CÔNG NHẬN ÁN LY HÔN Ở NƯỚC NGOÀI: ÁCH TẮC VÌ … VƯỚNG LUẬT!

BÌNH MINH

Từ sau ngày Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 có hiệu lực, chuyện công nhận, cho thi hành bản án ly hôn của tòa án nước ngoài tại Việt Nam đều gặp bế tắc.

Gần đây, ngành tòa án đã nhận được khá nhiều đơn yêu cầu công nhận, cho thi hành bản án ly hôn ở nước ngoài tại Việt Nam. Tuy nhiên, các trường hợp này hiện đều đang bị ách tắc bởi vướng quy định, thiếu hướng dẫn…

Hơn ba năm kết hôn với một Việt kiều Mỹ, chị GNP ngụ quận 10 (TP.HCM) luôn phải sống trong cảnh vò võ chờ đợi bởi người chồng chủ yếu làm ăn ở Mỹ, lâu lâu mới bay về nước thăm chị một lần.

Bao giờ mới thành người độc thân?

Xa mặt cách lòng, những chuyến bay về nước ít ỏi ấy rồi cứ thưa thớt dần. Một ngày, chị P. nhận được hồ sơ thỏa thuận ly hôn gửi về. Chị P. thuận tình ký tên để giải phóng cho đôi bên. Năm 2009, Tòa Thượng thẩm bang California, hạt San Bernardino sau đó đã ra bản án ghi nhận quyết định ly hôn của vợ chồng chị.

Sau đó, chị P. làm đơn gửi Bộ Tư pháp yêu cầu công nhận bản án ly hôn trên có hiệu lực thi hành tại Việt Nam. Đơn của chị cùng các tài liệu liên quan được chuyển về TAND TP.HCM. Xem xét, TAND TP nhận định: Khoản 1 Điều 344 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định yêu cầu công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của tòa nước ngoài chỉ được xem xét trong trường hợp cá nhân phải thi hành cư trú, làm việc tại Việt Nam hoặc có tài sản liên quan đến việc thi hành án tại Việt Nam vào thời điểm gửi đơn yêu cầu. Ở đây, người chồng đang cư trú tại Mỹ nên chị P. chưa đủ điều kiện để yêu cầu tòa công nhận và cho thi hành bản án. Vì vậy, tòa đã đình chỉ giải quyết yêu cầu của chị P.

Để gỡ vướng cho chị P., cán bộ tòa hướng dẫn chị nộp đơn tiến hành thủ tục ly hôn ở tòa án trong nước. Để mọi việc thuận lợi, chị nên liên hệ với người chồng bên Mỹ để có sự thuận tình xác nhận. Còn nếu chị đơn phương xin ly hôn thì sẽ phải chờ thủ tục ủy thác tư pháp, vốn rất lâu và cũng rất khó suôn sẻ.

Chị P. làm theo hướng dẫn này nhưng không thể liên hệ được với người chồng bên Mỹ để làm thủ tục thuận tình ly hôn. Chị mệt mỏi vì “chồng không có” mà mình thì vẫn chưa được trở thành người độc thân, không biết bao giờ mới có điều kiện để xây dựng một mái ấm mới hợp pháp.

Đọc tiếp

NHÌN LẠI VẤN ĐỀ HÔN NHÂN QUỐC TẾ THƯƠNG MẠI HÓA GIỮA VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC

NGUYỄN NGỌC TUYỀN – Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng

1. Đặt vấn đề
Gần hai mươi năm đã trôi qua kể từ ngày chính phủ hai nước Việt Nam – Hàn Quốc chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ (22/12/1992). Trong khoảng thời gian đó, mối quan hệ giữa hai nước đã có những chuyển biến rất sinh động, tích cực và đạt được nhiều thành quả trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học kĩ thuật… Trên lĩnh vực kinh tế, các nhà đầu tư, kinh doanh Hàn Quốc đã tìm đến Việt Nam như một thị trường mới mẻ, đầy hứa hẹn. Nắm bắt tiềm năng này, Hàn Quốc đã nhanh chóng trở thành nhà đầu tư và là đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam. Đồng thời, trong nhiều năm trở lại đây, Hàn Quốc cũng là thị trường thu hút nhiều lao động xuất khẩu của nước ta. Về mặt văn hóa xã hội, quan hệ trao đổi hợp tác giữa hai nước trên các lĩnh vực văn hóa – giáo dục, khoa học kỹ thuật phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ, mang lại những hiệu quả thiết thực. Làn sóng văn hóa Hàn Quốc (Hallyu) với mục tiêu truyền bá hình ảnh văn hóa Hàn Quốc ra thế giới đã ồ ạt tràn vào Việt Nam và được giới trẻ Việt Nam tiếp nhận mạnh mẽ… Có thể nói, dấu ấn Hàn Quốc để lại đối với xã hội Việt Nam trong gần hai mươi năm quan hệ ngoại giao là rất lớn. Tuy nhiên, trong mối quan hệ này, mặt tốt cũng nhiều, nhưng mặt xấu cũng không ít. Trên thực tế, đi cùng với những thành tựu trong quan hệ giữa hai nước là không ít những vấn đề xã hội nảy sinh và ngày càng trở thành những điểm nóng thu hút sự quan tâm của dư luận Việt Nam, Hàn Quốc. Trong đó, thiết nghĩ vấn đề cấp thiết hơn cả và cần sự quan tâm nhiều hơn từ chính phủ và xã hội hai đất nước chính là vấn đề môi giới hôn nhân quốc tế giữa cô dâu Việt Nam với đàn ông Hàn Quốc.

2. Vài nét về thực trạng môi giới kết hôn thương mại giữa phụ nữ Việt Nam và đàn ông Hàn Quốc

Từ vài năm trở lại đây, thỉnh thoảng báo chí Việt Nam và Hàn Quốc lại gây xôn xao dư luận của hai xã hội với những bài báo viết về những vụ việc đau lòng xảy ra đối với một số cô dâu Việt Nam bất hạnh trên xứ người. Cô dâu Việt Nam tự tử do không tìm được lối thoát cho mình trong cuộc hôn nhân với người chồng Hàn Quốc. Cô dâu Việt Nam bị chồng đánh đập tàn nhẫn đến chết… Trong suốt năm 2008, xã hội Việt Nam lẫn Hàn Quốc đều tỏ ra rất bất bình trước vụ việc cô dâu Việt Nam bị nhà chồng tước  đoạt quyền nuôi con, không cho cô  được tiếp xúc với hai  đứa con của mình ngay sau khi cô sinh xong. Và gần đây nhất là vụ việc cô dâu Thạch Thị Hồng Ngọc đã bị chồng, vốn là người có vấn đề về thần kinh, đâm chết vào ngày 8/7/2010 tại thành phố Busan.

Đọc tiếp

LẤY CHỒNG XA XỨ: CẦN CÓ CÁI NHÌN TỈNH TÁO VÀ CÔNG BẰNG

PGS.TS NGUYỄN MINH HOÀ

Hôn nhân dị chủng (khác chủng tộc, quốc gia) hay hôn nhân quốc tế là chuyện xưa như trái đất. Nhưng từ những năm 1980 trở lại đây nó phát triển mạnh mẽ, đặc biệt trong xu thế toàn cầu hoá, giao lưu văn hoá và hội nhập kinh tế.

Bản thân các quốc gia chỉ có một dân tộc luôn đề cao sự “thuần chủng giống nòi”, tỏ ra rất dị ứng đối với hôn nhân dị chủng như Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc nay cũng phải mở cửa chấp nhận hôn nhân từ bên ngoài do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có lý do thiếu nguồn lực lao động và chênh lệch giới tính.

Phụ nữ Việt Nam bắt đầu lấy chồng Đài Loan năm 1992, rộ lên từ năm 1994 (530 người), cao điểm nhất năm 2000 là 16.000 người, cho đến nay số phụ nữ lấy chồng Đài Loan là khoảng 58.000 người, nhưng từ 2005 bắt đầu giảm xuống và phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc tăng lên, đến nay khoảng 25.000 người. Trước hiện tượng có nhiều phụ nữ không tìm được hạnh phúc ở xứ người, có người phải bỏ trốn, bị hành hạ, bị qua tay nhiều người, thậm chí phải tự tử, xã hội có nhiều luồng ý kiến khác nhau, trong đó đa phần tỏ ra thương hại, trách móc và có cả lên án, phỉ nhổ. Chúng ta hãy bình tĩnh để nhìn nhận lại hiện tượng này.

Cần có cái nhìn công bằng hơn

Theo nghiên cứu của GS Phan An thì khoảng 9% phụ nữ Việt Nam thất bại trong hôn nhân với người Đài Loan. Còn ông David Ngô, chủ nhiệm văn phòng kinh tế – văn hoá Đài Bắc tại TP.HCM đưa ra còn số là 8%. Tương tự GS Kim Hyun-jae thuộc trường đại học Youngsan đánh giá khoảng 7% phụ nữ Việt Nam không hạnh phúc khi lấy chồng Hàn Quốc.

Như vậy con số gia đình không hạnh phúc trong hôn nhân dị chủng là dưới 10%. Nhưng chúng ta cần biết con số này chắc chắn thấp hơn nhiều so với gia đình Việt Nam không hạnh phúc. Từ sau đổi mới số gia đình ly hôn tăng nhanh, có nghiên cứu đáng tin cậy là khoảng 17%, phụ nữ bị bạo hành trong gia đình dưới nhiều hình thức khác nhau là khá cao, bất bình đẳng giới còn khá phổ biến. Như thế có thể khẳng định là số phụ nữ bất hạnh do hôn nhân với người nước ngoài không cao hơn trong nước, thế nhưng tại sao lại trở thành một hiện tượng được xã hội quan tâm, có lẽ bởi vì cũng một hành động bị đối xử tệ như nhau thì đối với người phụ nữ Việt Nam ở trong nước còn cha mẹ, anh em, bà con xóm giềng, các hội đoàn trợ giúp, còn ở nước ngoài thì họ thân cô, thế cô và hầu hết là không biết tiếng cho nên tình cảnh càng trở nên bi thảm hơn.

Đọc tiếp

GIA NHẬP CÔNG ƯỚC LAHAYE 1993 VỀ BẢO VỆ TRẺ EM VÀ HỢP TÁC TRONG LĨNH VỰC NUÔI CON NUÔI QUỐC TẾ

THS. NGUYỄN BÁ BÌNH – Đại học Luật Hà Nội

Xen lẫn trong những câu chuyện kinh doanh của thời hội nhập, nuôi con nuôi quốc tế (International Adoption) – một nội dung trọng yếu của quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài – đang ngày càng trở nên gần gũi với người Việt Nam. Tuy thế, một khuôn khổ pháp lý để bảo đảm các quyền và lợi ích tốt nhất cho trẻ được nhận nuôi dường như vẫn còn chưa đủ. Với tính chất quốc tế của loại hình cho và nhận con nuôi này, pháp luật quốc gia Việt Nam – dù đã có một loạt quy định điều chỉnh – cũng khó lòng vươn tới nơi xứ người để chở che cho con trẻ nước mình.

Sự lựa chọn tích cực và đầy hiệu lực cho những vấn đề toàn cầu, trong đó có con nuôi quốc tế chính là ký kết, tham gia những thỏa thuận song và đa phương. Gia nhập Công ước Lahaye 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế (Công ước Lahaye 1993), đang là một yêu cầu cấp bách đối với Việt Nam hiện nay.

1. Tính cấp bách của việc gia nhập Công ước Lahaye 1993

Thực trạng việc cho và nhận con nuôi quốc tế ở Việt Nam

Về mặt lý thuyết, việc nuôi con nuôi quốc tế có thể diễn ra theo hai chiều: thứ nhất, cho người nước ngoài (hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài) nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi; thứ hai, công dân Việt Nam xin nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi. Thực tiễn cho thấy, việc cho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi phổ biến hơn. Theo thống kê chưa đầy đủ của Bộ Tư pháp, chỉ trong 5 năm (từ 1994 -1999) có tới 9.322 trẻ em Việt Nam được người nước ngoài nhận làm con nuôi; trong đó số trẻ em làm con nuôi tại Pháp là 3.407, chiếm trên 1/3 trẻ được nhận làm con nuôi tại Pháp (1). Tính trung bình cho đến nay, mỗi năm có khoảng 2.000 trẻ em Việt Nam được người nước ngoài nhận làm con nuôi (2) và số trẻ em được nhận mỗi năm một tăng cao. Như vậy, rõ ràng nhu cầu về việc nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi của người nước ngoài là rất lớn và đang tiếp tục phát triển. Xét về nguồn trẻ em, Việt Nam là một đất nước đông dân – với trên 85 triệu người – hiện có tới trên dưới 27% dân số là trẻ em (chỉ mới tính từ 14 tuổi trở xuống)(3), trong đó, số lượng trẻ em ở vào hoàn cảnh khó khăn như tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không nơi nương tựa… chiếm một tỉ lệ khá lớn. Nhu cầu về một mái ấm gia đình, về những điều kiện tốt đẹp về vật chất lẫn tinh thần cho những đứa trẻ là rất đáng quan tâm. Vì vậy, việc xem xét để giải quyết cho và nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài không chỉ là đòi hỏi nhằm đáp ứng nhu cầu của người nước ngoài, mà hơn hết, chính là nhằm góp phần tạo dựng cuộc sống tốt đẹp cho trẻ em Việt Nam.

Đọc tiếp

CÔNG VĂN SỐ 95/VPCP- KGVX NGÀY 06/01/2009 CỦA VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ VỀ QUAN HỆ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Kính gửi:

- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ;
– Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
– Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.

Xét đề nghị của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh (báo cáo số 87/BC-UBND ngày 11 tháng 8 năm 2008 ) và ý kiến của Bộ Công an (công văn số 1947/BCA-A11 ngày 05 tháng 9 năm 2008 ), Bộ Ngoại giao (công văn số 1026/BNG-LS-m ngày 05 tháng 9 năm 2008 ) và Bộ Tư pháp (công văn số 3195/BTC-HCTP ngày 07 tháng 10 năm 2008 ) về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm có ý kiến như sau:

1. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, tăng cường thực hiện quản lý nhà nước về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, tiếp tục thực hiện Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài (Nghị định 68 ) và Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 7 năm 2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 68 (Nghị định 69).

2. Bộ Tư pháp:

a. Chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và các cơ quan khác liên quan khẩn trương nghiên cứu, xây dựng: dự thảo văn bản về một số biện pháp tăng cường quản lý việc trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài, trình Thủ tướng Chính phủ chậm nhất trong quí I năm 2009; dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều quy định về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài của Nghị định 68 và Nghị định 69, trình Chính phủ chậm nhất trong quí II năm 2009;

Đọc tiếp

LUẬT HÔN NHÂN TRONG KINH QUR’AN (CORAN )

image HỒ ĐẮC DUY

Thiên kinh Qur’an – Những lời phán truyền của Thượng Đế Allah là toàn bộ nội dung giáo lý Islam. Qur’ran là kim chỉ nam đối với tín đồ Islam và là một trong những yếu tố tạo nên nề nếp sống của tín đồ Islam. Hiểu nội dung và ý nghĩa những Lời Dạy của Allah trong kinh Qur’an là điều tối cần thiết cho tín đồ Islam

Trong chương IV, phần IV, Đoạn I của kinh Qur’an nói về Đàn Bà ( AN – NISÂ’ ) câu 1 chép : Hỡi nhân loại ! Hãy sợ Rabb ( Allah ) của các người. Đấng đã tạo ra các người từ một Người duy nhất ( Adam ) và từ Người tạo ra người vợ ( Hawwâ’ ) của Người và từ hai người này, rải ra vô số đàn ông và đàn bà trên khắp mặt đất. Và hãy sợ Allah, Đấng mà các nguời đòi hỏi quyền hạn lẫn nhau và hãy kính trọng những dạ con mang nặng đẻ đau vì quả thật Allah Hằng Trông Coi các người

Câu 3 chép : Và nếu các nguời sợ không thể đối xữ công bằng với các con gái mồ côi, hãy cuới những ngừơi đàn bà mà các người vừa ý hoặc hai hoặc ba hoặc bốn. Nhưng nếu người sợ không thể ăn ở với họ thì hãy cưới một bà thôi hoặc ngừơi phụ nữ nào ở dưới tay của các người. Điều đó thích hợp cho các người hơn để may ra các người tránh được bất công

Câu 4 chép : Và hãy tặng cho vợ sắp cưới tiền cưới bắt buộc ( Mahr) của họ.Nhưng nếu họ vui lòng tặng lại một phần nào cho các người thì hãy hoan hỉ hưởng nó một các bổ ích

Quan niệm về vai trò người đàn ông trong gia đình đượcc xác định rất rõ ràng trong kinh Qur’an, điều này được ghi ở câu 34, đoạn 6 : Người đàn ông là trụ cột của gia đình trên đàn bà bởi vì Allah ban sức lực nguời này hơn người kia và bởi vì họ chỉ dùng tài sản của họ vào việc cấp dưỡng gia đình . Do đó, người đàn bà đức hạnh nên phục tùng chồng và trông coi nhà cửa trong lúc chồng vắng mặt với sự giúp đở và trông chừng của Allah ; và đối với các bà vợ mà các người sợ họ thất tiết và bướng bỉnh, trước hết hãy cảnh cáo họ, kế đó từ chối ăn nằm với họ và cuối cùng đánh họ nhẹ tay; bởi thế nếu họ chịu nghe theo các ngừoi thì chớ kiếm chuyện rầy rà với họ bởi vì Allah Rất Tối Cao, Rất Vĩ Đại

Đọc tiếp

KINH NGHIỆM PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI: ẤN ĐỘ KHÔNG THỪA NHẬN CÁC HỢP ĐỒNG ĐẺ THUÊ

HỒNG CẨM (Theo Khaleej Times, Gulf Times, Times of India)

Theo luật Ấn Độ, người độc thân không được nhận con nuôi. Cuối tháng 7-2008, bé gái Manji Yamada chào đời trong một bệnh viện ở Ấn Độ. Tương lai của bé rồi sẽ không bình thường như bao trẻ khác bởi cha mẹ ruột của bé nhờ người mang thai thuê nhưng sau đó họ lại ly hôn nên có nguy cơ bé sẽ không có cha và mẹ.

Ly hôn phải mất con

Cha mẹ ruột của bé Manji Yamada là đôi vợ chồng người Nhật Ikufumi Yamada. Tháng 11-2007, họ đến Ấn Độ ký hợp đồng với một cô gái Ấn Độ nhờ cô này đẻ thuê.

Cô gái Ấn Độ mang thai từ trứng của một phụ nữ Ấn Độ khác kết hợp với tinh trùng của ông Ikufumi Yamada. Hai tuần trước khi bé Manji Yamada ra đời, hai vợ chồng người Nhật ly hôn.

Cô gái Ấn Độ sinh xong đã bỏ bé lại bệnh viện đi mất. Vợ cũ của ông Ikufumi Yamada tỏ thái độ không muốn nhận nuôi con. Ông Ikufumi Yamada dù rất muốn mang con về Nhật nuôi nhưng lại không thể vì chiếu theo luật Ấn Độ, người đàn ông đang trong tình trạng độc thân không được phép nhận con nuôi.

Đọc tiếp

MỘT SỐ TỒN TẠI, VƯỚNG MẮC VỀ VẤN ĐỀ NUÔI CON NUÔI THEO NGHỊ ĐỊNH SỐ 68/2002/NĐ-CP NGÀY 10 THÁNG 7 NĂM 2002 CỦA CHÍNH PHỦ

PHẠM VĂN CHUNG

Thực hiện các văn bản của Chính phủ và Bộ Tư pháp về vấn đề nuôi con nuôi. Trong những năm vừa qua các Sở Tư pháp đã tích cực tham mưu UBND các tỉnh, thành phố ban hành các văn bản về công tác nuôi con nuôi và quan tâm triển khai đưa công tác này vào thực tế cuộc sống. Do vậy việc quản lý và giải quyết vấn đề nuôi con nuôi trong nước, nuôi con nuôi quốc tế thời gian quan đã được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, đáp ứng tốt nhu cầu về nuôi con nuôi của người dân trên địa bàn cả nước.

Tuy nhiên, qua hơn 5 năm thực hiện các văn bản của Chính phủ về vấn đề nuôi con nuôi nói chung và nuôi quốc tế nói riêng. Đặc biệt là từ khi ban hành Nghị định 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và Gia đình về quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài (sau đây gọi tắt là NĐ 68), chúng tôi nhận thấy có một số khó khăn, vướng mắc sau đây:

Đọc tiếp

DƯ LUẬN XÃ HỘI VỀ HÔN NHÂN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

TS. HOÀNG BÁ THỊNH – Bộ môn Xã hội học Giới và Gia đình – Trường Đại học KHXH và NV, ĐHQG Hà Nội.

1. Định nghĩa Hôn nhân có yếu tố nước ngoài.

Trong điều 8 (Giải thích từ ngữ) của Luật Hôn nhân và gia đình (năm 2000) có định nghĩa quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, như sau:

Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình: a) giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài; b) giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam; c) giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”.

Trong bài viết này, chúng tôi xem vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài ở nghĩa thứ nhất của thuật ngữ này, đó là hôn nhân “giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài”, và cũng giới hạn ở phạm vi hẹp hơn nữa: phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài (chứ không xem xét khía cạnh nam giới Việt Nam lấy vợ nước ngoài).

2. Dư luận xã hội và cuộc sống

Thuật ngữ dư luận xã hội (DLXH, tiếng Anh: Public Opinion) là thuật ngữ được dùng nhiều trong đời sống xã hội và trong một số ngành khoa học như xã hội học, tâm lý học xã hội, báo chí v.v.. dư luận xã hội được coi là những trạng thái đặc trưng của ý thức xã hội, tâm trạng xã hội. Có thể hiểu rằng DLXH chính là một thành phần thuộc kiến trúc thượng tầng của xã hội và tính chất của nó bị quy định bởi tính chất các quan hệ kinh tế trong xã hội. Mặc dù vậy, với tư cách là một phần của thượng tầng kiến trúc, DLXH cũng có sự độc lập tương đối với hạ tầng cơ sở. Thí dụ, có những lúc DLXH lại tỏ ra bảo thủ hơn so với sự phát triển của các quan hệ kinh tế trong xã hội, cũng có những lúc nó lại “đi nhanh hơn” so với hạ tầng xã hội.

Đọc tiếp

THỦ TỤC ĐĂNG KÝ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TẠI CƠ QUAN ĐẠI DIỆN VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI

1. Đăng ký việc kết hôn giữa hai công dân Việt Nam cùng tạm trú ở nước ngoài

Hai bên nam, nữ phải trực tiếp đến nộp hồ sơ tại Cơ quan đại diện. Trường hợp một trong hai bên không thể đến nộp hồ sơ mà có lý do chính đáng thì cần có đơn xin nộp hồ sơ vắng mặt, ghi rõ lý do.

Hồ sơ đăng ký kết hôn

của mỗi bên cần có các giấy tờ sau:

Tờ khai đăng ký kết hôn, trong đó khai đầy đủ các mục và có chữ ký của cả hai bên nam, nữ.

Tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu quy định (mẫu TP/HTNNg–2003– KH.1) có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc trước khi xuất cảnh ra nước ngoài đương sự là người chưa có vợ hoặc chồng. Nếu có Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do các cơ quan có thẩm quyền cấp thì không cần nộp Tờ khai đăng ký kết hôn có xác nhận này. Tờ khai đăng ký kết hôn có xác nhận hoặc Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân nêu ở điểm này phải là bản chính (có dấu đỏ), không được là bản sao, kể cả bản sao có công chứng.

Đọc tiếp

Trẻ em Việt nam được người Pháp nhận làm con nuôi: xác định luật áp dụng (Bản án của Tòa Phúc thẩm Grenoble)

NHÂN DANH NHÂN DÂN PHÁP

Tòa phúc thẩm Grenoble, Phòng biện pháp khẩn cấp

Bản án ngày 8 tháng 3 năm 2000

Bên kháng cáo

Ông X

Sinh ngày 14 tháng 11 năm 1954

quốc tịch Pháp

Bà Y

Sinh ngày 23 tháng 9 năm 1966

Quốc tịch Pháp

Phiên tòa gồm

Khi thảo luận và nghị án:

Bà …. Chủ tịch hội đồng

Bà … Thẩm phán

Bà … Thẩm phán

Tham gia phiên tòa còn có

Bà … Thư ký

Bà … Đại diện Viện Công tố

Phần thảo luận

Trong buổi thẩm vấn không công khai tại Phòng thẩm phán ngày 2 tháng 2 năm 2000,

Sau khi chuyển hồ sơ cho đại diện Viện kiểm sát,

Sau khi nghe trình bày của luật sư và đại tụng viên, kết luận viết và trình bày của đại diện Viện kiểm sát,

Hồ sơ vụ án đã chuyển sang phần nghị án trước khi tuyên án công khai tại phiên tòa hôm nay.

Ông X và vợ là bà Y đã gửi kháng cáo đúng thủ tục bằng thư bảo đảm ngày 17 tháng 6 năm 1999 bản án ngày 19 tháng 5 năm 1999 của Tòa sơ thẩm hạt BOURGOIN – JALLIEU.

Tóm tắt sự việc, trình tự giải quyết và lập luận của các bên

Ngày 19 tháng 7 năm 1996, Ông bà X-Y được Hội đồng dân cử vùng Isere cấp giấy phép nhận con nuôi.

Ngày 4 tháng 8 năm 1998, hai người đến Việt nam để tìm con nuôi.

Ngày 7 tháng 8 năm 1998, cô Z, chưa lập gia đình, mẹ đẻ của cháu A, sinh ngày 10 tháng 5 năm 1998 (không xác định được người cha), đã ký giấy từ bỏ con tại Ủy ban nhân dân xã Quang Khuê, huyện Ba Bể, tỉnh T. (Thái nguyên).

Ngày 22 tháng 8 năm 1998, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh đã ký quyết định cho phép ông bà X-Y nhận cháu bé làm con nuôi.

Cùng ngày, biên bản giao cháu A cho ông bà X-Y làm con nuôi trọn vẹndứt khoát được lập với sự có mặt của đại diện Sở tư pháp. 

Ngày 21 tháng 8 năm 1999, Đại sứ quán Pháp tại Hà nội đã cấp cho ông bà X-Y giấy chứng nhận cho phép cháu bé định cư tại Pháp.

Trở về Pháp, ngày 18 tháng 9 năm 1998, ông bà X-Y nộp đơn lên Chưởng lý hạt BOURGOIN – JANLIEU xin công nhận cháu A là con nuôi trọn vẹn.

Ngày 19 tháng 5 năm 1999, Tòa sơ thẩm hạt BOURGOIN – JANLIEU ra quyết định từ chối yêu cầu chính của ông bà X-Y là xin được công nhận cháu A con nuôi trọn vẹn, mà chỉ chấp nhận yêu cầu thứ yếu công nhận cháu A là con nuôi ơn giản

Ông bà X-Y kháng cáo quyết định sơ thẩm.

Ông bà X-Y lập lụân rằng « Giấy từ bỏ » trong hồ sơ của Tòa là do mẹ đẻ cháu bé ký và đã được Ủy ban nhân dân xác nhận thể hiện rõ cô Z tự nguyện đồng ý cho con nuôi  và nhận thức đầy đủ hệ quả pháp lý của việc nhận con nuôi (trọn vẹn) qui định trong luật của Pháp  ; rằng theo án lệ đã ổn định của Pháp, hai vợ chồng Pháp có thể xin con nuôi trọn vẹn một đứa trẻ mà luật nhân thân của trẻ không qui định hoặc thậm chí cấm việc nhận con nuôi (trọn vẹn) nếu như, không phụ thuộc vào qui định của luật pháp, người đại diện của trẻ đã đồng ý khi nhận thức được đầy đủ hệ quả của việc nuôi con nuôi (trọn vẹn) ; rằng sự đồng ý của mẹ đẻ đứa trẻ đã đáp ứng hết các điều kiện nói trên và rằng việc ông bà nhờ tới trung gian của một người thứ 3 để liên hệ với cháu bé không ảnh hưởng gì đến tính chất của việc đồng ý này.

Ông bà X-Y đề nghị tòa phúc thẩm công nhận việc nuôi con nuôi trọn vẹn với tấp cả hệ quả pháp lý kèm theo.

Đại dịên Viện kiểm sát, căn cứ vào những tài liệu ông bà X-Y cung cấp, không có ý kiến phản đối yêu cầu của họ.

Xét rằng

Theo qui tắc đã ổn định trong luật của Pháp thì trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế, luật (nhân thân) của người nuôi con nuôi điều chỉnh điều kiện và hệ quả của việc nuôi con nuôi, luật (nhân thân) của con nuôi xác định điều kiện (hiệu lực) của thòa thụân cho con nuôi và vấn đề đại diện của trẻ.

Nếu luật Việt nam chỉ qui định trường hợp nhận con nuôi đơn giản, thì theo lụât của Pháp, việc nhận con nuôi trọn vẹn tại Pháp một đứa trẻ mà luật nhận thân gốc không qui định hoặc thậm chí cấm chế định này, vẫn có thể được chấp nhận với điều kiện người đại diện hợp pháp của trẻ đã đồng ý sau khi nhận thức được đầy đủ hệ quả pháp lý qui định trong luật của Pháp về việc nhận con nuôi trọn vẹn, cụ thể là  tính chất đầy đủ và vĩnh viễn của việc nuôi con nuôi và việc chấm dứt mọi quan hệ pháp lý giữa đứa trẻ và gia đình gốc.

Trong vụ kiện, tài liệu cho thấy thủ tục cho phép nuôi con nuôi, với tính chất thủ tục hành chính tại Việt nam, là phù hợp với luật pháp nước này : Giấy từ bỏ ký ngày 7 tháng 8 năm 1998 trước mặt Ủy ban nhân dân xã ; chủ tịch Ủy ban nhân dân Tỉnh T. bằng quyết định ngày 22 tháng 8 năm 1998 theo đề xuất của Sở tư pháp, đã cho phép ông bà X nhận đứa trẻ làm con nuôi.

Thi hành quyết định này, Biên bản giao con nuôi đã được lập cùng ngày xác nhận việc cháu A đã được giao cho ông bà X-Y để làm con nuôi « trọn vẹn và vĩnh viễn », với sự có mặt của Giám đốc sở tư pháp và mẹ đẻ cháu bé,.

Sau hết, Đại sứ quán Pháp tại Hà nội đã cấp giấy chứng nhận cho phép đứa trẻ định cư tại Pháp.

Việc cô Z, mẹ đẻ của đứa trẻ là người duy nhất được quyền cho phép nuôi con nuôi do người cha vắng mặt là không thể bác bỏ.

Giấy từ bỏ ký ngày 7 tháng 8 năm 1998 do cô Z viết có nội dung như sau :

« Tôi đồng ý để con gái tôi có tên như trên làm con nuôi trọn vẹn và vĩnh viễn của ông X và bà Y, quốc tịch Pháp, cư trú tại V. Tôi tự nguyên giao con tôi cho người nước ngoài nhận làm con nuôi trọn vẹn và vĩnh viễn và cam kết không bao giờ đòi lại ».

Cam kết trên, được Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Quang Khê nơi cư trú của cô Z xác thực, đã thể hiện đồng ý cho con nuôi trọn vẹn là tự nguyện và cô Z nhận thức được việc chấm dứt vĩnh viễn mọi quan hện (pháp lỹ) với đứa trẻ.

Việc đồng ý được tái khẳng định bởi vì mẹ đẻ của cháu bé có mặt ngày 22 tháng 8 năm 1998 trong lễ bàn giao con nuôi và ký vào biên bản mà không bảo lưu.

Vì vậy, việc đồng ý của cô Z là tự nguyên và nhận thức được hậu quả hành vi của mình.

Việc ông bà X-Y đã nhờ tới trung gian của một người thứ 3 chỉ để liên hệ với mẹ đẻ của cháu bé không ảnh hưởng gì đến nội dung của việc đồng ý này.

Do vậy, xét thấy cần chấp nhận yêu cầu nhận con nuôi trọn vẹn của nguyên đơn vì chế định này, ngược lại với chế định nhận con nuôi đơn giản, duy nhất có thể đảm bảo sự hòa nhập hoàn toàn của đứa trẻ vào gia đình cha mẹ nuôi cững như trong xã hội Pháp và phù hợp với lợi ích của con nuôi.

Vì lý do trên,

Tòa

quyết định công khai, bằng bản án tranh tụng cấp cho các bên theo qui định của pháp luật,

Về hình thức: chấp nhận đơn kháng cáo của ông bà X-Y

Về nội dung: chấp nhận yêu cầu của ông bà X-Y, sửa án sơ thẩm ngày 19 tháng năm 1999 và quyết định lại như sau

Tuyên công nhận việc nuôi con nuôi trọn vẹn cháu A, giới tính nữ, sinh gnày 10 tháng 5 năm 1998, tại bệnh viện đa khoa Bắc cạn, tỉnh T, Việt nam, của ông X, sinh ngày 14 tháng 11 năm 1954 và bà Y vợ ông X, sinh ngày 23 tháng 9 năm 1966, cả hai cư trú tại tỉnh U.

Tuyên cháp bé từ nay sẽ mang họ cha X và tên …

Lệnh chuyển bản án để ghi chú vào Sổ Đăng ký hộ tịch (Trung tâm về hộ tịch tại Nantes) và việc ghi chú này sẽ thay cho giấy khai sinh của con nuôi

Án phí sẽ do Kho bạc nhà nước thanh toán

Bản án đã được Bà …tuyên công khai và bà … đã ký.

Bản sao có giá trị thi hành được cấp cho

S.C.P. CALAS
S.C.P. GRIMAUD
Me RAMILLON
S.C.P. PERRET & POUGNAND
S.E.LA.R.L. DAUPHIN & NEYRET

SOURCE: vietnamese-law-consultancy.com

GIẢI QUYẾT CÁC HỒ SƠ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI: MỖI NƠI MỘT KIỂU

HOÀNG THƯ – THU HẰNG

Mặc dù Nghị định 69/CP sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 68/CP về quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài đã tháo gỡ một số vấn đề về trình tự thủ tục trong việc đăng ký kết hôn, tuy nhiên có nhiều điểm trong Nghị định này chưa rõ ràng dẫn đến mỗi nơi một cách làm khác nhau.

Mất thời gian quá!

Hai giờ chiều, chúng tôi đến Sở Tư pháp TP. Hà Nội thì lúc này đã có 5 đôi nam nữ đang ngồi đợi cán bộ Sở phỏng vấn (một quy định mới của Nghị định số 69/CP nhằm hạn chế tình trạng lợi dụng kết hôn để mua bán phụ nữ hoặc vì mục đích tư lợi). Anh Đinh Khắc Việt, thường trú tại Berlin – CHLB Đức, tâm sự: Tôi ở Đức về cuối tháng 12/2007, nộp hồ sơ ngày 30/12. Nhưng trước khi tôi về nước, gia đình 2 bên đã lo đủ các thủ tục hồ sơ, chỉ chờ tôi về hoàn thiện nốt. Chiều nay, hai chúng tôi đến đây phỏng vấn. Mọi việc ổn thoả, tôi đã lấy giấy hẹn trả kết quả sau 30 ngày, cộng với thời gian CA xác minh phải thêm 20 ngày, tổng cộng là 50 ngày. Trong khi đó, cuối tháng 1 tới, tôi đã hết hạn phép và phải trở lại Đức. Để kết hôn được, tôi sẽ phải quay về Việt Nam trong vòng 3 tháng nữa. Không hiểu cải cách kiểu gì chứ tôi thấy mất thời gian và rất tốn kém!

Bà Trần Thị Nhàn (Ba Đình, Hà Nội) thì thắc mắc: Con gái tôi mang quốc tịch Hà Lan, hiện đang muốn kết hôn với một người đàn ông ở Hà Tây. Dịp Tết này, nó sẽ về nước. Tôi ra đây tìm hiểu trước xem hồ sơ phải làm những gì để thông tin cho nó mà chuẩn bị. Có điều, tôi thấy hồ sơ yêu cầu nhiều loại giấy tờ quá, đặc biệt, thời hạn giải quyết mất gần 2 tháng trời? Con tôi làm việc ở Hà Lan chứ không  phải buôn bán nên nó rất khó nghỉ lâu đến như vậy.

Đem phản ánh của người dân về thời hạn 50 ngày giải quyết hồ sơ là khá dài hỏi các cán bộ tư pháp, chúng tôi được chị Bùi Thị Thu – cán bộ bộ phận “một cửa” Sở Tư pháp Hà Nội, cho biết: Mỗi ngày bộ phận “một cửa” tiếp nhận khoảng 4 – 5 bộ hồ sơ xin đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài, ngày cao điểm, con số này có thể cao hơn một chút. Tuy nhiên, có nhiều công dân phải trở đi trở lại nhiều lần vì không hiểu hoặc không làm đúng các hướng dẫn về giấy tờ trong hồ sơ. Chúng tôi luôn sẵn sàng hướng dẫn tất cả người dân về thủ tục, song khi đến làm hồ sơ mọi người cũng nên đọc các thông báo niêm yết công khai ở bộ phận “một cửa” để biết thêm các thủ tục, trình tự cũng như thời gian. Việc gì chưa rõ, công dân hãy hỏi trực tiếp cán bộ thì sẽ đỡ mất công đi lại, chi phí… Ông Nguyễn Văn Thơm – Trưởng phòng Nghiệp vụ hộ tịch Sở Tư pháp Hải Dương lại lý giải: Cái khó của cán bộ tư pháp bây giờ là sợ bị dân kêu gây phiền hà. Nhưng quả thật có một số trường hợp, chúng tôi vừa làm vừa run. Các bạn xem, có trường hợp đương sự xin được tới 4 bản Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Chẳng hạn, chúng tôi yêu cầu xuất trình bản án ly hôn hoặc về nơi cư trú lấy Giấy xác nhận thì một số người bỏ luôn hồ sơ.

Cứ thẩm định cho …chắc?

Tính riêng trong năm 2007, Sở Tư pháp Hà Nội đã giải quyết khoảng 400 hồ sơ đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài. Quy trình giải quyết một việc đăng ký kết hôn của Hà Nội có thể tóm tắt như sau: đương sự nộp hồ sơ hợp lệ tại Sở Tư pháp, sau đó cả hai bên nam, nữ phải có mặt để phỏng vấn. Hồ sơ sẽ được hoàn thiện để Sở Tư pháp chuyển xuống UBND cấp xã nơi đương sự thường trú hoặc tạm trú niêm yết trong vòng 7 ngày. Tiếp đến hồ sơ sẽ được gửi qua cơ quan CA thẩm định, xác minh. Tiến hành xong các bước nói trên, Sở Tư pháp sẽ trình cho Chủ tịch UBNDTP. ký quyết định và trả kết quả cho đương sự.

Tuy nhiên, cũng là việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài nhưng ở Hà Tây lại có cách giải quyết khác. Điển hình là, việc niêm yết ở xã phường và xác minh tại cơ quan công an được tiến hành đồng thời với nhau. Theo giải thích của ông Nguyễn Hoài Nam – Trưởng phòng Hộ tịch Sở Tư pháp Hà Tây, cách làm này nhằm tiết kiệm thời gian cho các bên đương sự, thể hiện cải cách hành chính, rút ngắn thời gian. Chỉ trong trường hợp hồ sơ “có vấn đề” thì cơ quan công an mới cần xác minh thêm trong vòng 20 ngày.

Tương tự, ông Thơm cho biết, mặc dù chỉ tiếp nhận hồ sơ 3 ngày/ tuần song năm 2007, Sở Tư pháp Hải Dương đã giải quyết xong 500 bộ và có hơn 50% được trả trong thời hạn 30 – 35 ngày. Số còn lại là do Sở Tư pháp phải tiến hành thẩm định đối với những trường hợp xin đăng ký kết hôn lần thứ 3, thứ 4 hoặc độ tuổi chênh lệch của 2 bên đương sự quá lớn và chỉ có khoảng 20% thì Sở chuyển sang cho CA xác minh. Ông Thơm phấn khởi nói với chúng tôi: “Mới đây, Sở Tư pháp Hải Dương vừa tổ chức Lễ trao Giấy chứng nhận kết hôn cho 3 đôi nam nữ mà hồ sơ được giải quyết gói gọn trong vòng 20 ngày”. Đã có trường hợp cần thiết (đương sự xuất trình vé máy bay), Sở này trả luôn hồ sơ chứ không cần đợi đúng lịch quy định. Đó là do cán bộ tư pháp phải linh động, phải vì dân thôi, ông Thơm kết luận.

Như vậy, trên thực tế, tính riêng trong quy định về việc gửi hồ sơ đến cơ quan công an thẩm định mỗi địa phương đã có những cách làm khác nhau. Tuy nhiên, phần lớn việc thẩm định được tiến hành với tất cả các hồ sơ, không có ngoại lệ. Chỉ một số ít địa phương gửi thẩm định các hồ sơ trong trường hợp cơ quan tư pháp thấy nghi ngờ. Thực ra, vấn đề có hay không gửi thẩm định không do ngành tư pháp mà do UBND cấp tỉnh quyết định. Dường như cứ có thẩm định của cơ quan CA, Chủ tịch UBND cấp tỉnh khi ký các hồ sơ này cũng cảm thấy yên tâm hơn!? Theo quy định của Nghị định 69/CP hiện hành, chỉ trong những trường hợp cần thiết hoặc có nghi vấn hoặc khiếu nại, tố cáo thì Sở tư pháp mới cần xác minh, làm rõ. Còn trong trường hợp thấy vấn đề cần xác minh thuộc chức năng của CA thì Sở Tư pháp đề nghị CA xác minh.  Tuy nhiên, như thế nào là nghi vấn, là cần thiết, nội dung khiếu nại tố cáo nào cần xác minh, thẩm định thuộc thẩm quyền của cả ngành CA và Tư pháp, đến nay chưa có hướng dẫn. Cho nên, để an toàn nhiều địa phương đã chọn giải pháp 100% hồ sơ đều qua “cửa CA”. Cách làm trên dễ dẫn đến hậu quả việc giải quyết hồ sơ một cách tuỳ tiện, kéo dài. Trong khi thực tế, công dân nước ngoài về Việt Nam thường rất hạn chế về mặt thời gian. Nếu hồ sơ không được giải quyết đúng hạn sẽ dẫn đến việc đương sự  “bỏ của chạy lấy người” bởi theo quy định, Lễ đăng ký kết hôn (bắt buộc phải có mặt cả hai bên nam nữ – PV) phải được tổ chức trong thời hạn 7 ngày từ ngày Chủ tịch UBND cấp tỉnh ký Giấy chứng nhận kết hôn, trừ trường hợp có lý do chính đáng thì cũng phải tổ chức trong thời hạn không quá 90 ngày, nếu không sẽ phải làm lại thủ tục đăng ký từ đầu. Vì lý do đó mà thời gian qua, tại các Sở Tư pháp đã có khá nhiều trường hợp Giấy chứng nhận kết hôn bị huỷ do quá hạn về thời gian.

Cần hướng dẫn cụ thể

Về thủ tục thẩm định, xác minh đối với hồ sơ, các địa phương đề nghị cần có hướng dẫn rõ ràng những trường hợp nào là có nghi vấn, có “vấn đề”, để đảm bảo đúng tiến độ về mặt thời gian, đặc biệt trong xu thế cải cách hành chính như giai đoạn hiện nay. Ngoài ra, liên quan đến thẩm quyền ký Giấy chứng nhận kết hôn, một số địa phương cho rằng nên sửa đổi quy định theo hướng Chủ tịch UBND cấp tỉnh có thể uỷ quyền cho Giám đốc Sở Tư pháp ký. Bởi xuất phát từ thực tế, Chủ tịch UBND cấp tỉnh có quá nhiều việc phải làm, trong nhiều trường hợp sẽ không ký đúng hạn.

Nghị định 69/CP cũng quy định cụ thể những trường hợp từ chối đăng ký kết hôn, trong đó có việc lừa dối, cưỡng ép kết hôn. Tuy nhiên, để xác định mục đích thực sự của cuộc hôn nhân là rất khó, kể cả khi đã đưa vào quy định bắt buộc các bên đương sự phải trả lời phỏng vấn tại Sở Tư pháp hay quy định hai bên đương sự phải cùng biết một thứ tiếng… Do vậy, nhằm tránh những tiêu cực trong lĩnh vực đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài, cần tăng cường kiểm tra thanh tra đối với các hoạt động này và có biện pháp xử lý nếu phát hiện sai phạm.

——————————————————————

Thời hạn giải quyết việc đăng ký kết hôn tại Việt Nam là 30 ngày, kể từ ngày Sở Tư pháp nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Trong trường hợp có yêu cầu cơ quan công an xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm 20 ngày

(Trích nội dung Điều 15 Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/07/2002của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đìnhvề quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài)

SOURCE: MOj.GOV.VN

 

CÔNG VĂN SỐ 517/NCPL NGÀY 9-10-1993 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VIỆC LY HÔN VỚI MỘT BÊN ĐANG Ở NƯỚC NGOÀI

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
********
Số: 517/1993/NCPL
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********
Hà Nội, ngày 9 tháng 10 năm 1993

CÔNG VĂN

SỐ 517/NCPL NGÀY 9-10-1993 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VIỆC LY HÔN VỚI MỘT BÊN ĐANG Ở NƯỚC NGOÀI

Trong thời gian vừa qua Toà án nhân dân tối cao nhận được công văn của một số Toà án nhân dân địa phương hỏi một số vấn đề về thủ tục giải quyết việc ly hôn có một bên đương sự đang ở nước ngoài. Toà án nhân dân tối cao đã trao đổi với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và tại công văn ngày 5-10-1993 Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã thống nhất với Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thêm như sau, ngoài các hướng dẫn trước đây tại các công văn số 130/NCPL ngày 16-12-1991 và số 29/NCPL ngày 6-4-1992 của Toà án nhân dân tối cao:

1. Trong trường hợp Toà án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục uỷ thác tư pháp đến lần thứ hai, nhưng không được các cơ quan tư pháp có trách nhiệm của nước liên quan đáp ứng, thì Toà án liên hệ với Bộ Tư pháp để thông qua Bộ Ngoại giao yêu cầu cơ quan lãnh sự của nước ta tại nước có liên quan thực hiện uỷ thác tư pháp theo quy định tại Điều 30 Pháp lệnh lãnh sự công bố ngày 24-11-1990 với nội dung: Lãnh sự thực hiện uỷ thác tư pháp của cơ quan Nhà nước Việt Nam có thẩm quyền đối với công dân Việt Nam ở khu vực lãnh sự, nếu việc đó không trái với pháp luật nước tiếp nhận hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước tiếp nhận ký kết hoặc tham gia.

Việc thực hiện uỷ thác tư pháp này phải tuân theo các quy định của pháp luật tố tụng Việt Nam. Nếu Toà án đã thực hiện theo đúng các hướng dẫn nói trên nhưng việc uỷ thác tư pháp vẫn không có kết quả do bị đơn không có địa chỉ rõ ràng, sống lưu vong, không ai quản lý, thì Toà án yêu cầu thân nhân của bị đơn đó gửi cho họ lời khai của nguyên đơn và báo cho họ gửi về Toà án những lời khai hoặc các tài liệu cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Sau khi có kết quả, Toà án có thể căn cứ vào những lời khai và tài liệu đó để xét xử, nếu nguyên đơn ở trong nước công nhận những lời khai hoặc tài liệu gửi về đúng là của bị đơn đang ở nước ngoài. Nếu theo cách thức liên hệ nói trên và đã liên hệ được với bị đơn đang ở nước ngoài, nhưng họ cố tình từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết đến lần thứ hai, thì Toà án có thể đưa vụ án ra xét xử. Nếu theo cách thức liên hệ nói trên, nhưng không liên hệ được thì Toà án ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 45 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và giải thích cho nguyên đơn biết họ có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án cấp huyện nơi họ thường trú xác định bị đơn mất tích hoặc đã chết theo thủ tục quy định về việc xác định công dân mất tích hoặc đã chết.

2. Đối với những vụ án ly hôn, nguyên đơn là người ở trong nước bị bỏ lửng nhiều năm, bị đơn là người đang ở nước ngoài, nhưng có đầy đủ căn cứ chứng minh là họ vẫn gọi điện về cho thân nhân của họ ở trong nước và thân nhân của họ không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án, cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết để bị đơn gửi lời khai về cho Toà án, thì cần coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Trong trường hợp này, nếu Toà án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của họ cũng không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết, thì Toà án có thể đưa vụ án ra xét xử. Ngược lại, nếu không có đầy đủ căn cứ để chứng minh được là bị đơn vẫn gọi điện về cho thân nhân của họ ở trong nước và thân nhân của họ không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án thì Toà án ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 45 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và giải thích cho nguyên đơn biết họ có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án huyện nơi họ thường trú xác định bị đơn mất tích hoặc đã chết theo thủ tục quy định về việc xác định công dân mất tích hoặc đã chết.

3. Đối tượng các trường hợp sau khi xét xử sơ thẩm vẫn không có hoặc không biết địa chỉ của bị đơn để tống đạt bản án và thân nhân của họ ở trong nước cũng từ chối việc thông báo cho họ kết quả xét xử của Toà án, thì Toà án gửi công văn cho cơ quan ngoại giao của nước ta ở nước ngoài kèm theo bản sao bản án và yêu cầu niêm yết bản sao bản án tại trụ sở của cơ quan ngoại giao đó; đồng thời Toà án cấp cho thân nhân của họ ở trong nước một bản sao bản án và yêu cầu họ gửi cho bị đơn đang ở nước ngoài. Trong thời hạn 3 tháng, kể từ ngày Toà án gửi công văn và bản sao bản án yêu cầu cơ quan ngoại giao của nước ta ở nước ngoài niêm yết bản sao bản án và kể từ ngày Toà án cấp cho thân nhân của họ ở trong nước bản sao bản án, dù Toà án có nhận được hay không nhận được thông báo của cơ quan ngoại giao nước ta ở nước ngoài cũng như thông báo của thân nhân của họ ở trong nước về việc đã niêm yết bản sao bản án, đã gửi bản sao bản án cho họ hay chưa mà không có đơn, thư của bị đơn đang ở nước ngoài về việc họ có kháng cáo, đồng thời trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị được quy định tại Điều 59 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, bản án cũng không bị những người khác kháng cáo hoặc Viện kiểm sát nhân dân kháng nghị, thì bản án được thi hành theo thủ tục chung.

Trịnh Hồng Dương

(Đã ký)

NHỮNG CÔ DÂU… KHÔNG THỂ CHẠY TRỐN

Cô dâu Huỳnh Mai, cô dâu Kim Đồng lấy chồng nước ngoài để thực hiện giấc mơ đổi đời. Thế nhưng, khi giấc mơ ấy chưa thành hiện thực thì họ đã bỏ mạng nơi xứ người: Huỳnh Mai bị người chồng Hàn đánh đập cho tới chết còn Kim Đồng thì bỏ mạng vì ngã từ trên cao xuống khi chạy trốn người chồng của mình.

Đó chỉ là hai cái chết thảm trong số rất nhiều những số phận không may mắn của những người phụ nữ Việt Nam lấy chồng ngoại quốc thông qua con đường môi giới hôn nhân. Những người nghèo vì đồng tiền vẫn phải đánh bạc với số phận của mình, còn những trung tâm môi giới vì lợi nhuận vẫn bất chấp tính mạng của những cô dâu Việt. Những trung tâm này đẩy những cô gái Việt ra giữa biển khơi mà không cho họ một chiếc phao cứu sinh để họ có đường sống sót quay về bờ.
1. Thiên đường không tìm thấy

Cô dâu Kim Đồng trong đám cưới những tưởng là thiên đường của mình

Họ là những người con gái Việt Nam lấy chồng ngoại quốc thông qua những trung tâm môi giới hôn nhân. Không khả năng sử dụng ngoại ngữ của nước sở tại, không hiểu biết về nền văn hóa và truyền thống của quốc gia đó, không một chút thông tin về người mình sắp lấy làm chồng và gia đình của anh ta. Và điều quan trọng nhất là không có tình yêu. Nói tóm lại, các cô dâu Việt lấy chồng thông qua con đường môi giới hôn nhân không hề có một điều kiện nào để đảm bảo cho một gia đình hạnh phúc về sau, thế nhưng họ vẫn nhắm mắt đưa chân, đánh cược với số phận của mình và những kết thúc đau lòng, bi thảm dường như là hệ quả tất yếu của những cuộc hôn nhân như thế.

Điểm khởi đầu của con đường hôn nhân này là những Trung tâm môi giới hôn nhân. Những người phụ nữ bị buộc phải đứng xếp hàng (nhiều trường hợp bị buộc phải lột bỏ y phục) để cho những người đàn ông ngoại quốc lựa chọn như những món hàng. Ngay từ khi đó, họ đã ở vào thế yếu và phải chấp nhận sự khinh rẻ của những người chồng tương lai của mình – những người họ không hề quen biết và cũng không có quyền được tìm hiểu. Một điều quan trọng ở đây: “Chú rể” không phải là một người thanh niên cùng lứa tuổi với cô dâu, mà là những người đàn ông tuổi tác bằng bố hay tuổi ông nội ông ngoại của cô dâu, hoặc thường là một người đàn ông đã góa vợ, bệnh hoạn hay thuộc loại không thể tìm được vợ ở quốc gia mà họ đang sinh sống.

Hiện nay, phụ nữ Việt Nam thường được môi giới hôn nhân với những người đàn ông ở Đài Loan và Hàn Quốc là chủ yếu. Khi dời khỏi Việt Nam những cô gái phải đối mặt với rất nhiều nguy cơ: Hoặc bị bán làm nô lệ không công, hoặc bị ép buộc hành nghề mại dâm cho dân bản xứ, hoặc bị bán cho các ổ điếm. Một số các cô khác thì quả thực được đem về làm vợ, nhưng không phải làm vợ cho một mình người đàn ông đã sang Việt Nam mua cô về, mà là phải lần lượt làm vợ cho tất cả những người đàn ông sống trong gia đình; và trong cuộc sống hàng ngày thì các cô bị đối xử như người ở hay giống như nô lệ: phải thức khuya dậy sớm, phải làm đủ mọi công việc phục dịch hầu hạ cho cả gia đình. Có những người lại được mua về để phục vụ những người bệnh hoạn tật nguyền trong gia đình. Chỉ có một số ít thực sự là làm dâu đúng nghĩa. Tuy nhiên, ngay cả đối với những cô dâu này, hai từ “hạnh phúc” vẫn là những tiếng xa lạ; phẩm giá và nhân vị của những người phụ nữ bị mua về làm dâu không được tôn trọng; các cô dâu không có tiếng nói trong gia đình và chỉ được coi như sở hữu của chồng và của cả gia đình nhà chồng, ai cũng có quyền sai khiến và bắt các cô phải phục dịch.

Thời gian gần đây, báo chí trong và ngoài nước đã phanh phui rất nhiều vụ xâm hại nghiêm trọng đến thân thể của các cô dâu Việt lấy chồng ngoại quốc. Từ những cô dâu Việt trên đất Đài bị sát hại như Trần Thị Hồng Thắm hay trở về Việt Nam trong tình trạng người không ra người như Trần Thị Bích My, Cao Thị Hồng Nương… đến những cái chết thương tâm của những cô dâu Việt trên đất Hàn như Huỳnh Mai, Kim Đồng chính là những hình ảnh bề nổi của phận Việt làm dâu nơi đất khách: Họ không thể và không có khả năng để chạy trốn khỏi những nguy cơ có thể tổn hại đến sức khỏe, thậm chí là chính mạng sống của mình. Một cái giá, một sự đánh đổi quá đắt khi chấp nhận làm dâu trên đất khách khi không có tình yêu để mong có được cuộc sống đầy đủ, sung túc cho gia đình và bản thân. Họ không thể tìm thấy thiên đường cho mình mà rơi vào địa ngục và thủ phạm chính là những trung tâm môi giới hôn nhân.

Cô dâu Huỳnh Mai trong ngày cưới

2. Và những trung tâm buôn bán phụ nữ trá hình

 

Những cô gái Việt Nam muốn đổi đời bằng con đường lấy chồng ngoại quốc ngày càng nhiều lên chính là điều kiện để những trung tâm môi giới hôn nhân có thể tồn tại và phát triển. Thế nhưng, cách làm ăn thiếu trách nhiệm của những trung tâm buôn bán phụ nữ trá hình dưới cái tên “môi giới hôn nhân” chính là thủ phạm của những cái chết thương tâm của những cô dâu Việt trên đất khách.

Vì lợi nhuận, những trung tâm này không quan tâm đến hạnh phúc của những người được họ mai mối. Họ biến những cô gái nông thôn thành những món hàng để rao bán cho những người đàn ông ngoại quốc. Họ không hề trang bị cho những cô gái ấy một chút vốn liếng nào để có thể trở thành cô dâu ở một đất nước xa lạ. Thậm chí họ không thể tự kêu cứu khi tính mạng bị đe dọa. Những cô dâu ấy phải tự mình bươn chải nơi xứ người mà không nhận được sự giúp đỡ từ phía trung tâm môi giới hôn nhân mà họ đã tin tưởng gửi mình. Những trung tâm ấy đẩy họ ra biển cả mà không cho họ một chiếc phao cứu sinh để có thể quay lại bờ.

Trở lại trường hợp của Huỳnh Mai, cô gái này chấp nhận lấy chồng Hàn Quốc và gia đình cô chỉ được trả một số tiền rẻ mạt là 400 USD. Ngay khi làm đám cưới xong, những “ông tơ bà nguyệt” của cuộc hôn nhân này đã thu mất 200 USD từ phía cha mẹ cô và họ rũ bỏ hoàn toàn trách nhiệm. Họ bỏ mặc số phận của một con người sau khi đã nhận được khoản phí từ việc môi giới hôn nhân đó.

Nạn nhân của các trung tâm môi giới hôn nhân

Những trung tâm môi giới hôn nhân giữa người Việt Nam và người nước ngoài không khác gì những con buôn. Họ lấy những người phụ nữ Việt Nam làm món hàng để có thể thu về lợi nhuận cho bản thân mình. Những người phụ nữ Việt Nam chấp nhận lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc và một số quốc gia khác thông qua những trung tâm môi giới phải chấp nhận cuộc hôn nhân không do tình yêu, nhưng là do hoàn cảnh sống éo le bó buộc; và các cô đi lấy chồng không do cưới hỏi đúng với đạo lý và truyền thống dân tộc, mà là do mua bán, do những kẻ “buôn người” thời đại dàn dựng, thu xếp.
Tất cả những vấn đề hậu hôn nhân với người nước ngoài đều do các cô dâu tự chịu trách nhiệm. Nhiều cuộc hôn nhân không những không hạnh phúc mà những người phụ nữ phải đối mặt với nguy cơ trở thành nô lệ tình dục, bị đe dọa về nhân phẩm thậm chí cả tính mạng nhưng các trung tâm môi giới hôn nhân hoàn toàn vô can trong tất cả những vấn đề nảy sinh sau khi cô dâu Việt về nơi xứ người. Sự vô trách nhiệm và làm việc chụp giật, tất cả vì lợi nhuận này của các trung tâm môi giới hôn nhân chính là thủ phạm của câu chuyện tang thương khi những cô gái Việt Nam làm dâu trên những quốc gia khác.

Hàng loạt những câu chuyện đau lòng xảy ra trong thời gian qua đã gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh: Không thể để tình trạng những người phụ nữ Việt Nam làm dâu xứ người bị chà đạp về danh dự và nhân phẩm, bị coi như những món hàng hóa để trao đổi, bị đe dọa cả về tính mạng được nữa. Việc chúng ta có thể làm ngay bây giờ, đó là: Cấm toàn bộ những trung tâm buôn bán người trá hình được ngụy trang dưới cái tên: Trung tâm môi giới hôn nhân. Nếu không kiểm soát được tình trạng kết hôn với người nước ngoài chỉ vì tiền thì những nỗi đau của những cô dâu Việt như Huỳnh Mai, Kim Đồng sẽ còn tiếp tục tái diễn.

******************************************************************************

Để một cuộc hôn nhân bền vững, ngoài tình yêu giữa hai người khác giới thì còn có những nhân tố khác hết sức quan trọng như sự tương đồng về thể trạng, sức khỏe, điều kiện kinh tế, hòa hợp tâm hồn và hiểu biết về ngôn ngữ và văn hóa của đối tác. Những cuộc hôn nhân giữa người nước ngoài với cô dâu Việt không hề có được những nhân tố này nên không thể có hạnh phúc.

 

Thế nhưng, các Trung tâm môi giới hôn nhân đã bất chấp tất cả. Vì lợi nhuận họ sẵn sàng đẩy các cô gái Việt Nam sang xứ người mà không trang bị cho họ bất kỳ một kỹ năng gì. Bên cạnh những cô dâu như Huỳnh Mai, Kim Đồng bỏ mạng nơi xứ người là những tấm gương nhỡn tiền còn có biết bao cô gái khác đang phải trả giá với hôn nhân mai mối. Đã đến lúc dẹp bỏ những Trung tâm buôn bán phụ nữ trá hình dưới mĩ từ “Môi giới hôn nhân”.

Nhà văn Lê Minh Khuê: “Tôi phản đối hôn nhân với người nước ngoài qua môi giới”

Nhà văn Lê Minh Khuê – Ảnh: Tuấn Hải

Theo ý kiến của tôi thì để tiến tới hôn nhân không cần nhiều lắm đến tình yêu, thế nhưng, quan trọng là chọn được người bạn đời mà mình phải cảm thấy yên tâm khi ở bên cạnh họ. Đó là những người có tính tình ôn hòa, không có sự phiêu lưu, báo hiệu cho sự đổ vỡ sau này. Như vậy có thể khẳng định: Nền tảng để đi tới hôn nhân chính là sự hiểu biết lẫn nhau giữa hai người khác giới. Thứ nữa là sức khỏe, khả năng tài chính, việc làm. Hôn nhân hiện đại nó thế, chúng ta phải có tất cả những thứ đó để có thể đảm bảo hạnh phúc được lâu bền. Quan trọng nhất là sự bình tĩnh trước đời sống để có thể xử lý tình huống. Đời sống hiện đại nó khủng khiếp lắm, nếu mà người ta không bình tĩnh thì nó sẽ đổ vỡ hết. Điều này đặc biệt quan trọng ở phía những người đàn ông.
Ngày xưa các cụ nhà mình “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” nhưng hôn nhân vẫn bền vững bởi vì khi mai mối họ đã có những hiểu biết nhất định về nhau, sự tương đồng về kinh tế mà các cụ hay dùng từ “môn đăng hộ đối”, còn nhiều cuộc hôn nhân vì tình yêu nhưng khi lấy nhau rồi vẫn đổ vỡ. Nghĩa là để một cuộc hôn nhân có thể tồn tại thì không cần nhiều tình yêu lắm. Để sống với nhau miễn là không chối quá. Không cần lệ thuộc quá vào chuyện yêu đương. Trong đời sống hôn nhân quan trọng nhất là sự nhường nhịn. Một cuộc môi giới hôn nhân giữa hai người trong cùng một quốc gia hoàn toàn có thể có hạnh phúc là vì người ta có cơ sở để hiểu biết về nhau và có những sự tương đồng về điều kiện kinh tế và lối sống.
Để hai người có thể sống với nhau ổn định và lâu dài thì sự cân bằng giữa hai người có một vai trò quyết định. Người chồng kiếm được tiền, người vợ cũng kiếm được tiền là điều hết sức cơ bản. Nếu như một người phụ thuộc vào người khác thì nó sẽ là gánh nặng cho cả hai người và như thế thì rất không tốt cho một cuộc hôn nhân. Để có được cuộc sống hạnh phúc thì hai bên phải cân bằng nhau và độc lập với nhau một cách tương đối.

Hai yếu tố ngôn ngữ và văn hóa rất quan trọng để một cuộc hôn nhân có thể bền vững. Các cô gái Việt Nam đi lấy chồng nước ngoài cần phải hiểu được ngôn ngữ và văn hóa của nước đó nếu không thì nguy hiểm lắm. Nếu như hai nền văn hóa khác nhau rồi thì phải có ngôn ngữ để chinh phục nhau, cuộc hôn nhân nó mới có thể bền vững được. Không có cả hai yếu tố này thì thực sự là đáng lo ngại.

Môi giới hôn nhân với người nước ngoài theo tôi là hết sức nguy hiểm, một cô gái nông thôn, tiếng thì không biết, không hiểu một tý gì về truyền thống và văn hóa thế mà các trung tâm lại có thể đưa họ sang làm dâu ở một nước xa lạ. Môi giới hôn nhân kiểu vô trách nhiệm như thế có khác gì đẩy người ta ra biển, nếu mà hôn nhân kiểu như thế người ta chỉ cần mình về làm cái máy đẻ và người giúp việc. Những bậc cha mẹ cho con đi lấy chồng kiểu ấy thì có khác gì bán con?

Nếu muốn người phụ nữ Việt Nam có thể lấy chồng ngoại quốc và đảm bảo cho cuộc hôn nhân ấy yên ổn trước hết là phải chuẩn bị cho người ta cái phao: Ít nhất là cái văn hóa và ngôn ngữ để người ta có thể thích nghi với cuộc sống ở một gia đình xa lạ, một đất nước xa lạ không có người thân bên cạnh mà điều này thì những người phụ nữ lấy chồng thông qua môi giới hôn nhân không có.

Tôi không tán thành những trung tâm môi giới hôn nhân vô trách nhiệm, họ không chuẩn bị cho những cô gái hành trang: Ngôn ngữ, văn hóa, cách ứng xử với những tình huống trong đời sống và thậm chí là cách để tự cứu lấy bản thân khi những nguy cơ bị xâm hại xảy ra.

Những người đàn ông ngoại quốc lấy vợ Việt Nam thông qua những trung tâm môi giới hôn nhân thường lại là những người không có đủ khả năng kinh tế để lấy vợ ở quốc gia mà họ sinh sống hoặc họ là những người không khỏe mạnh về mặt tâm lý nên họ mới chọn lấy vợ ở một quốc gia khác. Vì thế xác suất của việc xảy ra xung đột sẽ cao hơn các cặp vợ chồng cùng quốc tịch rất nhiều. Những người phụ nữ lấy chồng kiểu ấy là bán mình vì tiền chứ còn gì nữa. Mà đã bán mình thì phải nhẫn nhục, phải chịu ở thế yếu so với người ta.

Các cô ấy xuất thân từ nông thôn, chỉ ra ra thành phố lớn còn bỡ ngỡ nữa là sang một quốc gia khác. Phải có sự chuẩn bị kỹ cho người ta chứ? Nếu anh đã môi giới anh phải có trách nhiệm với những cuộc hôn nhân đó chứ “đem con bỏ chợ” thế thì không chấp nhận nổi. Những sự việc đau lòng xảy ra gần đây cũng là hậu quả tất yếu của những cuộc hôn nhân như thế. Nhưng giá như các cô gái ấy biết một chút ngôn ngữ để có thể tự cứu bản thân mình thì đâu đến nỗi?
Tôi nghĩ rằng nếu muốn tiến tới hôn nhân thì cả người nước ngoài kia và vả cô gái Việt Nam cần phải có những sự hiểu biết nhất định về nhau, về ngôn ngữ, văn hóa và lối sống của nhau. Lấy vợ chứ có phải lấy người làm thuê đâu, mà ngay lấy người làm thuê người ta cũng còn phải tìm hiểu. Chuyện hôn nhân đại sự, chuyện hạnh phúc của cả một đời người không thể lấy ra làm trò cá cược như thế. Số phận của một người con gái cũng không thể coi như một món hàng để đổi chác như thế.

Muốn hạn chế tối đa tình trạng những cô dâu Việt lấy chồng ngoại quốc bị giết, bị hành hạ hoặc bị bán thì cần nâng cao trình độ hiểu biết cho chính những gia đình ở nông thôn để họ nhận ra rằng: Lấy chồng nước ngoài không phải là con đường dễ dàng để có thể đổi đời như bấy lâu họ vẫn lầm tưởng, hạn chế tối đa được những cuộc hôn nhân với người ngoại quốc chỉ vì tiền. Đó là biện pháp lâu dài, còn cái trước mắt chúng ta có thể làm ngay đó là cấm những trung tâm môi giới hôn nhân vô trách nhiệm đang hoạt động hiện nay.

Còn những người phụ nữ Việt muốn kết hôn với người nước ngoài họ phải có sự hiểu biết nhất định về ngôn ngữ, văn hóa và truyền thống của quốc gia mà họ sắp về làm dâu. Kể cả những người đàn ông nước ngoài cũng phải có sự hiểu biết nhất định về cô gái mà anh ta chuẩn bị kết hôn.

Nếu các tổ chức đoàn thể của mình như Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Đại sứ quán của mình có thể phối hợp chặt chẽ với nhau hơn thì có lẽ những chuyện đau lòng như thế sẽ ít xảy ra hơn. Các tổ chức ấy người thì đông chả thấy họ làm gì. Chỉ cần họ làm đúng chức năng thôi đã quá tốt rồi. Mấy đoàn thể không lo cho đồng bào mình, không bảo vệ đồng bào mình thì để làm gì nữa. Công việc của họ là gì? Họ chỉ làm việc ấy thôi chứ? Họ phải bảo vệ quyền lợi của phụ nữ chứ, chứ không họ làm gì? Đại sứ quán của mình phải có trách nhiệm với đồng bào của mình bên ấy. Chính quyền là cha mẹ của dân, gả con gái của mình thì phải có trách nhiệm với hạnh phúc của con cái chứ đừng “đem con bỏ chợ”.

Trang bị những thứ tối thiểu cho các cô gái như ngôn ngữ, lối sống để ít nhất họ có thể kêu cứu nếu xảy ra chuyện không may. Biết tiếng rồi còn gặp những sự bỡ ngỡ nữa là không biết gì. Các đoàn thể của Việt Nam cũng phải bảo vệ cho các cô gái. Phải có cam kết, anh lấy con tôi thì anh phải cam kết anh lấy nó về làm vợ chứ không phải anh mua nó như một món hàng để về làm cái máy đẻ hay làm nô lệ cho anh. Nếu còn tình trạng lấy chồng nước ngoài vì tiền thì những chuyện đáng tiếc còn tiếp tục xảy ra. Họ mua vợ, về làm dâu mà sống phụ thuộc vào gia đình họ, chênh lệch ngôn ngữ, văn hóa rất dễ xảy ra xung đột. Nếu con gái tôi muốn lấy một người nước ngoài tôi sẽ không muốn chứ đừng nói tới việc qua môi giới hôn nhân.

PGS – TS Lương Quỳnh Khuê – Trưởng khoa Văn hóa xã hội chủ nghĩa – Học viện Báo chí và Truyên truyền: “Cần phải cấm toàn bộ những trung tâm môi giới hôn nhân vô trách nhiệm”

PGS.TS Lương Quỳnh Khuê

Theo tôi thời nào cũng vậy, cái gốc của hôn nhân phải là tình yêu. Sự quan trọng quyết định đến sự tồn tại của hôn nhân sau này phải là có tình yêu hay không. Tất nhiên là có những trường hợp yêu nhau nhưng sau này vẫn đổ vỡ. Nhưng nếu hôn nhân không dựa trên tình yêu trước sau thế nào nó cũng nảy sinh vấn đề. Hoặc là hai người sẽ chán nhau, kinh lẫn nhau, không tôn trọng nhau bởi vì anh cần cái thể xác trẻ trung của tôi, ngược lại tôi cần túi tiền của anh.

Tôi thấy lớp trẻ bây giờ, dựa trên tình yêu để dẫn tới hôn nhân nhưng họ có điều kiện tốt hơn về kinh tế để chuẩn bị cho đời sống hôn nhân sau này. Hôn nhân không có tình yêu, hôn nhân vì tiền. Những cô dâu Việt bị sát hại ở Hàn Quốc gần đây và những cô gái lấy chồng thông qua môi giới hôn nhân rõ ràng không xuất phát từ tình yêu. Đúng là một sự đánh bạc kinh khủng, đưa cả cuộc đời của mình ra đánh bạc, lấy cả những người đàn ông bằng tuổi bố mình, ông mình. Tôi thấy thương vô cùng. Nhiều bậc bố mẹ lại thấy đây là con đường để cứu cả gia đình mà họ không ý thức được những vấn đề khác, khi đã lấy chồng như thế trong tâm của người nước ngoài họ đã coi thường. Và cái điều buồn của mình là họ không chỉ coi thường một cô gái ấy mà họ còn coi thường cả những cô gái Việt Nam, phụ nữ Việt Nam trước cộng đồng quốc tế.
Những trường hợp lấy nhau do môi giới hôn nhân có thể có hạnh phúc không? Tôi nhớ một bộ phim của Trung Quốc tôi xem khi còn rất nhỏ là “Cầu phúc” dựa trên truyện ngắn của Lỗ Tấn. Chuyện phim kể về một chị nông dân Trung Quốc được gả bán cho một anh nông dân Trung Quốc, về sau họ sinh một đứa con. Khi anh ấy đứng nhìn cô ấy chăm sóc và âu yếm đứa con thì có một lời bình của phim là “duyên ép hóa duyên lành”.

Nhưng đấy là hai người Trung Quốc, họ cùng ngôn ngữ và văn hóa cộng thêm rất nhiều sự tương đồng khác về thể chất, tình yêu nó khó nói lắm, họ có một sự đồng cảm mà người khác không hiểu được. Hôn nhân với người nước ngoài không thể có tình yêu, rất ít trường hợp may mắn để những cuộc hôn nhân như thế hạnh phúc. Tôi phản đối hôn nhân với người nước ngoài thông qua môi giới.

Sự khác nhau về ngôn ngữ và văn hóa của nhau sẽ cản trở rất lớn tới hôn nhân thế nên nếu muốn tiến tới hôn nhân thì phải tìm hiểu ngôn ngữ và nền văn hóa của nhau để tự điều chỉnh. Phải tìm hiểu và có ý thức tự điều chỉnh. Nhập gia phải tùy tục, nếu hai người sống với nhau có ý thức để tiếp thu nền văn hóa của nhau thì dù anh có hơi vụng về nhưng người ta vẫn chấp nhận. Lối sống, chuẩn giá trị đạo đức. Hai người phải có ý thức để tìm hiểu lẫn nhau để vượt qua rào cản ngôn ngữ và văn hóa nhưng theo tôi cái gốc nhất vẫn phải là tình yêu.

Theo tôi tốt nhất là nên xóa bỏ sự tồn tại của những trung tâm môi giới hôn nhân với người nước ngoài. Nhưng mà nếu như các cô gái vẫn tiếp tục lấy chồng nước ngoài thì cần có phải có biện pháp để ngăn chặn những trung tâm môi giới chui nếu không còn tai hại hơn. Tốt nhất là mình thành lập những câu lạc bộ kiểu mà mình quản lý được. Nếu bỏ được thì tốt theo nghĩa mình có cái khác. Chứ cái tình trạng môi giới hôn nhân như hiện nay, tự nhiên đến nhìn mặt nhau, anh ta chỉ việc đưa ít tiền rồi ba ngày hôm sau cưới.

Tôi không thể tưởng tượng được nếu như là mình tại sao mình lại dấn thân vào con đường như thế, gửi cả cuộc đời mình, con cái mình cho một người đàn ông xa lạ ở một đất nước xa lại như thế, thực sự là phiêu lưu. Hôn nhân kiểu gì mà đến nhìn rồi còn sờ, nắn xem là người ấy có khỏe mạnh hay không. Tôi cho đó là một sự xúc phạm và sỉ nhục ghê gớm, coi người phụ nữ như những món hàng. Người Việt Nam mình lấy nhau có phải đôi nào cũng hạnh phúc đâu, nữa là lấy người nước ngoài.

Độ an toàn trong hôn nhân, về tính mạng con người cao hơn nhiều so với lấy chồng nước ngoài, nhất là qua môi giới hôn nhân. Họ chỉ muốn các cô gái Việt làm cái máy đẻ thuê, người ở cho họ chứ có phải lấy để làm vợ đâu. Một trong những cái mất của hội nhập tôi nghĩ cũng là cái này.

Chẳng có người mẹ nào gả con mà không muốn con hạnh phúc, không có người phụ nữ nào lấy chồng mà không muốn mình có một gia đình hạnh phúc nhưng mà cái trung tâm môi giới cho các cô dâu lại thường vô trách nhiệm, họ chỉ làm xong việc thu tiền rồi lặn mất tăm mà không có tý trách nhiệm nào với những khách hàng của họ. Những người phụ nữ ấy không biết trông cậy vào đâu.

Chúng ta cần phải kiểm tra trình độ ngôn ngữ và hiểu biết văn hóa lẫn nhau của cả cô dâu và chú rể trước khi đồng ý cho họ kết hôn. Phải bảo vệ những người phụ nữ Việt Nam Vừa rồi chỉ vì chúng ta không bảo vệ được người phụ nữ Việt Nam nên mới để xảy ra những câu chuyện đáng buồn như của Huỳnh Mai và Kim Đồng và trước đó là rất nhiều cô gái khác.

Không thể để xảy ra tình trạng một cô gái sang phải làm vợ của mấy người trong gia đình hay bị bán vào các động mại dâm, bị bóc lột đến kiệt quệ. Tôi thấy thật là khủng khiếp. Cần phải cấm toàn bộ những trung tâm môi giới hôn nhân vô trách nhiệm. Và càng giảm thiểu được bao nhiêu những chuyện hôn nhân vì tiền với người nước ngoài thì càng tốt bấy nhiêu.

Lưu Thủy – Sơn Khê (VieTimes)

*********************************************************************************

NGHÈO + VĂN HÓA VÙNG MIỀN = LIỀU MẠNG LẤY CHỒNG … HÀN QUỐC

Chuyện các cô gái Việt lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc…(trong số đó, các cô gái miền Tây Nam Bộ chiếm phần lớn) thông qua hình thức môi giới hôn nhân, nhất là các đường dây môi giới bất hợp pháp lại một lần nữa được đem ra bàn luận: “Tại sao miền Tây được thiên nhiên đặc biệt ưu đãi, điều kiện tự nhiên vào loại thuận lợi nhất nước mà con gái lấy chồng ngoại lại cũng nhiều nhất nước?” – VieTimes đã đem vấn đề này trao đổi cùng GS.VS.TSKH Trần Ngọc Thêm, Trưởng bộ môn Văn hóa học – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Ông khẳng định cái nghèo, sự hạn chế tri thức, đặc điểm văn hoá vùng miền chính là lý do khiến nhiều cô gái miền Tây quyêt ý lấy chồng Hàn Quốc, Đài Loan…

Nghèo, trình độ dân trí thấp và bối cảnh văn hóa vùng

GS.VS.TSKH Trần Ngọc Thêm

Ông cho biết: “Trước hết, tôi phải khẳng định ngay rằng đúng là miền Tây Nam Bộ có điều kiện thuận lợi, thiên nhiên ưu đãi nhất nước, nhưng để từ đó suy ra rằng cuộc sống của người dân ở đây sung sướng nhất nước thì điều đó đã trở thành quá khứ. Đó là thời của văn hóa Nông nghiệp. Còn hiện nay, thời đại của công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì những ưu đãi của thiên nhiên không phải là tất cả.

Xưa, miền Tây giàu nhất nước. Địa chủ ở đây có đất đai thẳng cánh cò bay, thóc lúa đầy nhà. Khác với các vùng đất khác, con người nơi đây phân hóa rất sâu sắc. Tổ tiên của họ – những người đi vào khai hoang vùng đất mới, chia làm hai loại rõ rệt. Thứ nhất là lớp dân dưới đáy – đó là những người nghèo túng không mảnh đất cắm dùi, những người sống bằng nghề trộm cướp, những người trốn tù vượt ngục… vào vùng đất mới với hy vọng thay đổi số phận. Bên cạnh đó là những người trí thức bất đắc chí, không hợp tác được với triều đình hoặc không được triều đình trọng dụng nên mới phải bỏ đi. Họ là những trí thức cực đoan mang theo một nền giáo dục Nho giáo cũng rất cực đoan.

Ở giai đoạn trước đây, khi công nghiệp chưa tràn vào thì với điều kiện rất thuận lợi như đất đai màu mỡ, lại được phù sa bồi đắp, hệ thống kênh rạch, sông ngòi chằng chịt đem lại nguồn lợi thủy sản dồi dào, bước chân ra đồng là có cá, có tôm…, cái gì cũng sẵn. Chính vì vậy mà người dân miền Tây luôn hài lòng với cuộc sống của mình, không cần học nhiều, làm nhiều vẫn có thể đủ ăn, không cần chắt chiu tằn tiện như người miền Bắc hay miền Trung, làm được bao nhiêu là tiêu bấy nhiêu. Với cuộc sống dễ chịu như vậy, dễ hiểu là họ không có ham muốn thay đổi cuộc sống hiện tại – đó là cái trạng thái mà ta hay gọi là “không có chí tiến thủ”. Sang thời đại công nghiệp, vùng đất vốn phụ thuộc hoàn toàn vào nông nghiệp bỗng như bị “khớp”. Sản phẩm nông nghiệp làm ra không nâng được giá. Trong khi đó, đồng ruộng bị ảnh hưởng bới hóa chất, bởi thiên tai… không cho năng suất cao như trước. Mảnh đất vốn sống chung với lũ, nhờ lũ để bồi đắp phù sa giờ lại đắp đê ngăn lũ. Thuỷ sản gần như không còn. Người thì đông lên. Trong khi công nghiệp thì lại chưa vươn được tới. Hệ quả tất yếu là cái nghèo bao trùm lêm một bộ phận lớn dân cư.

Cũng phải nói thẳng rằng, trình độ dân trí của người dân nơi đây còn thấp. Lý do đơn giản là trước kia họ luôn bằng lòng với cuộc sống hiện tại nên không thấy cần học hành cao, không cần đỗ đạt cao. Ở đây, những gia đình có con học lên đến cấp 3 (phổ thông trung học) là đã hài lòng lắm rồi. Số chịu khó vươn lên học tới đại học hoặc cao hơn thì rất ít. Trình độ dân trí thấp, cuộc sống quen đơn giản, nên việc họ suy nghĩ đơn giản, ít đắn đo cân nhắc trước sau là chuyện dễ hiểu.

Trong khi đó, con cái đều có phẩm chất của văn hoá truyền thống Việt Nam là yêu thương, hiếu thảo với cha mẹ. Thấy ba má nghèo, muốn giúp đỡ. Nhiều cô gái chọn cách lấy chồng ngoại để có tiền giúp bố mẹ, để bố mẹ mở mày mở mặt với chòm xóm. Ý định, mong muốn này của các cô gái khi thể hiện ra lại được bố mẹ chấp thuận dễ dàng. Bố mẹ và con cái gặp nhau ở cùng một kiểu suy nghĩ. Nhiều người như thế, nhiều gia đình như thế tạo nên một bối cảnh văn hoá hoàn toàn khác hẳn với miền Bắc và miền Trung, nơi mà con người bị bị tác động rất nhiều bởi dư luận xã hội, mà dư luận xã hội thì rất chặt chẽ, khắt khe.

Trong khi đó, những thông tin về mặt trái của hôn nhân với người nước ngoài qua các công ty môi giới bất hợp pháp lại khó đến được những nơi này. Họ ít đọc báo, nghe đài, vào mạng internet… Nếu có đọc báo, nghe đài, xem truyền hình thì cũng quan tâm nhiều đến những chương trình giải trí, tin tức… mà thôi. Những gia đình có gốc Nho giáo, có truyền thống giáo dục con cái kỹ lưỡng thì do số lượng ít nên không đủ tạo nên một luồng dư luận xã hội ảnh hưởng tới xung quanh.

Tóm lại, nghèo, trình độ văn hóa thấp cùng bối cảnh văn hóa vùng là những nguyên nhân sâu xa khiến cho con gái miền Tây lấy chồng ngoại qua các công ty môi giới hôn nhân nhiều đến vậy, nhiều nhất cả nước.”

Phóng viên (PV): Như vậy, người miền Tây, đặc biệt là phụ nữ quan niệm như thế nào về tình yêu, hôn nhân và gia đình ạ?

GS.TSKH Trần Ngọc Thêm (TNT): Như đã nói, người miền Tây Nam Bộ thường quan niệm, nhìn nhận mọi vấn đề khá đơn giản. Tâm lý này bắt nguồn từ việc thời xưa họ được thiên nhiên rất ưu đãi. Phụ nữ miền Tây quan niệm về tình yêu, hôn nhân và gia đình có khác so với phụ nữ miền Bắc và miền Trung. Ở miền Bắc và miền Trung, vai trò của người phụ nữ trong gia đình tương đối lớn, tương đối bình đẳng hơn trong quan hệ với nam giới. Nếu người chồng lo việc xã hội, việc nước thì người vợ là nội tướng trong gia đình, một tay quán xuyến tất cả mọi việc tề gia nội trợ. Họ luôn có ý thức chăm lo, vun vén cho gia đình, từ việc cắt đặt việc nhà đến việc nuôi dạy, giáo dục con cái… Đồng thời, họ cũng đòi hỏi khá nhiều phẩm chất ở người chồng như tu chí làm ăn, công danh sự nghiệp sáng láng… Phụ nữ miền Tây thì dễ dãi hơn. Họ rất chiều chuộng chồng, dễ dàng chấp nhận chuyện chồng nhậu nhẹt, say xỉn, thậm chí đánh đập mình. Trong khi đó, họ cũng ít lo vun vén cho gia đình như phụ nữ miền Trung, miền Bắc. Chồng mang bao nhiêu tiền về là xài hết bấy nhiêu, trưng diện cho bản thân trong khi nhà cửa có thể vẫn dột nát. Đối với con cái, cách giáo dục của họ cũng dễ dãi hơn rất nhiều. Con cái muốn học đến đâu thì học, không định hướng, không ép buộc…

PV: Tâm lý này, quan niệm này liệu có thể lý giải thêm một thực tế cũng rất nhức nhối ở nhiều tỉnh miền Tây là bên cạnh hiện tượng con gái lấy chồng ngoại nhiều, còn có hiện tượng không ít người vào thành phố làm gái mại dâm, thưa giáo sư?

TNT: Đúng là từ tâm lý dễ dãi ấy đã sinh ra một quan niệm dễ dãi là cứ nghề gì kiếm ra tiền, có lợi thì làm. Tuy vậy, chỉ một lý do đó thôi thì chưa đủ. Lý giải thực tế này còn phải nói đến quan niệm về vấn đề trinh tiết của người phụ nữ.

Khái niệm trinh tiết chỉ hình thành khi chế độ sở hữu xuất hiện. Trong xã hội phụ quyền, người đàn ông coi vợ là một vật sở hữu – giống như tài sản – của mình, vì vậy trinh tiết được chọn làm một dấu hiệu của sự sở hữu đó. Xã hội nào phân hóa sớm thì quan niệm đó xuất hiện sớm. Nền văn hóa nào coi đàn ông là tối thượng thì quan niệm đó là quan trọng. Còn nơi nào ý thức sở hữu không mạnh, ảnh hưởng văn hóa bên ngoài đến chậm thì quan niệm về chữ trinh cũng nhẹ nhàng hơn.

Miền Tây Nam Bộ với bối cảnh văn hóa vùng có nhiều điểm riêng biệt chính là một nơi như thế. Thiên nhiên ưu đãi khiến ý thức sở hữu không mạnh. Trong khi miền Bắc chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi Nho giáo với quan niệm nặng nề về chữ trinh, và sự ảnh hưởng này là rộng khắp, phổ biến, đồng đều do đặc điểm sống quần cư trong các làng xóm nhỏ, thì ở miền Tây, đạo Nho chỉ ảnh hưởng trong một bộ phận nhỏ dân cư (là những trí thức gốc Nho giáo). Tầng lớp dân cư còn lại (dân dưới đáy, dân nghèo) ít bị chi phối bởi hệ tư tưởng này. Bên cạnh đó, việc các gia đình sống cách xa nhau (sống trong các bưng biền, chia cách bởi sông ngòi, kênh rạch) khiến cho mối quan hệ trong cộng đồng làng xã lỏng lẻo hơn nhiều so với miền Trung và miền Bắc. Điều đó đồng nghĩa với việc áp lực xã hội không mạnh, dư luận xã hội không khắt khe, khiến cho ngay cả những việc như phụ nữ vào thành phố làm gái mại dâm cũng dễ được chấp nhận hơn.

PV: Trở lại câu chuyện về các cô dâu Hàn Quốc, qua cái chết của Huỳnh Mai và Kim Đồng, chúng ta cũng đặt ra rất nhiều câu hỏi về vai trò của các công ty môi giới hôn nhân. Giáo sư có nhận xét gì về vấn đề này?

TNT: Sự tồn tại của các công ty môi giới hôn nhân bất hợp pháp là không thể chấp nhận được. Thật là quá tệ. Như báo chí đưa tin, đám cưới tổ chức xong, bên nhà trai đưa cho nhà gái 400 đô thì môi giới ăn chặn mất một nửa. Còn có 200 đô, nhà gái không đủ tiền trang trải chi phí và thuê xe trở về quê. Không những thế, họ còn “đem con bỏ chợ”. Cưới xong là hết trách nhiệm. Chả cần biết con người ta bên xứ người sống chết thế nào… Nhưng cũng cần phải nói thêm rằng, luật pháp của chúng ta có quá nhiều kẽ hở. Chính những kẻ hỡ này đã bị họ khai thác triệt để và kiếm tiền trên phẩm giá, sinh mạng của những cô gái ước ao lấy chồng ngoại để mong đổi đời…

PV: Còn vai trò của các Đại sứ quán, các hiệp hội tại các nước có người Việt làm dâu thì sao?

TNT: Thật sự là khó có thể quan tâm đến tất cả mọi người với số lượng đông như thế. Song cũng phải thừa nhận rằng các cơ quan chức năng, các tổ chức của người Việt ở các nước này chưa làm hết trách nhiệm của mình, chưa chủ động hợp tác với các cơ quan, tổ chức của nước sở tại để tìm cách hạn chế, khắc phục tình trạng môi giới hôn nhân bất hợp pháp và trở thành chỗ dựa tin cậy cho các cô dâu.

Với câu chuyện của các cô dâu như Huỳnh Mai và Kim Đồng lâu nay báo chí Việt Nam đã có vai trò rất lớn, tạo nên một làn sóng dư luận. Hẳn là qua việc này, nhiều cô gái muốn lấy chồng ngoại, các ông bố bà mẹ cũng phải suy nghĩ kỹ trước khi quyết định.

PV: Dưới góc nhìn của giáo sư, chúng ta nên làm gì để chấm dứt tình trạng lấy chồng ngoại quốc thông qua môi giới hôn nhân bất  hợp pháp như vậy?

TNT: Sự thực là một bộ phận dân chúng có nhu cầu nên các công ty môi giới mới sống được. Việc gì xã hội có nhu cầu thì trách nhiệm của nhà nước là phải đáp ứng. Tôi nghĩ rằng cái cần phải cấm chỉ là toàn bộ các trung tâm môi giới hôn nhân bất hợp pháp. Tất nhiên là phải quản lý thật chặt những người muốn lấy chồng ngoại quốc hoặc muốn lấy vợ Việt Nam. Họ phải hội đủ những điều kiện về sức khỏe, kinh tế và hiểu biết về người mà họ chuẩn bị kết hôn thì mới được phép chứ không để như hiện nay được…

Mặt khác, chúng ta cần xem xét lại hoạt động, vai trò, trách nhiệm của cơ quan phụ trách vấn đề này, tại sao lại có thể để những trung tâm môi giới hôn nhân bất hợp pháp có thể ngang nhiên hoạt động như thế. Cần đặt những câu hỏi như tại sao chúng vẫn hoạt động được? Luật pháp đã kín kẽ chưa? Chế tài xử phạt có đủ sức răn đe không?

Nói tóm lại, việc cần làm là phải có pháp luật, quy định chặt chẽ với các hình thức chế tài đủ sức răn đe và các cơ quan chức năng cần quản lý để các công ty cũng như dân chúng thực hiện đúng theo pháp luật. Nếu vi phạm, cứ chiếu theo luật mà xử. Muốn thế, luật phải đáp ứng các tiêu chí: đầy đủ (bao quát hết), rộng khắp (để ai cũng biết) và thật sự nghiêm minh.

Tôi chắc rằng phía chính phủ Hàn Quốc, Đài Loan… sẵn sàng hợp tác bởi đây là việc có lợi cho chính họ. Người có nhu cầu lấy vợ nước ngoài qua môi giới ở các nước này là những thanh niên ở nông thôn, nơi mà con gái đã đi hết ra thành phố. Vấn đề là ở phía bên ta hành động như thế nào.

Bên cạnh đó, cũng cần tăng cường các biên pháp giáo dục, tuyên truyền. Tăng cường đưa những câu chuyện thực tế lên các phương tiện thông tin đại chúng, để người dân cũng bàn luận… Từ đấy, thay đổi dần quan điểm, nhận thức của họ. Có rất nhiều con đường để thoát nghèo chứ không phải chỉ có cách lấy chồng ngoại. Ở những vùng kinh tế khó khăn, Nhà nước phải có nhiều chính sách hỗ trợ, giúp họ nâng cao đời sống, như thay đổi cơ cấu ngành, đầu tư cơ sở hạ tầng… Khi đời sống khá lên thì chẳng việc gì họ lại phải đi đâu.

PV: Xin cảm ơn giáo sư về cuộc trao đổi này!
Minh Tâm (VieTimes)

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 645 other followers

%d bloggers like this: