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài và giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài được thực hiện theo pháp luật Việt Nam.

Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy những qui định trên đây bộc lộ một số nhược điểm về nguyên tắc, về nội dung, về sử dụng từ ngữ, về kỹ thuật xây dựng văn bản… Mặt khác, trong thực tế, từ trước tới nay Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cũng như cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài (dưới đây gọi tắt là Đại sứ quán) chưa hề giải quyết một việc giám hộ, mà người giám hộ hoặc người được giám hộ là công dân Việt Nam. Tuy nhiên, việc nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện các qui định về giám hộ trong các quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài là rất cần thiết, đặc biệt trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay.

1. Các điều kiện của người giám hộ và người được giám hộ:

a. Căn cứ vào những qui định của Bộ luật Dân sự.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự, người giám hộ và người được giám hộ phải cùng cư trú trong một phường, xã, thị trấn với mục đích là để có điều kiện thực hiện nghĩa vụ giám hộ, và để chính quyền phường, xã, thị trấn giám sát việc thực hiện giám hộ theo pháp luật đã qui định. Như vậy, rõ ràng là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài không thể làm người giám hộ cho công dân Việt Nam đang sinh sống tại Việt Nam.

Đọc tiếp

ÁN LỆ TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT DÂN SỰ CÁC NƯỚC PHÁP, ĐỨC VÀ VIỆC SỬ DỤNG ÁN LỆ Ở VIỆT NAM

THS. NGUYỄN VĂN NAM – Học viện An ninh nhân dân

Lịch sử áp dụng án lệ ở các hệ thống dân luật thành văn ở Châu Âu đã trải qua các thời kỳ từ chỗ thừa nhận án lệ đến thời kỳ vai trò của án lệ bị từ bỏ trong xu hướng pháp điển hoá pháp luật trong thế kỷ XIX. Nhưng trong suốt thế kỷ XX và đến nay, vai trò của án lệ ngày càng được đề cao trong các hệ thống pháp luật dân sự thành văn ở Châu Âu. Bài viết này cho thấy, án lệ đã có một lịch sử tồn tại và phát triển trong hệ thống pháp luật dân luật thành văn của nước Pháp và Đức ở Châu Âu.

I. Án lệ trong truyền thống dân luật của Pháp và Đức

1. Án lệ trong truyền thống dân luật La Mã trước thế kỷ XIX

Sẽ thú vị nếu chúng ta biết rằng, án lệ đã được nhận thức là có một vai trò quan trọng trong pháp luật La Mã, bằng chứng là việc Hoàng đế Severus (cai trị La Mã từ năm 193 đến năm 211) đã cho phép các thẩm phán bổ sung những lỗ hổng của luật thành văn bằng tập quán và thực tiễn xét xử của các vụ việc tương tự (có thể coi như là hình thức án lệ). Nhưng đến năm 529, Hoàng đế Justinian đã cấm các thẩm phán La Mã quyết định các vụ việc mà không dựa vào luật thành văn. Bốn năm sau, Justinian đã khôi phục lại chính sách của Severus bằng việc cho phép các thẩm phán bổ sung những kẽ hở của pháp luật thành văn khi áp dụng nó. Vì vậy mà trong lịch sử pháp luật La Mã, các văn bản tập hợp các bản án và lời phân tích nó (Digest) được coi là có giá trị pháp lý như là luật khi thẩm phán sử dụng nó1.

Vào thế kỷ XIV, Toà án tối cao của giáo hội Công giáo (Rota Romana) ở Roma đã vận dụng các án lệ vào hoạt động xét xử và các án lệ của nó đã được toà án cấp dưới tuân thủ. Cho đến thế kỷ XVIII, khi luật La Mã được hồi sinh ở Châu Âu lục địa, hình thức pháp luật chung ở Châu Âu ra đời (jus commune)2 thì án lệ vẫn được áp dụng phổ biến ở hệ thống pháp luật các nước Châu Âu sử dụng luật La Mã. Nhưng thực tiễn áp dụng án lệ đã từng bị đánh giá thấp khi xu hướng pháp điển hoá pháp luật diễn ra mạnh mẽ ở Châu Âu bắt đầu từ đầu thế kỷ XIX.

2. Vai trò ngày càng quan trọng của án lệ ở Pháp và CHLB Đức sau thời kỳ pháp điển hoá ở Châu Âu thế kỷ XIX

2.1. Án lệ trong pháp luật Cộng hoà Pháp

Dưới ảnh hưởng của Cách mạng tư sản Pháp và các quan điểm tiến tiến của chủ nghĩa triết học khai sáng, nước Pháp đã mở đầu cho xu hướng pháp điển hoá pháp luật ở Châu Âu. Bộ luật Dân sự (BLDS) Pháp 1804 (còn được gọi là BLDS Napoleon), được xem là một sản phẩm lập pháp nổi tiếng của tiến trình pháp điển hoá pháp luật ở Pháp. Tuy nhiên, sự đề cao quá mức vai trò của các bộ luật được pháp điển hoá đã dẫn đến việc xem nhẹ vai trò của toà án trong phát triển án lệ. Điều 5 BLDS Pháp 1804 đã quy định “Cấm các thẩm phán đặt ra những quy định chung có tính chất quy chế để tuyên án đối với những vụ kiện được giao xét xử”. Điều luật này đã gián tiếp cấm việc sử dụng án lệ trong hoạt động xét xử của các thẩm phán ở Pháp. Các thẩm phán Pháp đã gặp rất nhiều trở ngại trong việc áp dụng những quy định mang tính chất khái quát và nguyên tắc trong BLDS 1804. Các học giả Pháp đã chỉ ra, bên cạnh những ưu việt mà pháp điển hoá đem lại như tính thống nhất, bao quát, tính dễ tiếp cận, pháp điển các bộ luật còn bộc lộ các hạn chế cố hữu như: tính không khả thi do các qui định mang tính chung chung, không rõ; tính lạc hậu do không được cập nhật3. Bản chất và lợi ích của việc thừa nhận án lệ đã được nghiên cứu rất nhiều trong luật học của nước Pháp kể từ khi BLDS 1804 ra đời. Portalis là một luật gia có công tham gia xây dựng BLDS năm 1804 đã cho rằng ‘cần phải có án lệ vì luật không thể giải quyết hết mọi vấn đề của BLDS”4. René David nhận xét: bắt đầu từ đầu thế kỷ XX, ảo tưởng về giá trị của luật thành văn là nguồn luật thuần nhất đã dần bị xoá bỏ5. Trong điều kiện như vậy, vai trò giải thích pháp luật của thẩm phán đã được đề cao để bổ sung những kẽ hở của pháp luật. Một số học giả cho rằng, về bản chất, việc làm luật của thẩm phán là có thể chấp nhận được. “Thật là không thực tế khi nói rằng thẩm phán tuyên bố pháp luật mà không được tạo ra luật. Chúng ta biết rằng, việc áp dụng pháp luật không thể bỏ qua việc giải thích pháp luật”6.

Đọc tiếp

MỘT SỐ NỘI DUNG TRONG LUẬT TRÁCH NHIỆM XÂM HẠI QUYỀN LỢI CỦA NƯỚC CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA

TS. ĐỔNG HIỂU TÙNG (Dong XiaoSong)- Giảng viên Trường Luật – Đại học Vân Nam (Trung Quốc)

Ngày 26/12/2009, Hội nghị lần thứ 12 của Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Quốc hội) khóa XI đã biểu quyết thông qua Luật Trách nhiệm xâm hại quyền lợi của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Luật Trách nhiệm xâm hại quyền lợi – Luật TNXHQL). Luật có hiệu lực từ ngày 1/7/2010. Tiếp sau các luật Luật Hợp đồng, Luật Vật quyền, đây là một đạo luật quan trọng trong lĩnh vực dân sự ở Trung Quốc. Đạo luật này sẽ là một trong các cơ sở để xây dựng xã hội pháp quyền, nó cũng có nghĩa là Trung Quốc tiến thêm một bước mới tới việc định hình một Bộ luật Dân sự.

1. Quá trình xây dựng luật

Những sự việc xâm hại quyền lợi cá nhân như trách nhiệm trong y tế, trách nhiệm với sản phẩm, tai nạn giao thông… xảy ra thường xuyên, hàng ngày. Cùng với sự phát triển của kinh tế – xã hội, các hình thức xâm hại quyền lợi của cá nhân cũng xuất hiện ngày càng nhiều.

Tuy nhiên, những quy định trong pháp luật hiện hành hoặc là mang tính nguyên tắc, hoặc là phân tán trong các đạo luật đơn lẻ, và còn thiếu những quy định về các vấn đề chung đối với trách nhiệm xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể dân sự. Một số quy định lại không còn phù hợp với nhu cầu của cuộc sống xã hội và của thực tiễn tư pháp. Để bảo vệ ngày càng tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể dân sự, xây dựng một xã hội hài hòa, ổn định, cần thiết phải đưa ra những quy định đối với trách nhiệm của việc xâm hại các quyền và lợi ích hợp pháp mang tính quy phạm, đáp ứng nhu cầu cấp thiết của cuộc sống xã hội, xây dựng một đạo luật tương đối hoàn chỉnh về trách nhiệm đối với việc xâm hại quyền lợi hợp pháp.

Việc xây dựng Luật TNXHQL của Trung Quốc được bắt đầu từ khi soạn thảo Bộ luật Dân sự năm 2002. Ngày 23/12/2002, Dự thảo Bộ luật Dân sự được trình lên Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khóa IX thẩm định, sau đó công bố lấy ý kiến của nhân dân trong cả nước, gọi là Dự thảo Luật Dân sự (bản trưng cầu ý kiến). Trong Dự thảo này, đã có một phần nói về TNXHQL. Vì vậy, phần 8 trong Dự thảo Luật Dân sự có thể coi là “sơ thảo lần thứ nhất” của Luật TNXHQL của Trung Quốc.

Sau đó, các nhà lập pháp thấy rằng, Dự thảo Luật Dân sự (bản trưng cầu ý kiến) gồm hơn 1.200 điều, đề cập đến quá nhiều lĩnh vực, nội dung phức tạp, việc sửa đổi, thẩm định của một đạo luật như vậy cần một thời gian quá dài, khả năng hoàn chỉnh là rất khó khăn. Do vậy, các nhà lập pháp quyết định chia Dự thảo Luật Dân sự thành từng phần để sửa đổi và thông qua, ban hành dưới các hình thức đạo luật đơn hành. Sau khi ban hành các đạo luật đơn hành, sẽ ghép các đạo luật này lại thành hình thức một Bộ luật để biên soạn Bộ luật Dân sự.

Đọc tiếp

KINH NGHIỆM QUẢN LÝ DỊCH VỤ ĐÒI NỢ TẠI HÀN QUỐC

image N.A

Trước năm 1995, tại Hàn Quốc dịch vụ đòi nợ vẫn chưa có sự điều chỉnh bởi pháp luật. Do đó, giai đoạn này dịch vụ đòi nợ hợp pháp hoạt động rất yếu, trong khi đó dịch vụ đòi nợ bất hợp pháp lại rất phát triển dưới hình thức đòi nợ thuê do các băng nhóm xã hội đen thực hiện. Để khắc phục tình trạng này, đồng thời đáp ứng nhu cầu về dịch vụ đòi nợ của các doanh nghiệp trong nền kinh tế, năm 1995 Hàn Quốc đã ban hành Luật về thông tin tín dụng, trong đó có quy định về dịch vụ đòi nợ.

Sự ra đời của Bộ Luật này và các văn bản hướng dẫn thực hiện đã tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi cho sự phát triển của dịch vụ đòi nợ hợp pháp tại Hàn Quốc. Đáng chú ý là, từ sau cuộc khủng hoảng tài chính khu vực năm 1997, nhu cầu về dịch vụ đòi nợ tại Hàn Quốc tăng đột biến, làm cho hoạt động dịch vụ đòi nợ hợp pháp đã phát triển nhanh chóng tại Hàn Quốc. Theo thống kê, đến năm 2005, tại Hàn Quốc đã có 22 công ty dịch vụ đòi nợ hoạt động trong phạm vi toàn quốc, các công ty này đã có những đóng góp tích cực vào việc giải quyết nhanh tình trạng công nợ dây dưa ở Hàn Quốc trong những năm gần đây, đặc biệt là tình trạng công nợ xấu phát sinh từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997. Trong phạm vi bài viết này xin giới thiệu về kinh nghiệm quản lý dịch vụ đòi nợ tại Hàn Quốc để bạn đọc tham khảo.

Tại Hàn Quốc, hoạt động dịch vụ đòi nợ được hiểu là việc đại diện cho chủ nợ để đòi nợ thông qua các hoạt động thúc giục khách nợ trả nợ như: Gọi điện thoại, gửi thư hoặc gặp trực tiếp khách hàng để yêu cầu trả nợ. Hoạt động dịch vụ đòi nợ còn bao gồm cả việc điều tra tình hình tài sản và tài chính của khách nợ trên cơ sở khai thác những thông tin cá nhân của khách nợ tại các trung tâm lưu giữ thông tin của Nhà nước, như thông tin về tên, tuổi, địa chỉ, tình trạng hôn nhân của khách nợ, thông tin về thu nhập và tình trạng nộp thuế của khách nợ, thông tin về tình hình đăng ký tài sản (như nhà, đất, phương tiện vận tải, chứng khoán,…) thuộc sở hữu của khách nợ (tức là không nhất thiết chỉ thuộc phạm vi tài sản thế chấp). Ngoài ra, hoạt động dịch vụ đòi nợ không bao gồm hoạt động tư vấn pháp luật liên quan đến việc đòi nợ.

Pháp luật Hàn Quốc quy định, phạm vi các khoản nợ được phép thực hiện bởi hoạt động dịch vụ đòi nợ là các khoản nợ giữa các tổ chức kinh tế với các tổ chức kinh tế, giữa tổ chức kinh tế với cá nhân mà trong quan hệ đó tổ chức kinh tế là chủ nợ. Các khoản nợ này bao gồm cả nợ trong nước và nợ có yếu tố nước ngoài. Các khoản nợ về thuế và các khoản nợ mà cá nhân là chủ nợ chưa được phép thực hiện bởi dịch vụ đòi nợ.

Tuy nhiên, pháp luật Hàn Quốc cũng quy định, cá nhân không được phép kinh doanh dịch vụ đòi nợ. Chỉ các công ty dịch vụ đòi nợ được cấp giấy phép hoạt động mới được phép kinh doanh dịch vụ đòi nợ. Các công ty dịch vụ đòi nợ không được phép đồng thời kinh doanh các ngành nghề khác ngoài hoạt động dịch vụ đòi nợ, đặc biệt là không được phép kinh doanh ngành nghề mua bán nợ. Quy định này nhằm đảm bảo cho hoạt động dịch vụ đòi nợ được thực hiện đúng pháp luật, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nợ và khách nợ.

Đọc tiếp

VIỆC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CỦA CƠ QUAN NHÀ NƯỚC Ở TRUNG QUỐC VÀ NHẬT BẢN

TRẦN THỊ THU THỦY

1. Trung Quốc về Bồi thường thiệt hại

Vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cơ quan tiến hành tố tụng ở Trung Quốc được quy định trong Luật bồi thường Nhà nước – một chế định pháp luật điều chỉnh quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại. Hiện nay nhà nước Trung Quốc thừa nhận và chịu trách nhiệm bồi thường đối với hành vi vi phạm pháp luật do cơ quan nhà nước và nhân viên cơ quan nhà nước gây ra tổn hại thực tế cho công dân, pháp nhân hay tổ chức khác. Đây là một loại trách nhiệm pháp luật đặc thù được thể  hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất, đặc điểm nổi bật của bồi thường nhà nước là nhà nước thừa nhận trách nhiệm pháp luật và chi trả tiền bồi thường. Trong trường hợp nhân viên cơ quan nhà nước có hành vi vi phạm pháp luật gây tổn hại cho công dân, pháp nhân hay tổ chức khác thì nhân viên đó không trực tiếp bồi thường cho người bị tổn hại mà nhà nước sẽ đứng ra gánh vác trách nhiệm bồi thường cho người bị hại đó. Đặc điểm này không giống với bồi thường dân sự mà ở đó thực hiện nguyên tắc “người nào vi phạm, người đó phải bồi thường”.

Nhà nước thừa nhận trách nhiệm và cơ quan nhà nước có trách nhiệm thực thi nghĩa vụ bồi thường. Đặc điểm nổi bật của bồi thường nhà nước là nhà nước thừa nhận trách nhiệm pháp luật và chi trả tiền bồi thường. Trong trường hợp nhân viên cơ quan nhà nước có hành vi vi phạm pháp luật gây tổn hại cho công dân, pháp nhân hay tổ chức khác thì nhân viên đó không trực tiếp bồi thường cho người bị hại đó. Đặc điểm này không giống với bồi thường dân sự mà ở đó thực hiện nguyên tắc “người nào vi phạm, người đó phải bồi thường”.

Đọc tiếp

KHỦNG HOẢNG CHO VAY THẾ CHẤP DƯỚI CHUẨN Ở MỸ: BÀI HỌC VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

PHẠM TOÀN THIỆN – Phòng 1217, Toà nhà Crystal, Số 2000 phố South Eads, Arlington, Virginia 22202, Hoa Kỳ

Tóm tắt. Hầu như không có bất kỳ dấu hiệu cảnh báo nào, khủng hoảng cho vay thế chấp dưới chuẩn ở Mỹ đã bất ngờ nổ ra vào giữa năm 2007. Cuộc khủng hoảng này có tác động mạnh đến cả hệ thống tài chính lẫn nền kinh tế thực. Các cơ quan điều tiết tài chính của Mỹ, từ Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED), Ủy ban Chứng khoán (SEC) cho tới Bộ Tài chính đều đã phải vào cuộc nhằm giải quyết khủng hoảng. Nguồn gốc ban đầu của cuộc khủng hoảng tồi tệ này là sự chứng khoán hoá các khoản cho vay mua nhà không đủ tiêu chuẩn.

Thnht, cơ chế cho vay đã bị đơn giản hoá, dựa hoàn toàn vào những đánh giá của các công ty đánh giá mức độ tín nhiệm, dẫn đến nhiều khoản vay không đủ chuẩn.

Thứ hai, cơ chế chứng khoán hoá đã đánh đồng các khoản vay đủ chuẩn và không đủ chuẩn, gây ra cả bong bóng nhà đất lẫn chứng khoán. Kiến nghị của bài viết này là cần xem xét lại chức năng của chứng khoán hoá với tư cách là một công cụ tài chính, tránh việc đầu tư chủ yếu dựa vào đánh giá của các tổ chức đánh giá mức độ tín nhiệm, tìm ra phương thức định giá tài sản trong điều kiện thiếu thanh khoản, tăng tính minh bạch về rủi ro ngân hàng và suy ngẫm về mô hình kinh doanh mới.

Bài viết sử dụng khủng hoảng cho vay thế chấp dưới chuẩn trong hệ thống tài chính toàn cầu như một ví dụ về tầm quan trọng của quản trị rủi ro trong các tổ chức tài chính. Cũng như Oxy, quản trị rủi ro chỉ được quan tâm khi thiếu nó. Thông thường, khi quản trị rủi ro hoạt động, chúng ta xem nhẹ nó, song khi nó ngừng hoạt động thì hệ thống “chuyển động” chậm lại và dừng hẳn…

Đọc tiếp

ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẤT ĐỘNG SẢN TRONG LUẬT DÂN SỰ PHÁP VÀ SO SÁNH VỚI VIỆC ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM Ở VIỆT NAM

THS. ĐOÀN THỊ PHƯƠNG DIỆP – Khoa Kinh tế – Luật, ĐHQG thành phố Hồ Chí Minh

Việc đăng ký giao dịch bất động sản trong luật dân sự Pháp là một cơ chế hữu hiệu cho việc bảo vệ quyền lợi của bên có quyền trong quan hệ nghĩa vụ có liên quan đến bất động sản. Trong khi đó, luật Việt Nam chỉ quan tâm đến việc đăng ký giao dịch bảo đảm, mà cụ thể là hợp đồng thế chấp theo quy định của Nghị định 163/CP năm 2006. Và hiện nay vẫn tồn tại song song bên cạnh Nghị định này một Nghị định khác cùng điều chỉnh vấn đề về đăng ký giao dịch bảo đảm, đó là Nghị định 08/CP năm 2000. Tuy nhiên, cả hai Nghị định này hiện vẫn còn nhiều điểm chưa hoàn toàn phù hợp với thực tế. Để bảo vệ quyền lợi của các bên có quyền một cách thật sự có hiệu quả, các quy định của pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này cần thiết phải được hoàn thiện nhanh chóng.

Chế định đăng ký giao dịch bất động sản trong luật dân sự của Pháp xuất hiện từ khá sớm trong lịch sử. Bắt đầu với Đạo luật số 9 tháng Gặt hái năm 17951 về thế chấp tài sản, vấn đề đăng ký đặt ra một cách có hệ thống đối với tất cả các giao dịch thế chấp tài sản với mục đích nhằm khuếch trương các giao dịch thế chấp tài sản, đưa các giao dịch này vào sự quản lý một cách có tổ chức của pháp luật. Tuy nhiên, đạo luật này nhanh chóng bị hủy bỏ bởi đạo luật được ban hành sau đó vào năm 1798. Đó là đạo luật số 11 tháng Sương mù (ngày 01/11/1798) và vấn đề đăng ký giao dịch thế chấp lại được đặt ra với mục đích mới quan trọng và rõ ràng hơn trước, nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ nợ nhận thế chấp. Đạo luật này thiết lập một hệ thống các cơ quan đăng ký giao dịch thế chấp trong tất cả các đơn vị hành chính cấp quận, cơ quan này chịu trách nhiệm thực hiện việc đăng ký với hai nhóm giao dịch khác nhau, vào sổ đăng ký giao dịch thế chấp và ghi nhận quyền ưu tiên2 đối với một số chủ nợ và đăng ký việc sao lại3 các giao dịch được thiết lập trên bất động sản. Với loại đăng ký thứ hai này, cơ quan đăng ký sẽ “sao chép” một phần hay toàn văn giao dịch có liên quan đến bất động sản, đặc biệt là các giao dịch liên quan đến việc định đoạt, chuyển nhượng bất động sản, các sao chép này được lưu giữ tại cơ quan đăng ký như một biện pháp đăng ký đích thực.

Việc không đăng ký các giao dịch phải đăng ký theo luật này sẽ dẫn đến kết quả là hợp đồng thế chấp hay các giao dịch chuyển nhượng bất động sản nói chung sẽ không phát sinh giá trị đối kháng với người thứ ba. Hay nói cách khác là các giao dịch này chỉ có giá trị pháp lý trong quan hệ giữa các bên tham gia giao dịch mà không phát sinh giá trị pháp lý đối với người thứ ba, tức là các bên không thể viện dẫn việc xác lập giao dịch để bảo vệ quyền của mình đối với một người thứ ba có liên quan. Có thể nói, các quy định ban đầu này về đăng ký giao dịch bất động sản ở Pháp nhìn chung đã rất tiến bộ so với các quy định cùng thời kỳ trong các lĩnh vực pháp lý khác.

Đọc tiếp

PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC Ở MỘT SỐ NƯỚC CHÂU ÂU

TRẦN THỊ THU THỦY

1. Quy định về trách nhiệm bồi thường nhà nước ở Cộng hòa Liên bang Đức

Cộng hoà liên bang Đức không có Luật liên bang về trách nhiệm bồi thường nhà nước. Cơ sở pháp lý cho việc bồi thường nhà nước là những điều khoản lẻ tẻ và không hệ thống được quy định rải rác trong Hiến pháp; Bộ luật dân sự; Luật phòng, chống lây nhiễm; Luật bồi thường đối với các biện pháp hình sự…Khi chủ thể của hành vi công quyền trong lĩnh vực luật công mà hành vi của họ vi phạm quyền lợi của công dân, Hiến pháp Đức bảo đảm cho công dân sự bảo vệ pháp lý khi công chức nhà nước có hành vi vi phạm quyền lợi của họ. Theo đó, công dân khả năng được đề nghị thẩm định tính hợp pháp của hành vi nói trên (bảo vệ pháp lý nguyên phát). Sự bảo vệ pháp lý ấy còn được bổ sung bởi Luật về trách nhiệm bồi thường nhà nước (ở một số bang mới sáp nhập) vì bên cạnh việc thẩm định hành vi công quyền qua Toà án, Luật này đưa ra khả năng đòi bồi thường hậu quả của sự vi phạm trên (bảo vệ pháp lý thứ phát).

Ở Đức, công dân có quyền khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại, yêu cầu xoá bỏ hậu quả bất lợi trong một số trường hợp sau:

Thứ nhất, khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ công vụ của công chức. Người bị thiệt hại có thể đòi bồi thường toàn bộ thiệt hại, kể cả thu nhập (lãi) bị mất và tiền bồi thường cho thiệt hại tinh thần. Tuy nhiên, trong trường hợp vi phạm đó xảy ra do vô tình, công chức chỉ bị quy trách nhiệm nếu người bị thiệt hại không được bồi thường bằng một cách khác.

Thứ hai, khi có các biện pháp và quyết định bất hợp pháp của ngành tư pháp.

Khi thẩm phán có hành vi vi phạm nghĩa vụ công vụ trong quá trình xét xử, Nhà nước chỉ chịu trách nhiệm nếu sự vi phạm đó đồng thời là tội phạm (bóp méo luật hoặc nhận hối lộ). Trong trường hợp phán quyết của Thẩm phán trong thủ tục thi hành án, lệnh trong tố tụng hình sự hoặc nghị quyết trong các thủ tục nhằm xác định án phí hoặc ấn định giá trị tố tụng sẽ được ngoại trừ để bảo vệ sự độc lập của Thẩm phán, bảo vệ hiệu lực pháp luật của các phán quyết Nhà nước.

Đọc tiếp

PHÂN TÍCH CÁC KHÍA CẠNH PHÁP LÝ CỦA LUẬT BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở ẤN ĐỘ

QUYẾT THẮNG (Tổng hợp)

Ở Ấn Độ, Luật bảo vệ người tiêu dùng được thực thi vào năm 1986 nhằm hệ thống hóa các thủ tục pháp lý và luật pháp liên quan đến người tiêu dùng và được xem như là một trong những thành tựu nổi bật trong quá trình hệ thống hóa của Ấn Độ. Mục tiêu của Luật này là bảo vệ tốt hơn các quyền lợi của người tiêu dùng – bảo vệ người tiêu dùng khỏi các hành vi gây thiệt hại như hàng hóa và dịch vụ khuyết tật, các hành vi thương mại không lành mạnh cũng như các dịch vụ lừa dối hoặc không chính đáng.

Luật này cũng tạo cơ sở pháp lý cho các Ủy ban Bảo vệ người tiêu dùng (những cơ quan có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự cần thiết phải bảo vệ người tiêu dùng và đem lại 6 quyền lợi cho người tiêu dùng: quyền được an toàn, quyền được thông báo, quyền được lựa chọn, quyền được lắng nghe, quyền được bồi thường, và quyền được giáo dục về tiêu dùng.

Luật này cung cấp một cơ chế giải quyết tranh chấp 3 cấp. Người tiêu dùng có thể gửi khiếu nại lên các “Tòa án Người tiêu dùng có cơ chế đặc biệt (còn gọi là Tòa án người tiêu dùng). Cơ chế của Tòa án này như sau: Tòa án quận, các hội đồng bang, hội đồng quốc gia giải quyết tranh chấp người tiêu dùng. Những cơ quan này có thẩm quyền tương tự như các tòa án dân sự theo Luật tố tụng dân sự, 1908. Tùy thuộc vào bản chất từng vụ việc, khiếu nại có thể được gửi đến bất kỳ cơ quan nào trong ba cơ quan trên. Các thủ tục trong những vụ kiện này đơn giản hơn rất nhiều so với các thủ tục tòa án thông thường. Tuy nhiên, bên khiếu nại có thể tự mình đưa vụ việc này ra tòa mà không cần phải có luật sư. Luật này cũng cho phép khiếu nại tập thể.

Sau khi phán quyết được đưa ra, nếu có bất kỳ bên nào không thỏa mãn thì sẽ mở phiên phúc thẩm. Phán quyết của Tòa án Quận sẽ do Hội đồng bang xét xử phúc thẩm, còn phán quyết của Hội đồng Bang sẽ do Hội đồng Quốc gia xét xử phúc thẩm.

Đọc tiếp

NHÀ CAO TẦNG – KINH NGHIỆM TỪ NHẬT BẢN

TẠP CHÍ KIẾN TRÚC -  Lên đến 183.784 căn hộ vào đỉnh điểm trong năm 2000, việc cung cấp các căn hộ tại Nhật Bản hiện đang tiếp tục suy giảm dần dần tại các đô thị lớn và vùng ngoại ô. Việc cung cấp căn hộ tập trung tại những khu vực giao thông thuận tiện và dịch vụ công cộng tốt đang gia tăng, đồng thời giảm mạnh tại những khu vực không thích hợp xây dựng chung cư như: vùng ngoại ô của các đô thị cực lớn.

Nhà ở cao tầng tại Nhật Bản, định hướng và những thành công đạt được

Người Nhật đặt tiêu chuẩn nào để đánh giá chất lượng ở của chung cư?

Chung cư Nhật muốn được xem là cao cấp, ngoài thiết kế, trang thiết bị sang trọng, giá cả và vị trí tương xứng, còn phải đáp ứng nhu cầu tiện lợi giao thông, cảnh quan đẹp, không gian công cộng và không gian trống công cộng cao cấp. Ngay cả khi quy mô khu đất đủ lớn để xây dựng chung cư cao cấp, giá cả, vị trí, thiết kế và trang thiết bị hợp lý, người ta cũng không thể gọi những chung cư này là hoàn hảo, trừ khi chúng đáp ứng được yêu cầu về giao thông.

Lên đến 183.784 căn hộ vào đỉnh điểm trong năm 2000, việc cung cấp các căn hộ tại Nhật Bản hiện đang tiếp tục suy giảm dần dần tại các đô thị lớn và vùng ngoại ô. Việc cung cấp căn hộ tập trung tại những khu vực giao thông thuận tiện và dịch vụ công cộng tốt đang gia tăng, đồng thời giảm mạnh tại những khu vực không thích hợp xây dựng chung cư như: vùng ngoại ô của các đô thị cực lớn. Tai đây, việc xây dựng chung cư giảm mạnh đã chuyển thành nơi xây dựng các nhà ở biệt lập trong khi việc xây dựng chung cư tập trung mạnh tại trung tâm của Tokyo.

Thực ra chung cư là một hình thức nhà ở cho phép cư dân được sống gần những khu thương mại dịch vụ. Sống trong chung cư đồng nghĩa với việc có được lợi thế về nhiều tiện nghi của đô thị hiện đại trong cuộc sống hàng ngày, được hưởng dụng tiện nghi và trang bị của các đô thị cũng như truyền thống lịch sử, hưởng dụng mặt nước và cảnh quan mảng xanh.

Đọc tiếp

QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN TRONG CÁC VĂN KIỆN QUỐC TẾ * *

THS. NGUYỄN QUỲNH LIÊN – Bộ Tư pháp

Ngày càng có nhiều các điều ước, hiệp ước quốc tế, kế hoạch hành động, các tuyên bố quốc tế yêu cầu hoặc khuyến khích các quốc gia ban hành Luật Tự do thông tin, đặc biệt trong lĩnh vực chống tham nhũng, trong đó hầu hết các điều ước quốc tế mới được ký kết đều đặt ra yêu cầu các quốc gia thành viên phải ban hành Luật nhằm tăng cường khả năng tiếp cận thông tin của công chúng.

Ngày càng có nhiều các điều ước, hiệp ước quốc tế, kế hoạch hành động, các tuyên bố quốc tế yêu cầu hoặc khuyến khích các quốc gia ban hành Luật Tự do thông tin, đặc biệt trong lĩnh vực chống tham nhũng, trong đó hầu hết các điều ước quốc tế mới được ký kết đều đặt ra yêu cầu các quốc gia thành viên phải ban hành Luật nhằm tăng cường khả năng tiếp cận thông tin của công chúng. Đa số các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường cũng có quy định về quyền tiếp cận thông tin của công chúng, nhấn mạnh đến việc khuyến khích các quốc gia ban hành pháp luật về tiếp cận thông tin môi trường cũng như Luật Tự do thông tin. Quyền tự do thông tin ngày càng được thừa nhận như là một quyền cơ bản của con người trong các điều ước quốc tế về nhân quyền cũng như trong các Hiệp định khu vực.

1. Khái quát về quyền tiếp cận thông tin trong các Công ước của Liên hiệp quốc

Trong những văn kiện pháp lý đầu tiên về quyền con người, quyền tiếp cận thông tin không được nêu riêng biệt mà bao hàm trong quyền tự do biểu đạt bao gồm quyền tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin. Năm 1948, Đại hội đồng Liên hiệp quốc (LHQ) thông qua Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới (UDHR), theo đó, quyền tự do tư tưởng và tự do biểu đạt được bảo đảm: “Mọi người có quyền tự do tư tưởng và tự do biểu đạt; quyền này bao gồm tự do phát biểu ý kiến mà không bị can thiệp và tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin và ý tưởng thông qua bất cứ phương tiện truyền thông nào và bất kể biên giới” (Điều 19).

Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), một Công ước có giá trị pháp lý ràng buộc, được Đại hội đồng LHQ thông qua vào năm 1966 (tại Điều 19 của Công ước) cũng đã đưa ra quy định về việc bảo đảm quyền tự do tư tưởng và tự do biểu đạt của con người tương đồng với quy định tại Điều 19 của Tuyên ngôn:

Đọc tiếp

KINH NGHIỆM PHÁP LUẬT CỦA PHÁP VÀ EU VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG

TS. NGUYỄN HỮU HUYÊN

Cộng hoà Pháp nói riêng và Liên minh Châu Âu nói chung là một trong những mảnh đất nơi mà vấn đề quyền con người (nói chính xác hơn là quyền cá nhân) được quan tâm nhiều khi đến mức cao hơn cả chủ quyền quốc gia[1] . Đó là một trong những hệ quả của cuộc cách mạng tư sản và gắn với nó là nhu cầu giải phóng con người, tôn trọng các giá trị tự nhiên của con người.

Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng có thể nói là một khía cạnh tiêu biểu của xu hướng này, được cả xã hội nhìn nhận từ lâu như một trong những nhu cầu tự nhiên của quá trình lập pháp. Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng ở cộng hoà Pháp nói riêng và EU nói chung đang ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật và hơn thế, nó đã và đang được "chính trị hoá" ở mức độ khác nhau bởi lẽ rất đơn giản các chính trị gia tồn tại trên lá phiếu của cử tri mà tất cả các cử tri đều là người tiêu dùng. Các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng, vì thế, cũng rất được "ưu ái", thể hiện ở sự đa dạng từ các thiết chế quyền lực nhà nước đến các tổ chức xã hội dân sự. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi giới thiệu những nét chính pháp luật của Pháp và EU về bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, với hy vọng cung cấp thông tin tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này. Bài viết sẽ tập trung làm sáng tỏ các vấn đề sau:

- Tại sao phải có pháp luật bảo vệ người tiêu dùng?

- Các chế định cơ bản của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng

- Sự can thiệp của Nhà nước vào quá trình bảo vệ người tiêu dùng.

I. NHU CẦU PHẢI CÓ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở PHÁP VÀ EU:

Ngay từ thời La Mã cổ đại, pháp luật dân sự ra đời để điều chỉnh các giao lưu dân sự chủ yếu giữa các cá nhân với nhau. Bộ luật dân sự nổi tiếng Na-pô-lê-ông của Pháp ra đời năm 1804 đánh dấu bước phát triển hết sức quan trọng trong lịch sử lập pháp của Pháp nói riêng và thế giới nói chung, theo đó về cơ bản các giao dịch dân sự đều đã có chế định tương ứng để điều chỉnh. Tuy nhiên, do khoa học kỹ thuật không ngừng phát triển, kéo theo nó là những hàng hoá, sản phẩm ngày càng phong phú, đa dạng với hàm lượng chất xám, tính năng công nghệ cao, pháp luật dân sự đã ngày càng bộc lộ những bất cập, cụ thể là:

Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 646 other followers

%d bloggers like this: