TÁC PHẨM VĂN HỌC CÓ ĐƯỢC XEM LÀ TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG?

NGUYỀN THị HUYỀN – Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên – Huế

Như chúng ta đã biết thì tác giả là người sáng tạo phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học (gọi chung là tác phẩm). Quyền tác giả được bảo hộ tự động (không cần phải đăng ký) theo Luật Sở hữu trí tuệ và các quy định tại Công ước Bener, các văn bản pháp luật Sở hữu trí tuệ quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Tại khoản 1 Điều 738 Bộ luật dân sự quy định  “Quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm”. Như vậy, trong quyền tác giả có chứa yếu tố quyền tài sản. Trong thực tế, đã xảy ra nhiều trường hợp tranh chấp về “quyền tác giả” mà có nhiều quan điểm khác nhau khi giải quyết; đặc biệt là việc tranh chấp này lại xuất hiện trong vụ án hôn nhân gia đình. Tác giả xin đưa ra tình huống cụ thể sau đây:

Chị X là người hoạt động trên lĩnh vực nghệ thuật, thỉnh thoảng có sở thích sáng tác thơ ngẫu hứng. Trước khi chị lấy chồng chị có sáng tác được 20 bài thơ, sau này mới in thành tập thơ riêng. Chị X lập gia đình với anh Y (hôn nhân hợp pháp) và sau khi lấy chồng, chị X vẫn tiếp tục sáng tác. Trong thời kỳ hôn nhân, chị X sáng tác được 50 bài thơ và chị đã cho in thành sách phát hành. Chị X trở thành người nổi tiếng và nhận được nhiều tiền nhuận bút vì có nhiều bài thơ được phổ nhạc. Sau đó, chị X và anh Y phát sinh mâu thuẫn và thuận tình ly hôn, nhưng có tranh chấp về tài sản. Tài sản tranh chấp trong trường hợp này là các bài thơ của chị X. Anh Y cho rằng đây là tài sản chung của vợ chồng, vì trong thời gian hôn nhân chị X đã sáng tác những bài thơ này và thời gian chị X dành làm thơ đồng nghĩa với anh việc phải cáng đáng việc nhà và chăm sóc con cái thay chị X; cho nên phải chia đôi 50 bài thơ do chị X sáng tác trong thời kỳ hôn nhân cũng như nhuận bút và những lợi nhuận đã phát sinh từ các tác phẩm của chị X cũng phải chia đôi cho anh một nửa. Chị X không đồng ý với ý kiến của anh Y, chị cho rằng: 50 bài thơ của chị là tác phẩm văn học, là tài sản sở hữu trí tuệ của chị, gắn liền với tên tuổi, nhân thân của chị nên không thể chia được. Chị cho rằng việc sáng tác của chị không làm ảnh hưởng gì đến cuộc sống gia đình, hầu hết chị sáng tác thơ tại phòng làm việc tại cơ quan lúc rảnh rỗi hoặc ở công viên.

Vụ việc trên được Tòa án thụ lý giải quyết và có hai quan điểm khác nhau xung quanh việc giải quyết yêu cầu của anh Y; cụ thể là:

Đọc tiếp

BÌNH LUẬN CHẾ ĐỊNH TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG DỰ LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH (sửa đổi)

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Chủ tịch Công ty Luật BASICO, Trọng tài viên VIAC

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật HNGĐ năm 2000 (Bản tác giả góp ý).

Dự thảo Luật HNGĐ (sửa đổi) – Bản trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 6, tháng 10/2013.

1. Các điều quy định về chế độ tài sản của vợ chồng

1.1. Vấn đề tài sản đóng vai trò ít nhất 30% vào sự ổn định và phát triển của “tế bào” gia đình trong xã hội. Quan hệ gia đình có tốt đẹp hay không, pháp luật chỉ tác động được vào tài sản, còn tình cảm thì không dựa nhiều vào luật được. Vì vậy, các điều quy định về chế độ tài sản của vợ chồng, nhất là những quy định mới được bổ sung là vô cùng cần thiết, đã giải quyết được hầu hết các vướng mắc, bất cập vô lý và nhức nhối từ ngày có Luật Hôn nhân gia đình năm 1959. Tuy nhiên, Dự thảo Luật có trên 30 điều (tăng khá nhiều so với Luật hiện hành) quy định về chế độ tài sản của vợ chồng đang được đưa chung vào một số chương (chủ yếu các điều ở Chương III về “Quan hệ giữa vợ và chồng”, một số điều ở Chương X về “Ly hôn” và một số điều ở một vài chương khác) là không hợp lý, lẫn lộn quan hệ tình cảm, nhân thân với quan hệ tài sản.

1.2. Vì vậy, đề nghị xem xét tách tất cả các điều khoản quy định liên quan đến tài sản của vợ chồng nói riêng, của gia đình nói chung để đưa vào một chương riêng về “Quan hệ tài sản trong gia đình”.

2. Về “Giao dịch liên quan đến chỗ ở của vợ chồng” (Điều 26đ):

2.1. Tên Điều này đề cập đến “chỗ ở”, tuy nhiên nội dung thì lại chỉ đề cập đến “nhà ở” khi quy định “Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch liên quan đến nhà ở là tài sản chung của vợ chồng hoặc là tài sản riêng của một bên nhưng là nơi sinh sống duy nhất của vợ chồng thì phải có sự thỏa thuận của vợ chồng.”. Như vậy là có sự không thống nhất giữa tên Điều Luật và nội dung (“chỗ ở” rộng hơn “nhà ở”).

2.2. Vì vậy đề nghị sửa tên Điều luật thành “Giao dịch liên quan đến nhà ở của vợ chồng”.

Đọc tiếp

TUYÊN TRUYỀN CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TÁC CẤP, ĐỔI GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT GHI TÊN MỘT NGƯỜI SANG GHI TÊN VỢ VÀ CHỒNG

TS. NGUYỄN QUANG TUYẾN – Đại học Luật Hà Nội

1. Tầm quan trọng của hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về công tác cấp đổi GCN

Đối với một nước nông nghiệp như Việt Nam, đất đai có vai trò vô cùng quan trọng với cuộc sống của người dân (nhất là đối với người nông dân). Chính vì vậy, việc đăng ký quyền sử dụng đất và được đứng tên chủ sử dụng trong GCNQSDĐ thu hút sự quan tâm đặc biệt của mọi tầng lớp dân cư. Ở quốc gia mà tư tưởng “trọng nam, khinh nữ” tồn tại trong một thời gian dài và “ăn sâu, bám rễ” trong tâm thức của một bộ phận không nhỏ người dân thì việc người đàn ông (người chồng) đứng tên chủ sở hữu tài sản nói chung và đứng tên trong GCNQSDĐ của vợ, chồng nói riêng được coi như lẽ đương nhiên. Do đó, Luật đất đai năm 2003 quy định quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ và chồng khi cấp GCNQSDĐ phải ghi rõ cả họ, tên vợ và họ, tên chồng và việc triển khai thí điểm cấp đổi GCN ở một số địa phương1 được coi là một cuộc cách mạng không chỉ tấn công trực diện vào quan niệm phong kiến lạc hậu mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người đàn ông có tên trong GCN. Việc làm này đã vấp phải không ít những khó khăn, trở ngại bởi sự không đồng thuận hoặc sự chống đối của một bộ phận nam giới mang nặng tư tưởng phân biệt, kỳ thị đối với phụ nữ. Đặt trong bối cảnh đó, hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về công tác cấp đổi GCN có vị trí hết sức quan trọng. Đây là hoạt động phải được triển khai trước tiên trước khi tiến hành các hoạt động mang tính kỹ thuật, nghiệp vụ tiếp theo về cấp đổi GCN. Vai trò của hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về cấp đổi GCN được thể hiện trên các khía cạnh chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, tác động làm thay đổi nhận thức của người dân về bình đẳng giới trong sử dụng đất nói chung và trong cấp GCNQSDĐ nói riêng; phê phán quan niệm phong kiến lạc hậu và lên án mọi sự kỳ thị, phân biệt đối xử giữa nam và nữ. Trên cơ sở đó, xây dựng quan niệm đúng đắn về sự bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới trong việc tiếp cận các quyền của người sử dụng đất.

Thứ hai, góp phần đề cao sự bình đẳng nam, nữ trong xã hội Việt Nam nói chung và trong việc tiếp cận sử dụng đất đai nói riêng. Hơn nữa, hoạt động này còn tạo ra sự đồng thuận xã hội trong việc bảo vệ quyền của phụ nữ đối với tài sản là nhà, đất. Ở khía cạnh khác, phụ nữ là lực lượng lao động chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp. Khi họ được bình đẳng với nam giới về quyền và nghĩa vụ trong sử dụng đất đai sẽ tạo ra động lực tích cực giúp phụ nữ hăng say sản xuất góp phần đáng kể vào quá trình đẩy nhanh tỷ lệ giảm đói, nghèo ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

Đọc tiếp

CHẾ ĐỘ TÀI SẢN THEO THỎA THUẬN CỦA VỢ CHỒNG LIÊN HỆ TỪ PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI ĐẾN PHÁP LUẬT VIỆT NAM

THS. BÙI MINH HỒNG – Khoa Luật dân sự, Đại học Luật Hà Nội

1. Pháp luật về chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng

1.1. Tổng quan :

Kết hôn là sự kiện làm phát sinh một gia đình mà ở đó phản án sự chung sống của hai vợ chồng và con cái (nếu có). Như là một tất yếu của cuộc sống chung, vợ và chồng thực hiện những quan hệ về tài sản nhằm đáp ứng những nhu cầu tồn tại và phát triển của gia đình. Đây là những quan hệ xảy ra phổ biến trong xã hội và chịu sự điều chỉnh trực tiếp của pháp luật về hôn nhân và gia đình, trong một quy chế được gọi là «Chế độ tài sản của vợ chồng»[1].

Có một câu hỏi lớn đặt ra là : Chế độ tài sản của vợ chồng sẽ được xác lập theo luật pháp hay theo sự thỏa thuận của vợ và chồng?

Một công trình nghiên cứu khoa học của Viện luât so sánh, trường Đại học tổng hợp Paris II, tiến hành năm 1974, với nhan đề «Chế độ tài sản của vợ chồng trong những pháp luật đương đại», đã đưa ra một câu trả lời khá đầy đủ trên phạm vi toàn cầu[2]. Thực tế, có hai trường phái luật pháp mang hai quan điểm khác nhau về vấn đề này. Phần lớn pháp luật của các nước trên thế giới thừa nhận quyền tự do thỏa thuận của vợ và chồng về chế độ tài sản, vì vậy, một mặt luật pháp dự liệu một chế độ tài sản của vợ chồng, mặt khác quy định những người kết hôn có quyền lập hôn ước (Contrat de mariage –tiếng pháp) ; Chế độ tài sản do pháp luật dự liệu chỉ có hiệu lực áp dụng trong trường hợp vợ chồng không có hôn ước hoặc hôn ước được lập ra nhưng vô hiệu do vi phạm những quy định của luật chung. Chỉ có một số nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, như Liên xô, Bulgari, Hungari, Roumani, Tiệp khắc, Trung quốc, Việt Nam và ngoài ra còn có Arhentina và một số bang của Méhicô duy trì duy nhất một chế độ tài sản pháp định đối với vợ chồng.

Đọc tiếp

PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI VÀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CHÍNH ĐÁNG CỦA PHỤ NỮ

TS. DOÃN HỒNG NHUNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Quy định của pháp luật bảo vệ quyền lợi phụ nữ trong lĩnh vực đất đai

Vai trò của phụ nữ, vấn đề nữ giới trong việc quyết định các chính sách về đất đai là một yếu tố để đảm bảo thành công việc hoàn thiện chính sách, pháp luật đất đai, xây dựng xã hội dân sự. Đảng và Nhà nước ta đã xác định, tăng cường bình đẳng về giới, lồng ghép các vấn đề giới vào các chính sách, chương trình và dự án phát triển là một nội dung quan trọng trong chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói, giảm nghèo.

Nhìn vào các một số quy định hiện hành, Nhà nước ta không có sự phân biệt về chính sách theo giới, nam/nữ bình đẳng trước pháp luật về đất đai. Điều 105, 106 và 108 Luật Đất đai năm 2003 quy định, hộ gia đình, cá nhân, tổ chức sử dụng đất có các quyền chung của người sử dụng đất. Điều 108 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định “Tài sản chung của hộ gia đình gồm quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thoả thuận là tài sản chung của hộ”. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã ghi nhận: “1- Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất. 2- Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, phải ghi tên cả vợ và chồng”1. Luật Đất đai năm 2003 quy định tại Điều 48 khoản 3: “Trường hợp quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ và chồng thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng”. Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình quy định “tất cả những giấy tờ, đăng ký tài sản gia đình bao gồm cả quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở phải được ghi cả tên vợ và chồng”. Tại Điều 5 của Nghị định số 70/2001/NĐ-CP còn quy định: Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ, chồng đã đăng ký quyền sở hữu mà chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì vợ, chồng có thể yêu cầu cơ quan nhà nước cấp lại giấy tờ đăng ký quyền sở hữu tài sản đó để ghi tên cả vợ và chồng. Nếu vợ, chồng không yêu cầu cấp lại giấy đăng ký tài sản thì tài sản đó vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng. Trong trường hợp vợ chồng ly hôn hoặc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì bên được chia phần tài sản bằng hiện vật đã đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng mà có ghi tên vợ và chồng, có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký tài sản cấp lại giấy tờ đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản.

Đọc tiếp

BẢO ĐẢM NGHĨA VỤ BẰNG TIỀN VAY CỦA VỢ CHỒNG

TRẦN QUANG MINH – Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm

Trong hoạt động bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng, có nhiều trường hợp, các tổ chức này thực hiện việc cho vay đối với khách hàng vay là người đã có vợ hoặc chồng. Trong những trường hợp này, các cán bộ tín dụng thường gặp khó khăn trong việc xác định số tiền vay và tài sản hình thành từ tiền vay có thuộc tài sản chung của hai vợ chồng hay không? Các hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm bằng tài sản hình thành từ tiền vay chỉ cần sự tham gia ký kết của người đi vay hay cần có sự tham gia ký kết của cả hai vợ chồng? Việc đăng ký giao dịch bảo đảm trong trường hợp này sẽ được thực hiện như thế nào?

 

 

 

 Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin được giải đáp những thắc mắc nêu trên căn cứ vào hệ thống pháp luật hiện hành nói chung và những quy định mới nhất của pháp luật về giao dịch bảo đảm nói riêng, qua đó, hy vọng góp phần giúp cho hoạt động cho vay và bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng được thực hiện theo đúng quy định pháp luật và an toàn.
1. Việc xác định tiền vay và tài sản hình thành từ tiền vay là tài sản thuộc sở hữu chung hay sở hữu riêng của vợ chồng
Để xác định tiền vay và tài sản hình thành từ tiền vay trong thời kỳ hôn nhân thuộc sở hữu chung hay sở hữu riêng của vợ chồng, chúng ta cần phải căn cứ vào những quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và văn bản hướng dẫn thi hành như Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình (sau đây gọi là Nghị định số 70). Trong những văn bản nêu trên, có những quy định sau đây liên quan đến vấn đề này: Đọc tiếp

VỤ ÁN: BỖNG NHIÊN CHỒNG CŨ ĐÒI CHIA ĐẤT

VĂN ĐOÀN

Sau 16 năm bỏ đi sống với những người phụ nữ khác, ông chồng lù lù quay về, đòi bà vợ chia tài sản…

TAND quận Ninh Kiều (TP Cần Thơ) vừa hoãn phiên xử sơ thẩm lần hai vụ chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân giữa ông T. và bà Đ. theo yêu cầu của phía ông T.

Đòi chia đất sau 16 năm xa cách

Năm 1976, vợ ông T. mất, để lại cho ông năm người con. Trong cảnh gà trống nuôi con vất vả, ông T. tìm được người ý hợp tâm đầu là bà Đ. và hai bên kết hôn với nhau.

Trước đó, bà Đ. có một căn nhà riêng. Lấy ông T., bà đã để cho ông và các con ông về ở cùng, cho ông cùng đứng tên chung trên giấy tờ căn nhà này. Thế rồi, sau vài năm chăm chỉ làm lụng, tích cóp, hai vợ chồng mua thêm được một mảnh vườn rộng hơn 3.000 m2 tại quận Ninh Kiều.

Năm 1987, sau khi đã có với bà Đ. ba mặt con, ông T. cương quyết dứt áo bỏ bà, ra đi theo “tiếng gọi con tim” và xuống Bạc Liêu sống với “bà ba”. Khi đi, ông làm giấy ủy quyền cho bà Đ. được toàn quyền sử dụng, mua bán ngôi nhà và mảnh vườn mà không cần có chữ ký của ông. Năm 1999, sau khi có thêm hai người con với “bà ba” ở Bạc Liêu, lại một lần nữa ông T. dứt áo bỏ “bà ba” mà ra đi về chung sống với “bà tư”.

Suốt thời gian này, một mình bà Đ. cặm cụi làm ăn, nuôi dưỡng tám người con nên người (ba con ruột và năm con riêng của ông T.). 16 năm xa cách biền biệt, mẹ con bà những tưởng ông T. đã an phận với các “bà ba” và “bà tư”, nào ngờ đầu năm 2003, ông T. từ đâu lù lù xuất hiện, gửi đơn lên tòa kiện đòi bà phải chia cho ông 1/3 mảnh vườn (1.000 m2) với lý do đây là tài sản chung của hai người.

Mỗi tòa một nhận định

Tháng 4-2006, TAND quận Ninh Kiều đã đưa vụ kiện ra xử sơ thẩm, nhận định ông T. không có công sức đóng góp gì trong khối tài sản chung với bà Đ. Cụ thể là ông đã bỏ mặc vợ con để đi chung sống với người khác. Vì thế, công sức tạo lập duy trì, phát triển khối tài sản chung này do bà Đ. bỏ ra, ông T. chỉ có tên trên cơ sở pháp lý nguồn gốc đất mà thôi. Vì thế, tòa quyết định chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của ông T. là buộc bà Đ. phải chia lại cho ông hơn 300 m2 đất.

Sau phiên sơ thẩm, cả ông T. lẫn bà Đ. đều không hài lòng và làm đơn kháng cáo. Ông T. thì muốn bà Đ. chia cho ông 1/3 mảnh vườn để có tiền dưỡng già (năm nay ông đã 77 tuổi). Ngược lại, bà Đ. bảo ông T. bỏ bà lao đao, cực khổ để đi tìm hạnh phúc mới bao năm trời nay thì làm gì có chuyện chia đất. Hơn nữa, theo bà trước khi bỏ đi, ông có làm giấy cho bà toàn quyền định đoạt nhà đất nên bây giờ xem như ông đã mất quyền đòi được chia gia sản.

Tháng 7-2006, TAND TP Cần Thơ đã xử phúc thẩm vụ án. Theo tòa, cấp sơ thẩm đã giải quyết chưa chuẩn xác, chưa triệt để việc chia tài sản chung của vợ chồng ông T. trong thời kỳ hôn nhân.

Trước hết, về mảnh vườn rộng hơn 3.000 m2, nếu cấp sơ thẩm đã xác định đây là tài sản chung thì giả sử bà Đ. đã “bán” xong theo ủy quyền của ông T., số tiền “bán” đất đó cũng vẫn là tài sản chung của hai người. Cạnh đó, khi giải quyết quan hệ chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, cấp sơ thẩm cũng cần phải tính toán dứt điểm những tài sản khác của họ. Cụ thể là với căn nhà, theo tòa phúc thẩm, trong giấy tờ chủ quyền có cả tên ông T. nên nó cũng phải được coi là tài sản chung. Ngoài ra, còn những tài sản khác như xe cộ, giường tủ… cũng chưa được cấp sơ thẩm xét đến.

Từ các phân tích trên, TAND TP Cần Thơ đã tuyên hủy toàn bộ bản án sơ thẩm của quận Ninh Kiều để xét xử lại. Chúng tôi sẽ tiếp tục thông tin đến bạn đọc khi có diễn tiến mới.

SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BÀN THÊM VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN THEO PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH HIỆN HÀNH

THS. NGUYỄN HỒNG HẢI – Khoa Luật Dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Chế độ tài sản chung của vợ chồng được qui định tại các điều 27, 28 Luật HN&GĐ năm 2000 là chế độ tài sản pháp định với hình thức chế độ cộng đồng tạo sản (tài sản mà vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân được xác định là tài sản chung, trừ những tài sản theo qui định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng). Về nguyên tắc, khi hôn nhân còn tồn tại thì tài sản chung cũng vẫn còn tồn tại, chế độ tài sản này chỉ chấm dứt khi hôn nhân chấm dứt về mặt pháp lý (ly hôn; một bên vợ, chồng chết hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết)

Tuy nhiên, trên thực tế nhiều cặp vợ chồng muốn được chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (có thể xuất phát từ mâu thuẫn giữa vợ chồng trong quản lý sử dụng, định đoạt tài sản chung xuất phát từ mâu thuẫn về tình cảm, song họ không muốn ly hôn nhưng muốn được độc lập về tài sản để tránh phát triển mâu thuẫn và được độc lập trong cuộc sống…)

Xuất phát từ thực tế trên, Luật HN&GĐ năm 2000 trên cơ sở kế thừa Luật HN&GĐ năm 1986 (Điều 18 ) tiếp tục qui định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (Điều 29 và Điều 30), các qui định này được hướng dẫn từ Điều 6 đến Điều 11 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành Luật HN&GĐ năm 2000 (sau đây gọi chung là Nghị định số 70).

Theo qui định của pháp luật HN&GĐ hiện hành, trong trường hợp có lý do chính đáng, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể được thực hiện thông qua thoả thuận bằng văn bản giữa vợ và chồng, hoặc bản án, quyết định của Toà án. Khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng không thay đổi. Đây chính là điểm khác biệt cơ bản nhất của chế định này so với chế định ly thân được qui định trong pháp luật của một số nước phương Tây(1). Tuy nhiên, quan hệ sở hữu giữa vợ và chồng đối với tài sản đã có sự thay đổi rất nhiều. Theo Điều 30 Luật HN&GĐ và theo Điều 8 Nghị định số 70, phần tài sản mà vợ, chồng được chia, hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của mỗi bên trừ khi vợ chồng có thoả thuận khác.

Trong bài viết này, chúng tôi không đi sâu vào phân tích các điều kiện và hậu quả pháp lý của chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo tinh thần của pháp luật thực định, mà chúng tôi muốn đưa ra một số vướng mắc cần có sự qui định hoặc hướng dẫn cụ thể hơn(2).

1. Việc pháp luật HN&GĐ chỉ công nhận vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng có quyền yêu cầu Toà án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, quyền khởi kiện của người thứ ba trong trường hợp này không được thừa nhận (Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2000), là hoàn toàn phù hợp về mặt nguyên tắc. Tuy nhiên, nếu áp dụng qui định này vào thực tiễn vẫn còn vấn đề bất cập cần phải có sự vận dụng linh hoạt hơn. Theo luật hiện hành, khi vợ, chồng có nghĩa vụ tài sản riêng thì nghĩa vụ tài sản đó được thực hiện bằng tài sản riêng của họ, tài sản chung của vợ chồng không sử dụng cho việc thanh toán các khoản nợ này trừ khi vợ chồng có thoả thuận (Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2000). Vấn đề đặt ra là, rất có thể người có nghĩa vụ tài sản không có hoặc không đủ tài sản riêng để thanh toán các khoản nợ và vợ chồng đã không có thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chia tài sản chung để trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản. Trong trường hợp này, nếu không thừa nhận quyền yêu cầu của người có quyền (chủ nợ) về chia tài sản chung của vợ chồng để lấy phần tài sản của người có nghĩa vụ thanh toán nợ, thì quyền lợi của họ được đảm bảo như thế nào?

Theo chúng tôi, pháp luật cần qui định rõ: Trong trường hp người có quyn có đủ chng c cho rng, v chng không có tho thun hoc không yêu cu Tòa án chia tài sn chung trong thi k hôn nhân nhm mc đích trn tránh thc hin nghĩa v v tài sn, thì người có quyn có th yêu cu Toà án chia tài sn chung ca v chng trong thi k hôn nhân để ly phn tài sn ca người v hoc người chng có nghĩa v thc hin thanh toán các khon n. Yêu cu ca người có quyn s không được Toà án công nhn, nếu vic chia tài sn chung nh hưởng nghiêm trng đến li ích gia đình ca người có nghĩa v hoc bn thân v, chng có nghĩa vđủ tài sn riêng để thanh toán các khon n.

2. Khoản 1 Điều 29 Luật HN&GĐ qui định, vợ, chồng có thể yêu cầu Toà án giải quyết việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nếu không có hoặc không thoả thuận được. Tuy nhiên, Luật HN&GĐ và các văn bản hướng dẫn có liên quan chưa qui định cụ thể nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân khi việc chia tài sản chung đó thuộc thẩm quyền của Toà án. Do đó, trong thực tiễn áp dụng, Toà án sẽ gặp khó khăn khi vận dụng căn cứ pháp lý để giải quyết các tranh chấp phát sinh. Trước đây, Điều 18 Luật HN&GĐ năm 1986 đã qui định: “Khi hôn nhân còn tn ti, nếu mt bên yêu cu và có lý do chính đáng, thì có th chia tài sn chung ca v chng theo qui định Điu 42 (nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn) ca Lut này”. Trên cơ sở kế thừa qui định trên của Luật HN&GĐ năm 1986, theo chúng tôi cần thiết phải qui định một giải pháp như sau:

Khi chia tài sn chung, Toà án căn c vào lý do, mc đích chia tài sn chung để quyết định phm vi tài sn chung được chia. Vic chia tài sn chung căn c vào các nguyên tc chia tài sn khi ly hôn qui định ti Điu 95 ca Lut HN&GĐ; nếu tài sn là nhà và quyn s dng đất thì áp dng các qui định ti các điu 97, 98 và 99 ca Lut HN&GĐ.

3. Qui định trong thời kỳ hôn nhân, nếu có lý do chính đáng vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung bằng văn bản mà không qui định trách nhiệm của họ đối với gia đình sau khi chia tài sản chung là một qui định quá “m”. Giả sử, ngay sau khi kết hôn với lý do kinh doanh riêng, vợ chồng có thoả thuận toàn bộ tài sản chung được chia, tài sản của ai làm ra thuộc về người đó, thì khi đó lợi ích gia đình được đặt ở vị trí nào? Nếu thoả thuận này được thực hiện thì quan hệ hôn nhân chỉ còn tồn tại về mặt nhân thân, còn quan hệ tài sản giữa vợ chồng đã được dân sự hóa, bản chất của hôn nhân XHCN vì thế không được thực hiện.

Theo chúng tôi, để phát huy được mục đích, ý nghĩa của chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân cần bổ sung vào khoản 1 Điều 6 Nghị định số 70 một nội dung bắt buộc trong văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng là: Tài sn bo đảm cho các nhu cu chung ca gia đình.

Ngoài ra cũng cần qui định cụ thể: Trong trường hp v chng không tho thun được vic bo đảm các nhu cu chung ca gia đình, thì có th yêu cu Tòa án gii quyết. Toà án quyết định mc đóng góp ca các bên trên cơ s nhu cu thc tế ca gia đình và kh năng kinh tế ca các bên hoc quyết định không chia toàn b tài sn chung, phn tài sn chung không chia được s dng cho nhu cu ca gia đình.

4. Luật HN&GĐ năm 2000 và Nghị định số 70 qui định các trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân mà không có lý do chính đáng thì bị Toà án tuyên bố là vô hiệu. Tuy nhiên, Luật HN&GĐ lại không qui định ai là người có thể yêu cầu Toà án hủy bỏ thoả thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân trong trường hợp thoả thuận này vi phạm các điều kiện được qui định tại Điều 29 Luật HN&GĐ hoặc gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống gia đình, đến việc trông nom, nuôi dưõng, chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Mặt khác, Luật HN&GĐ cũng chưa qui định hậu quả pháp lý của việc Tòa án tuyên bố vô hiệu đối với thoả thuận chia tài sản chung. Theo chúng tôi, cần qui định rõ: Trong trường hp tho thun chia tài sn chung trong thi k hôn nhân b Toà án tuyên b vô hiu, chế độ tài sn chung ca v chng được khôi phc li tình trng trước khi có tho thun chia tài sn chung.

5. Theo Điều 9 và Điều 10 Nghị định số 70 trong trường hợp vợ chồng có thoả thuận bằng văn bản về khôi phục chế độ tài sản chung, thì kể từ ngày văn bản thoả thuận khôi phục chế độ tài sản chung có hiệu lực, việc xác định phần tài sản thuộc sở hữu riêng của mỗi bên, phần tài sản thuộc sở hữu chung căn cứ vào sự thoả thuận của vợ chồng. Theo chúng tôi, qui định này đã trao cho vợ chồng một quyền hạn quá rộng. Việc vợ chồng có quyền chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, đồng thời có quyền khôi phục chế độ tài sản chung mà không cần có sự xem xét của Toà án đã đưa Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000 trở thành hình thức, chế độ tài sản pháp định không đảm bảo đúng bản chất pháp lý của nhà làm luật đề ra. Theo quan điểm của chúng tôi, việc khôi phục chế độ tài sản chung có nghĩa là khôi phục chế độ tài sản pháp lý được qui định tại Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000, do đó khi thoả thuận khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực, những tài sản có nguồn gốc được qui định tại Điều 27 phải được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Pháp luật chỉ nên trao cho vợ, chồng quyền thoả thuận về tài sản chung đối với những tài sản riêng được qui định tại Điều 32 Luật HN&GĐ năm 2000(3).

6. Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo qui định của pháp luật không làm thay đổi quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng và quan hệ giữa cha mẹ và con. Thực tế, việc vợ chồng áp dụng chế định này đã phản ánh những mâu thuẫn tồn tại trong quan hệ giữa họ. Sự độc lập về tài sản sau khi chia tài sản chung, có thể dẫn đến vợ chồng sống ly thân hoặc một trong các bên lại lẩn tránh trách nhiệm đối với gia đình, từ đó có tranh chấp về việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động, không có thu nhập, không có tài sản để tự nuôi mình. Để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các con, theo chúng tôi, pháp luật cần qui định rõ: Trong trường hp sau khi chia tài sn chung, v chng có tranh chp v chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dc con chưa thành niên, con đã thành niên mt năng lc hành vi dân s, không có kh năng lao động, không có thu nhp và không có tài sn để t nuôi mình, thì Toà án quyết định theo yêu cu ca v, chng hoc ca các cá nhân, cơ quan, t chc có thm quyn. Vic gii quyết tranh chp liên quan đến con áp dng tương t qui định v quyn và nghĩa v gia cha m và con khi ly hôn.

===============================

(1) Một trong các đặc trưng về hậu quả pháp lý của ly thân trong pháp luật HN&GĐ của một số nước phương Tây là vợ chồng phải sống riêng – “Biệt cư”;

(2) Xem: Nguyễn Văn Cừ, “Một số suy nghĩ về Điều 18 Luật HN&GĐ năm 1986”, Tạp chí Luật học, số 1/1995, tr. 24; Nguyễn Phương Lan, “Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân”, Tạp chí Luật học số 6/2002, Tr. 22;

(3) Về vấn đề này, xem thêm Nguyễn Phương Lan, “Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân”, Tạp chí Luật học số 6/2002, Tr. 22.


TẠP CHÍ LUẬT HỌC 5/2003 – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 650 other followers

%d bloggers like this: