HOẠT ĐỘNG SÁP NHẬP, HỢP NHẤT, MUA BÁN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN HIỆN NAY

LS.THS. PHAN DIÊN VỸ

Nhằm đối phó với nguy cơ khủng hoảng tài chính toàn cầu khi thị trường tài chính thế giới đang diễn biến xấu nghiêm trọng do khủng hoảng nợ từ khu vực đồng euro cộng thêm chỉ số tín dụng Mỹ rớt hạng, ngày 4/8/2011, Ngân hàng trung ương châu Âu đã tuyên bố sẽ mua lại nợ của các nước châu Âu

Từ 2008 đến nay, việc hàng loạt ngân hàng hàng đầu của Mỹ bị phá sản đã làm cho nền kinh tế thế giới bị ảnh hưởng trầm trọng. Nhằm đối phó với nguy cơ khủng hoảng tài chính toàn cầu khi thị trường tài chính thế giới đang diễn biến xấu nghiêm trọng do khủng hoảng nợ từ khu vực đồng euro cộng thêm chỉ số tín dụng Mỹ rớt hạng, ngày 4/8/2011, Ngân hàng trung ương châu Âu đã tuyên bố sẽ mua lại nợ của các nước châu Âu. Tuy nhiên, tuyên bố này chưa thể dập tắt đám cháy khủng hoảng và khôi phục lòng tin của các nhà đầu tư. Lãi suất cho vay vẫn tăng liên tục ở Tây Ban Nha đến 6,3%, Ý là 6,2% dù lãi suất chính thức là 2,2%. Sau Hy Lạp, Ireland và Bồ Đào Nha, nhiều nhà đầu tư lo ngại nguy cơ vỡ nợ từ Ý và Tây Ban Nha sẽ dẫn đến hiệu ứng dây chuyền khủng hoảng; Trong khi đó, Nhật Bản và Trung Quốc đã phát đi thông điệp kêu gọi hợp tác quốc tế để ngăn chặn khủng hoảng toàn cầu.

Trong bối cảnh quốc tế như trên, việc bắt buộc tuân thủ các lộ trình mở của ngành ngân hàng, áp dụng các chuẩn mực quốc tế, tạo nên một môi trường cạnh tranh  đầy đủ và  thực hiện việc sáp nhập, hợp nhất và mua bán ngân hàng thương mại là yêu cầu cấp thiết của hệ thống ngân hàng Việt nam.

Trong thời gian vừa qua, việc sáp nhập hợp nhất (SN-HN) ngân hàng  tại Việt Nam chủ yếu là thực hiện lộ trình tăng vốn điều lệ tối thiểu theo quy định tại nghị định 141/2006 NĐ-CP, thể hiện trên một số mặt sau:

- Các ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) bị sáp nhập hợp nhất trở thành chi nhánh của ngân hàng TMCP được sáp nhập. Điển hình như ngân hàng TMCP Đại Nam sáp nhập vào ngân hàng TMCP Phương Nam, ngân hàng TMCP Quảng Ninh sáp nhập vào ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội, ngân hàng TMCP Đông Á mua lại ngân hàng TMCP Tứ giác Long Xuyên.

Đọc tiếp

PHẦN VỐN GÓP: CAM KẾT GÓP HAY THỰC GÓP

NGUYỄN VÂN QUỲNH – Công ty Luật Phuoc & Partners

Câu chuyện thực tế: Tháng 12-2010, công ty TNHH X (gọi tắt là công ty X) tổ chức cuộc họp hội đồng thành viên. Lấy lý do ông A chưa góp đủ phần vốn đã cam kết nên các thành viên góp vốn còn lại giảm số phiếu biểu quyết của ông A.

Cơ sở pháp lý được các thành viên công ty X đưa ra là điều 18.3 của Nghị định 102/2010 ngày 1-10-2010 hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp (Nghị định 102), theo đó “trong thời hạn chưa góp đủ số vốn theo cam kết, thành viên có số phiếu biểu quyết và được chia lợi tức tương ứng với tỷ lệ số vốn thực góp, trừ trường hợp điều lệ công ty quy định khác”.

Ông A không chấp nhận cách làm này vì cho rằng ngay cả khi ông chưa góp đủ phần vốn của mình thì ông vẫn có số phiếu biểu quyết như đã góp đủ. Và khi công ty chia lợi nhuận ông vẫn được nhận theo tỷ lệ vốn ông đã cam kết góp thì không có lý gì bây giờ công ty lại hạn chế quyền lợi của ông. Những quy định gây tranh cãi Theo quy định tại điều 41 của Luật Doanh nghiệp 2005, các quyền của thành viên góp vốn trong công ty TNHH đều dựa trên phần vốn góp của mỗi thành viên, tức là dựa trên tỷ lệ vốn mà thành viên công ty TNHH góp vào vốn điều lệ.

Có thể thấy rằng từ Luật Doanh nghiệp 2005 đến Nghị định 102, khái niệm vốn điều lệ trong công ty TNHH hai thành viên trở lên đều được hiểu thống nhất là số vốn thực góp hoặc cam kết góp của các thành viên trong một thời hạn cụ thể và đã được ghi vào điều lệ công ty. Như vậy, quyền của các thành viên góp vốn trong công ty TNHH sẽ được dựa trên tỷ lệ vốn mà thành viên góp vào số vốn đã được ghi vào điều lệ công ty.

Lấy ví dụ:

Công ty TNHH Y gồm có hai thành viên với vốn điều lệ đăng ký là 200 tỉ trong đó thành viên B cam kết góp 100 tỉ và C cam kết góp 100 tỉ. Tại thời điểm tổ chức họp hội đồng thành viên: B đã góp được 40 tỉ và C đã góp được 50 tỉ. Như vậy, phần vốn góp của B và C có thể sẽ được xác định theo một trong hai cách sau:

Cách 1: B chiếm 40/200 (20%) và C chiếm 50/200 (25%); hay

Cách 2: B chiếm 100/200 (50%) và C chiếm 100/200 (50%).

Bản thân Luật Doanh nghiệp khi đưa ra khái niệm “phần vốn góp” để từ đó làm cơ sở xác định phạm vi quyền của thành viên cũng không nói cụ thể đó là tỷ lệ sở hữu của thành viên dựa trên số vốn đã góp hay cam kết góp, mà chỉ đơn giản dùng một chữ “góp”.

Đọc tiếp

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀO LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP THỰC TRẠNG VÀ CHÍNH SÁCH (1)

TS. CHU TIẾN QUANG – Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương

THS. HÀ HUY NGỌC – Viện Nghiên cứu Môi trường và Phát triển bền vững

I. Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong lĩnh vực nông nghiệp thời gian qua

Thứ nhất, chiếm tỷ trọng rất nhỏ về số lượng dự án và vốn đầu tư trong tổng FDI trong nền kinh tế.

Trong giai đoạn 1990-2009 tổng số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam được cấp phép là 12.575 dự án với số vốn đăng ký 194.429,5 triệu USD. Trong đó số dự án đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp là 738 dự án, chiếm 5,9% tổng số dự án đăng ký, với số vốn đăng ký là 4.379,1 triệu USD, chiếm 2,3% tổng số vốn đăng ký.(2) Riêng năm 2009 có 1.208 dự án được cấp phép đầu tư với tổng số vốn đăng ký là 23.107,7 triệu USD; trong đó số dự án đăng ký đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp là 29 dự án, chiếm 2,4% tổng số dự án với số vốn là 134,5 triệu USD, chiếm 0,6% tổng vốn đăng ký, không có dự án quy mô lớn.

Bảng 1: Đầu tư đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp giấy phép trong năm 2009 phân theo ngành kinh tế

Lĩnh vực

Số dự án

Tỷ lệ (%)

Vốn đăng ký (triệu USD)

Tỷ lệ (%)

Tổng

1208

100

23107,3

100

Nông lâm nghiệp, thủy sản

29

2,4

134,5

0,6

Công nghiệp-xây dựng

550

45,5

5175,7

22,4

Dịch vụ-Thương mại

629

52,1

17797,1

77

                Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2010

Thứ hai, phân bổ không đồng đều trong nông nghiệp

Các dự án FDI chỉ tập trung vào một số ngành như: chăn nuôi, chế biến thức ăn chăn nuôi, trồng rừng, chế biến gỗ và lâm sản, thủy sản. Trong đó, đầu tư vào trồng rừng và chế biến gỗ chiếm khoảng 78% tổng vốn FDI vào nông nghiệp. Cả nước có 453 dự án FDI đầu tư vào trồng rừng và chế biến gỗ đã được cấp phép với tổng số vốn đăng ký khoảng 1,7 tỷ USD, trong có 421 dự án đang có hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 1,38 tỷ USD, nhưng vốn thực hiện chỉ đạt 359 triệu USD.

Thứ ba, phân bổ không đồng đều theo địa phương

Hầu hết các dự án FDI vào nông nghiệp tập trung vào những tỉnh có lợi thế về vùng nguyên liệu, có điều kiện thuận lợi về thổ nhưỡng, khí hậu, cơ chế chính sách ưu đãi về đầu tư như: Bình Dương, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Lâm Đồng Thanh Hóa, Nghệ An, một số tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên. Trong đó, Bình Dương là tỉnh đứng đầu, tiếp theo là Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh và Lâm Đồng. Cụ thể về vốn FDI vào nông nghiệp được phản ánh qua số liệu bảng 2

Bảng 2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành nông nghiệp phân theo địa phương

TT

Địa phương

Số dự án

Vốn đăng ký (USD)

Vốn thực hiện (USD)

Tỷ lệ vốn điều lệ (%)

1

Bình Dương

265

1109622258

450439627

20.31

2

Đồng Nai

103

1058744864

468793875

21.14

3

TPHCM

85

268579865

101309892

4.57

4

Tây Ninh

25

222527500

149407680

6.74

5

Lâm Đồng

77

172100716

105429882

4.75

6

Long An

19

150201700

56433936

2.54

7

Vũng Tàu

24

108443720

48023720

2.17

8

Nghệ An

6

105838640

50638000

2.28

9

Thanh Hóa

9

87079000

33290000

1.50

10

Ninh Bình

5

63329672

26322529

1.19

11

Cáctỉnh khác

348

1336397754

727966035

32.82

 

Tổng số

952

4682865689

2218055176

100.00

Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư và tính toán của nhóm tác giả, 2009

Đọc tiếp

BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ NHỎ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

PGS.TS. LÊ HOÀNG NGA – Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

Ngày 9/9/2010, Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) công bố Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2010 – 2011, trong đó Việt Nam được thăng hạng 16 bậc từ vị trí 75/133 lên vị trí 59/139. Mặc dù vậy, có nhiều yếu tố Việt Nam ở gần cuối bảng xếp hạng của WEF như mức độ bảo vệ nhà đầu tư đứng thứ 133/139, gánh nặng thủ tục hành chính (120/139), cân bằng ngân sách (126/139)… Chính mức độ bảo vệ nhà đầu tư thấp cũng là một yếu tố khiến Việt Nam bị giảm điểm trong xếp hạng môi trường kinh doanh do Tạp chí Forber công bố mới đây. Ở yếu tố này trong xếp hạng của Forber, Việt Nam xếp 125/128 nền kinh tế được đưa vào báo cáo.

Trong các Báo cáo Môi trường kinh doanh được WB và IFC công bố thời gian qua, Việt Nam thường xuyên đứng cuối bảng về mức độ bảo vệ nhà đầu tư. Bản Báo cáo đánh giá chỉ số mức độ bảo vệ nhà đầu tư được tổng hợp từ 3 chỉ số: mức độ công khai thông tin, trách nhiệm của thành viên HĐQT (trách nhiệm cá nhân) và mức độ dễ dàng mà cổ đông có thể kiện (khả năng cổ đông có thể kiện thành viên HĐQT và Ban điều hành khi quản lí sai trái) (xem hộp 1). Theo chỉ tiêu bảo vệ nhà đầu tư, Việt Nam tiếp tục nằm ở nhóm cuối, đứng thứ 171/183 trong năm 2009 và 172/183 trong năm 2010.

Rõ ràng bảo vệ nhà đầu tư nói chung và nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán (TTCK) nói riêng là vấn đề nóng bỏng, cấp thiết cần có giải pháp thích hợp để nâng cao thứ hạng và cải thiện hình ảnh của Việt Nam trước con mắt nhà đầu tư nước ngoài.

Hộp 1:

Theo các báo cáo của WB và IFC về môi trường kinh doanh của các quốc gia và vùng lãnh thổ, mức độ bảo vệ nhà đầu tư biểu hiện ở 3 giác độ:

- Mức độ công bố thông tin biểu hiện qua: (1) những hoạt động mà công ty có đủ thẩm quyền ra quyết định; (2) bắt buộc công bố thông tin tức thời về giao dịch có giá trị lớn hơn 10% tổng tài sản của công ty; (3) công bố thông tin trong báo cáo thường niên; (4) ban giám đốc báo cáo Hội đồng quản trị về giao dịch; (5) yêu cầu một kiểm toán độc lập kiểm tra giao dịch trước khi thực hiện.

- Trách nhiệm của ban giám đốc thể hiện qua: (1) cổ đông có thể buộc tội giám đốc chịu trách nhiệm về thiệt hại do giao dịch gây ra; (2) Cổ đông có thể buộc người có trách nhiệm trong công ty chịu trách nhiệm về thiệt hại do giao dịch gây ra; (3) Tòa án có thể làm vô hiệu các giao dịch khi các cổ đông thắng kiện; (4) Giám đốc phải bồi thường các thiệt hại cho công ty khi cổ động thắng kiện; (5) Giám đốc phải hoàn lại lợi nhuận từ giao dịch khi cổ đông thắng kiện; (6) Giám đốc có thể bị phạt tiền hoặc bị giam khi bị kết tội; (7) Cổ đông có thể trực tiếp hoặc gián tiếp kiện lên tòa án đối với các thiệt hại gây nên cho công ty.

- Mức độ dễ dàng để cổ đông có thể kiện ra tòa án thể hiện qua: (1) Các loại giấy tờ liên quan đến giao dịch cung cấp cho cổ đông tại phiên tòa; (2) Cổ đông có thể trực tiếp giám sát bị đơn và nhân chứng tại phiên tòa; (3) Cổ đông có thể có thông tin từ bị đơn mà không cần nêu cụ thể từng loại giấy tờ; (4) Cổ đông nắm giữ 10% cổ phiếu hoặc ít hơn có thể yêu cầu cơ quan điều tra của chính phủ điều tra về giao dịch mà không cần kiện ra tòa án; (5) Cổ đông nắm giữ 20% vốn hoặc ít hơn có quyền thẩm tra về giao dịch trước khi kiện ra tòa án; (6) Tiêu chuẩn về chứng cớ đối với các vụ án dân sự thấp hơn các chứng cứ về án hình sự.

Tất cả 3 tiêu chí trên được chấm điểm từ 1-10, số điểm càng cao thì mức độ bảo vệ nhà đầu tư càng cao. Mức độ bảo vệ nhà đầu tư tổng hợp là trung bình cộng của 3 điểm thành phần này.

(Nguồn: vneconomy.com.vn)

Đọc tiếp

MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN ĐỔI HÌNH THỨC CÔNG TY VÔ HIỆU

HOÀNG ANH TUẤN – Nghiên cứu sinh, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Con  người  có  những  quyền tự  nhiên  luôn cần được pháp  luật ghi nhận và bảo vệ – Đó  là quyền  được sống,  quyền tự  do  và  quyền mưu cầu hạnh phúc. Đồng  thời, pháp  luật cũng  thừa nhận các phương tiện để bảo đảm những quyền đó.  Công  ti  là một  trong  những  phương  tiện quan  trọng  như vậy để  duy  trì  cuộc sống của bản thân thành viên hoặc các thành viên của nó, và tạo lập  ra một  môi  trường  cho  đời sống chung của mọi  người  mà  không  người  nào trong xã hội không cần đến. Vì vậy, xét từ đời sống  chung của cộng  đồng,  người  ta  thường nói,  công  ti  là  những lợi  khí  vô  song  phải sử dụng nếu  muốn nắm  được  thế  thượng  phong trong  trường  kinh tế  [1].  Công  ty – cái  phương tiện  duy  trì  đời sống  đó  -  có  thể  được tạo lập dưới  nhiều  hình  thức  như  công  ty hợp  danh, công ti hợp vốn đơn giản, công ti cổ phần, công ti  trách nhiệm hữu hạn… Và về nguyên tắc các chủ sở hữu công ti có quyền tự do thay đổi hình thức của nó. Như vậy quyền tự do  chuyển đổi hình thức công ti cũng phải được pháp luật thừa nhận và kiểm soát.

Thực tế trong những năm gần đây, có lẽ do nhận thức được các rủi ro pháp lý trong quan hệ giữa các  thành viên công  ty hoặc do nhận  thức được  ưu  điểm của  các  quy  định về  thành lập công ti liên doanh của Luật Đầu tư, các nhà đầu tư thường giao kết hợp đồng để chuyển đổi hình thức công ty. Hợp đồng về nguyên tắc chung có
những điều kiện có hiệu lực. Và khi một  trong các  điều  kiện  đó bị  vi  phạm, hợp  đồng  có  thể hoặc bị vô hiệu. Việc vô hiệu hóa các hợp đồng  và xử lý các vấn đề liên quan không phải là câu chuyện xa lạ đối với các luật gia Việt Nam hiện nay.  Tuy  nhiên vấn  đề hợp  đồng  chuyển  đổi hình  thức công  ty vô hiệu không phải  là không
có nhiều chuyện đáng bàn.

1. Nhận  diện về hợp  đồng  chuyển  đổi  hình thức công ty vô hiệu

Thực tiễn cho thấy, việc xác định hợp đồng chuyển đổi hình  thức  công  ty  là khá phức tạp, bởi lẽ việc chuyển đổi hình thức công ty thường được  thực  hiện  theo  nhiều  phương  thức  khác nhau. Do đó việc xem xét hiệu lực hay vô hiệu của hợp đồng chuyển đổi hình thức công ty phụ thuộc rất  nhiều  (nếu  không  phải  là tất cả)  vào việc  xác  định  hay  phân  loại  phương  thức chuyển  đổi  này.  Có  hai  loại  phương  thức chuyển đổi hình  thức  công  ty hay hai  loại hợp đồng chuyển đổi hình  thức công  ty căn bản  là: (1) Hợp đồng chuyển đổi hình  thức công  ty có sự  chuyển  nhượng  quyền lợi  hoặc tăng  người đầu tư;  và  (2) hợp  đồng  chuyển  đổi  hình  thức công  ty không có sự chuyển nhượng quyền lợi hoặc tăng người đầu tư.

Loại  thứ  nhất  bao gồm:  Chuyển  đổi  hình thức  công  ti từ  công  ty TNHH một  thành  viên thành  công  ty  TNHH  hai  thành  viên  trở  lên; chuyển đổi công ty cổ phần hay công ty TNHH hai thành viên trở lên thành công ty TNHH một thành viên; chuyển đổi công ty TNHH ít hơn ba thành  viên  thành  công  ty cổ  phần;  và  chuyển đổi công  ty đối vốn  thành công  ty đối nhân, và ngược lại  mà  có sự  thay  đổi số lượng  thành
viên.  Đối với  loại  này, hợp  đồng  chuyển  đổi hình thức công ty gồm hai phần: Thứ nhất là sự thỏa  thuận  chuyển  đổi  hình  thức  công  ty của các chủ sở hữu của công  ty hoặc hành vi pháp lý đơn phương của chủ sở hữu công  ty  (nếu  là công ty một thành viên); và thứ hai là hợp đồng chuyển nhượng quyền lợi.

Đọc tiếp

THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ MẠO HIỂM CHO ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM

PGS. TS. PHAN THỊ BÍCH NGUYỆT

Đổi mới công nghệ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia trong quá trình hội nhập quốc tế là vấn đề không nên xem nhẹ trong chính sách phát triển kinh tế của Việt Nam. Thực tế có rất nhiều nhân tố tác động đến vấn đề đổi mới công nghệ, trong đó năng lực tài chính là một trong những cản ngại không nhỏ. Đặc biệt trong bối cảnh kinh tế không mấy sáng sủa hiện nay. Một thực tế diễn ra làm cho mọi ý tưởng đổi mới có nguy cơ  vào tình trạng “án binh bất động ”. Tuy nhiên nếu biết tìm tòi và nắm bắt cơ hội, trên nền tìm kiếm đượcnguồn tài chính thích hợp có thể hỗ trợ cho các hoạt động chấp nhận rủi ro như ngồn vốn đầu tư mạo hiểm thì mục tiêu đổi mới và phát triển  công nghệ đặt ra có thể sẽ rất thành công.

1. Vai trò của đổi mới công nghệ đối với sự tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là một bộ phận quan trọng của đời sống kinh tế xã hội và là một trong những chỉ tiêu then chốt để đánh giá sự phát triển của một quốc gia. Có nhiều yếu tố tác động đến sự tăng trưởng của nền kinh tế và tùy vào từng giai đoạn lịch sử các yếu tố đó được ưu tiên xem xét ở các mức độ khác nhau. Nếu như trước đây tăng trưởng chủ yếu dựa vào tỷ lệ tiết kiệm, tích lũy tư bản và vốn vật chất, thì ngày nay tăng trưởng chủ yếu dựa vào nguồn nhân lực, công nghệ, thể chế chính trị và truyền thống văn hóa trong đó tiến bộ của khoa học công nghệ chính là động lực của tăng trưởng kinh tế, của tăng năng suất lao động và cải thiện lâu dài mức sống .

Có nhiều mô hình khác nhau đề cập đến mối quan hệ giữa phát triển công nghệ với tăng trưởng kinh tế. Theo hàm số sản xuất Cobb-Douglas, một hàm sản xuất đơn giản thường xuyên được xét đến để mô tả các khả năng hợp lý của nền kinh tế, thì sản lượng Y = A K a L (1-a) , với A là yếu tố thay đổi công nghệ, K là dòng chảy của các dịch vụ vốn từ lượng vốn, L là số ngày làm việc của lao động, a là tỷ trọng đóng góp của vốn và (1-a) là phần đóng góp từ lao động. Trong mô hình A là tham số quan trọng và cũng là một số đo tốt về nhân tố năng suất tổng hợp sản xuất (TFP). Có nhiều yếu tố làm TFP tăng trưởng như: chất lượng của lao động và vốn, tiến bộ công nghệ, mức độ cạnh tranh, lợi ích kinh tế nhờ quy mô, việc tái phân bổ nguồn lực, chính sách kinh tế, trong đó yếu tố công nghệ đóng vai trò rất quan trọng.

Đọc tiếp

GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO KINH DOANH TRÊN SÀN VÀNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

TS. TRẦM THỊ XUÂN HƯƠNG

1. Mở đầu

Vàng là tài sản quý giá, rất quen thuộc đối với mọi người. Thời xa xưa vàng được sử dụng như tiền tệ trung gian trao đổi và cất trữ. Ngày nay với sự tiến bộ của công nghệ thông tin vàng đã trở thành phương tiện đầu tư hấp dẫn, mang lại lợi nhuận dáng kể cho nhà đầu tư. Trong xu thế cạnh tranh hiện nay, dưới tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu thị trường chứng khoán sút giảm, thị trường bất động sản đóng băng… các nhà đầu tư nhanh chóng lựa chọn cho mình một kênh đầu tư hấp dẫn đó là kinh doanh trên sàn vàng. Giá vàng biến động càng mạnh thì sức hút của thị trường vàng càng mãnh liệt hơn bất kỳ kênh đầu tư nào khác.

Với phương pháp khảo sát thực tế, so sánh đối chiếu được sử dụng trong bài báo này nhằm mục đích cảnh báo cho các nhà đầu tư rằng, kinh doanh trên sản vàng là một kênh đầu tư hấp dẫn nhưng đồng hành với lợi nhuận là rủi ro cao, nên việc dưa ra các giải pháp phòng chống rủi ro khi giá vàng biến động cho nhà dầu tư là điều cần thiết.

2. Lợi ích kinh doanh trên sàn vàng

§ Đối với ngân hàng thương mại

- Giúp ngân hàng đa dạng hóa các nghiệp vụ kinh doanh. Hiện nay các NH tham gia trên thị trường vàng gồm kinh doanh vàng vật chất, kinh doanh trên tài khoản vàng, kinh doanh trên sàn vàng… với những sản phẩm chủ yếu như giao ngay (spot), kỳ hạn (Forward), hoán đổi (swap), quyền chọn (option)… kể cả kinh doanh trong và ngoài nước nhằm cân bằng trạng thái vàng theo quy định của NHNN là trạng thái vàng không được vượt quá cộng trừ 20% so với vốn tự có của NHTM.

- Góp phần gia tăng nguồn vốn và thu nhập cho NH nhờ các khoản phí và lãi vay thu được.

§ Đối với nhà đầu tư :

- Nhà đầu tư kinh doanh vượt khả năng vốn tự có, có thể đạt được mức sinh lời hấp dẫn. Nhà đầu tư tự quyết định giá để đặt lệnh mua bán vàng và sử dụng các công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro.

Đọc tiếp

FDI VÀO VIỆT NAM NĂM 2010: BỐI CẢNH VÀ NHỮNG ĐỘNG THÁI MỚI

TS. NGUYỄN MINH PHONG

I/. Bối cảnh quốc tế chung năm 2010 và khuynh hướng mới trong dòng FDI quốc tế

Năm 2010, thế giới dần phục hồi trong xu hướng gia tăng gánh nặng nợ nần, thúc đẩy toàn cầu hoá, tái cấu trúc và cạnh tranh toàn diện hơn.

Cùng với sự tăng trưởng liên tiếp 3 quý (kể từ quý III, IV/2009 và quý I/2010 đến nay) sau 4 kỳ liên tục suy giảm trước đó của kinh tế Mỹ, năm 2010, nền kinh tế thế giới sẽ phục hồi nhanh hơn theo hình chữ V như dự báo của ADB và có thể đạt mức tăng trưởng chung 3,9% trong năm 2010 (sau khi suy giảm 0,8% trong năm 2009) như Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) dự báo. Ở đa số các nước, thường duy trì song song 2 xu hướng: Vừa nới lỏng thận trọng, vừa thắt chặt vừa phải chính sách tài chính – tiền tệ, khuyến khích tiêu dùng và tăng cường tạo thuận lợi, cũng như lòng tin cho đầu tư khu vực tư nhân; đồng thời, thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa kinh tế đi vào chiều sâu, song song với tạo bứt phá mới cho quá trình tái cấu trúc nền kinh tế theo định hướng ưu tiên phát triển các ngành liên quan đến “kinh tế sạch”, “kinh tế mạng internet” và “kinh tế môi trường”. Trên phạm vi toàn cầu, tính đa nguyên của các đồng ngoại tệ mạnh được tô đậm và mở rộng hơn, cùng với xu hướng giảm dần thế mạnh của đồng USD. Bên cạnh đó, sẽ gia tăng cạnh tranh và căng thẳng quốc tế cùng với xu hướng chạy đua vũ trang và va chạm lợi ích song phương, đa phương, thậm chí mang tính khu vực, diễn ra cả trên đất liền, trên không, trên biển và trên mạng internet, về các nguồn tài nguyên truyền thống và tài nguyên phi truyền thống, như thông tin. Những vấn đề về dầu thô, khí đốt, nước sạch, di dân, biến đổi khí hậu, cũng như khủng bố và bất ổn chính trị sẽ gia tăng áp lực… Đặc biệt, sự căng thẳng của vấn đề nợ công và tín dụng xấu có thể tạo nên hiệu ứng lan tỏa toàn cầu, gắn với hệ quả các gói kích cầu và tình trạng phổ biến về thâm hụt ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2010. Nhiều quốc gia sẽ gặp khó khăn trong nỗ lực trả nợ. Mỹ, Nhật và hầu hết các nước phát triển đều là những Nhà nước – con nợ khổng lồ với chỉ số tín nhiệm không ổn định, thậm chí có nguy cơ tụt hạng. Theo Tạp chí BusinessWeek số tháng 1/2010, trong năm 2009, tỷ lệ nợ/GDP của Iceland là 310%; của Nhật Bản 227%; Hi Lạp 124%; Italy 120,1%; Mỹ 93,6%; Ấn Độ 88,9%; Bồ Đào Nha 84,6%; Đức 84,5% và Pháp 82,6%. Hiện tại, Tây Ban Nha có khoản nợ công chiếm 54% tổng sản phẩm quốc nội (lên tới 225 tỷ euro trong năm 2010 – tương đương với giá trị của nền kinh tế Hi Lạp), trong khi con số của Hi Lạp và Bồ Đào Nha lần lượt là 120% GDP và 80% GDP. Cộng đồng quốc tế đang và có thể phải tung ra khoản cứu trợ ngày càng lớn hơn để giúp các nước – con nợ (có thể lên tới 90-150 tỷ euro cho Hi Lạp, 40 tỷ euro cho Bồ Đào Nha và 350 tỷ euro cho Tây Ban Nha). Có thể nói, quả bom nợ nần đang treo lơ lửng, có nguy cơ gây những bất ổn khó lường và trở thành vũ khí gây áp lực chính sách mới đối với nhiều quốc gia và cả nền kinh tế thế giới…

Đọc tiếp

MẤY SUY NGHĨ VỀ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM

image ĐỖ MAI THÀNH

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong nguồn vốn quan trọng trong đầu tư phát triển kinh tế tại Việt Nam. Tuy nhiên, để thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn này như thế nào cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước lại là một bài toán không đơn giản.

1 – Những kết quả đạt được

Việt Nam là một nước đang phát triển nên nhu cầu về vốn cho phát triển kinh tế rất cao. Cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam trong những năm qua đã tăng lên đáng kể và có đóng góp nhất định cho sự tăng trưởng kinh tế của đất nước.

Tính đến nay đã có 43 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam. Tổng số dự án FDI được cấp phép từ năm 1988 đến năm 2008 đã lên tới 10.981 dự án, đạt tổng số vốn đăng ký là hơn 163,607 tỉ USD. Riêng năm 2007, Việt Nam thu hút được 21,347 tỉ USD, trong đó giải ngân được 8,030 tỉ USD; trong các năm 2008 và 2009 kết quả đạt được trong lĩnh vực này thứ tự là 64 tỉ USD (vốn thực hiện gần 12 tỉ USD) và 21,482 tỉ USD (thực hiện được 10 tỉ USD); còn 4 tháng đầu năm 2010 thu hút được 5,92 tỉ USD (thực hiện được 3,4 tỉ USD), tăng 36% so với cùng kỳ năm 2009.

Có thể nói, trong bối cảnh khủng khoảng kinh tế toàn cầu và cạnh tranh gay gắt thì kết quả đạt được trong việc thu hút FDI của năm 2009 là một cố gắng nỗ lực lớn của Việt Nam trong vận động xúc tiến đầu tư và cải thiện môi trường đầu tư (chỉ tiêu dự kiến trong năm 2009 là 20 tỉ USD vốn cam kết và 8 tỉ USD vốn thực hiện), bởi tuy vốn cam kết đạt được của năm 2009 giảm sút so với năm 2008, nhưng chỉ tiêu quan trọng là vốn thực hiện thì chỉ bị giảm 13% (ở nhiều nước trong khu vực vốn này bị giảm tới 20% – 30%).

Đọc tiếp

KHẢO SÁT VIỆC TUÂN THỦ CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐỊNH GIÁ CHUYỂN NHƯỢNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

TS. HÀ NAM KHÁNH GIAO & PGS.TS. BÙI LÊ HÀ

Việt Nam gia nhập WTO năm 2006 đã mở ra nhiều cơ hội mới cho việc hội nhập vào kinh tế quốc tế, đồng thời cũng đem đến một số những thách thức nhất định trong quản lý kinh tế; trong đó có việc định giá chuyển nhượng giữa các bên liên kết trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Việc khảo sát 50 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, và phỏng vấn một số chuyên gia định giá chuyển nhượng về thực trạng thực thi Thông tư 117/2005/TT-BTC cho thấy rằng các doanh nghiệp, nhìn chung, đã thực hiện việc kê khai các giao dịch liên kết với cơ quan thuế theo quy định. Tuy nhiên, đa số doanh nghiệp còn chưa chủ động trong việc chuẩn bị trước hồ sơ chứng minh giá thị trường của giao dịch liên kết, một số khác vẫn trong trạng thái “chờ và rút kinh nghiệm”.

1. Phần mở đầu

Trong xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa ngày càng cao, hoạt động kinh doanh của các công ty đa quốc gia cũng ngày càng mở rộng, các giao dịch xuyên biên giới có giá trị lớn giữa các công ty thành viên diễn ra thường xuyên. Việc hoạch định thuế và tuân thủ theo các quy định hiện hành tùy thuộc rất lớn vào mức độ chính xác của việc định giá các “giao dịch được kiểm soát” này. Để đánh giá và quản trị các rủi ro về thuế, các công ty phải xác định giá chuyển nhượng (“transfer price”) trong năm dựa trên những chính sách rõ ràng và thống nhất với những quy định hiện hành về định giá chuyển nhượng. Tuy nhiên, trên thực tế, việc xác lập và thực thi một chính sách định giá chuyển nhượng thỏa mãn cả hai mục tiêu thuế và kinh doanh là một điều hoàn toàn không dễ dàng.

Ngày 19/12/2005, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 117/2005/TT-BTC (“Thông tư”) hướng dẫn thực hiện việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết. Đối tượng áp dụng là các cơ sở kinh doanh hoạt động tại Việt Nam có thực hiện giao dịch với bên liên kết. Thông tư sử dụng bốn tiêu chuẩn phân tích để phân tích so sánh, chấp nhận năm phương pháp để định giá thị trường và nêu ra một số yêu cầu vềlưu trữ hồ sơ. Các quy định trong Thông tư, nhìn chung, tương đồng với các hướng dẫn của OECD về định giá chuyển nhượng.

Nhằm vào việc có một cái nhìn khái quát và khách quan về việc tuân thủ các quy định về định giá chuyển nhượng nêu trong Thông tư, các tác giả đã tiến hành khảo sát thực tế 50 doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, phỏng vấn một số chuyên gia trong lãnh vực định giá chuyển nhượng, kết hợp với sử dụng các tư liệu thứ cấp, sau đó sử dụng phương pháp thống kê mô tả để tiến hành phân tích việc tuân thủ các quy định vềđịnh giá chuyển nhượng của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.

Đọc tiếp

MẠO HIỂM VỚI … HỢP ĐỒNG GÓP VỐN

THS. NGUYỄN MAI PHƯƠNG- EP LEGAL

Hợp đồng góp vốn trong giao dịch bất động sản thường được nhà đầu tư sử dụng như một cách “níu chân” khách hàng. Tuy nhiên, đối với khách hàng, mức độ mạo hiểm cảu loại hợp đồng này không kém… làm xiếc là mấy!

Nhu cầu về nhà ở của người dân hiện rất lớn, vì vậy cần một khung khổ pháp lý hoàn thiện và chặt chẽ để bảo vệ được quyền lợi của người dân và nhà đầu tư

Trong thời gian vừa qua, nhiều dự án bất động sản đã huy động vốn từ khách hàng thông qua hình thức ký hợp đồng góp vốn, hợp đồng vay vốn, hợp đồng hợp tác kinh doanh. Có rất ít chủ đầu tư đồng ý thương lượng đàm phán các điều khoản trong các hợp đồng này với khách hàng, nên khách hàng không có điều kiện để đảm bảo quyền lợi của mình khi góp vốn, cho vay vốn, hợp tác kinh doanh.

Mặt khác, khuôn khổ pháp lý về kinh doanh bất động sản dưới hình thức ký kết các hợp đồng này chưa được hoàn chỉnh khiến quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng chưa được chặt chẽ, đặc biệt là các cá nhân có nhu cầu đầu tư hoặc mua nhà để ở.

Góp vốn hay thu tiền ứng trước?

Theo quy định tại Luật Kinh doanh bất động sản, bất động sản được đưa vào kinh doanh phải đáp ứng một số điều kiện nhất định như phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất; phải có hồ sơ dự án, thiết kế, tiến độ xây dựng…

Tuy nhiên, do thủ tục hành chính xin cấp các loại giấy phép trên có thể kéo dài nhiều tháng trong khi các chủ đầu tư dự án muốn huy động vốn để thực hiện dự án ngay trước mắt nên Luật Kinh doanh bất động sản cho phép thực hiện việc mua bán, chuyển nhượng bất động sản theo hình thức ứng tiền trước.

Hình thức này chỉ áp dụng đối với việc mua bán nhà, công trình xây dựng hình thành trong tương lai với điều kiện lần thu tiền đầu tiên chỉ thực hiện khi chủ đầu tư đã xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho bất động sản.

Luật Nhà Ở cũng ràng buộc các điều kiện tương tự khi chủ đầu tư huy động vốn từ tiền ứng trước của người mua bao gồm có thiết kế nhà ở đã được phê duyệt và xây dựng xong phần móng. Ngoài ra, Luật này còn quy định mức huy động vốn không được vượt quá 70% giá trị nhà ở ghi trong hợp đồng.

Đọc tiếp

TRANH CHẤP VỀ CHUYỂN NHƯỢNG CỔ PHẦN: BÀI HỌC KHÔNG CŨ

PHẠM HUẤN

Chuyển nhượng cổ phần của cổ đông sáng lập sẽ phải theo trình tự nào ? DN phải làm gì để không xảy ra tranh chấp khi chuyển nhượng?

Cty cổ phần BĐG được cấp giấy chứng nhận kinh doanh lần đầu vào tháng 6/2003. Điều lệ Cty quy định như Luật Doanh nghiệp 1999. Ngày 15/7/2005, ông Thanh là cổ đông sáng lập – Chủ tịch HĐQT của Cty cổ phần ĐBG có ký Hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ 8.500 cổ phần của mình trong Cty cổ phần ĐBG cho ông Sơn với giá chuyển nhượng 1,5 tỷ đồng và đã nhận đủ số tiền này từ ông Sơn. Trong hợp đồng cũng có điều khoản ông Thanh phải từ chức Chủ tịch HĐQT và thực hiện các thủ tục để ông Sơn được giữ chức Chủ tịch HĐQT của Cty ĐBG. Ông Sơn nhận một số giấy tờ của Cty BĐG do ông Thanh giao để làm tin bao gồm một số hóa đơn GTGT do bên bán phát hành cho Cty ĐBG và 2 chứng nhận bảo hiểm do Cty bảo hiểm cấp cho Cty ĐBG.

Tuy nhiên, sau đó ông Thanh không thực hiện việc làm thủ tục đăng ký ông Sơn vào Sổ đăng ký cổ đông và làm thủ tục thay đổi Chủ tịch HĐQT của Cty. Do đó, ông Sơn làm đơn khởi kiện yêu cầu ông Thanh phải trả lại số tiền chuyển nhượng cổ phần đã nhận 1,5 tỷ đồng nói trên

Ông Thanh xác nhận chỉ ký khống vào tờ giấy trắng để ông Sơn sử dụng vào việc liên hệ mua hàng hóa tại Hà Nội, thực tế không có ký hợp đồng chuyển nhượng cổ phần.

Tòa án đã thụ lý vụ việc.

Giải quyết tranh chấp

Căn cứ vào bản Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần ngày 15/7/2005, có đủ cơ sở để xác định giữa ông Thanh và ông Sơn có thỏa thuận việc chuyển nhượng 8.500 cổ phần của ông Thanh trong Cty cổ phần ĐBG cho ông Sơn với giá chuyển nhượng 1,5 tỷ đồng. Nhưng có vấn đề cần xem xét là ông Sơn không đưa ra được bằng chứng chứng tỏ bên chuyển nhượng là ông Thanh đã nhận đủ số tiền chuyển nhượng nói trên. Tuy nhiên, việc chuyển nhượng cổ phần nói trên giữa ông Thanh và ông Sơn không được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông Cty cổ phần BĐG theo quy định tại khoản 1 Điều 58 Luật DN năm 1999.

Đọc tiếp

HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

GS.TS. VÕ THANH THU & TS. NGÔ THỊ NGỌC HUYỀN

1. Nhận thức về vai trò của hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp VN

Năm 2009 kỷ niệm 10 năm kể từ khi có cơ chế mang tính pháp lý đầu tiên cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài, nhưng trước đó đã có hàng chục dự án của các nhà đầu tư VN ở nhiều nước, điều này chứng tỏ sức sống, sức hấp dẫn của hoạt động đầu tư này (chưa cần có thể chế chính thức đã tiến hành). Cho đến nay đã có gần 400 dự án đầu tư vào 44 nước ở khắp 5 châu lục địa bất chấp khủng hoảng kinh tế, hoạt động đầu tư ra nước ngoài vẫn gia tăng. Theo nhận định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư từ năm 2009 mỗi năm sẽ có 500 triệu USD chuyển ra khỏi VN để thực hiện các dự án ở nước ngoài.

Tuy nhiên sau 20 năm, hoạt động đầu tư ra nước ngoài của VN còn mang tính tự phát của doanh nghiệp, phát triển chưa tương xứng với tiềm năng: Số lượng và quy mô các dự án còn nhỏ so với các nước có điều kiện tương tự; nhiều doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài gặp nhiều khó khăn mà không có sự hỗ trợ từ các cấp có thẩm quyền. Ngoài nguyên nhân năng lực tài chính của bản thân doanh nghiệp có hạn, và đây không phải là nguyên nhân chính yếu (vì doanh nghiệp có thể đi vay hoặc lập công ty cổ phần), còn có nhiều nguyên nhân nằm ngoài doanh nghiệp. Nguyên nhân quan trọng nhất tác động toàn diện đến chiến lược, thể chế chính sách, thủ tục hành chính đối với  các hoạt động đầu tư ra nước ngoài, đó là các cấp quản lý nhà nước có thẩm quyền, xã hội chưa coi trọng vai trò của đầu tư ra nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế đất nước trong điều kiện trong nước còn thiếu nguồn lực tài chính, phải tăng cường kêu gọi vốn FDI để tham gia  xây dựng đất nước. Ủng hộ nhận định này về vai trò của hoạt động ĐTRNN, một số nhà kinh tế cho rằng các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài trong bối cảnh hiện nay vì chính lợi ích của nhà đầu tư hơn là lợi ích quốc gia cho nên việc xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ các nhà đầu tư VN ở nước ngoài không mang tính cấp thiết và cấp bách.

Theo chúng tôi nhận định về vai trò của hoạt động ĐTRNN như trên là chưa thỏa đáng, khiến cho việc hoàn thiện cơ chế chính sách cho loại hình đầu tư này diễn ra chậm. Theo nghiên cứu của chúng tôi: nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước đang phát triển vẫn khuyến khích hoạt động đầu tư ra nước ngoài vì vai trò tích cực đối với nước xuất khẩu vốn và nhà đầu tư ở nước ngoài, cụ thể:

Đọc tiếp

NHỮNG ĐIỀU KIỆN CHO ĐẦU TƯ ĐA NGÀNH

TS. NGUYỄN MINH PHONG

Đa dạng hóa đầu tư đã, đang và sẽ tiếp tục trở thành xu hướng phát triển ngày càng đậm nét của các tập đoàn kinh tế ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Trên thực tế tập đoàn Bưu chính Viễn thông (VNPT), ngoài các sản phẩm, dịch vụ liên quan tới viễn thông và công nghệ thông tin, còn mở rộng sang dịch vụ quảng cáo, kinh doanh bất động sản, cho thuê văn phòng. Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) ngoài lĩnh vực hoạt động truyền thống là sản xuất kinh doanh điện năng, viễn thông công cộng và cơ khí điện lực, còn đầu tư mở rộng sang lĩnh vực bất động sản, tài chính – ngân hàng. Tập đoàn Cao su Việt Nam (VRG) cũng không chịu bó khuôn trong lĩnh vực cao su, mà còn lấn sang ngành cơ khí, quản lý khai thác cảng biển, vận tải, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng, kinh doanh bất động sản, dịch vụ khách sạn, du lịch nội địa, quốc tế…

Có thể nói, việc đa dạng hóa đầu tư của các tập đoàn và doanh nghiệp xuất phát từ nhu cầu thực tiễn phát triển kinh doanh: từ sự xuất hiện cung – cầu mới, từ xu hướng phát triển ngành và sự phát triển của khoa học công nghệ. Ngoài ra, sự gia tăng áp lực cạnh tranh giữa các đối thủ tiềm năng đòi hỏi các doanh nghiệp phải bám sát thị trường, nhạy bén và năng động nắm bắt những thời cơ mới, không ngừng mở rộng quy mô, phát huy các nguồn lực bên trong, huy động nguồn lực bên ngoài, giảm thiểu rủi ro theo kiểu “không bỏ hết trứng vào một giỏ”. Đa dạng hóa cũng góp phần phát triển thị trường, tạo đà phát triển tiếp theo cho doanh nghiệp.

Theo thống kê của Bộ Tài chính, tính đến hết năm 2007, tổng giá trị tài sản của 70 tập đoàn, tổng công ty nhà nước đạt hơn 803.000 tỉ đồng, vốn chủ sở hữu là 323.000 tỉ đồng, số vốn đầu tư ra bên ngoài của các tập đoàn, tổng công ty có giá trị lên đến gần 117.000 tỉ đồng. Trong đó 28/70 tổng công ty có hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm… với giá trị hơn 23.300 tỉ đồng.

Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 665 other followers

%d bloggers like this: