BÌNH LUẬN DỰ THẢO 3 LUẬT PHÁ SẢN

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC  – Chủ tịch Công ty Luật BASICO, Trọng tài viên VIAC

1. Nhận xét chung:

Về cơ bản, Dự luật đã quy định khá chi tiết, rõ ràng các vấn đề liên quan đến phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, khắc phục được những bất cập của Luật hiện hành, đặc biệt là việc thay đổi thời điểm ra quyết định tuyên bố phá sản (quay trở lại như Luật năm 1993) và đặt ra một chức danh hoàn toàn mới là Quản tài viên, đóng vai trò quan trọng trong suốt quá trình xử lý vụ phá sản.

2. Về tên Luật:

2.1. Dự thảo Luật giữ nguyên tên gọi là Luật Phá sản như Luật hiện hành năm 2004 là không hợp lý. Vì Luật chỉ quy định về việc phá sản doanh nghiệp và hợp tác xã, chứ không cho phép phá sản các chủ thể khác. Do đó, không thể đặt tên mở rộng hết cỡ cho mọi đối tượng không thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật phá sản.

2.2. Cũng không nên đặt tên là Luật Phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã. Vì việc đặt tên văn bản quy phạm pháp luật nói chung, các đạo luật nói riêng cần phải hết sức ngắn gọn, cô đọng, chứ không cần phải thể hiện tất cả các nội dung trong phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của văn bản. Nếu cứ yêu cầu gọi tên đầy đủ theo phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, thì thậm chí phải gọi tên là Luật Phục hồi và phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã. Trên thực tế cũng đã có khá nhiều đạo luật quy định theo hướng rút gọn này. Ví dụ, Luật Doanh nghiệp năm 2005 còn quy định cả về hộ kinh doanh (không phải là doanh nghiệp). Hay Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 (sửa đổi năm 2012), không chỉ quy định về thuế đối với doanh nghiệp, mà còn áp dụng cả đối với hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp và các tổ chức khác không phải là doanh nghiệp nhưng có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập.

2.3. Vì vậy, nếu giữ nguyên đối tượng áp dụng như Dự thảo thì đề nghị gọi tên Luật này là Luật Phá sản doanh nghiệp như Luật năm 1993. Khi nào mở rộng phạm phạm vi điều chỉnh đến tổ hợp tác, hộ gia đình và cá nhân thì mới được phép rút gọn tên gọi là Luật Phá sản.

Đọc tiếp

TỪ SỞ HỮU CHÉO TẠI CHAEBOL ĐẾN THỰC TẾ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

THS. TRỊNH THANH HUYỀN – Trường Đào tạo &PTNNL VietinBank

Sở hữu chéo trong hệ thống NHTM Việt Nam
Ba nhóm tích cực:
(1) Sở hữu của các NHTM nhà nước và NHTM nước ngoài tại các Ngân hàng liên doanh
(2) Cổ đông chiến lược nước ngoài tại các NHTM
(3) Cổ đông tại các NHTM là các Cty quản lý quỹ
Ba nhóm đáng lo ngại:
(4) Sở hữu của NHTM nhà nước tại các NHTM cổ phần
(5) Sở hữu lẫn nhau giữa các NHTM cổ phần
(6) Sở hữu NHTM cổ phần bởi các tập đoàn, tổng Cty Nhà nước và tư nhân
Nguồn: Báo cáo Kinh tế vĩ mô 2012 của Ủy ban Kinh tế Quốc hội.

Hình thức sở hữu chéo tồn tại khá lâu và mang lại những thành công không nhỏ cho nhiều nước. Tuy nhiên trên thực tế, sở hữu chéo phức tạp hơn nhiều bởi nó hàm chứa những mối quan hệ chằng chịt và đôi khi rất khó phân tách rạch ròi. Vì vậy, việc nhìn nhận những hạn chế của sở hữu chéo tại các Chaebol Hàn Quốc sẽ cho thấy một số vấn đề trong hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam hiện nay.

Sở hữu chéo tại các Chaebol Hàn Quốc

Sở hữu chéo đơn giản là việc 2 tổ chức sở hữu cổ phần lẫn nhau, chẳng hạn như công ty (Cty) A đầu tư vào Cty B, sau đó B lại đầu tư vào A. Ở Hàn Quốc, sở hữu chéo được coi là đặc trưng nổi bật của các tập đoàn kinh doanh quy mô lớn (Chaebol). Mối quan hệ sở hữu chéo không chỉ giữa các Cty thành viên trong nội bộ Chaebol mà còn giữa các Chaebol với nhau. Luật Thương mại của Hàn Quốc quy định rõ giới hạn cho phép đối với vấn đề này, theo đó, các Cty con không được phép nắm giữ cổ phiếu của Cty mẹ và Cty mẹ cũng không được phép nắm giữ quá 40% cổ phần của Cty con. Tuy việc nắm giữ cổ phần chéo không được phép nhưng một Cty vẫn có thể đầu tư vốn vào một Cty khác và sau đó chuyển vốn cổ phần sang cho bên thứ 3. Hình thức này là hình thức đầu tư nội bộ, được gọi là “mô hình kim tự tháp”.
Mô hình này cho thấy, với số vốn đầu tư không quá lớn (chỉ cần đảm bảo mức khống chế ở một số Cty chủ chốt và một lượng vốn nhỏ ở các Cty con) nhưng phạm vi ảnh hưởng của Cty mẹ hay các gia đình sáng lập thực sự rất lớn. Cty mẹ chỉ cần duy trì tỷ lệ cổ phần khống chế tại Cty A và Cty B nhưng vẫn có ảnh hưởng rất lớn tới các Cty con của A và B. Tuy nhiên, chính sự tập trung này cộng thêm với các chính sách bảo hộ quá lớn của Chính phủ là những nguyên nhân căn bản gây nên rất nhiều vấn đề bất cập ở Hàn Quốc:

Đọc tiếp

TẠM HOÃN THỰC HIỆN NGHĨA VỤ THANH TOÁN CỦA DOANH NGHIỆP LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN

THS. BÙI ĐỨC GIANG – Công ty Luật Audier and Partners Vietnam LLC & NCS khoa Luật, đại học Paris 2, Pháp

Việc thu hồi các khoản vay khi doanh nghiệp đi vay có dấu hiệu mất khả năng thanh toán là mối quan tâm hàng đầu của các ngân hàng. Một câu hỏi khá thực tiễn đặt ra là khi doanh nghiệp đi vay lâm vào tình trạng phá sản, bên cho vay có thể yêu cầu doanh nghiệp này thực hiện việc thanh toán khoản vay hoặc tiến hành khởi kiện hay yêu cầu thi hành án liên quan đến nghĩa vụ thanh toán của bên đi vay hay không?

Về nguyên tắc, doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản – tức là không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu (điều 3, Luật phá sản) – được hưởng việc tạm hoãn thực hiện nghĩa vụ về tài sản đối với các chủ nợ của mình trong một khoảng thời gian nhất định. Điều này giúp cải thiện khả năng thanh khoản của doanh nghiệp và qua đó giúp tăng cường khả năng phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Hơn nữa nó cũng phản ánh nguyên tắc chung của pháp luật phá sản là đảm bảo đối xử bình đẳng giữa các chủ nợ không có bảo đảm (pari passu principle) : do doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản không có khả năng thanh toán cho tất cả các chủ nợ nên không phải thanh toán cho bất cứ chủ nợ nào ngay lập tức, tất cả các chủ nợ sẽ được thanh toán một cách công bằng khi thanh lý tài sản của doanh nghiệp.

1. Cấm và đình chỉ việc thanh toán

a) Nguyên tắc chung

Thanh toán khoản nợ có bảo đảm và khoản nợ không có bảo đảm – Luật phá sản đề cập tới việc tạm hoãn thực hiện nghĩa vụ thanh toán của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản trong hai quy định riêng. Khoản 3, điều 27, Luật phá sản liên quan đến trường hợp khoản nợ có bảo đảm trong khi điểm b, khoản 1, điều 31 xử lý trường hợp khoản nợ không có bảo đảm.

Đọc tiếp

QUY ÐỊNH HỌP ÐẠI HỘI ÐỒNG CỔ ÐÔNG VÀ VỐN ÐIỀU LỆ CỦA NGÂN HÀNG CẦN ÐƯỢC THỰC TIỄN KIỂM NGHIỆM

LS. NGUYỄN VĂN PHƯƠNG – Vietcombank

Hiện nay, Việt Nam có 35 ngân hàng thương mại cổ phần (chưa bao gồm Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội mới sau khi Ngân hàng thương mại cổ phần Nhà Hà Nội – Habubank sáp nhập vào Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội) và 5 ngân hàng thương mại nhà nước (trong đó, có 4 ngân hàng đã cổ phần phần hoá, chuyển đổi sang hoạt động dưới hình thức ngân hàng thương mại cổ phần, ngoại trừ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Agribank chuyển đổi sang hoạt động dưới hình thức công ty TNHH 1 thành viên do Nhà nước sở hữu từ tháng 10/2010). Do đó, tổ chức và hoạt động của hầu hết các ngân hàng thương mại Việt Nam đang chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp và Luật các tổ chức tín dụng đối với loại hình công ty cổ phần (loại hình công ty này trong lĩnh vực ngân hàng gọi là ngân hàng thương mại cổ phần – sau đây gọi tắt là “Ngân hàng”).

Về mô hình công ty cổ phần thì Ðại hội đồng cổ đông (bao gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết) là cơ quan quyết định cao nhất của Ngân hàng. Các cổ đông thực hiện quyền biểu quyết của mình về các vấn đề thuộc thẩm quyền của Ðại hội đồng cổ đông thông qua các phiên họp thường niên hoặc bất thường hoặc thông qua việc lấy ý kiến bằng văn bản. Tùy theo quy định trong Ðiều lệ của từng Ngân hàng, Ðại hội đồng cổ đông có thể xem xét, quyết định các vấn đề rộng hơn so với các vấn đề bắt buộc do pháp luật quy định; các vấn đề còn lại sẽ được Ðại hội đồng cổ đông giao hoặc ủy quyền cho Hội đồng quản trị toàn quyền nhân danh Ngân hàng để quyết định, thực hiện các quyền, nghĩa vụ của Ngân hàng và được quy định trong Ðiều lệ của Ngân hàng. Việc Ngân hàng tổ chức họp Ðại hội đồng cổ đông thường niên hoặc bất thường phải được tiến hành trong một thời hạn nhất định và phải thông báo, gửi giấy mời các cổ đông tham dự trước một thời hạn tối thiểu xác định theo quy định tại Ðiều lệ của Ngân hàng hoặc quy định của pháp luật. Tuy nhiên, quy định không phù hợp với thực tiễn hoặc thiếu nhất quán giữa các văn bản quy phạm pháp luật có thể làm cho các Ngân hàng không thể tuân thủ được mọi quy định liên quan, đặc biệt là ngành Ngân hàng nơi các ngân hàng thương mại vừa phải tuân thủ quy định của pháp luật chung, vừa phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành.

Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin đề cập đến quy định của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Luật Doanh nghiệp năm 2005 về thời hạn tổ chức họp Ðại hội đồng cổ đông thường niên hoặc bất thường, xác định vốn điều lệ (lý luận về luật thực định) và thực tiễn áp dụng các quy định này trong quá trình hoạt động và kinh doanh của Ngân hàng.

Đọc tiếp

LUẬT DOANH NGHIỆP CẦN QUY ĐỊNH RÕ CHẾ ĐỘ ỦY QUYỀN THAM DỰ CUỘC HỌP ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG

THS. PHẠM THỊ DUYÊN MỸ – Phòng Luật & Kiểm soát nội bộ – Công ty CP Chứng khoán Sài Gòn

Một trong những quyền cơ bản của cổ đông khi tham gia vào công ty cổ phần (CTCP) là quyền tham dự, phát biểu và biểu quyết trực tiếp tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ). Tuy nhiên, khi ĐHĐCĐ họp thì không phải mọi cổ đông đều có thể tham dự để thực hiện quyền của mình. Trong khi đó, để cuộc họp ĐHĐCĐ có giá trị về mặt pháp lý thì phải có đủ túc số dự họp lẫn biểu quyết1. Nhưng làm sao để có đủ túc số ấy khi cổ đông của công ty đại chúng ở nhiều vùng miền, và thậm chí ở nhiều quốc gia khác nhau?

Luật Doanh nghiệp 2005 đã đưa ra giải pháp cho cổ đông và cho CTCP bằng phương thức tham dự và biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ thông qua người đại diện được ủy quyền2. Theo đó, “cổ đông là cá nhân, người đại diện theo ủy quyền của cổ đông là tổ chức trực tiếp hoặc ủy quyền bằng văn bản cho một người khác dự họp ĐHĐCĐ. Trường hợp cổ đông là tổ chức không có người đại diện theo ủy quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 96 của Luật này thì ủy quyền cho người khác dự họp ĐHĐCĐ3”.

Xác định người đại diện theo ủy quyền dự họp ĐHĐCĐ của cổ đông là tổ chức

Căn cứ theo các quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 thì đối với cổ đông là tổ chức, cần phân biệt hai “dạng” đại diện theo ủy quyền. Theo Khoản 3 Điều 96 Luật Doanh nghiệp 2005, cổ đông là tổ chức có quyền cử một hoặc một số người đại diện theo ủy quyền thực hiện các quyền cổ đông của mình theo quy định của pháp luật, bao gồm cả quyền dự họp và biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ; trường hợp có nhiều hơn một người đại diện theo ủy quyền được cử thì phải xác định cụ thể số cổ phần và số phiếu bầu của mỗi người đại diện. Việc cử, chấm dứt hoặc thay đổi người đại diện theo ủy quyền phải được thông báo bằng văn bản đến công ty trong thời hạn sớm nhất, bao gồm các nội dung từ điểm a đến điểm e của Khoản 3 Điều 96. Công ty phải gửi thông báo về việc cử, chấm dứt hoặc thay đổi người đại diện theo ủy quyền đến cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của cổ đông là tổ chức. Đây là một dạng ủy quyền thường xuyên, và thường được thấy trong các CTCP hóa từ doanh nghiệp nhà nước. Cũng không ít công ty đã nhầm lẫn khi ghi tên những người đại diện theo ủy quyền này vào danh sách cổ đông và xem họ mặc nhiên như là một cổ đông thực sự tương ứng với số cổ phần mà họ đại diện. Việc một tổ chức cử nhiều người đại diện phần vốn của mình tại một công ty nhằm hạn chế được tình trạng “lạm quyền” và hạn chế rủi ro nếu người được ủy quyền thực hiện các công việc không vì lợi ích của tổ chức ủy quyền. Tuy nhiên, nếu những người đại diện theo ủy quyền này không tham dự cuộc họp ĐHĐCĐ thì họ vẫn có thể ủy quyền cho người khác tham dự và biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ, và việc ủy quyền cho “người khác” này có thể hiểu là một dạng ủy quyền “adhoc”, ủy quyền theo vụ việc.

Đọc tiếp

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ HỢP NHẤT CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN

THS. ĐOÀN THÁI SƠN – Vụ Pháp chế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thời gian vừa qua, cùng với quá trình xây dựng đề án tái cơ cấu đầu tư công, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, Ngân hàng Nhà nước đang hoàn chỉnh Đề án tái cơ cấu lại  hệ thống các tổ chức tín dụng. Ngày 06 tháng 12 năm 2011, Ngân hàng Nhà nước chính thức công bố vụ hợp nhất tự nguyện đầu tiên giữa ba ngân hàng thương mại cổ phần (Sài Gòn, Việt Nam Tín nghĩa và Đệ Nhất) thành một ngân hàng thương mại cổ phần mới (NHTMCP).

Sự kiện hợp nhất 03 NHTMCP này là một trong những hành động cụ thể thực hiện đề án tái cơ cấu hệ thống các TCTD và chủ trương giảm nhanh số lượng các ngân hàng yếu kém, lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng, bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền. Việc hợp nhất các NHTMCP là quá trình phức tạp, liên quan đến lợi ích của nhiều bên và phát sinh nhiều vấn đề pháp lý cần xử lý. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin đề cập một số vấn đề pháp lý cần quan tâm, xử lý trong quá trình thực hiện hợp nhất các NHTMCP. 

1. Bản chất pháp lý của việc hợp nhất các NHTMCP

Theo quy định tại Thông tư 04/2010/TT-NHNN ngày 11/02/2010 của Ngân hàng Nhà nước (Thông tư 04), “hợp nhất tổ chức tín dụng” được hiểu là hình thức hai hoặc nhiều tổ chức tín dụng hợp nhất thành một tổ chức tín dụng mới bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang tổ chức tín dụng mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các tổ chức tín dụng bị hợp nhất. Như vậy, về bản chất pháp lý, hợp nhất các NHTMCP là việc hai hoặc nhiều NHTMCP hợp nhất với nhau thành một NHTMCP mới. Hệ quả pháp lý của hoạt động hợp nhất các NHTMCP là việc chấm dứt pháp nhân đối với các NHTMCP bị hợp nhất, đồng thời khai sinh một pháp nhân NHTMCP mới. Về mặt pháp lý, NHTMCP mới sẽ kế thừa toàn bộ quyền và
nghĩa vụ pháp lý của các NHTMCP bị hợp nhất, cụ thể bao gồm: (i) Quyền chủ nợ của các NHTMCP bị hợp nhất đối với các khoản cấp tín dụng, khoản đầu tư vào trái phiếu, chứng khoán nợ khác được chuyển sang cho NHTMCP mới; (ii) Quyền cổ đông, thành viên góp vốn, chủ sở hữu của các NHTMCP bị hợp nhất đối với các khoản góp vốn, mua cổ phần được chuyển sang NHTMCP mới; (iii) Quyền sở hữu đối với các tài sản của NHTMCP bị hợp nhất (như trụ sở, bất động sản, tài sản khác…) được chuyển sang NHTMCP mới; (iv) Các nghĩa vụ nợ đối với khoản vay, tiền gửi dưới mọi hình thức… của các NHTMCP bị hợp nhất cũng được chuyển sang NHTMCP mới. Hay nói cách khác, quyền của người gửi tiền tại các NHTMCP bị hợp nhất được bảo đảm. Việc bảo vệ quyền lợi của khách hàng, đặc biệt là người gửi tiền đã  được pháp luật quy
định thuộc trách nhiệm của các NHTMCP liên quan; (v) Các quyền và nghĩa vụ khác theo hợp đồng/thỏa thuận của các NHTM bị hợp nhất được chuyển giao sang NHTMCP mới.

Đọc tiếp

KHÁI NIỆM ĐẠI DIỆN VÀ PHÂN LOẠI ĐẠI DIỆN TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI

THS. HỒ NGỌC HIỂN – Tổng Công ty Phát triển hạ tầng và Đầu tư tài chính Việt Nam

Pháp luật về đại diện thương mại là một lĩnh vực pháp luật quan trọng trong hệ thống pháp luật thương mại. Các nước có nền kinh tế thị trường đều quan tâm xây dựng và phát triển hệ thống pháp luật về đại diện thương mại, nhằm tạo hành lang pháp lý cho sự ổn định và phát triển của nghề nghiệp đại diện, thông qua đó thúc đẩy thương mại phát triển. Ở Việt Nam, đại diện trong lĩnh vực thương mại là một vấn đề pháp lý tương đối mới mẻ cả về lý luận và thực tiễn. Bài viết này bước đầu nghiên cứu và đề xuất kiến nghị một số vấn đề cơ bản về khái niệm đại diện và phân loại đại diện trong lĩnh vực thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay.

1. Khái niệm đại diện theo pháp luật Việt Nam

Về định nghĩa, Điều 139 Bộ luật Dân sự 2005 (BLDS 2005) quy định: đại diện là việc một người (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây gọi là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện.

Theo Luật Thương mại 2005, đại diện cho thương nhân là một loại trung gian thương mại, bên cạnh các hoạt động môi giới thương mại, uỷ thác mua bán hàng hoá và đại lý thương mại (Điều 3 Luật Thương mại 2005). Theo Điều 141 Luật Thương mại 2005, đại diện cho thương nhân là việc một thương nhân nhận uỷ nhiệm (gọi là bên đại diện) của thương nhân khác (gọi là bên giao đại diện) để thực hiện các hoạt động thương mại với danh nghĩa, theo sự chỉ dẫn của thương nhân đó và được hưởng thù lao về việc đại diện.

Luật Thương mại 2005 cũng xác định trong trường hợp thương nhân cử người của mình để làm đại diện cho mình thì áp dụng quy định của BLDS.

Từ những quy định trên, chúng ta có một số nhận xét sau đây:

Thứ nhất, có thể thấy, pháp luật Việt Nam đã có sự tiếp nhận và có sự hài hòa nhất định với quan niệm chung của các nước về đại diện và đại diện thương mại. Đại diện trước hết là hành vi của một chủ thể (gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của một chủ thể khác (gọi là người được đại diện) để xác lập, thực hiện một giao dịch cụ thể. Đại diện cho thương nhân là hành vi đại diện nhằm mục đích lợi nhuận (vì là hành vi của thương nhân đại diện cho một thương nhân khác và để hưởng thù lao đại diện).

Đọc tiếp

NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT, ANH LÀ AI?

PHẠM THỊ MINH TRANG – Công ty Luật Phuoc & Partners

Luật Doanh nghiệp nên chăng cho phép doanh nghiệp có hơn một người đại diện theo pháp luật, miễn là các thành viên hoặc cổ đông của doanh nghiệp đồng ý như vậy và đăng ký cho cơ quan cấp phép.

Trong quá trình làm việc với công ty nước ngoài, rất nhiều luật sư gặp tình huống vui khi nhận được những hồ sơ được ký bởi luật sư của công ty mà đáng lẽ cần phải được ký bởi người đại diện theo pháp luật. Lý do được giải thích rất đơn giản là luật sư là người đại diện cho công ty về những vấn đề pháp lý, chứ trong công ty của họ, không có chức danh người đại diện theo pháp luật.

Tình huống trên khiến chúng ta có dịp xem lại một cách nghiêm túc vị trí pháp lý của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp trong pháp luật Việt Nam.

Luật Việt Nam quy định thế nào?

Người đại diện theo pháp luật trước tiên được quy định trong Bộ luật Dân sự, theo đó đây là người đứng đầu pháp nhân (là các doanh nghiệp, trừ doanh nghiệp tư nhân không được coi là pháp nhân) và được ghi trong điều lệ hoặc quyết định thành lập(1). Và với tư cách người đại diện theo pháp luật, họ có quyền nhân danh doanh nghiệp xác lập, thực hiện giao dịch dân sự vì lợi ích của doanh nghiệp(2).

Luật Doanh nghiệp không có quy định nào cụ thể hơn về người đại diện theo pháp luật mà chỉ xác định ai là người đại diện trong doanh nghiệp đối với từng loại hình doanh nghiệp (chủ tịch hội đồng thành viên và giám đốc đối với công ty TNHH, chủ tịch hội đồng quản trị và giám đốc đối với công ty cổ phần…).  Có thể nói, Luật Doanh nghiệp còn nợ doanh nghiệp một quy định rõ ràng về người đại diện theo pháp luật.

Trong thực tế, có quy ước chung là người đại diện theo pháp luật có quyền đại diện đương nhiên cho doanh nghiệp về cả đối nội lẫn đối ngoại. Người đại diện theo pháp luật được quyền ký kết hợp đồng, thỏa thuận mà không cần ủy quyền hoặc chấp thuận nào – nói cách khác, quyền đại diện cho doanh nghiệp của người đại diện theo pháp luật là vô hạn. Trong nội bộ, người đại diện theo pháp luật quyết định các vấn đề quan trọng như việc tổ chức và điều hành hoạt động kinh doanh, tổ chức nhân sự, quản lý, sử dụng tài khoản, con dấu của doanh nghiệp.

Việc dồn toàn bộ quyền đại diện cho doanh nghiệp vào tay người đại diện theo pháp luật dẫn đến kết quả gì?

Rủi ro với bên ngoài

Thói quen cho rằng quyền đại diện cho doanh nghiệp của người đại diện theo pháp luật là không hạn chế khiến doanh nghiệp Việt Nam ít quan tâm đến việc xác định thẩm quyền của người ký hợp đồng phía đối tác. Thói quen này rất nhiều khi là một sai lầm và tăng rủi ro cho các bên khi giao kết hợp đồng.

Đọc tiếp

XÁC LẬP TƯ CÁCH THÀNH VIÊN CÔNG TY

PHẠM HOÀI HUẤN

Diễn biến sự việc:

Tháng 5/2001 ông Ngô Trường Thanh và ông Nguyễn văn Long thành lập Công ty TNHH sản xuất thương mại Vạn Phát (sau đây gọi là Công ty). Tổng số vốn ban đầu là 1,6 tỷ đồng, trong đó số vốn góp của ông Thanh là 900 triệu đồng. Đến tháng 8/2001, tổng số vốn của Công ty thay đổi còn 900 triệu đồng, trong đó phần góp vốn của ông Thanh chỉ còn 200 triệu đồng.

Ông Nguyễn Văn Long khai ông và ông Thanh là bạn, ông Thanh lại có nghiệp vụ kế toán nên ông Long mời ông này làm cho Công ty. Ông Long muốn ông Thanh có vị trí nhất định trong Công ty với chức danh Phó giám đốc kiêm Kế toán trưởng Công ty nên ông đã bảo ông Thanh đứng tên trong Hội đồng thành viên Công ty mà không cần góp vốn. Vì vậy ông đã dùng tiền cá nhân để nộp vào phần vốn góp của ông Thanh cho đúng quy định pháp luật là 200.000.000 đồng. Thực tế mọi điều hành, quản lý Công ty đều do ông Long quyết định.

Bà Lê Thị Nhất Linh (nhân chứng) là nhân viên Công từ tháng 8/2003. Đến 17/7/2006 xác nhận có đánh máy và kí vào hợp đồng chuyển nhượng vốn giữa ông Nguyễn Văn Long, Ngô Trường Thanh và bà mà không có chữ kí của ông Thanh.

Ngày 14/6/2006 ông Thanh khởi kiện, yêu cầu công nhận phần vốn của ông tại Công ty và chia lợi nhuận theo tỷ lệ vốn ông đang nắm giữ tại Công ty.

Phán quyết của tòa

Tòa án nhân dân đã chấp nhận yêu cầu của ông Thanh về việc công nhận phần vốn góp trong Công ty và chia lợi nhuận theo tỉ lệ phần vốn góp.

Đọc tiếp

BÀN VỀ CĂN CỨ MIỄN TRỪ ĐỐI VỚI CÁC GIAO DỊCH MUA BÁN, SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP BỊ CẤM THEO PHÁP LUẬT CẠNH TRANH

PHẠM HOÀI HUẤN

Đặt vấn đề

Cùng với kiểm soát các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền, các qui định kiểm soát tập trung kinh tế (trong đó bao gồm các hành vi mua bán, sáp nhập doanh nghiệp) đã hình thành nên một bộ phận quan trọng trong pháp luật cạnh tranh. Bởi vì các qui định kiểm soát các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh cho dù được thiết lập một cách chặt chẽ và tinh vi đến đâu thì cũng sẽ trở nên vô nghĩa khi các bên tham gia thỏa thuận tập trung kinh tế lẩn tránh sự điều chỉnh của pháp luật bằng cách hợp nhất, sáp nhập. Do vậy, việc thiết lập chế định kiểm soát các hành vi mua bán, sáp nhập doanh nghiệp với tư cách là một bộ phận của pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế tranh là một điều không có hề có sự bàn cãi. Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tiêu cực đến môi trường cạnh tranh hành vi mua bán, sáp nhập doanh nghiệp còn được nhìn nhận ở những tác động tích cực nhất định của chúng đối với việc phát triển kinh tế cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt nam trong quá trình hội nhập. Có một thực tế là vấn đề miễn trừ được qui định trong pháp luật cạnh tranh đối với những giao dịch mua bán, sáp nhập doanh nghiệp mang ý nghĩa có lợi không được qui định một cách rõ ràng trong pháp luật cạnh tranh với tư cách là đạo luật trực tiếp điều chỉnh đối với các hành vi này. Từ đó đặt ra nhu cầu cần phải nhìn nhận lại vấn đề này về mặt lí luận cũng như thực tiễn áp dụng.

Cơ sở lí luận của cơ chế miễn trừ đối với các giao dịch mua bán, sáp nhập doanh nghiệp bị cấm

Dưới góc độ của pháp luật doanh nghiệp sáp nhập doanh nghiệp được nhìn nhận bằng việc một hoặc một số công ty cùng loại (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập[1]. Quyền tự do kinh doanh thừa nhận khả năng doanh nghiệp được phép hoạt động trong những ngành nghề, lĩnh vực mà pháp luật không cấm cũng như thừa nhận cho doanh nghiệp quyền được tự chủ trong quá trình hoạt động của mình. Có nhiều lí do để các doanh nghiệp cân nhắc đến việc tiến hành một giao dịch sáp nhập. Trong giao dịch sáp nhập, ngoài việc phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật doanh nghiệp, các doanh nghiệp liên quan còn phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh với tư cách là mảng pháp luật kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh.

Đọc tiếp

CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THÀNH CÔNG TY THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2005 CÓ PHẢI LÀ “BÌNH MỚI, RƯỢU CŨ”?

PGS. TS. ĐINH DŨNG SỸ – Vụ Pháp luật, Văn phòng Chính phủ

Luật Doanh nghiệp được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2006 (LDN 2005). Những người soạn thảo thường gọi đạo luật này là “Luật Doanh nghiệp thống nhất”, vì nó được xây dựng trên cơ sở (nói đúng hơn là với mục tiêu) hợp nhất hai luật: Luật Doanh nghiệp năm 2000 và Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 (Luật DNNN). LDN 2005 ra đời tạo ra một mặt bằng pháp lý thống nhất, một sân chơi chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Nói cụ thể hơn, LDN 2005 đã xoá bỏ các mô hình tổ chức pháp lý của các DNNN theo quy định của Luật DNNN, để chuyển sang các mô hình công ty theo quy định của LDN 2005.

1. Kết quả sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước

Theo quy định của LDN 2005, trong thời hạn bốn năm, kể từ ngày 01/7/2006, tất cả các DNNN phải chuyển đổi sang mô hình công ty. Như vậy, ngày 30/6/2010 là hạn cuối cùng để các DNNN – gồm các tổng công ty và Công ty nhà nước (CTNN) độc lập – phải chuyển đổi thành Công ty cổ phần (CTCP) hoặc Công ty trách nhiệm hữu hạn (công ty TNHH).

Vào thời điểm năm 2001, ở nước ta có 5.655 DNNN. Trong 10 năm vừa qua, chúng ta đã cổ phần hóa được gần 4.000 doanh nghiệp. Theo thông tin từ Ban chỉ đạo Đổi mới doanh nghiệp, tính đến trước thời điểm 1/7/2010, Nhà nước còn nắm giữ 100% vốn ở 1.206 doanh nghiệp, trong đó đã chuyển đổi khoảng hơn 900 doanh nghiệp thành công ty TNHH một thành viên. Số còn lại khoảng gần 300 doanh nghiệp, hoặc sẽ được tiếp tục cổ phần hóa theo kế hoạch trong năm 2010, hoặc sẽ được chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên trong tháng 7/2010, số không đủ điều kiện chuyển đổi sẽ tiến hành cơ cấu lại nợ để chuyển thành CTCP hoặc công ty TNHH hai thành viên trở lên, nếu không sắp xếp được theo các hình thức trên thì tiến hành bán hoặc cho phá sản mà không cấp bổ sung vốn1.

Trong số gần 300 doanh nghiệp nói trên, có khoảng 40 doanh nghiệp đã tiến hành cổ phần hóa từ trước ngày 01/7/2010 mà đã xác định xong giá trị doanh nghiệp, nhóm này sẽ tiếp tục tiến hành cổ phần hóa; khoảng 30 doanh nghiệp đến ngày 01/7/2010 tuy chưa xác định xong giá trị doanh nghiệp nhưng dự kiến trong tháng 7 sẽ xác định xong thì trong năm 2010 sẽ hoàn thành thực hiện cổ phần hóa, cũng sẽ không phải chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên; khoảng 40 doanh nghiệp không đủ điều kiện theo quy định tại Nghị định 25/2010/NĐ-CP để chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên, nhóm này sẽ phải tiến hành cơ cấu lại nợ để chuyển thành CTCP hoặc công ty TNHH hai thành viên trở lên, nếu không sắp xếp được thì tiến hành bán doanh nghiệp hoặc cho phá sản. Còn khoảng 182 doanh nghiệp phải chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên và về cơ bản đã được chuyển đổi hết trong tháng 7/20102.

Đọc tiếp

LUẬT PHÁ SẢN CÒN NHIỀU BẤT CẬP KHI ÁP DỤNG VÀO THỰC TIỄN

THÁI NGUYÊN TOÀN – Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam

Luật Phá sản được Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam thông qua ngày 15/6/2004, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/10/2004 và thay thế Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993. Đây là cơ sở pháp lý nhằm tạo điều kiện cho ngành Tòa án nhân dân giải quyết hậu quả pháp lý của các doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản. Tuy nhiên, khi áp dụng Luật Phá sản vào thực tiễn đã bộc lộ nhiều vướng mắc, bất cập, làm cho công tác giải quyết các việc phá sản gặp nhiều khó khăn, tốn nhiều thời gian và gây thiệt hại tài sản của doanh nghiệp mở thủ tục phá sản như:

Xử lý tài sản, vật kiến trúc của doanh nghiệp gắn liền trên đất thuê của Nhà nước. Nhiều doanh nghiệp được thành lập và thuê đất của Nhà nước đầu tư vốn liếng xây dựng trụ sở làm việc, nhà xưởng… để sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, trong hoạt động sản xuất kinh doanh chẳng may gặp rũi ro, đưa đẩy doanh nghiệp lâm vào tình trạng thua lỗ kéo dài, đã có nhiều phương án phục hồi hoạt động kinh doanh, nhưng không khắc phục được và các chủ nợ yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản để thu hồi lại vốn cho vay. Trong thời gian Tòa án đang giải quyết, UBND có thẩm quyền thu hồi lại đất cho doanh nghiệp thuê xây dựng trụ sở làm việc, nhà kho, nhà xưởng phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Chẳng hạn, Công ty Vật tư nông nghiệp tỉnh Quảng Nam (sau đây xin viết tắt là VTNN) là doanh nghiệp nhà nước, hoạt động kinh doanh những mặt hàng phân bón, thuốc trừ sâu phục vụ nông nghiệp cho các địa phương trong tỉnh, nhưng việc kinh doanh của doanh nghiệp bị thua lỗ kéo dài và mất khả năng thanh toán nợ đến hạn cho các chủ nợ với số tiền trên 25 tỷ đồng và trên 258 ngàn USD. Cuối năm 2005, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam mở thủ tục phá sản theo yêu cầu của các chủ nợ và Tổ quản lý, thanh lý tài sản kiểm kê, định giá tài sản với tổng số tiền vỏn vẹn trên 2,8 tỷ đồng. Đến đầu năm 2008, UBND tỉnh Quảng Nam ban hành quyết định thu hồi lại 648m2 đất của Công ty VTNN thuê xây dựng nhà làm việc, đồng thời quyết định phê duyệt giá khởi điểm nhà làm việc, vật kiến trúc trên đất của Công ty VTNN là 875.000.000 đồng và quy định tổ chức, cá nhân trúng đấu giá nhà, vật kiến trúc trên đất được lựa chọn hình thức giao đất nộp tiền sử dụng đất một lần hoặc thuê đất trả tiền thuê hằng năm theo quy định của pháp luật.

Đọc tiếp

CÁC CHÍNH SÁCH KINH TẾ TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN DOANH NGHIỆP

PGS.TS. Lê Xuân Bá – Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (Viện NCQLKTTW)

Kết thúc năm 2010, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được kết quả tích cực trên hầu hết các lĩnh vực. Tuy nhiên, bên cạnh những điểm sáng thể hiện thành tựu đạt được nền kinh tế còn có nhiều hạn chế và thách thức.

Những hạn chế và thách thức này đã  bộc lộ rõ ngay từ những tháng đầu năm 2011khi tình hình kinh tế vĩ mô cả trong nước và thế giới đều đối mặt với rất nhiều khó khăn và biến động khó lường. Lạm phát trong nước vẫn đang tăng cao và chỉ tiêu kiềm chế lạm phát dưới mức 7% của Chính phủ trong năm 2011 khó thành hiện thực. Nhiều chỉ tiêu kinh tế – xã hội khác như bội chi ngân sách, nhập siêu,… cũng khó thực hiện. Trước những đòi hỏi của nền kinh tế, những tháng đầu năm, Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành thực hiện nhiều giải pháp chính sách kinh tế bảo đảm kinh tế vĩ mô, kiểm soát, ngăn ngừa tái lạm phát cao. Đây là những giải pháp chính sách cần thiết. Tuy nhiên, những giải pháp chính sách này có tác động như thế nào đối với doanh nghiệp? Bài viết này nhằm đưa ra một số đánh giá ban đầu về tác động của những giải pháp chính sách kinh tế trong thời gian vừa qua đến hoạt động của doanh nghiệp. Ngoài phần mở đầu, bài viết gồm 3 phần. Phần 1 sơ lược tình hình kinh tế năm 2010 và 4 tháng đầu năm 2011. Phần 2 trình bày những giải pháp chính sách đã được ban hành và thực hiện trong thời gian vừa qua, đặc biệt trong những tháng đầu năm 2011 (chủ yếu là những giải pháp chính sách kinh tế có liên quan đến doanh nghiệp). Phần 3 đưa ra một số tác động ban đầu của giải pháp chính đến doanh nghiệp đồng thời đề xuất một số ý kiến hoàn thiện trong thời gian tới.

1. Sơ lược tình hình kinh tế năm 2010 và bốn tháng đầu năm 2011

Trong khuôn khổ hạn hẹp, phần này chỉ điểm qua tình hình về tăng trưởng kinh tế, thương mại, đầu tư và lạm phát.

Tăng trưởng kinh tế

Năm 2010, nền kinh tế Việt Nam đã có mức tăng trưởng khá và có xu hướng quý sau tăng nhanh hơn quý trước nhờ việc thực hiện đồng bộ các giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy phát triển và những chính sách hỗ trợ sản xuất kinh doanh. Nền kinh tế đã sớm vượt qua giai đoạn khó khăn và phục hồi nhanh sau khủng hoảng tài chính toàn cầu. Tốc độ tăng GDP của quý I là 5,84%, quý II – 6,44%, quý II – 7,16%, quý IV- 7,34%. Tính chung, cả năm 2010 GDP tăng 6,78%. Tăng trưởng của cả 3 khu vực nông – lâm – thủy sản, công nghiệp – xây dựng và dịch vụ năm 2010 đều tăng so với với năm 2009 (Bảng 1).
Đến quý I/2011, tốc độ tăng trưởng đạt 5,43% so với cùng kỳ năm 2010. Tốc độ tăng trưởng tương ứng của các khu vực nông – lâm – thủy sản, công nghiệp – xây dựng và dịch vụ lần lượt đạt 2,05%, 5,47%, và 6,28%.

Đọc tiếp

NHỮNG BẤT CẬP CỦA CÁC QUY ĐỊNH CHUYỂN ĐỔI CÔNG TY CỔ PHẦN THÀNH CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN

THS. HOÀNG ANH TUẤN – Văn phòng Luật sư Biển Bắc

Chuyển đổi hình thức công ty là một trong những phương thức để tổ chức lại công ty bảo đảm cho sự phát triển của công ty đáp ứng được các mục tiêu của nhà đầu tư, yêu cầu của thị trường, cũng như yêu cầu của pháp luật. Theo pháp luật doanh nghiệp hiện hành, công ty cổ phần có thể chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên. Vấn đề này đã được đề cập đến một cách khá cụ thể bởi Nghị định số 139/2007/NĐ-CP và Nghị định số 102/2010/NĐ-CP hiện hành. Tuy nhiên, nội dung hướng dẫn của các Nghị định này không những không tạo thuận lợi cho việc chuyển đổi hình thức công ty từ công ty cổ phần sang công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, mà còn làm cho việc chuyển đổi như vậy khó khăn hơn rất nhiều. Bài viết này sẽ phân tích các khiếm khuyết như vậy.

1. Khiếm khuyết của quy định pháp luật Việt Nam về chuyển đổi công ty cổ phần thành công ty TNHH một thành viên

Điều 154 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định: “Công ty trách nhiệm hữu hạn có thể được chuyển đổi thành công ty cổ phần hoặc ngược lại. Thủ tục chuyển đổi được quy định như sau: Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty hoặc Đại hội đồng cổ đông thông qua quyết định chuyển đổi và Điều lệ công ty chuyển đổi. Quyết định chuyển đổi phải có các nội dung chủ yếu về tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty được chuyển đổi; tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty chuyển đổi; thời hạn và điều kiện chuyển tài sản, phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu của công ty được chuyển đổi thành tài sản, cổ phần, trái phiếu, phần vốn góp của công ty chuyển đổi; phương án sử dụng lao động; thời hạn thực hiện chuyển đổi”.

Xét một cách đơn thuần, các quy định này đã thể hiện sự thông thoáng đảm bảo quyền tự do chuyển đổi hình thức công ty. Chỉ cần một quyết định của đại hội đồng cổ đông là có thể chuyển đổi công ty cổ phần thành công ty TNHH một thành viên. Tuy nhiên, thực tế cho thấy có các khiếm khuyết như sau:

Thứ nhất, pháp luật không đề cập nhiều đến điều kiện chuyển đổi, dẫn đến không ít các khó khăn khi thực hiện. Có thể nhìn thấy chúng qua ví dụ sau. Khi thành lập công ty cổ phần, các cổ đông thống nhất đăng ký vốn điều lệ là 100 tỷ. Bốn cổ đông sáng lập của công ty cam kết góp 20% bằng 20 tỷ và đã góp đủ. Khi thực hiện việc chuyển đổi thành công ty TNHH nhiều thành viên, giá trị công ty được xác định là 15 tỷ. Trong quyết định chuyển đổi xác định tổng số vốn góp của 4 thành viên là 15 tỷ, theo đó điều lệ công ty chuyển đổi cũng thể hiện vốn điều lệ là 15 tỷ. Và, vấn đề khúc mắc xảy ra khi nộp hồ sơ chuyển đổi, cơ quan đăng ký kinh doanh yêu cầu giải trình việc giảm vốn điều lệ từ 100 tỷ xuống 15 tỷ (trước khi Nghị định số 43/2010/NĐ-CP có hiệu lực vốn điều lệ của công ty cổ phần bao gồm cả cổ phần chào bán). Các nghi vấn đặt ra là công ty đã tìm cách làm giảm trách nhiệm, dẫn đến việc chuyển đổi khó có thể được thực hiện.

Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 655 other followers

%d bloggers like this: