THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM: MỘT SỐ ĐÓNG GÓP VÀ TÁC ĐỘNG

THS. LÊ VĂN HINH – Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội

1- Đặt vấn đề

Sau hơn một thập kỷ phát triển, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam cùng với các thị trường có liên quan đã tạo nên một thị trường tài chính (TTTC) Việt Nam phát triển khá đa dạng. Hiện tại, TTCK đã được coi là một cấu phần quan trọng của TTTC Việt Nam (NHNN, 2007) [1] . Qua 11 năm phát triển, TTCK Việt Nam đã từng trải qua một thời kỳ bùng nổ ấn tượng vào năm 2006 (Vũ Đình Ánh, 2007)[2] và sau đó lại rơi vào tình trạng suy giảm từ năm 2009 đến nay: giá chứng khoán giảm liên tục xuống mức rất thấp so với mệnh giá, nhiều công ty chứng khoán thua lỗ…  Trong điều kiện khó khăn hiện nay, dường như xã hội đang hoài nghi về đóng góp tích cực của TTCK đối với xã hội. Trong bối cảnh đó, bài viết tập trung đánh giá về đóng góp và tác động của TTCK đến TTTC hay đến nền kinh tế.

2- TTCK Việt Nam: đóng góp và tác động

2.1. Vai trò của TTCK đối với nền kinh tế

Các nhà nghiên cứu lý thuyết chia TTTC gồm thị trường tiền tệ (gồm thị trường vốn ngắn hạn, thị trường hối đoái và thị trường giấy tờ có giá ngắn hạn) và thị trường vốn (trong đó gồm TTCK, TT vốn tín dụng) (Võ Trí Thành và cộng sự, 2004 [3]; Võ Trí Thành và Lê Xuân Sang, 2010[4]). Như vậy, TTCK là một cấu phần quan trọng của TTTC và là phương tiện để mọi thành phần kinh tế – xã hội có thể tham gia đầu tư một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; là nơi mà chính phủ có thể huy động vốn cho nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế – xã hội. TTCK có thể coi là kênh dẫn vốn quan trọng chuyển vốn từ khu vực tiết kiệm đến khu vực đầu tư; tăng cường tính minh bạch trong sản xuất kinh doanh; góp phần tăng trưởng kinh tế; nâng cao chất lượng quản trị trong nền kinh tế (vĩ mô và vi mô) (Võ Trí Thành và Lê Xuân Sang, 2004). Rõ ràng, TTCK có vai trò quan trọng đối với sự phát triển TTTC nói chung. Thực tế thế giới cho thấy, quá trình hình thành và phát triển, TTCK đều có thể có những đóng góp hay có tác động tiêu cực đến TTTC hay đến nền kinh tế nói chung. Sự phát triển của TTCK Việt Nam, trải qua 11 năm chắc chắn cũng không ngoài quy luật phát triển đó.

2.2. Đóng góp và tác động của TTCK Việt Nam đối với TTTC và nền kinh tế

Các con số qua 11 năm phát triển của TTCK Việt Nam là căn cứ, cơ sở và cũng là dấu hiệu để chúng ta ta đánh giá đóng góp (bao gồm cả tác động tích cực) và chỉ ra những tác động tiêu cực của nó đến TTTC hay rộng hơn là đến nền kinh tế Việt Nam.

Đọc tiếp

HỢP ĐỒNG REPO CHỨNG KHOÁN VÀ VIỆC SỬA ĐỔI CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG CHUỘC LẠI TÀI SẢN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

TS. NGUYỄN THỊ THU VÂN & TS. TRẦN THỊ THU HÀ – Khoa Tài chính, kế toán, Đại học Hòa Bình

1. Đầu năm 2007, khi thị trường chứng khoán (TTCK) đang sôi động, tính thanh khoản cao, nhiều Công ty chứng khoán (CTCK) đã chào bán một dịch vụ mới cho các nhà đầu tư tại Việt Nam là dịch vụ repo chứng khoán. Hầu hết các CTCK đều quảng bá rầm rộ dịch vụ này với lợi thế hấp dẫn là khách hàng có thể có được một khoản tiền lớn hơn so với dịch vụ cho vay cầm cố chứng khoán mà thủ tục lại đơn giản, thuận tiện, nhanh gọn.

Tuy nhiên, sau năm 2007, TTCK Việt Nam lao dốc liên tục. Nhiều CTCK trước đó đã cho khách hàng repo đến giới hạn nguy hiểm và vì vậy, đã tự đẩy mình vào bờ vực phá sản khi cho khách hàng repo tới hàng ngàn tỷ đồng. Trước tình hình đó, ngày 27/5/2008, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đã có Công văn số 990/UBCK-QLKD yêu cầu các CTCK phải dừng ký mới các hợp đồng repo cổ phiếu. Yêu cầu này được đưa ra sau khi VN-Index mất gần 100 điểm trong vòng một tháng. Công văn này ra đời là do UBCKNN lo sợ TTCK sẽ giảm sâu hơn nữa từ những tác động của hoạt động thế chấp, cầm cố và repo chứng khoán. Sang đầu năm 2009, khi TTCK có dấu hiệu phục hồi, các CTCK rục rịch khởi động lại dịch vụ repo.

Trên thực tế, dù trong thời gian qua, hợp đồng repo chứng khoán đã được nhiều CTCK triển khai mạnh, nhưng một quy chế pháp lý cho loại hợp đồng này vẫn chưa được thiết lập. Bởi vậy, việc ký kết các hợp đồng repo trên TTCK hiện đang ở trong tình trạng mạnh ai nấy làm, không theo một “quy chuẩn” pháp lý nào. Chính vì chưa có bất cứ một hướng dẫn nào từ cơ quan có thẩm quyền, nên các CTCK đã tự soạn sẵn những hợp đồng repo với tính chất như một hợp đồng mẫu, trong đó thiết kế những điều khoản có lợi cho mình để các nhà đầu tư ký. Hệ quả là khi xảy ra tranh chấp, nhà đầu tư (trong đó có không ít nhà đầu tư nhỏ lẻ, ít vốn, ít kinh nghiệm, thiếu thông tin) sẽ là người bị thua thiệt. Vì vậy, trong một động thái thận trọng, cuối tháng 5/2009, một lần nữa UBCKNN lại có công văn yêu cầu các CTCK không được ký mới các hợp đồng repo. Được biết, từ vài năm nay, Bộ Tài chính đang dự kiến ban hành một thông tư hướng dẫn giao dịch mua bán lại chứng khoán nhưng cho đến nay, dự thảo này vẫn chưa được thông qua.

Đọc tiếp

BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ NHỎ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

PGS.TS. LÊ HOÀNG NGA – Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

Ngày 9/9/2010, Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) công bố Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2010 – 2011, trong đó Việt Nam được thăng hạng 16 bậc từ vị trí 75/133 lên vị trí 59/139. Mặc dù vậy, có nhiều yếu tố Việt Nam ở gần cuối bảng xếp hạng của WEF như mức độ bảo vệ nhà đầu tư đứng thứ 133/139, gánh nặng thủ tục hành chính (120/139), cân bằng ngân sách (126/139)… Chính mức độ bảo vệ nhà đầu tư thấp cũng là một yếu tố khiến Việt Nam bị giảm điểm trong xếp hạng môi trường kinh doanh do Tạp chí Forber công bố mới đây. Ở yếu tố này trong xếp hạng của Forber, Việt Nam xếp 125/128 nền kinh tế được đưa vào báo cáo.

Trong các Báo cáo Môi trường kinh doanh được WB và IFC công bố thời gian qua, Việt Nam thường xuyên đứng cuối bảng về mức độ bảo vệ nhà đầu tư. Bản Báo cáo đánh giá chỉ số mức độ bảo vệ nhà đầu tư được tổng hợp từ 3 chỉ số: mức độ công khai thông tin, trách nhiệm của thành viên HĐQT (trách nhiệm cá nhân) và mức độ dễ dàng mà cổ đông có thể kiện (khả năng cổ đông có thể kiện thành viên HĐQT và Ban điều hành khi quản lí sai trái) (xem hộp 1). Theo chỉ tiêu bảo vệ nhà đầu tư, Việt Nam tiếp tục nằm ở nhóm cuối, đứng thứ 171/183 trong năm 2009 và 172/183 trong năm 2010.

Rõ ràng bảo vệ nhà đầu tư nói chung và nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán (TTCK) nói riêng là vấn đề nóng bỏng, cấp thiết cần có giải pháp thích hợp để nâng cao thứ hạng và cải thiện hình ảnh của Việt Nam trước con mắt nhà đầu tư nước ngoài.

Hộp 1:

Theo các báo cáo của WB và IFC về môi trường kinh doanh của các quốc gia và vùng lãnh thổ, mức độ bảo vệ nhà đầu tư biểu hiện ở 3 giác độ:

- Mức độ công bố thông tin biểu hiện qua: (1) những hoạt động mà công ty có đủ thẩm quyền ra quyết định; (2) bắt buộc công bố thông tin tức thời về giao dịch có giá trị lớn hơn 10% tổng tài sản của công ty; (3) công bố thông tin trong báo cáo thường niên; (4) ban giám đốc báo cáo Hội đồng quản trị về giao dịch; (5) yêu cầu một kiểm toán độc lập kiểm tra giao dịch trước khi thực hiện.

- Trách nhiệm của ban giám đốc thể hiện qua: (1) cổ đông có thể buộc tội giám đốc chịu trách nhiệm về thiệt hại do giao dịch gây ra; (2) Cổ đông có thể buộc người có trách nhiệm trong công ty chịu trách nhiệm về thiệt hại do giao dịch gây ra; (3) Tòa án có thể làm vô hiệu các giao dịch khi các cổ đông thắng kiện; (4) Giám đốc phải bồi thường các thiệt hại cho công ty khi cổ động thắng kiện; (5) Giám đốc phải hoàn lại lợi nhuận từ giao dịch khi cổ đông thắng kiện; (6) Giám đốc có thể bị phạt tiền hoặc bị giam khi bị kết tội; (7) Cổ đông có thể trực tiếp hoặc gián tiếp kiện lên tòa án đối với các thiệt hại gây nên cho công ty.

- Mức độ dễ dàng để cổ đông có thể kiện ra tòa án thể hiện qua: (1) Các loại giấy tờ liên quan đến giao dịch cung cấp cho cổ đông tại phiên tòa; (2) Cổ đông có thể trực tiếp giám sát bị đơn và nhân chứng tại phiên tòa; (3) Cổ đông có thể có thông tin từ bị đơn mà không cần nêu cụ thể từng loại giấy tờ; (4) Cổ đông nắm giữ 10% cổ phiếu hoặc ít hơn có thể yêu cầu cơ quan điều tra của chính phủ điều tra về giao dịch mà không cần kiện ra tòa án; (5) Cổ đông nắm giữ 20% vốn hoặc ít hơn có quyền thẩm tra về giao dịch trước khi kiện ra tòa án; (6) Tiêu chuẩn về chứng cớ đối với các vụ án dân sự thấp hơn các chứng cứ về án hình sự.

Tất cả 3 tiêu chí trên được chấm điểm từ 1-10, số điểm càng cao thì mức độ bảo vệ nhà đầu tư càng cao. Mức độ bảo vệ nhà đầu tư tổng hợp là trung bình cộng của 3 điểm thành phần này.

(Nguồn: vneconomy.com.vn)

Đọc tiếp

HOÀN CHỈNH CƠ CHẾ PHÁP LÝ BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TRONG GIAI ĐOẠN GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN

THS. PHAN PHƯƠNG NAM – Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh

Giao dịch chứng khoán là một giai đoạn rất quan trọng trong quá trình đầu tư của nhà đầu tư (NĐT) chứng khoán. Chính hoạt động giao dịch chứng khoán là nơi cụ thể hóa các khoản lợi nhuận, các hành vi mua, bán chứng khoán của NĐT chứng khoán. Tuy nhiên, theo nguyên tắc trung gian trên thị trường chứng khoán (TTCK), những NĐT chứng khoán không thể trực tiếp gặp gỡ trao đổi thông tin và mua, bán chứng khoán trực tiếp từ những người có nhu cầu bán, mua chứng khoán khác. Các NĐT chỉ có thể thực hiện hoạt động mua, bán chứng khoán thông qua chủ thể trung gian, công ty chứng khoán (CTCK).

Do đó, để thực hiện hoạt động giao dịch chứng khoán, các NĐT chứng khoán phải có tài khoản mở tại một CTCK và tiến hành mọi hoạt động mua, bán, đầu tư chứng khoán thông qua tài khoản này tại các sàn giao dịch của CTCK. Với hình thức này, các NĐT đã không trực tiếp nắm giữ tiền hoặc chứng khoán của mình sở hữu mà tất cả đều ký thác vào tài khoản tại CTCK. Vì thế, về mặt nguyên tắc, rõ ràng các NĐT cần phải được pháp luật bảo vệ trong quá trình giao dịch nhằm giúp NĐT có thể quản lý chặt chẽ tài sản của mình (gồm tiền và chứng khoán trên tài khoản) cũng như đảm bảo CTCK sẽ thực hiện các lệnh khách hàng.

Cơ chế pháp lý bảo vệ NĐT trên TTCK được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong trình NĐT mở tài khoản, sử dụng tài khoản và quản lý tài khoản chứng khoán mở tại các CTCK.

Như vậy, cơ chế pháp lý bảo vệ NĐT trong giai đoạn giao dịch trên TTCK sẽ bao gồm ba nội dung: pháp luật bảo vệ NĐT trong quan hệ mở tài khoản giữa khách hàng và CTCK; pháp luật bảo vệ NĐT trong quan hệ giữa khách hàng và CTCK trong quá trình đặt lệnh; pháp luật bảo vệ NĐT trong quan hệ giữa khách hàng và CTCK trong quá trình khách hàng quản lý tài khoản.

1. Pháp luật bảo vệ nhà đầu tư trong quan hệ mở tài khoản giữa khách hàng và công ty chứng khoán

Quan hệ mở tài khoản được xác lập thông qua hợp đồng mở tài khoản giữa khách hàng, NĐT và CTCK, chủ thể cung cấp dịch vụ. Hợp đồng mở tài khoản được coi là bằng chứng pháp lý quan trọng để xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ mở tài khoản. Với tính chất quan trọng đó, NĐT với tư cách là khách hàng có quyền cùng bàn bạc, thỏa thuận các nội dung trong hợp đồng mở tài khoản với CTCK.

Đọc tiếp

BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ NHỎ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

PGS.TS. LÊ HOÀNG NGA – Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước

Ngày 9/9/2010, Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) công bố Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2010 – 2011, trong đó Việt Nam được thăng hạng 16 bậc từ vị trí 75/133 lên vị trí 59/139. Mặc dù vậy, có nhiều yếu tố Việt Nam ở gần cuối bảng xếp hạng của WEF như mức độ bảo vệ nhà đầu tư đứng thứ 133/139, gánh nặng thủ tục hành chính (120/139), cân bằng ngân sách (126/139)… Chính mức độ bảo vệ nhà đầu tư thấp cũng là một yếu tố khiến Việt Nam bị giảm điểm trong xếp hạng môi trường kinh doanh do Tạp chí Forber công bố mới đây. Ở yếu tố này trong xếp hạng của Forber, Việt Nam xếp 125/128 nền kinh tế được đưa vào báo cáo.

Trong các Báo cáo Môi trường kinh doanh được WB và IFC công bố thời gian qua, Việt Nam thường xuyên đứng cuối bảng về mức độ bảo vệ nhà đầu tư. Bản Báo cáo đánh giá chỉ số mức độ bảo vệ nhà đầu tư được tổng hợp từ 3 chỉ số: mức độ công khai thông tin, trách nhiệm của thành viên HĐQT (trách nhiệm cá nhân) và mức độ dễ dàng mà cổ đông có thể kiện (khả năng cổ đông có thể kiện thành viên HĐQT và Ban điều hành khi quản lí sai trái) (xem hộp 1). Theo chỉ tiêu bảo vệ nhà đầu tư, Việt Nam tiếp tục nằm ở nhóm cuối, đứng thứ 171/183 trong năm 2009 và 172/183 trong năm 2010.

Rõ ràng bảo vệ nhà đầu tư nói chung và nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán (TTCK) nói riêng là vấn đề nóng bỏng, cấp thiết cần có giải pháp thích hợp để nâng cao thứ hạng và cải thiện hình ảnh của Việt Nam trước con mắt nhà đầu tư nước ngoài.

Hộp 1:

Theo các báo cáo của WB và IFC về môi trường kinh doanh của các quốc gia và vùng lãnh thổ, mức độ bảo vệ nhà đầu tư biểu hiện ở 3 giác độ:

- Mức độ công bố thông tin biểu hiện qua: (1) những hoạt động mà công ty có đủ thẩm quyền ra quyết định; (2) bắt buộc công bố thông tin tức thời về giao dịch có giá trị lớn hơn 10% tổng tài sản của công ty; (3) công bố thông tin trong báo cáo thường niên; (4) ban giám đốc báo cáo Hội đồng quản trị về giao dịch; (5) yêu cầu một kiểm toán độc lập kiểm tra giao dịch trước khi thực hiện.

- Trách nhiệm của ban giám đốc thể hiện qua: (1) cổ đông có thể buộc tội giám đốc chịu trách nhiệm về thiệt hại do giao dịch gây ra; (2) Cổ đông có thể buộc người có trách nhiệm trong công ty chịu trách nhiệm về thiệt hại do giao dịch gây ra; (3) Tòa án có thể làm vô hiệu các giao dịch khi các cổ đông thắng kiện; (4) Giám đốc phải bồi thường các thiệt hại cho công ty khi cổ động thắng kiện; (5) Giám đốc phải hoàn lại lợi nhuận từ giao dịch khi cổ đông thắng kiện; (6) Giám đốc có thể bị phạt tiền hoặc bị giam khi bị kết tội; (7) Cổ đông có thể trực tiếp hoặc gián tiếp kiện lên tòa án đối với các thiệt hại gây nên cho công ty.

- Mức độ dễ dàng để cổ đông có thể kiện ra tòa án thể hiện qua: (1) Các loại giấy tờ liên quan đến giao dịch cung cấp cho cổ đông tại phiên tòa; (2) Cổ đông có thể trực tiếp giám sát bị đơn và nhân chứng tại phiên tòa; (3) Cổ đông có thể có thông tin từ bị đơn mà không cần nêu cụ thể từng loại giấy tờ; (4) Cổ đông nắm giữ 10% cổ phiếu hoặc ít hơn có thể yêu cầu cơ quan điều tra của chính phủ điều tra về giao dịch mà không cần kiện ra tòa án; (5) Cổ đông nắm giữ 20% vốn hoặc ít hơn có quyền thẩm tra về giao dịch trước khi kiện ra tòa án; (6) Tiêu chuẩn về chứng cớ đối với các vụ án dân sự thấp hơn các chứng cứ về án hình sự.

Tất cả 3 tiêu chí trên được chấm điểm từ 1-10, số điểm càng cao thì mức độ bảo vệ nhà đầu tư càng cao. Mức độ bảo vệ nhà đầu tư tổng hợp là trung bình cộng của 3 điểm thành phần này.

(Nguồn: vneconomy.com.vn)

Đọc tiếp

XÁC LẬP VÀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN QUYỀN SỞ HỮU CHỨNG KHOÁN NIÊM YẾT

TS. NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tổ chức hay cá nhân có thể sở hữu chứng khoán dưới hình thức chứng chỉ (cổ phiếu, trái phiếu) hoặc dữ liệu điện tử. Trên thị trường chứng khoán tập trung, các công ty chứng khoán (CTCK) chính là đầu mối giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán chứng khoán. CTCK nhận lệnh đặt mua, lệnh chào bán và “thể hiện ý chí” mua bán bằng hành vi chuyển lệnh vào hệ thống giao dịch để khớp lệnh, thông báo lệnh đã được khớp, kết nối hệ thống giao dịch của Sở Giao dịch chứng khoán và hệ thống lưu ký của Trung tâm Lưu ký chứng khoán, hay nói cách khác, việc giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán, xác lập quyền sở hữu chứng khoán niêm yết thông qua một trình tự, thủ tục đặc biệt.

Để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhà đầu tư chứng khoán niêm yết trong quá trình xác lập và thực hiện quyền sở hữu, cần thiết phải làm rõ những vấn đề pháp lý có liên quan trong giao kết và thực hiện hợp đồng mang tính đặc thù gắn với hệ thống giao dịch điện tử hiện nay.

1. Đặt lệnh mua bán chứng khoán – phương thức thể hiện ý chí

Nhà đầu tư có thể mua bán chứng khoán thông qua phương thức giao dịch thỏa thuận hoặc giao dịch khớp lệnh. Đối với trường hợp giao dịch khớp lệnh, nhà đầu tư đặt lệnh mua hoặc bán chứng khoán tại các bộ phận môi giới của CTCK, CTCK với tư cách là thành viên giao dịch chuyển lệnh khớp tại Sở Giao dịch. Nhà đầu tư thể hiện ý chí mua hoặc bán chỉ có thể biết có được sự thống nhất ý chí hay không khi được thông báo kết quả khớp lệnh.

Vấn đề bất cập thường phát sinh ở giai đoạn này là thể hiện ý chí của nhà đầu tư có được chuyển tải đúng hay không. Trên thực tế đã xảy ra nhiều trường hợp đưa lệnh mua hoặc lệnh bán vào hệ thống không đúng với yêu cầu của nhà đầu tư nên dẫn đến tình trạng lệnh mua, lệnh bán không được khớp tại phiên giao dịch – hợp đồng chưa hình thành, có nghĩa là nhà đầu tư có thể bị thiệt hại nếu giá chứng khoán tăng. Ở đây, cần phân biệt lỗi trong vận hành của hệ thống giao dịch và lỗi của nhân viên môi giới. Trong tất cả các trường hợp cần thiết phải xem xét mức độ thiệt hại phát sinh để có biện pháp xử lý đối với tổ chức và cá nhân có liên quan cũng như xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho nhà đầu tư. Một dạng lỗi phổ biến là làm sai lệch lệnh yêu cầu, đây thường là lỗi của nhân viên môi giới, tùy từng trường hợp có thể xác định được trách nhiệm bồi thường thiệt hại của CTCK do hành vi thiếu trách nhiệm trong tác nghiệp của nhân viên môi giới gây ra1. Việc xác định rõ ràng trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các bên có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm quan hệ giao dịch hình thành và được thực hiện có hiệu quả, đề cao trách nhiệm của các bên liên quan trong tác nghiệp chính xác, khách quan và vô tư trong chuyển lệnh, khớp lệnh và thông báo kết quả.

Đọc tiếp

NGHIỆP VỤ REPO TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM – ĐÔI ĐIỀU BÀN LUẬN

TS. NGUYỄN THỊ MỸ DUNG – Trường Đại học Ngân hàng TP.Hồ Chí Minh

Hoạt động mua bán chứng khoán có kỳ hạn (REPO – Repurchase Order) tại các công ty chứng khoán Việt Nam đã được thực hiện trong những năm gần đây nhưng chưa được các nhà đầu tư biết đến và sử dụng rộng rãi. Để tạo tính thanh khoản cho các cổ phiếu chưa niêm yết, các công ty chứng khoán đưa ra nghiệp vụ REPO để mua có kỳ hạn các loại cổ phiếu này nhằm mục đích tạo cho khách hàng có thêm nguồn vốn để mở rộng danh mục đầu tư của mình.

Đây là loại hình giao dịch mà người sở hữu cổ phiếu bán và mua lại cổ phiếu của chính mình trong một khoảng thời gian nhất định. Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển cả về quy mô và chất lượng, thì nghiệp vụ Repo hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, sản phẩm chưa thật sự hoàn chỉnh để phục vụ tốt nhất cho khách hàng.

Tính ưu việt của nghiệp vụ REPO

Việc thực hiện nghiệp vụ REPO góp phần làm tăng tính thanh khoản cho thị trường, tăng hiệu quả đồng vốn kinh doanh. REPO chứng khoán sử dụng một hợp đồng mua bán lại, trong đó, quy định các điều khoản mà các bên tham gia phải tôn trọng. Các hợp đồng REPO được phân vào loại công cụ thị trường tiền tệ và chúng được sử dụng để huy động vốn trong ngắn hạn.Về bản chất, nghiệp vụ REPO giống như một khoản cho vay có đảm bảo bằng chứng khoán và các tài khoản đảm bảo khác nhưng nó có những đặc điểm riêng và linh hoạt hơn. Chẳng hạn, người mua trong giao dịch REPO có quyền kinh doanh chứng khoán đã mua trong suốt thời hạn của hợp đồng, điều này khác ở các hợp đồng cho vay có tài sản cầm cố là chứng khoán. Hoặc là, nhà đầu tư vẫn có quyền mua lại số cổ phiếu đã bán sau một thời gian nhất định, trong thời gian chuyển nhượng vẫn được hưởng cổ tức và các quyền lợi phát sinh khác từ cổ phiếu đã chuyển nhượng. Có thể so sánh tính ưu việt của nghiệp vụ REPO (bảng 1):

Đọc tiếp

10 NĂM HOẠT ĐỘNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC GIAI ĐOẠN 2010 – 2020

NGUYỄN SƠN

10 năm – một chặng đường…

Thị trường chứng khoán Việt Nam (TTCKVN) chính thức đi vào hoạt động vào năm 2000 với việc vận hành sàn giao dịch chứng khoán (SGDCK) TP.HCM vào ngày 20/7/2000 và SGDCK Hà Nội vào ngày 8/3/2005 (trước đó các SGDCK hoạt động với mô hình là các Trung tâm Giao dịch chứng khoán và tổ chức dưới hình thức đơn vị sự nghiệp có thu thuộc Ủy ban Chứng khoán Nhà nước). Đến nay, sau gần 10 năm đi vào hoạt động và phát triển dựa trên các mục tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển TTCKVN đến năm 2010 và Chiến lược phát triển thị trường vốn đến 2010 và tầm nhìn 2020, hoạt động của TTCK đã đạt được một số kết quả sau:

Về khung pháp lý, thể chế chính sách

Kể từ khi Luật Chứng khoán được Quốc hội ban hành ngày 29/6/2006 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2007, đã tạo lập được khuôn khổ pháp lý cao, đồng bộ và thống nhất cho hoạt động của TTCK, từng bước loại bỏ những mâu thuẫn, xung đột với các văn bản pháp luật khác có liên quan (về cơ bản thống nhất với Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư); phù hợp hơn với luật pháp, thông lệ quốc tế, tạo nền tảng cho TTCKVN khả năng hội nhập với các thị trường vốn quốc tế và khu vực; tăng cường tính công khai minh bạch cho thị trường và nâng cao khả năng quản lý giám sát thị trường của cơ quan quản lý nhà nước.

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đã đạt được thìLuật Chứng khoán vẫn còn hẹp về phạm vi điều chỉnh, mới chỉ bao hàm những nội dung cơ bảnvà chưa bao quát mọi hoạt động trên TTCK theo thông lệ quốc tế; một số quy định của văn bản hướng dẫn Luật Chứng khoán còn chồng chéo, chưa thống nhất với các văn bản pháp luật khác; việc ban hành các quy định pháp lý nhìn chung đều có độ trễ so với mục tiêu đề ra, đồng thời, nhiều quy định tại Luật Chứng khoán chưa được hướng dẫn thực hiện,…

Về quy mô và hàng hóa (nguồn cung) của thị trường

Quy mô thị trường có bước tăng trưởng mạnh mẽ, vững chắc, từng bước đóng vai trò là kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng, đóng góp tích cực cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Trong suốt thời kỳ từ 2000-2005, vốn hóa thị trường chỉ đạt trên dưới 1% GDP. Quy mô thị trường đã có bước nhảy vọt mạnh mẽ lên 22,7% GDP vào năm 2006 và tiếp tục tăng lên mức trên 43% vào năm 2007. Trước biến động của thị trường tài chính thế giới và những khó khăn của nền kinh tế trong nước, chỉ số giá chứng khoán đã sụt giảm liên tục trong năm 2008 và làm mức vốn hóa thị trường giảm hơn 50%, xuống còn 18%. Khi nền kinh tế trong nước và thế giới bắt đầu hồi phục nhẹ từ quý II/2009, chỉ số giá chứng khoán đã bắt đầu tăng trở lại cùng với số lượng các công ty niêm yết trên thị trường cũng gia tăng nhanh chóng. Giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu tính đến cuối năm 2009 đã đạt 37,71% GDP. Ước tính đến cuối năm 2010 sẽ đạt khoảng từ 40-50% GDP.

Đọc tiếp

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CỔ PHIẾU NGÂN HÀNG VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

TRẦN ANH ĐÀO

Bàn về ảnh hưởng của cổ phiếu ngân hàng đến sự phát triển của TTCK Việt Nam, tôi có một số ý kiến xung quanh các vấn đề chính sau: 

1. Quy mô ảnh hưởng của cổ phiếu ngân hàng đối với thị trường chứng khoán trong tương lai:

Nền kinh tế Việt Nam còn non trẻ, những doanh nghiệp có những đặc điểm thích hợp cho thị trường chứng khoán như có quy mô lớn, được thành lập dưới dạng công ty cổ phần, có quá trình kinh doanh lâu dài, có cơ chế quản trị minh bạch … còn rất ít. Nhưng do đặc thù của ngành, các ngân hàng thương mại cổ phần và sắp tới đây là các ngân hàng quốc doanh được cổ phần hoá có đủ những yếu tố đó và là những doanh nghiệp lý tưởng nhất cho thị trường chứng khoán hiện tại cũng như tương lai những năm sắp đến. Theo một ước tính của Công ty Tư vấn Chứng khoán Quốc tế (ISC), vào năm 2010 giá trị thị trường của các chứng khoán niêm yết ước tính từ 60 đến 120 ngàn tỉ đồng, tăng gấp 5-10 lần hiện nay, trong đó 4 ngân hàng quốc doanh cổ phần hoá chiếm khoản 50 ngàn tỉ, các ngân hàng cổ phần chiếm 20 ngàn tỉ. Tức là cổ phiếu ngân hàng sẽ góp phần đến 60% giá trị thị trường chứng khoán. 

2. Việc tăng vốn quá nhanh của các ngân hàng cổ phần hiện nay liệu có hợp lý?

Trong vòng 2 năm trở lại đây, các ngân hàng dồn dập tăng vốn. Điển hình như Sacombank từ tháng 12/2003 đến tháng 3/2006, vốn điều lệ đã tăng 3,7 lần. Việc tăng vốn quá nhanh của các ngân hàng hiện nay là do các yếu tố:

- Thứ nhất là do yêu cầu về vốn điều lệ khi mở thêm chi nhánh và đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn do Ngân hàng Nhà nước quy định.

- Thứ hai là các ngân hàng chạy đua mở rộng chi nhánh để đón đầu WTO và cạnh tranh lẫn nhau. 

- Thứ ba là tình hình thị trường chứng khoán thuận lợi khiến cho việc tăng vốn bằng cổ phiếu thưởng và phát hành thêm quyền mua cổ phiếu giá rẻ làm tăng giá trị cho cổ đông.

Đọc tiếp

THẾ NÀO LÀ CÔNG TY ĐẠI CHÚNG?

HUY NAM

Không đơn giản chỉ là loại “hơn trăm cổ đông, trên mười tỉ bạc”, công ty có năm ba cổ đông vẫn có thể là anh đại chúng. Đại chúng là một khuôn khổ được luật chế định, là tình trạng pháp lý mà doanh nghiệp chạm đến hay rơi vào theo ước lệ sau khi tiến hành một bước đi nào đó. Để có thể hiểu rõ về công ty đại chúng ta sẽ bắt đầu từ công ty nội bộ.

Thế nào là công ty nội bộ? Công ty nội bộ (private company hay privately held corporation) thường là dạng công ty nhỏ, sở hữu bởi một số ít người, không được gọi vốn rộng rãi, không có giao dịch chứng khoán, ít bị áp lực giám sát, yêu cầu minh bạch theo thủ tục (về sổ sách, báo cáo) không cao, loại được khả năng bị thâu tóm, và một số đặc điểm khác tùy theo luật mỗi nước.

Nhìn chung số cổ đông được giới hạn dưới 50.Ở Mỹ, loại công ty nội bộ điển hình có tình trạng pháp lý gọi là “S Corporation”. Theo luật thuế thu nhập của Mỹ, S Corporation không bị đánh thuế thu nhập doanh nghiệp, toàn bộ lợi nhuận công ty và cổ tức được đưa về cho cổ đông khai thuế (nghĩa là không bị đánh thuế hai lần).

Để được xem là S Corporation, công ty phải đáp ứng một số yêu cầu bắt buộc. Theo đó, công ty chỉ được phát hành một loại cổ phần duy nhất, số cổ đông không vượt quá 100 người. Cổ đông phải là người phàm xác thịt (không phải là tổ chức) và phải là công dân Mỹ, đây chính là công ty 100% vốn trong nước vậy.

Công ty nội bộ thường là loại có địa bàn hoạt động hẹp, hiện diện theo địa phương, được tổ chức theo đặc điểm ngành nghề và không (hay chưa) có nhu cầu huy động vốn lớn. Ở Anh và nhiều nước theo hệ luật của Anh loại này có vốn thành lập nhỏ, chỉ cần một bảng Anh vốn cổ phần ban đầu là đủ.

Đọc tiếp

BÁO CÁO CỦA ỦY BAN CHỨNG KHOÁN NHÀ NƯỚC, BỘ TÀI CHÍNH VỀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG PHÁP LUẬT CHỨNG KHOÁN

Hà Nội, tháng 3/2010

I. CHÀO BÁN CHỨNG KHOÁN RA CÔNG CHÚNG

1. Kinh nghiệm của Ba Lan

Luật Chứng khoán Ba Lan quy định:

Điều 81.5. Hội đồng Bộ trưởng sẽ quyết định, bằng nghị định, về loại, hình thức và phạm vi của các thông tin hiện hành và định kỳ nói đến tại điểm 3 khoản 1, và ngày mà các thông tin này được nộp bởi tổ chức phát hành bất kỳ chứng khoán nào được chấp thuận:

1) cho giao dịch tại một sở giao dịch chứng khoán chính thức quy định tại điểm 1 khoản 1 Điều 90,

2) cho giao dịch nơi công chúng nhưng không được giao dịch tại một thị trường có quản lý.

Nghị định nói trên phải quy định rõ phạm vi thông tin và lịch trình nộp các thông tin đối với mỗi loại thị trường nơi chứng khoán đang niêm yết hoặc sẽ niêm yết theo một phương thức cho phép các nhà đầu tư đánh giá các hoạt động và vị thế tài chính của tổ chức phát hành.

Điều 84. 1. Công ty đại chúng có trụ sở chính tại Cộng hoà Ba lan có nghĩa vụ phải đưa ra giao dịch nơi công chúng cổ phiếu của mỗi đợt phát hành.

2. Trong trường hợp một đợt phát hành trái phiếu chuyển đổi thành cổ phiếu của một công ty đại chúng được thực hiện thông qua việc chào bán cho ít hơn 300 người mua cá nhân, công ty này phải có được sự chấp thuận cho giao dịch nơi công chúng các cổ phiếu phát hành để thực hiện quyền của các trái chủ có được từ các trái phiếu này trước khi đưa ra đề nghị chào bán các trái phiếu này.

Đọc tiếp

BÁO CÁO CỦA BỘ TÀI CHÍNH VỀ TÌNH HÌNH THI HÀNH LUẬT CHỨNG KHOÁN VÀ HOẠT ĐỘNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

(Ngày ban hành Báo cáo chưa xác định)

I. Tình hình thi hành Luật Chứng khoán

1. Kết quả đạt được

Luật Chứng khoán được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2007. Luật Chứng khoán đã tạo lập khuôn khổ pháp lý cao cho hoạt động của TTCK, cơ bản loại bỏ những mâu thuẫn, xung đột với các văn bản pháp luật khác có liên quan; tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với TTCK nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các tổ chức tham gia thị trường; tạo cơ sở pháp luật để giám sát, cưỡng chế thực thi, bảo đảm các doanh nghiệp tham gia trên thị trường phải hoạt động công khai, minh bạch, từ đó góp phần làm minh bạch hoá nền kinh tế; đồng thời tạo lập các quy định phù hợp với luật pháp, thông lệ quốc tế nhằm tạo điều kiện cho TTCK Việt Nam có khả năng hội nhập với các thị trường vốn quốc tế và khu vực, đặc biệt là đáp ứng được lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam.

Để triển khai thi hành Luật Chứng khoán, Bộ Tài chính, UBCKNN đã phối hợp với các cơ quan liên quan soạn thảo, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Chứng khoán. Cụ thể gồm 02 Nghị định của Chính phủ, 01 Chỉ thị, 09 Thông tư và 24 Quyết định hướng dẫn thực hiện. Đối chiếu với yêu cầu của Luật, số lượng các văn bản hướng dẫn thi hành về cơ bản đầy đủ. Tuy nhiên, vẫn còn một số văn bản chưa được ban hành kịp thời, nguyên nhân chủ yếu do thời gian qua thị trường chứng khoán hoạt động chưa ổn định nên việc xây dựng dự thảo hướng dẫn phải thường xuyên được chỉnh sửa và bổ sung liên tục.

Qua 3 năm thi hành, Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn đã đạt được những kết quả quan trọng, cụ thể như sau:

Đọc tiếp

KHÍA CẠNH KINH TẾ CỦA PHÁP LUẬT

LS. PHẠM CHÍ CÔNG – Giám đốc Công ty Luật Khai Phong (KPLC)

Bài viết “Một nghị định vô hiệu hóa một định chế” của tác giả Nguyễn Ngọc Bích – Ngô Duy Minh trên TBKTSG số 16-2010 ngày 15-4-2010 cho rằng Nghị định số 01/2010/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn việc chào bán cổ phần riêng lẻ có hiệu lực áp dụng từ ngày 25-2-2010 đã vô hiệu hóa một định chế pháp lý doanh nghiệp – công ty cổ phần (CTCP).

Nếu nói vô hiệu hóa cả một định chế CTCP thì sẽ còn nhiều điều để bàn, tuy nhiên nói vô hiệu hóa một cơ chế, một cách thức huy động vốn hiệu quả của CTCP hiện nay thì đã thấy rõ bởi việc áp dụng quy định nói trên của các doanh nghiệp đang gặp rất nhiều khó khăn.

Dưới đây là sự nhìn nhận Nghị định 01/2010/NĐ-CP về chào bán cổ phần riêng lẻ từ góc độ tính “kinh tế” của một quy định.

Khía cạnh kinh tế của quy định hiện hành về chào bán riêng lẻ

Thực tiễn cho thấy các công ty cổ phần ở nước ta đã có những bước phát triển thông qua việc huy động nguồn vốn theo những cách thức dễ dàng và hiệu quả, đến khi có quy mô vốn hàng chục, hàng trăm tỉ đồng mới chào bán cổ phiếu ra công chúng hay niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.

Thực chất hoạt động phát hành cổ phần xuất phát từ nhu cầu tăng vốn kinh doanh (vốn điều lệ của CTCP) thông qua việc huy động từ các thành viên trong gia đình, bạn bè thân hữu hay những đối tác chiến lược đã trở thành một công cụ huy động vốn hiệu quả, thiết thực.

Những bước đi vững chắc, thành công với những dự án đầu tư, hoạt động sản xuất, kinh doanh hiệu quả được bảo đảm bởi một cơ chế huy động, đóng góp vốn hiệu quả, linh hoạt gắn kết lợi ích của người góp vốn thông qua hình thức phát hành cổ phần riêng lẻ như thế. Trong khi hoạt động này đang phát huy tốt vai trò huy động hiệu quả và an toàn các nguồn vốn, chưa phát sinh bất ổn, rủi ro cũng đã được kiểm soát bởi các quy định của pháp luật ở mức độ hợp lý thì việc tiếp tục đưa ra các cơ chế quản lý dù theo hướng mở rộng hoặc thu hẹp hành lang pháp lý đều là không cần thiết và tốn kém chi phí.

Đọc tiếp

HOÀN THIỆN CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN

Tác giả viết bài này vào thời điểm tháng 11 năm 2006

THS. HOÀNG THỊ QUỲNH CHI – Viện Khoa học kiểm sát – VKSNDTC

Bảo vệ nhà đầu tư là vấn đề có tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của thị trường chứng khoán còn rất non trẻ như ở nước ta hiện nay, nhất là trong điều kiện chúng ta bắt đầu tham gia WTO đồng nghĩa với sự tham gia của các đối tác rất có tiềm lực và kinh nghiệm từ các nước. Để bảo vệ nhà đầu tư, đồng thời với việc không ngừng hoàn thiện pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán, cần đặc biệt coi  trọng việc hoàn thiện các biện pháp pháp luật bảo vệ họ một cách đồng bộ, bao gồm cả các biện pháp pháp luật có liên quan như hành chính, dân sự, hình sự…

1. Biện pháp hành chính

Theo quy định của Luật Chứng khoán (LCK) Luật Chứng khoán sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2007., các biện pháp hành chính được áp dụng bao gồm các biện pháp quản lý và các biện pháp xử lý vi phạm hành chính, cụ thể như sau:

1.1. Biện pháp quản lý

a. Quản lý việc chào bán chứng khoán ra công chúng

Khi nhà đầu tư (NĐT) mua các chứng khoán (CK) được chào bán tức là nhà đầu tư đã chuyển giao một khoản tiền cho tổ chức phát hành và đổi lại, NĐT  được sở hữu các CK – bằng chứng về quyền tài sản (quyền sở hữu vốn trong công ty cổ phần hoặc quyền chủ nợ) và được hưởng những lợi ích mà chứng khoán đó mang lại. Chất lượng và giá trị của CK hoàn toàn phụ thuộc vào kết quả hoạt động của tổ chức phát hành và sự biến động của thị trường. Tuy nhiên, NĐT không thể trực tiếp kiểm tra chất lượng và đánh giá được giá trị của CK như đối với các loại hàng hoá thông thường khác mà chỉ căn cứ vào các thông tin liên quan đến tổ chức phát hành và đợt phát hành để đánh giá giá trị của chứng khoán khi quyết định đầu tư. Do đó, nếu tổ chức phát hành hoạt động kém hiệu quả hoặc cố ý đưa ra những thông tin không chính xác về tình hình tài chính và đợt phát hành thì sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của NĐT  nói riêng cũng như sự an toàn và hiệu quả của thị trường CK nói chung. Chính vì vậy, pháp luật đã đặt ra những quy định nhằm quản lý chặt chẽ việc chào bán CK ra công chúng.

Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 654 other followers

%d bloggers like this: