TRAO ĐỔI VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP TIỀN GỬI TIẾT KIỆM

PHAN THỊ VÂN HƯƠNG – Tòa dân sự – TANDTC

1. Nội dung tranh chấp:

Ngày 01/2/2006, ông A gửi tiết kiệm số tiền 100.000.000 đồng tại Ngân hàng B, thời hạn 3 tháng, lãi suất 1%/tháng. Sổ tiết kiệm có ghi: “Đến kỳ hạn, khách hàng không đến nhận lại vốn hoặc làm thủ tục gửi tiếp thì số vốn đáo hạn sẽ không sinh lãi tiếp”. Ngày 01/5/2006, ngày 1/8/2006 ông A đến Ngân hàng làm thủ tục đáo hạn thêm tổng số 2 kỳ hạn (3 tháng) nữa, sau đó không tiếp tục đáo hạn.

Ngày 01/02/2011, ông A đem sổ tiết kiệm đến Ngân hàng để rút toàn bộ tiền gốc, lãi, yêu cầu trả lãi đến ngày 01/02/2011. Ngân hàng B chỉ chấp nhận trả ông A số tiền gốc 100.000.000 đồng và lãi của 3 kỳ mỗi kỳ 3 tháng, tổng số là 109.272.000 đồng, từ chối trả lãi từ 01/11/2006 đến 01/02/2011 với lý do ông A không đến đáo hạn theo thỏa thuận. Hai bên không thống nhất được số tiền Ngân hàng trả. Ngày 02/01/2012, ông A khởi kiện Ngân hàng B yêu cầu trả lãi từ 1/11/2006 đến ngày xét xử sơ thẩm, lãi theo thỏa thuận trong hạn, ngoài hạn tính lãi theo lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước quy định với từng kỳ hạn 3 tháng lãi nhập gốc. Cách tính như sau: lãi trong hạn kỳ 1-2-3 theo lãi thỏa thuận 3%/kỳ- tính đến 31/10/2006 là 109.272.000 đồng; từ kỳ thứ 4 bắt đầu từ ngày 1/11/2006 lãi suất theo lãi cơ bản Ngân hàng Nhà nước đối với từng kỳ hạn 3 tháng: kỳ 4 (0,6875%/tháng- Quyết định số 1887/QĐ-NHNN ngày 29/09/2006) gốc và lãi đến kỳ 5 là 111.523.003 đồng; kỳ 5 từ 1/2/2007… tính đến ngày xử sơ thẩm tháng 5 năm 2011 là khoảng 165.000.000 đồng (tính tròn) .

2. Các quan điểm về việc giải quyết tranh chấp:

Ý kiến thứ nhất: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ý kiến thứ hai: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc Ngân hàng B phải trả ông A 109.272.000 đồng gốc và lãi trong hạn (9 tháng) đến ngày 31/10/2006; trả lãi theo lãi suất cơ bản 9%/năm kể từ ngày 1/11/2006 đến ngày xét xử sơ thẩm 5/2011. Cụ thể số tiền phải trả là 158.000.000 đồng (tính tròn).

Đọc tiếp

TRANH CHẤP VỀ THỰC HIỆN QUYỀN TRONG BẢO ĐẢM NGHĨA VỤ DÂN SỰ: NGÂN HÀNG TỰ Ý BÁN TÀI SẢN THẾ CHẤP

HỒNG TÚ

Thay vì kiện người vay tiền ra tòa để tài sản thế chấp được xử lý theo đúng quy định, một ngân hàng đã tự lập hội đồng định giá và bán luôn tài sản thế chấp.

Theo phản ánh của ông Trương Nhân Tiến, người vay tiền, tài sản thế chấp là gần 29.000 m2 đất (trong đó có 400 m2 đất thổ cư) cùng một số tài sản trên đất tại xã Tân Hà, huyện Lâm Hà, Lâm Đồng.

Tự xác định người vay bỏ trốn

Ông Tiến cho biết: Năm 2000, ông có vay của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn – Chi nhánh huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng (viết tắt là Agribank Lâm Hà) 50 triệu đồng để dùng vào việc chăm sóc cây cà phê. Thời hạn vay được tính từ thời điểm ký kết hợp đồng cho đến khi gia đình ông Tiến trả hết nợ cả gốc và lãi. Để đảm bảo việc trả nợ, ông thế chấp số tài sản trên.

Sau đó, do gặp khó khăn trong việc trồng cà phê như nhiều hộ gia đình khác, ông không tiếp tục trồng cà phê nữa mà đến Cam Ranh (Khánh Hòa) buôn bán. Tháng 4-2013, khi có đủ điều kiện kinh tế, gia đình ông liên hệ Agribank Lâm Hà để thanh lý hợp đồng tín dụng thì mới biết hợp đồng tín dụng trên đã được thanh lý và ngân hàng đã thu hết nợ (!).

Tìm hiểu thêm, ông được biết vào năm 2003, Agribank Lâm Hà đã lập bốn biên bản xác minh việc gia đình ông đang còn nợ vay ngân hàng nhưng bỏ trốn khỏi địa phương. Tháng 9-2005, căn cứ vào các biên bản xác minh người vay bỏ trốn, Agribank Lâm Hà đã tự tiến hành kê biên tài sản. Đến tháng 7-2008, Agribank Lâm Hà tự lập hội đồng định giá tài sản thế chấp và bán luôn cho một người khác với giá 50 triệu đồng. Ngoài người này thì còn có một nhân viên của ngân hàng cùng khai thác và sử dụng đất từ năm 2006.

Ông Tiến không hài lòng: “Đúng là tôi còn mắc nợ nhưng nếu muốn bán đất của tôi, ngân hàng phải kiện ra tòa. Đã vậy, trong biên bản bán tài sản thế chấp, phía ngân hàng còn đưa ra giấy ủy quyền thể hiện gia đình tôi đã ủy quyền cho ngân hàng xử lý tài sản thế chấp. Thật là vô lý!”.

Đọc tiếp

ĐÃ KÝ HỢP ĐỒNG TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, CÓ QUYỀN RÚT HỒ SƠ KHÔNG?

HUỲNH MINH KHÁNH – Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang

Năm 1999, để tiện việc vay vốn ngân hàng, phục vụ cho việc kinh doanh, chị T đã hỏi mượn đất của mẹ là bà K. Sau đó, chị T và bà K đã lập một giấy viết tay về việc cho mượn đất. Cả hai mẹ con đã cùng đến UBND xã ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất để người con gái đứng tên.

Đầu năm 2012, do có muốn lấy đất lại để sau này chia đều cho các người con khác nên bà K đã yêu cầu chị T chuyển trả lại phần đất mà chị T đã mượn, chị T đồng ý. Hai mẹ con cùng đến UBND xã chứng thực hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất. Và toàn bộ hồ sơ đã được nộp tại UBND xã để chuyển đến huyện, hẹn ngày nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ba ngày sau, người con gái thay đổi ý kiến nên đã đến UBND xã xin rút toàn bộ hồ sơ tặng cho quyền sử dụng đất thì được UBND xã giải quyết giao lại toàn bộ hồ sơ cho người con gái.

Đến ngày hẹn theo giấy hẹn, người mẹ đến UBND xã để nhận kết quả giải quyết thì được biết người con gái đã rút toàn bộ hồ sơ nên bà mẹ bức xúc và đã khiếu nại đối với UBND xã. Vậy việc làm của UBND xã có đúng pháp luật hay không?

Quan điểm thứ nhất cho rằng: việc làm của UBND xã là sai pháp luật vì hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa người mẹ và người con hoàn toàn tự nguyện và đã được UBND xã chứng thực theo qui định của pháp luật. Trong dân gian có câu: “bút xa gà chết”, nên khi đã ký thì người con gái không được quyền thay đổi ý kiến, không được quyền hủy việc tặng cho mà mình đã tự nguyện xác lập.

Đọc tiếp

RÚT KINH NGHIỆM VỀ VỤ ÁN “YÊU CẦU BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI VỀ SỨC KHỎE”

HẢI YẾN

Ngày 12/9/2012, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã mở phiên toà phúc thẩm xét xử và tuyên huỷ vụ án “Yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khoẻ ” giữa: Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Nam, trú tại Thôn 3, xã Ea Kpam, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thêm, trú tại số 34 Bà Triệu, thị trấn Quảng Phú, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk. Và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Mai Văn Thụ, trú quán: Thôn Mậu Tài, thị trấn Nga Sơn, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Ngày 19/9/2012, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk có Thông báo rút kinh nghiệm số 763/TB -VKS – P5 đối với vụ án nói trên.

Nội dung vụ án:

Ngày 26/12/2010, Bà Nguyễn Thị Nam điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47H1 – 1931 trên đường liên xã đi theo hướng từ xã Ea H’Ding đến xã Ea Kpam, huyện Cư M’gar. Khi đi đến đoạn đường thôn 6, xã Ea Kpam thì bị Mai Công Hậu (sinh năm 1995) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47FB – 0098 chạy ngược chiều không đúng phần đường đâm vào. Hậu quả bà Nam bị gãy xương đùi phải, thiệt hại 30% sức khoẻ. Sau khi bị tai nạn, bà Nam điều trị thương tích tại bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk 10 ngày (từ 26/12/2010 đần 05/01/2011).Ngày 31/12/2010, bà Nguyễn Thị Thêm (mẹ đẻ của Mai Công Hậu) đã bồi thường cho bà Nam 3.000.000đ (ba triệu đồng). Hành vi gây tai nạn cho bà Nam của Hậu chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cư M’gar chỉ xử lý hành chính đối với Hậu. Do hai bên không thoả thuận được việc bồi thường thiệt hại về sức khoẻ cho bà Nam, nên ngày 14/4/2011, bà Nam khởi kiện dân sự tại Toà án nhân dân huyện Cư M’gar, yêu cầu gia đình Mai Công Hậu phải bồi thường cho bà toàn bộ chi phí điều trị thương tích và tiền sửa chữa xe máy là 85.755.000đ.

Đọc tiếp

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI ĐƯỢC GIÁM HỘ GÂY RA: CON TÂM THẦN ĐÂM NGƯỜI, CHA MẸ PHẢI BỒI THƯỜNG?

PHÚC TÂN

Do có mâu thuẫn từ trước vì tranh chấp đất đai, sáng 31-7-2010, giữa gia đình bà DTDT và vợ chồng ông NHM (cùng ngụ huyện Mang Thít, Vĩnh Long) đã xảy ra cự cãi, xô xát.

Trong lúc hai bên xô xát, con gái của ông M. đã dùng dao đâm bà T.

Theo kết quả giám định, bà T. bị tổn hại sức khỏe 45%. Tuy nhiên, Công an huyện Mang Thít không khởi tố con gái của ông M. vì người này bị bệnh tâm thần, chỉ áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Sau đó, TAND huyện Mang Thít cũng ra quyết định tuyên bố con gái của ông M. bị mất năng lực hành vi dân sự.

Tháng 5-2011, bà T. đã gửi đơn đến TAND huyện Mang Thít khởi kiện vợ chồng ông M. đòi bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại. Theo bà T., thương tật của bà do con gái của ông M. gây ra nhưng người này bị mất năng lực hành vi dân sự nên vợ chồng ông M. (người giám hộ của người bệnh) phải bồi thường tổng cộng gần 80 triệu đồng.

Trong các buổi hòa giải, vợ chồng ông M. không chịu bồi thường, nại rằng bà T. có lỗi là đánh con gái của ông bà trước. Việc con gái của ông bà có dùng dao đâm bà T. hay không vợ chồng ông bà cũng không biết. Hơn nữa, con gái của ông bà đã hơn 18 tuổi nên ông bà không phải chịu trách nhiệm với hành vi của con. Mặt khác, cô này lại bị mất năng lực hành vi dân sự nên phải được miễn trách nhiệm bồi thường mới đúng…

Mới đây, TAND huyện Mang Thít đã đưa vụ kiện ra xử sơ thẩm. Theo tòa, công an đã xác định việc con gái của ông M. dùng dao đâm vào ngực bà T. gây thương tật 45% là có thật. Xét việc bà T. yêu cầu vợ chồng ông M. phải bồi thường thiệt hại cho bà là có căn cứ. Bởi lẽ tại thời điểm gây thương tích cho bà T. cũng như hiện nay, con gái của ông M. là người bị mất năng lực hành vi dân sự, chưa có chồng và cũng không có tài sản riêng. Theo quy định thì vợ chồng ông M. là người giám hộ nên phải chịu trách nhiệm dân sự với hành vi của con mình.

Tuy nhiên, trong số tiền mà bà T. yêu cầu vợ chồng ông M. phải bồi thường có những khoản chi phí chưa phù hợp nên tòa chỉ chấp nhận các khoản chi phí hợp lý, tổng cộng là hơn 60 triệu đồng.

Đọc tiếp

TRANH CHẤP VỀ QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN: KIỆN BẠN HỌC CỦA CON VÌ CON BỊ GỌI LÀ “GAY”

THANH BÌNH

Nguyên đơn cho rằng bị đơn gọi con trai bà là “gay” (đồng tính nam) là đã xúc phạm tới danh dự của cả con trai bà và bản thân bà…

Bà G. (54 tuổi, ngụ huyện Hóc Môn, TP.HCM) có một con trai tên T. 17 tuổi. Giữa năm 2011, con trai bà theo học nghề mộc tại một trung tâm đào tạo nghề. Trong lớp, T. chơi khá thân với Q. (hơn 19 tuổi) và đưa về nhà chơi nhưng không hiểu vì lý do gì, Q. thường xuyên gọi T. là “gay”…

Gọi bạn là “gay”…

Cách gọi này lọt đến tai người mẹ khiến bà G. vô cùng tức giận, nhiều lần nhắc nhở Q. thay đổi cách gọi và yêu cầu không được gán ghép từ “gay” với con trai bà. Tuy nhiên, sau đó bà G. vẫn loáng thoáng nghe Q. gọi con trai bà như trên. Dò hỏi bạn bè trong lớp của con, bà còn biết tại trường, hay mỗi lần đi chơi, trò chuyện với mọi người xung quanh khi nhắc tới T. thì Q. đều gọi là T. “gay”, thậm chí còn khắc lên bàn học của con trai bà hai chữ T. “gay”.

Bà nhắc nhở Q. không thành nên dọa sẽ tố cáo với trung tâm đào tạo và yêu cầu xin lỗi bà và con trai với hình thức: Xin lỗi công khai tại trung tâm đào tạo nghề, viết đơn xin lỗi gửi tới bạn bè trong trường, đồng thời bồi thường danh dự cho cả hai mẹ con bà tổng số tiền 10 triệu đồng.

Tuy nhiên, yêu cầu này của bà không được Q. chấp nhận vì lý do “chỉ nói bâng quơ cho vui, không hề ám chỉ và không gây ảnh hưởng hay thay đổi bản chất sự thật giới tính của con bà”…

Do không được đáp ứng yêu cầu xin lỗi và bồi thường nên đầu tháng 5-2012, bà G. đã gửi đơn kiện ra TAND một huyện tại TP.HCM khởi kiện Q. vì cho rằng đã xúc phạm danh dự, nhân phẩm của con trai bà, làm ảnh hưởng tới tâm lý của con trai. Cách xưng hô thiếu tế nhị này đã làm tổn hại danh dự của bà và con trai.

Mất danh dự cả hai mẹ con

Theo đơn khởi kiện, bà G. trình bày: “Tôi đơn thân nuôi con khôn lớn. Ngay từ mới sinh nó là con trai, giấy chứng sinh tại bệnh viện xác định giới tính của con tôi là nam. Giấy khai sinh cũng chứng thực là nam, toàn bộ giấy tờ học hành, hộ khẩu đều xác định có chứng nhận là nam. Vậy mà nó đổi trắng thay đen nói con tôi là “gay” là không chính xác”.

Đọc tiếp

THỰC TIỄN THI HÀNH BỘ LUẬT DÂN SỰ: RẮC RỐI KHÔNG BIẾT NGƯỜI ỦY QUYỀN ĐàCHẾT

THANH TÙNG

Theo luật, việc ủy quyền của cá nhân chấm dứt khi người ủy quyền chết. Tuy nhiên, thực tế lại không đơn giản như vậy. Nhiều tình huống rắc rối đã phát sinh vì người ủy quyền chết nhưng không ai biết…

Đầu năm 2009, trước khi sang Mỹ, ông TVV đã ủy quyền cho một người bạn thân là ông Q. tham gia một vụ kiện đòi nợ tại TAND tỉnh T. Theo nội dung giấy ủy quyền hợp pháp giữa hai bên, ông Q. được toàn quyền quyết định các vấn đề liên quan trong vụ kiện, kể cả trong giai đoạn thi hành án.

Chết nhưng không biết tin

Sau khi ra nước ngoài, ông V. không hề chủ động liên lạc với ông Q. để hỏi diễn tiến sự việc. Ông Q. cũng không có cách nào trao đổi với bạn vì mọi cách liên lạc từ ngày xưa đều không có kết quả. Vì thế, ông luôn tự quyết các vấn đề liên quan đến vụ kiện theo ý của mình như nội dung ủy quyền. Phía tòa án cũng chỉ làm việc với ông mà không quan tâm đến sự có mặt của ông V.

Cuối năm 2010, tòa đã ra quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa ông Q. và phía bị đơn, nội dung ông Q. đồng ý bớt 1/3 số nợ gốc với điều kiện phía bị đơn phải trả tiền một lần. Sau đó, các bên cũng đã thực hiện thỏa thuận nên vụ việc được khép lại.

Gần đây, ông Q. nghe loáng thoáng được vài thông tin rằng bạn mình đã chết vì tai nạn giao thông ở Mỹ. Rồi ông nhận được hồ sơ từ Mỹ gửi về xác thực đúng là ông V. đã chết từ giữa năm 2010 tại Mỹ.

Vụ việc bắt đầu trở nên rắc rối: Theo luật, việc ủy quyền giữa ông V. và ông Q. đương nhiên chấm dứt khi ông V. chết. Ông V. chết vào giữa năm 2010, tức trước thời điểm ông Q. thỏa thuận thành với bị đơn trong vụ kiện đòi nợ (cuối năm này). Vậy quyết định công nhận sự thỏa thuận của tòa có hiệu lực pháp luật hay không khi mà bản thân ông Q. đã mất tư cách đại diện theo ủy quyền? Nếu quyết định của tòa không có căn cứ pháp lý thì khắc phục sai sót này ra sao? Phía bị đơn trong vụ kiện cũng đã thanh toán 2/3 số nợ gốc cho ông Q., phải giải quyết lại cho họ thế nào?

Đọc tiếp

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DÂN SỰ LIÊN QUAN ĐẾN NGƯỜI THỨ BA CHIẾM HỮU KHÔNG CÓ CĂN CỨ PHÁP LUẬT: TÒA BÁC YÊU CẦU ĐÒI LẠI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT LÀ CHƯA HỢP LÝ?

BÙI ĐỨC ĐỘ

Lấy đất cùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) của người cầm cố chuyển nhượng lòng vòng được Tòa nhận định là hợp đồng vô hiệu, nhưng vẫn bác yêu cầu chuộc lại. Vì sao?

Có giấy tờ thuê đất, Tòa án vẫn bác yêu cầu chuộc lại (?)

Bà Thị H là một nông dân Khmer nghèo ở xã Bàn Tân Định, huyện Giồng Riềng, Kiên Giang có 5.500m2 đất ở xã Thạnh Đông A, huyện Tân Hiệp do cha mẹ cho vào năm 1989. Bà H canh tác đến năm 1991 thì cho vợ chồng ông N, bà Q thuê lấy 100 giạ lúa. Vì tin tưởng, hai bên chỉ làm giấy viết tay, giao hẹn đến khi nào có lúa thì sẽ lấy lại đất. Sau khi được UBND huyện Tân Hiệp cấp QSDĐ (năm 1993), bà H giao Giấy chứng nhận QSDĐ cho ông N quản lý. Làm được một thời gian, ông N chuyển nhượng cho ông T lấy 100 giạ lúa và 8 chỉ vàng 24k. Ông T canh tác đến năm 1999 thì chuyển nhượng (cũng bằng giấy tay), đồng thời giao Giấy chứng nhận QSDĐ của bà H cho ông D, bà M với giá 40 chỉ vàng 24k. Khi lo đủ 100 giạ lúa, bà H đến ông N đòi chuộc lại thì mới biết đất của mình đã bị bán lòng vòng qua nhiều chủ như vậy.

Việc tranh chấp hợp đồng cầm cố và hợp đồng chuyển nhượng trên được TAND huyện Tân Hiệp nhận định không có cơ sở cho thuê đất giữa bà H và vợ chồng ông N. Tại phiên tòa, ông N khai rằng đã mua đất này của bà Năm T (mẹ của bà H) từ năm 1993 bằng 100 giạ lúa; giấy tờ cho thuê viết tay bà H chỉ gạch thập, có chữ ký của ông N, nhưng ông N lại không thừa nhận và giấy này cũng không được bà H yêu cầu giám định nên Tòa đã bác yêu cầu của bà H đòi chuộc lại 5.500m2 đất, công nhận quyền sử dụng đất cho ông D, bà M.

Không trả đất vì giao dịch ngay tình

Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử và luật sư bảo vệ cho bà H (do Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh cử) đều có chung nhận định cấp sơ thẩm tuyên bác đơn của bà H, chấp nhận lời khai nại của vợ chồng ông N là không phù hợp. Bởi, mặc dù ông N, bà Q không thừa nhận tờ giấy cho thuê đất, nhưng tại biên bản hòa giải ngày 19.4.2006 của ấp Thạnh Trị, bà Q xác nhận tờ cho thuê đất là đúng sự thật, nhưng do ông N say rượu nên mới ký (bút lục 11). Hơn nữa, ông Danh Tr, Danh R, Danh L là anh em ruột của bà H cũng đều xác định khi cha mẹ còn sống có cho bà H phần đất này để canh tác, đến năm 1991 thì cho vợ, chồng ông N thuê. Mặt khác, ông N, bà Q cũng không xuất trình được giấy tờ bán đất mà ông đã khai mua của mẹ bà H. Như vậy, vợ chồng ông N vẫn biết 5.500m2 đất là của bà H, nhưng lại chuyển nhượng cho ông T.

Đọc tiếp

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ THỪA KẾ: VỤ TRANH CHẤP DI SẢN “1000” TỶ ĐỒNG – TÀI SẢN TÍCH TỤ TỪ BÚN VÀ BẤT ĐỘNG SẢN

PHƯƠNG LOAN

Người con nuôi đương nhiên được thừa kế dù bên chị em người chết cho rằng họ đã góp vốn tạo ra tài sản. Hai bên cùng gửi ở ngân hàng trong khi chờ phán quyết của cơ quan chức năng.

Mấy ngày nay dư luận xôn xao về việc bà TKP chuyên nghề làm bún bị đột tử để lại tài sản trên “1.000 tỉ” đồng. Số tài sản trên hiện đang bị tranh chấp giữa những người anh em ruột của bà và người con nuôi. Vấn đề là số tài sản quá lớn làm ngay chính những người thân cũng ngỡ ngàng. Chúng tôi đã liên hệ với các bên có liên quan để tìm hiểu thông tin.

Một trong hai chị em của bà P. ở VN là ông TVPh. đã cho biết bà P. là chị thứ năm trong gia đình 10 anh chị em. Bà P. sống cùng hai người chị em, bảy người khác định cư ở Đức từ những năm 1980. Cha mẹ họ là người Hoa, chuyên làm bún gạo. Anh chị em đa số theo nghề cha mẹ. Bà P. sống rất kín tiếng, giản dị, ăn chay trường, hay giúp đỡ hàng xóm, người nghèo.

Giàu nhờ bán bún và bất động sản?

Nghề bún cần nhiều sân phơi. Nhiều lần các anh em ở Đức chuyển tiền về để bà P. mua đất làm sân phơi bún. Ngoài việc tận dụng làm ăn, xem như là của để dành khi về già cho anh em đoàn tụ. Theo ông Ph., từ nguồn vốn tự tạo lập và nguồn tiền chị em đóng góp, bà P. đã kinh doanh bất động sản. Do tích tiểu thành đại, khối bất động sản bà tậu được khá nhiều. “Sống gần mộ phần cha mẹ, về quê hương xứ sở khi già là mong ước của mấy anh chị em tôi. Đi đi về về mang tiền về cho chị đầu tư, không gửi qua ngân hàng. Mấy chục năm sống hòa thuận, chị em yêu thương nhau, giờ nảy sinh tranh chấp, tụi tôi rất buồn” – ông Ph. nói. Ông Ph. cũng đưa ra một số giấy tờ được cho là những chứng từ việc chuyển tiền cho bà P. trước đây.

“Năm 1987 mẹ tôi mất, chị tôi 41 tuổi vẫn chưa có chồng con và có ý định xin con nuôi. Lúc này gia đình cũng đã có nhiều cháu nhưng chị tôi nói nuôi cháu, mốt lớn nó cũng về với mẹ nó. Thôi thì con lạc loài mới là con mình. Từ đó, chị xin một em bé cha mẹ bỏ rơi trong BV Hùng Vương” – ông Ph. kể tiếp.

Đọc tiếp

TỔNG HỢP VƯỚNG MẮC VỀ DÂN SỰ, HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH, KINH DOANH, THƯƠNG MẠI

imageTRƯỜNG CÁN BỘ TÒA ÁN, TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Thông qua hoạt động tập huấn, trao đổi nghiệp vụ năm 2010, có nhiều vướng mắc được các Tòa án nhân dân địa phương đưa ra thảo luận. Có một số vấn đề, qua thảo luận đã có nhiều ý kiến đồng thuận. Trường Cán bộ Tòa án xin lựa chọn và giới thiệu để các Tòa án nhân dân địa phương tham khảo cho việc áp dụng pháp luật (Civillawinfor chỉ trích dẫn phần về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại).

Câu hỏi 1. Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã nhập quốc tịch nước ngoài, về Việt Nam ủy quyền cho người đang cư trú tại Việt Nam tham gia tố tụng tại Tòa án và văn bản ủy quyền được công chứng, chứng thực tại Việt Nam thì việc ủy quyền này có hợp pháp không? Có phải hợp pháp hóa lãnh sự không? Tại sao? Và ủy quyền như thế nào mới là hợp pháp?

Trả lời: Trường hợp người đó đang ở Việt Nam mà ủy quyền cho người đang cư trú tại Việt Nam tham gia tố tụng tại Tòa án và văn bản ủy quyền được cơ quan công chứng, chứng thực Việt Nam thực hiện đúng quy định thì việc ủy quyền này là hợp pháp. Điều 418 Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định: “1. Giấy tờ, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc ở ngoài lãnh thổ Việt Nam được Tòa án Việt Nam công nhận nếu giấy tờ, tài liệu đó đã được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác.”. Theo quy định trên thì không đòi hỏi tất cả các văn bản của người ở nước ngoài nộp tại Tòa án Việt Nam đều phải hợp pháp hóa lãnh sự; chỉ những tài liệu làm ở nước ngoài hoặc cơ quan nước ngoài gửi đến Việt Nam thì mới phải hợp pháp hóa lãnh sự. 18 Hợp pháp hóa lãnh sự là gì? Điều 26 Pháp lệnh Lãnh sự quy định: “1.Lãnh sự chứng thực chữ ký và con dấu trên giấy tờ, tài liệu do cơ quan, tổ chức nước tiếp nhận lập và sự phù hợp của giấy tờ, tài liệu đó với pháp luật nước tiếp nhận” . Như vậy, hợp pháp hóa lãnh sự là việc cơ quan ngoại giao Việt Nam xác nhận những giấy tờ, tài liệu đó có phù hợp pháp luật nước ngoài, xuất xứ từ tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài (nước xuất xứ của tài liệu, giấy tờ đó) hay không; những giấy tờ làm tại Việt Nam thì tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam nên đã công chứng, chứng thực hợp lệ thì không phải hợp pháp hóa lãnh sự nữa. Cũng cần lưu ý là hợp pháp hóa lãnh sự khác với việc công chứng giấy tờ, tài liệu cho công dân Việt Nam ở nước ngoài. Ví dụ: Lãnh sự quán Việt Nam tại Mỹ chứng nhận di chúc hoặc một giấy tự khai, một bản sao… cho một người có quốc tịch Việt Nam đang sống ở Mỹ là việc công chứng; khác với việc công dân Mỹ (kể cả người gốc Việt không còn quốc tịch Việt Nam) làm di chúc đã có cơ quan có thẩm quyền của Mỹ chứng thực thì vẫn phải hợp pháp hóa lãnh sự mới có giá trị sử dụng ở Tòa án Việt Nam. Thẩm quyền công chứng của Lãnh sự được quy định tại Điều 24 và 25 của Pháp lệnh Lãnh sự và những giấy tờ đã được công chứng này có giả trị được sử dụng tại Tòa án Việt Nam vì nó không thuộc đối tượng phải Hợp pháp hóa lãnh sự theo Điều 26 Pháp lệnh Lãnh sự và Điều 418 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Đọc tiếp

CUỘC CHIẾN THƯƠNG QUYỀN BÓNG ĐÁ: CÁCH ỨNG XỬ NÀO HAY HƠN?

NGUYÊN TẤN

Cuộc chiến về thương quyền bóng đá giữa VFF, VPF và VAG dù căng thẳng và đầy kịch tính nhưng rồi sớm muộn cũng sẽ có kết cục. Điều đọng lại rất đáng để suy gẫm trong vụ việc này có lẽ là ở cách hành xử của các bên.

Thói quen hành chính hóa

Bất đồng giữa các thế lực trong làng bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam về bản hợp đồng chuyển giao quyền khai thác các giải bóng đá kéo dài 20 năm giữa VFF và AVG thực chất đã âm ỉ từ hơn một năm nay, kể từ khi các bên đặt bút ký kết vào hồi tháng 12-2010.

Tuy nhiên, cuộc chiến chỉ thực sự nổ ra khi VPF bất ngờ bằng một công văn “bật đèn xanh” cho phép hệ thống đài truyền hình VTV được phát lại các trận bóng đá thuộc các giải đấu chuyên nghiệp Việt Nam.

Đáng nói là sau đó đài truyền hình VTC cũng nhập cuộc phát lại trận bóng đá thuộc một trong các giải đấu nêu trên với lý do đã được VPF “cấp phép”. Thậm chí, trả lời báo chí về việc này, ông Vũ Quang Huy, Phó giám đốc VTC khẳng định  rằng “VTC truyền hình trực tiếp có sự chấp thuận của đơn vị tổ chức giải là VPF và chúng tôi đã làm đúng theo chỉ dẫn phối hợp với VTV chọn trận phát sóng. Nếu AVG muốn kiện thì cứ kiện VPF” (Pháp Luật TPHCM, 9-1-2012).

Trong quá trình tranh chấp, VPF đã gửi công văn đến ba bộ Tư pháp, Thông tin Truyền thông và Văn hoá Thể thao Du Lịch nhờ giải quyết. Tương tự, AVG cũng gửi đơn cầu cứu lên Bộ Văn hoá Thể thao Du Lịch. Và mới đây, Bộ Văn hoá Thể thao Du Lịch đã phải lập một đoàn thanh tra để xem xét bản hợp đồng nói trên.

Của Caesar hãy trả cho Caesar!

Trước hết nói về hành động “bật đèn xanh” đơn phương của VPF cũng như hành vi hưởng ứng nhanh nhảu của VTC. Theo một số ý kiến thì những cách ứng xử này chưa phải thật khôn ngoan, thậm chí có thể gây nên những rủi ro không đáng có.

Đọc tiếp

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM: KHÔNG CÓ LỖI, BẢO HIỂM CŨNG PHẢI BỒI THƯỜNG

HOÀNG YẾN

Bảo hiểm lãnh trách nhiệm vì hợp đồng bảo hiểm giữa hai bên ghi rõ thiệt hại phát sinh dù người được bảo hiểm có lỗi cố ý hay vô ý cũng được bồi thường.

Ngày 27-12, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM đã y án sơ thẩm của TAND tỉnh Đồng Nai, buộc Công ty Bảo hiểm X. phải bồi thường cho Công ty Bảo vệ Y. 97 triệu đồng…

Bảo vệ làm mất xe

Theo hồ sơ, tháng 3-2009, Công ty Bảo vệ Y. ký hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp (những trách nhiệm phát sinh mà công ty bảo vệ phải bồi thường cho khách hàng của mình do những lỗi, sơ suất về chuyên môn) với Công ty Bảo hiểm X. Một thời gian sau, Công ty Y. để trộm vào lấy mất chiếc xe SH của một khách hàng và phải bồi thường hơn 97 triệu đồng. Sau đó căn cứ vào hợp đồng bảo hiểm, Công ty Y. yêu cầu Công ty X. phải hoàn lại cho mình số tiền trên.

Phía công ty bảo hiểm từ chối với lý do sự cố trên không thuộc phạm vi bảo hiểm, việc mất xe là do lỗi của công ty bảo vệ. Bởi công ty bảo vệ giữ xe của khách nhưng không giao thẻ; khi mất xe, nhân viên bảo vệ không có mặt tại hiện trường… Theo hợp đồng, công ty bảo hiểm chỉ phải bồi thường nếu công ty bảo vệ có giao thẻ xe cho khách hàng.

Không đồng ý với cách lập luận trên, tháng 8-2010, Công ty Bảo vệ Y. khởi kiện ra TAND tỉnh Đồng Nai đòi được bồi thường.

Đọc tiếp

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ: LÀM MỘT BỘ PHIM, BỊ HAI NƠI KIỆN

THANH TÙNG

Người thì kiện đòi nhà sản xuất trả tiền cung ứng diễn viên, người thì kiện đòi trả tiền quay phim còn nợ… Anh chàng vượt thời gian từng gây ồn ào.

TAND quận Bình Thạnh (TP.HCM) đang thụ lý vụ ca sĩ, diễn viên Minh Thuận kiện yêu cầu Công ty Năng Động Việt trả hơn 380 triệu đồng theo hợp đồng ký giữa hai bên để cung ứng diễn viên cho bộ phim Anh chàng vượt thời gian.

Thay ngựa giữa đường

Theo đơn kiện của ca sĩ Minh Thuận, tháng 7-2010, công ty của ông ký hợp đồng (trị giá hơn 1,6 tỉ đồng) cung ứng diễn viên cho Năng Động Việt để làm bộ phim truyền hình dài 36 tập Anh chàng vượt thời gian. Sau đó, Năng Động Việt chỉ thanh toán cho ông được 320 triệu đồng. Đến hạn của những lần thanh toán tiếp theo thì Năng Động Việt liên tục nại ra các lý do để lần lữa.

Tháng 1-2011, Năng Động Việt gửi văn bản cho Minh Thuận thông báo thay đổi pháp nhân sở hữu dự án phim Anh chàng vượt thời gian cho Công ty Cổ phần Tiếp thị Năng Động Việt (tách ra từ Năng Động Việt). Cho rằng Năng Động Việt cố tình vi phạm hợp đồng, Minh Thuận gửi yêu cầu quyết toán chi phí thực tế để thanh lý hợp đồng và yêu cầu bồi thường nhưng từ đó đến nay Năng Động Việt không phản hồi gì. Do đó, Minh Thuận đã khởi kiện đòi Năng Động Việt phải trả hơn 300 triệu đồng tiền dịch vụ cung ứng diễn viên còn thiếu và phạt vi phạm hợp đồng 80 triệu đồng, tổng cộng hơn 380 triệu đồng.

Hợp đồng có vô hiệu?

Quá trình tòa giải quyết vụ kiện đã nảy sinh nhiều tình tiết mới. Khi tòa lấy lời khai, bị đơn đã yêu cầu tòa tuyên bố hợp đồng dịch vụ cung ứng diễn viên giữa hai bên vô hiệu. Lý do là công ty của Minh Thuận không có chức năng cung ứng lao động theo giấy phép của cơ quan chức năng. Khi ký hợp đồng, bị đơn không phát hiện ra chuyện này vì nguyên đơn cố tình che giấu.

Đọc tiếp

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG: BỨC XÚC SAU PHÁN QUYẾT CỦA HAI CẤP TÒA

imageNGUYỄN ĐÌNH BÍCH

Sau hơn 20 năm, thủ tục mua bán nhà để xuất cảnh giữa bà Lê Thị Liên đang định cư nước ngòai với Cty Du lịch phục vụ dầu khí (nay là Cty TNHH MTV du lịch dịch vụ dầu khí Việt Nam – OSC Việt Nam) bị lật ngược bằng một vụ kiện mà phán quyết của hai cấp toà đã khiến dư luận vô cùng bức xúc.

Mua bán hay cho mượn nhà?

Căn nhà 143 Nguyễn Văn Trỗi (Nhà 143, trước là Nam Kỳ Khởi Nghĩa ), phường 11, quận Phú Nhuận, thuộc sở hữu của vợ chồng ông Châu Văn Được và bà Lê Thị Liên. Năm 1984, ông Được đi biểu diễn nghệ thuật rồi ở lại Tây Đức. Bà Liên xin bán nhà để xuất cảnh theo chồng định cư ở nước ngoài và OSC Việt Nam đã mua nhà 143, thanh toán đủ tiền cho bà Liên. Đến ngày xuất cảnh, thủ tục mua bán vẫn chưa xong nên bà Liên ủy quyền cho anh trai là ông Lê Mộng Ngọc tiếp tục thực hiện và chờ UBND TPHCM giải quyết.

Theo Biên bản bàn giao ngày 2/7/1986 giữa Cty quản lý nhà và bộ phận mua bán nhà xuất cảnh của Sở Nhà đất (Sở NĐ) TP HCM, hồ sơ thể hiện bà Liên đã bán nhà 143 cho OSC qua Văn tự bán nhà ngày 20/11/1985 có chữ ký của bà Liên và xác nhận của UBND phường 11, quận Phú Nhuận, các Biên lai thu tiền, công văn của OSC đề nghị được mua nhà…

OSC thanh toán tiền mua nhà có biên nhận tay do bà Liên ký nhận theo từng đợt trả tiền, với nội dung ghi rõ việc mua bán nhà, giao nhận tiền đợt thứ mấy và kết quả giám định chữ ký là của bà Liên. Tại Công văn số 19 ngày 19/3/1988, OSC giải trình với Sở NĐ về giá mua nhà như sau: Gíá thỏa thuận giữa cty và chủ nhà là 660.000 đồng, OSC đã thanh toán nhiều đợt với tổng số 729.688 đồng cho bà Liên ký nhận (có chứng từ), trong đó có cả tiền OSC trả thêm cho chủ nhà do thị trường biến động.

Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 670 other followers

%d bloggers like this: