TRIỂN VỌNG MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA VIỆT NAM NĂM 2012 – DƯỚI GÓC NHÌN CỦA NGÂN HÀNG THẾ GIỚI

NGÔ THỊ THU TRÀ & PHAN NGỌC THẮNG – Vụ Dự báo, thống kê tiền tệ – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế – xã hội có nhiều khó khăn, phức tạp do tác động bất lợi từ kinh tế thế giới và những hạn chế từ nội tại, trong những năm qua, Chính phủ, các Bộ, ngành và các địa phương đều nỗ lực đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính bao gồm cả thể chế, tổ chức bộ máy, thủ tục hành chính, tài chính công.

Tuy nhiên, theo đánh giá của Chính phủ, mặc dù đạt được một số kết quả, song, công tác cải cách vẫn chưa đáp ứng yêu cầu. Nhiều thủ tục hành chính còn phức tạp, gây phiền phức cho người dân và doanh nghiệp; bộ máy còn chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, chế độ trách nhiệm chưa rõ ràng; bất hợp lý và chậm được điều chỉnh, khắc phục cả ở Trung ương và địa phương (Thông báo số  27/TB-VPCP ngày 30/1/2012 v/v thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị triển khai công tác ngành Nội vụ 2012 và chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020 – http://www.chinhphu.vn)  

Mới đây, Ngân hàng Thế giới (WB) đã công bố Báo cáo Đánh giá xếp hạng môi trường kinh doanh 2012 (Doing business 2012 – Doing Business in a more transparent World). Theo kết quả đánh giá tại Báo cáo này, vị trí xếp hạng môi trường kinh doanh của Việt Nam đã bị tụt 8 bậc, từ vị trí 90 xuống vị trí 98 trên tổng số 183 quốc gia (nền kinh tế) được xếp hạng bởi Ngân hàng Thế giới. 

Bài viết này phân tích một số nguyên nhân làm cho môi trường kinh doanh của Việt Nam bị tụt hạng so với năm trước theo đánh giá của WB  và nêu ra một số khuyến nghị nhằm hướng tới cải thiện môi trường kinh doanh của Việt Nam.

Mục tiêu và nội dung chính của Báo cáo xếp hạng môi trường kinh doanh (Doing Business) của Ngân hàng Thế giới                                               

Doing Business của Ngân hàng Thế giới là Báo cáo kết quả điều tra, khảo sát của một nhóm chuyên gia WB được thực hiện hàng năm về các quy định của các nước có tác dụng thúc đẩy hoặc kiềm chế hoạt động kinh doanh tại nước đó. Báo cáo đưa ra các chỉ tiêu định lượng nhằm đánh giá các vấn đề cụ thể được cho là quan trọng nhất trong việc hình thành và tạo thuận lợi cho môi trường kinh doanh của một nước trên cơ sở tính điểm và so sánh trong mối tương quan giữa 183 quốc gia (nền kinh tế) được khảo sát, từ Afghanistan đến Zimbabwe qua thời gian. Trên cơ sở đó, tổng hợp thành mức xếp hạng cho từng lĩnh vực riêng lẻ và mức xếp hạng tổng hợp cho từng nước.  Chỉ số chung được tổng hợp từ các chỉ số đánh giá riêng lẻ phản ánh các chính sách qui định về kinh doanh và vấn đề bảo hộ quyền sở hữu tài sản được so sánh 183 quốc gia qua thời gian, phản ánh cụ thể qua 10 lĩnh vực sau:

Đọc tiếp

TỪ NGỮ VÀ LUẬT PHÁP

CHU MẠNH QUÂN

Bài viết này bàn về một số thuật ngữ trong pháp luật kinh doanh dựa vào ý kiến của một số chuyên gia, luật sư tại các hội thảo liên quan do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thực hiện.

Về thuật ngữ “doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài”

Luật Đầu tư 2005 giải thích “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại”.

Theo đó, có thể hiểu chỉ cần có 1% vốn nước ngoài cũng được coi là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Cách hiểu như vậy có lẽ chỉ gây rắc rối với những doanh nghiệp kinh doanh có ngành nghề trong danh mục hạn chế nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) như trường hợp Mekophar (vốn nước ngoài chiếm gần 5%). Tuy nhiên, nó lại là một cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước khác khi Nhà nước đã bảo hộ họ khỏi những đối thủ nước ngoài.

Nguyên Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển cho rằng: “Doanh nghiệp tham gia phân phối dược phẩm lẽ ra không được niêm yết. Nếu cho niêm yết, phải có chính sách riêng về room ngoại”. Như vậy, không chỉ doanh nghiệp niêm yết mà cả doanh nghiệp chưa niêm yết cũng phải cân nhắc khi cho NĐTNN góp vốn, mua cổ phần. Giải pháp đưa ra là Nhà nước có thể mở room cho NĐTNN vào những doanh nghiệp này nhưng mức tỷ lệ chắc chắn phải thấp hơn rất nhiều mức 49% như một số ý kiến đề xuất, vì thực tế với tỷ lệ này NĐTNN hoàn toàn có thể thông qua nhiều cách thức khác nhau để chi phối doanh nghiệp, chi phối thị trường.

Một vấn đề khác liên quan đến vốn đầu tư nước ngoài là quy định về đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Trong Luật Đầu tư thì hình thức góp vốn, mua cổ phần có thể là đầu tư trực tiếp hay gián tiếp tùy thuộc vào việc nhà đầu tư có tham gia quản lý doanh nghiệp hay không. Trong khi đó, NĐTNN đầu tư gián tiếp thông qua thị trường chứng khoán (Luật Chứng khoán điều chỉnh) hoàn toàn có quyền tham gia quản lý doanh nghiệp, việc có tham gia quản lý hay không phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn. Do đó, phân biệt đầu tư trực tiếp và gián tiếp thông qua quyền tham gia quản lý là không chính xác và luật cũng không giải thích rõ thế nào là tham gia quản lý?

Đọc tiếp

CÁC CHÍNH SÁCH KINH TẾ TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN DOANH NGHIỆP

PGS.TS. LÊ XUÂN BÁ

Kết thúc năm 2010, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được kết quả tích cực trên hầu hết các lĩnh vực. Tuy nhiên, bên cạnh những điểm sáng thể hiện thành tựu đạt được nền kinh tế còn có nhiều hạn chế và thách thức.

Những hạn chế và thách thức này đã  bộc lộ rõ ngay từ những tháng đầu năm 2011khi tình hình kinh tế vĩ mô cả trong nước và thế giới đều đối mặt với rất nhiều khó khăn và biến động khó lường. Lạm phát trong nước vẫn đang tăng cao và chỉ tiêu kiềm chế lạm phát dưới mức 7% của Chính phủ trong năm 2011 khó thành hiện thực. Nhiều chỉ tiêu kinh tế – xã hội khác như bội chi ngân sách, nhập siêu,… cũng khó thực hiện. Trước những đòi hỏi của nền kinh tế, những tháng đầu năm, Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành thực hiện nhiều giải pháp chính sách kinh tế bảo đảm kinh tế vĩ mô, kiểm soát, ngăn ngừa tái lạm phát cao. Đây là những giải pháp chính sách cần thiết. Tuy nhiên, những giải pháp chính sách này có tác động như thế nào đối với doanh nghiệp? Bài viết này nhằm đưa ra một số đánh giá ban đầu về tác động của những giải pháp chính sách kinh tế trong thời gian vừa qua đến hoạt động của doanh nghiệp. Ngoài phần mở đầu, bài viết gồm 3 phần. Phần 1 sơ lược tình hình kinh tế năm 2010 và 4 tháng đầu năm 2011. Phần 2 trình bày những giải pháp chính sách đã được ban hành và thực hiện trong thời gian vừa qua, đặc biệt trong những tháng đầu năm 2011 (chủ yếu là những giải pháp chính sách kinh tế có liên quan đến doanh nghiệp). Phần 3 đưa ra một số tác động ban đầu của giải pháp chính đến doanh nghiệp đồng thời đề xuất một số ý kiến hoàn thiện trong thời gian tới.

1. Sơ lược tình hình kinh tế năm 2010 và bốn tháng đầu năm 2011

Trong khuôn khổ hạn hẹp, phần này chỉ điểm qua tình hình về tăng trưởng kinh tế, thương mại, đầu tư và lạm phát.

Tăng trưởng kinh tế

Năm 2010, nền kinh tế Việt Nam đã có mức tăng trưởng khá và có xu hướng quý sau tăng nhanh hơn quý trước nhờ việc thực hiện đồng bộ các giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy phát triển và những chính sách hỗ trợ sản xuất kinh doanh. Nền kinh tế đã sớm vượt qua giai đoạn khó khăn và phục hồi nhanh sau khủng hoảng tài chính toàn cầu. Tốc độ tăng GDP của quý I là 5,84%, quý II – 6,44%, quý II – 7,16%, quý IV- 7,34%. Tính chung, cả năm 2010 GDP tăng 6,78%. Tăng trưởng của cả 3 khu vực nông – lâm – thủy sản, công nghiệp – xây dựng và dịch vụ năm 2010 đều tăng so với với năm 2009 (Bảng 1).

Đọc tiếp

BÀN VỀ CĂN CỨ MIỄN TRỪ ĐỐI VỚI CÁC GIAO DỊCH MUA BÁN, SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP BỊ CẤM THEO PHÁP LUẬT CẠNH TRANH

PHẠM HOÀI HUẤN

Đặt vấn đề

Cùng với kiểm soát các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền, các qui định kiểm soát tập trung kinh tế (trong đó bao gồm các hành vi mua bán, sáp nhập doanh nghiệp) đã hình thành nên một bộ phận quan trọng trong pháp luật cạnh tranh. Bởi vì các qui định kiểm soát các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh cho dù được thiết lập một cách chặt chẽ và tinh vi đến đâu thì cũng sẽ trở nên vô nghĩa khi các bên tham gia thỏa thuận tập trung kinh tế lẩn tránh sự điều chỉnh của pháp luật bằng cách hợp nhất, sáp nhập. Do vậy, việc thiết lập chế định kiểm soát các hành vi mua bán, sáp nhập doanh nghiệp với tư cách là một bộ phận của pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế tranh là một điều không có hề có sự bàn cãi. Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tiêu cực đến môi trường cạnh tranh hành vi mua bán, sáp nhập doanh nghiệp còn được nhìn nhận ở những tác động tích cực nhất định của chúng đối với việc phát triển kinh tế cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt nam trong quá trình hội nhập. Có một thực tế là vấn đề miễn trừ được qui định trong pháp luật cạnh tranh đối với những giao dịch mua bán, sáp nhập doanh nghiệp mang ý nghĩa có lợi không được qui định một cách rõ ràng trong pháp luật cạnh tranh với tư cách là đạo luật trực tiếp điều chỉnh đối với các hành vi này. Từ đó đặt ra nhu cầu cần phải nhìn nhận lại vấn đề này về mặt lí luận cũng như thực tiễn áp dụng.

Cơ sở lí luận của cơ chế miễn trừ đối với các giao dịch mua bán, sáp nhập doanh nghiệp bị cấm

Dưới góc độ của pháp luật doanh nghiệp sáp nhập doanh nghiệp được nhìn nhận bằng việc một hoặc một số công ty cùng loại (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập[1]. Quyền tự do kinh doanh thừa nhận khả năng doanh nghiệp được phép hoạt động trong những ngành nghề, lĩnh vực mà pháp luật không cấm cũng như thừa nhận cho doanh nghiệp quyền được tự chủ trong quá trình hoạt động của mình. Có nhiều lí do để các doanh nghiệp cân nhắc đến việc tiến hành một giao dịch sáp nhập. Trong giao dịch sáp nhập, ngoài việc phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật doanh nghiệp, các doanh nghiệp liên quan còn phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh với tư cách là mảng pháp luật kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh.

Đọc tiếp

THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ CỦA QUÁ TRÌNH R&D

NGUYỄN VÂN ANH – Sở KH&CN Bà Rịa – Vũng Tàu

Ngày nay, công nghệ đã trở thành động lực trực tiếp, một nhân tố quyết định sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế nói chung, từng doanh nghiệp nói riêng. Chính vì vậy, thương mại hóa kết quả nghiên cứu (KQNC) – một trong những hướng đi tích cực góp phần thúc đẩy phát triển thị trường công nghệ và đẩy nhanh ứng dụng KQNC vào cuộc sống đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước tập trung nghiên cứu. Bài viết dưới đây cung cấp một cách tiếp cận mới về việc thương mại hóa KQNC nhằm bổ sung và làm phong phú thêm bức tranh thương mại hóa KQNC tại Việt Nam.

Để làm rõ các hình thức thương mại hóa KQNC, chúng ta cần thống nhất một số điểm sau:

Thứ nhất, sử dụng thuật ngữ “hoạt động thương mại” được đề cập trong Luật Thương mại 2005 để bàn về các hoạt động thương mại KQNC: “Hoạt động thương mại là hoạt động sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”.

Thứ hai, tiếp cận việc thương mại hóa KQNC từ các quá trình nghiên cứu – triển khai (R&D), bao gồm quá trình R&D theo chiều xuôi; quá trình R&D theo chiều ngược và một số hình thức thương mại KQNC khác.

Thương mại hóa KQNC theo các quá trình nghiên cứu

Quá trình R&D theo chiều xuôi: Quá trình này thông thường trải qua các công đoạn:

clip_image002

Sản phẩm của mỗi công đoạn đều được gọi là KQNC. Vấn đề đặt ra là, phải chăng tới khi KQNC hoàn thiện, tức là quá trình nghiên cứu trải qua các công đoạn từ (1) đến (4) thì KQNC mới thương mại hóa được?

Trước đây, trong thời bao cấp, quá trình nghiên cứu hầu hết được diễn ra tại các viện nghiên cứu/trường đại học thì việc thương mại hóa KQNC thường được hiểu như vậy. Còn nay, chúng ta đang tiếp cận với một quá trình “đổi mới mở – open innovation”, quá trình nghiên cứu này, hiện nay không phải chỉ có duy nhất tổ chức hay cá nhân tham gia thực hiện nữa, mà hình thức triển khai đã trở nên phong phú hơn rất nhiều. Một vấn đề nghiên cứu hay, một ý tưởng tốt, được các chuyên gia/doanh nghiệp xác định có tính thương mại cao, có thể có nhiều tổ chức tham gia thực hiện như việc đầu tư kinh phí tại bất kỳ các giai đoạn nghiên cứu khác nhau để hoàn thiện sản phẩm, mức độ hoàn thiện của KQNC ở mỗi công đoạn khác nhau, sẽ đem lại giá trị khác nhau. Sản phẩm càng hoàn thiện sẽ mang lại giá trị càng cao. Từ doanh thu nhận được, chủ sở hữu của công trình nghiên cứu phải chia sẻ lợi ích với các tổ chức/cá nhân tham gia trên tinh thần tự thỏa thuận hoặc theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT).

Đọc tiếp

CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THÀNH CÔNG TY THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2005 CÓ PHẢI LÀ “BÌNH MỚI, RƯỢU CŨ”?

PGS. TS. ĐINH DŨNG SỸ – Vụ Pháp luật, Văn phòng Chính phủ

Luật Doanh nghiệp được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2006 (LDN 2005). Những người soạn thảo thường gọi đạo luật này là “Luật Doanh nghiệp thống nhất”, vì nó được xây dựng trên cơ sở (nói đúng hơn là với mục tiêu) hợp nhất hai luật: Luật Doanh nghiệp năm 2000 và Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 (Luật DNNN). LDN 2005 ra đời tạo ra một mặt bằng pháp lý thống nhất, một sân chơi chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Nói cụ thể hơn, LDN 2005 đã xoá bỏ các mô hình tổ chức pháp lý của các DNNN theo quy định của Luật DNNN, để chuyển sang các mô hình công ty theo quy định của LDN 2005.

1. Kết quả sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước

Theo quy định của LDN 2005, trong thời hạn bốn năm, kể từ ngày 01/7/2006, tất cả các DNNN phải chuyển đổi sang mô hình công ty. Như vậy, ngày 30/6/2010 là hạn cuối cùng để các DNNN – gồm các tổng công ty và Công ty nhà nước (CTNN) độc lập – phải chuyển đổi thành Công ty cổ phần (CTCP) hoặc Công ty trách nhiệm hữu hạn (công ty TNHH).

Vào thời điểm năm 2001, ở nước ta có 5.655 DNNN. Trong 10 năm vừa qua, chúng ta đã cổ phần hóa được gần 4.000 doanh nghiệp. Theo thông tin từ Ban chỉ đạo Đổi mới doanh nghiệp, tính đến trước thời điểm 1/7/2010, Nhà nước còn nắm giữ 100% vốn ở 1.206 doanh nghiệp, trong đó đã chuyển đổi khoảng hơn 900 doanh nghiệp thành công ty TNHH một thành viên. Số còn lại khoảng gần 300 doanh nghiệp, hoặc sẽ được tiếp tục cổ phần hóa theo kế hoạch trong năm 2010, hoặc sẽ được chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên trong tháng 7/2010, số không đủ điều kiện chuyển đổi sẽ tiến hành cơ cấu lại nợ để chuyển thành CTCP hoặc công ty TNHH hai thành viên trở lên, nếu không sắp xếp được theo các hình thức trên thì tiến hành bán hoặc cho phá sản mà không cấp bổ sung vốn1.

Trong số gần 300 doanh nghiệp nói trên, có khoảng 40 doanh nghiệp đã tiến hành cổ phần hóa từ trước ngày 01/7/2010 mà đã xác định xong giá trị doanh nghiệp, nhóm này sẽ tiếp tục tiến hành cổ phần hóa; khoảng 30 doanh nghiệp đến ngày 01/7/2010 tuy chưa xác định xong giá trị doanh nghiệp nhưng dự kiến trong tháng 7 sẽ xác định xong thì trong năm 2010 sẽ hoàn thành thực hiện cổ phần hóa, cũng sẽ không phải chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên; khoảng 40 doanh nghiệp không đủ điều kiện theo quy định tại Nghị định 25/2010/NĐ-CP để chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên, nhóm này sẽ phải tiến hành cơ cấu lại nợ để chuyển thành CTCP hoặc công ty TNHH hai thành viên trở lên, nếu không sắp xếp được thì tiến hành bán doanh nghiệp hoặc cho phá sản. Còn khoảng 182 doanh nghiệp phải chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên và về cơ bản đã được chuyển đổi hết trong tháng 7/20102.

Đọc tiếp

LUẬT PHÁ SẢN NHIỀU BẤT CẬP

THÁI NGUYÊN TOÀN

Luật Phá sản được Quốc hội thông qua ngày 15.6.2004, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15.10.2004 và thay thế Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993. Đây là cơ sở pháp lý để giải quyết hậu quả khi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản. Tuy nhiên, khi áp dụng vào thực tiễn, Luật Phá sản đã bộc lộ nhiều vướng mắc, bất cập, làm cho việc giải quyết phá sản gặp nhiều khó khăn, gây thiệt hại tài sản của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp bị can thiệp quá sâu

Công ty Vật tư nông nghiệp (Cty VTNN) Quảng Nam là doanh nghiệp nhà nước, kinh doanh phân bón, thuốc trừ sâu phục vụ các địa phương trong tỉnh. Đến năm 2005, việc kinh doanh của doanh nghiệp bị thua lỗ, mất khả năng thanh toán nợ đến hạn trên 25 tỷ đồng và 258.000 USD. Do đó, TAND tỉnh Quảng Nam mở thủ tục phá sản và kiểm kê, định giá tài sản chỉ còn trên 2,8 tỷ đồng. Vụ việc đang tiến hành giải quyết thì UBND tỉnh Quảng Nam thu hồi 648m2 đất cho Cty VTNN thuê xây dựng trụ sở làm việc, đồng thời ấn định giá khởi điểm nhà làm việc, vật kiến trúc trên đất là 875 triệu đồng và quy định tổ chức, cá nhân trúng đấu giá tài sản hình thành trên đất được mua hoặc thuê đất hàng năm theo quy định của pháp luật.

Trên văn bản là vậy, nhưng thực tế UBND tỉnh Quảng Nam thu hồi đất của Cty VTNN để giao cho Trung tâm Quan trắc và phân tích môi trường thuộc Sở TNMT sử dụng làm trụ sở làm việc. Do đó, giá khởi điểm tài sản của Công ty VTNN cũng là giá mua của Trung tâm Quan trắc và phân tích môi trường từ nguồn ngân sách địa phương. Trong khi đó, Chi nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Quảng Ngãi là chủ nợ chính đã nhiều lần xin mua tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất của Công ty VTNN để trừ nợ vay 1.138.931.374 đồng và trên 258.000 USD (tương đương 5,272 tỷ đồng tại thời điểm 2008), nhưng vẫn không được UBND tỉnh Quảng Nam chấp nhận. Hoặc, Cty VTNN Quảng Nam thuê của UBND thành phố Đà Nẵng đất xây dựng nhà kho; Văn phòng đại diện. Năm 2007 UBND thành phố Đà Nẵng thu hồi 13.294m2 đất cho thuê để khai thác quỹ đất và phê duyệt giá đền bù, hỗ trợ thiệt hại cho Cty VTNN Quảng Nam gần 1,5 tỷ đồng và giao cho Công ty Cổ phần Trường Xuân và Công ty Quản lý – Khai thác đất Đà Nẵng có nhiệm vụ thanh toán khoản tiền trên cho Cty VTNN Quảng Nam, nhưng đến nay 2 Công ty này vẫn im hơi lặng tiếng.

Đọc tiếp

TỔNG QUAN KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2010 VÀ TRIỂN VỌNG NĂM 2011

TS. NGUYỄN HỒNG NGA – Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh & NHẬT TRUNG – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trong năm 2010, kinh tế Việt Nam, cho dù vẫn còn bị ảnh hưởng bởi sự hồi phục chậm chạp của kinh tế thế giới, vẫn có được những chỉ số kinh tế vĩ mô khả quan. Vậy bức tranh kinh tế Việt Nam sẽ có những gam màu sáng và màu ít sáng ra sao và trên nền của bức tranh 2010, liệu bức tranh năm 2011 có những triển vọng nào có thể đạt được để làm nền tảng cho bức tranh tổng thể của kế hoạch 5 năm 2011 – 2015?

1. Bối cảnh kinh tế toàn cầu và khu vực

Nền kinh tế toàn cầu tiếp tục hồi phục mạnh trong nửa đầu năm 2010, nhưng sự ổn định tài chính sụt giảm mạnh do cuộc khủng hoảng nợ công vào quý II năm 2010. Quy mô hồi phục kinh tế có sự khác biệt giữa các quốc gia, khu vực với sự dẫn đầu thuộc khu vực châu Á. Mỹ và Nhật Bản suy giảm đáng kể vào quý II, trong khi tăng trưởng được đẩy mạnh ở châu Âu và duy trì vững chắc ở các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển. Các điều kiện tài chính toàn cầu đã bắt đầu đi vào ổn định, nhưng các định chế và thị trường vẫn còn yếu ớt. Theo Báo cáo triển vọng kinh tế thế giới (World Economic Outlook) của IMF, công bố tháng 10/2010, tính cả năm, tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới ước đạt 4,8%, trong đó, các nước phát triển tăng 2,7%, các nước đang phát triển tăng 7,1%. Thương mại thế giới tăng 11,4%, lượng vốn tư nhân ròng (trong đó, FDI chiếm trên 40%) đổ vào các nền kinh tế mới nổi ước trên 800 tỉ USD, cao hơn 30% so với năm 2009, mặc dù vẫn thấp hơn mức đỉnh trước khủng hoảng đạt được vào năm 2007 khoảng 400 tỉ USD. Theo các chuyên gia, sự phục hồi chậm chạp của nền kinh tế thế giới xuất phát từ 5 nguyên nhân chủ yếu: (1) Tính chất hai mặt của chính sách kích cầu, sự khó khăn về liều lượng và thời gian cắt giảm gói kích thích kinh tế; (2) Gánh nặng tài chính của các nền kinh tế chủ chốt không ngừng tăng lên tạo áp lực cho nền tài chính các quốc gia; (3) Khôi phục toàn diện cần phải có thời gian, không thể nôn nóng chủ quan; (4) Lạm phát gia tăng, xói mòn lòng tin vào chính sách vĩ mô của các chính phủ; (5) Chủ nghĩa bảo hộ có nguy cơ quay trở lại, do một số nước và khu vực muốn mở rộng xuất khẩu, thông qua phá giá đồng bản tệ… để nâng cao sức cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường thế giới.

Biểu đồ 1: Tăng trưởng kinh tế thế giới, Mỹ, khu vực đồng Euro, Nhật Bản, các nước châu Á đang phát triển và Việt Nam

clip_image002

Nguồn: World Economic Outlook, IMF, 10/2010

Đọc tiếp

TỔNG QUAN KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2010 VÀ KHUYẾN NGHỊ CHO NĂM 2011

TS. LÊ QUỐC HỘI

Năm 2010, mặc dù tình hình kinh tế thế giới và trong nước có những diễn biến phức tạp, kinh tế Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực trên nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, bên cạnh những điểm sáng thể hiện thành tựu đạt được nền kinh tế vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế và thách thức. Việc đánh giá, nhìn nhận lại kinh tế Việt Nam năm 2010 để rút ra những bài học, chỉ rõ những thách thức và giải pháp cho năm 2011 có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách ở Việt Nam. Có thể tiếp cận và đánh giá một nền kinh tế từ nhiều phương diện. Trong bài viết này, bức tranh kinh tế Việt Nam được nhìn nhận từ góc độ vĩ mô dựa trên diễn biến tình hình kinh tế trong năm và các chỉ số kinh tế vĩ mô cơ bản.

1. Tổng quan kinh tế Việt Nam năm 2010
Tăng trưởng kinh tế
Năm 2010, kinh tế của Việt Nam tiếp tục có sự phục hồi nhanh chóng sau tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Hình 1 cho thấy có cải thiện tốc độ tăng GDP theo các quý trong năm 2010. Tốc độ tăng GDP quý I đạt 5,83%, quý II là 6,4%, quý III tăng lên 7,14% và dự đoán quý IV sẽ đạt 7,41%. Uớc tính GDP cả năm 2010 có thể tăng 6,7%, cao hơn nhiệm vụ kế hoạch (6,5%). Trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn phục hồi chậm chạp và trong nước gặp phải nhiều khó khăn, kinh tế Việt Nam đạt được tốc độ tăng trưởng tương đối cao như trên là một thành công. Với kết quả này tốc độ tăng trưởng GDP cả giai đoạn 2006-2010 đạt bình quân 7%/năm và thu nhập quốc dân bình quân đầu người năm  2010 ước đạt 1.160 USD.

Đọc tiếp

BÁO CÁO TÌNH HÌNH ĐÀO TẠO THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ CAO ĐẲNG NĂM 2010

CỤC THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN, BỘ CÔNG THƯƠNG – Ngày 12 tháng 7 năm 2010, Quyết định số 1073/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2011 – 2015 (sau đây gọi tắt là Quyết định 1073) đã được ban hành. Kế hoạch tổng thể đặt ra mục tiêu tổng quát: “Thương mại điện tử được sử dụng phổ biến và đạt mức tiên tiến trong các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Kế hoạch tổng thể đã ưu tiên việc phát triển nguồn nhân lực về TMĐT, coi đây là một trong những giải pháp quan trọng nhất để đạt được mục tiêu trên.

Kế thừa những thành tựu đã đạt được từ việc thực hiện Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2006 – 2010, nội dung phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn 05 năm sắp tới tập trung vào hai nội dung chủ yếu là phổ biến, tuyên truyền nâng cao nhận thức về lợi ích của TMĐT và đẩy mạnh đào tạo chính quy về TMĐT.

Ngày 01 tháng 6 năm 2009, Quyết định số 698/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 đã được ban hành, trong đó nhiều giải pháp để nâng cao về chất lượng và số lượng nguồn nhân lực CNTT Việt Nam. Theo Quyết định của Thủ tướng, mục tiêu đến năm 2015 có khoảng 30% số lượng sinh viên CNTT, điện tử, viễn thông sau khi tốt nghiệp ở các trường đại học có đủ khả năng chuyên môn và ngoại ngữ để có thể tham gia thị trường lao động quốc tế; ở các trường đại học, cao đẳng bảo đảm đạt tỷ lệ trung bình 15 – 20 sinh viên/giảng viên trong đào tạo CNTT; 70% số giảng viên CNTT ở đại học và trên 50% giảng viên CNTT ở cao đẳng có trình độ thạc sĩ trở lên; tăng nhanh số giảng viên có trình độ tiến sĩ; đến năm 2015, cung cấp cho các doanh nghiệp 250.000 lao động chuyên môn về CNTT, điện tử, viễn thông có trình độ từ trung cấp chuyên nghiệp và sơ cấp nghề (đào tạo 1 năm) trở lên, trong đó có 50% lao động có trình độ cao đẳng, đại học và 5% có trình độ thạc sĩ trở lên.v.v..

Một trong những nhân tố quan trọng để đạt được mục tiêu phát triển nguồn nhân lực TMĐT trên cơ sở huy động nguồn lực của toàn xã hội là xây dựng một xã hội học tập được đào tạo liên tục, tự học, thường xuyên trau dồi kỹ năng, kiến thức, phát triển trí tuệ và sự sáng tạo. Với sự phát triển nhanh chóng của CNTT và truyền thông, đào tạo trực tuyến đã ra đời mở ra một kỷ nguyên mới cho lĩnh vực giáo dục đào tạo và đem lại những lợi ích to lớn cho các chủ thể tham gia. Do đó, ứng dụng đào tạo trực tuyến trong hoạt động đào tạo TMĐT theo hướng khuyến khích các tổ chức đầu tư, phát triển công nghệ đào tạo trực tuyến, hỗ trợ các trường đại học và doanh nghiệp liên kết trong việc thiết kế nội dung, giáo trình đào tạo trực tuyến, hỗ trợ về vốn và các ưu đãi về thuế.v.v.. là những phương hướng mới được đề ra trong Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử trong giai đoạn 2011 – 2015.

Đọc tiếp

PHÁP NHÂN CÓ ĐƯỢC COI LÀ NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG PHÁP LUẬT CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI?

THÔNG TIN PHÁP LUẬT BỘ CÔNG THƯƠNGKhái niệm người tiêu dùng(NTD) là các khái niệm rất quan trọng, được sử dụng xuyên suốt trong các quy định của Luật bảo vệ NTD. Vì trọng tâm của pháp luật bảo vệ NTD chính là NTD, do vậy nên nội hàm của các khái niệm này sẽ là kim chỉ nam cho các nội dung khác được quy định trong luật bảo vệ NTD.

Có thể thấy các quan hệ giữa NTD và nhà cung cấp hàng hóa dịch vụ , NTD luôn ở thế yếu hơn, thiếu thông tin hơn, ít chuyên nghiệp hơn, nên cần thiết phải có sự can thiệp nhất định của nhà nước vào quan hệ này để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bên yếu thế. Do vậy cần xác định phạm vi các loại quan hệ này sẽ được điều chỉnh bởi pháp luật bảo vệ NTD, cụ thể là pháp luật bảo vệ NTD sẽ can thiệp vào những quan hệ nào, còn những quan hệ nào sẽ được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật khác. Xuất phát từ yêu cầu nói trên, việc xác định các đối tượng nào sẽ được gọi là NTD là một vấn đề hết sức quan trọng. Nếu việc xác định này làm cho phạm vi hẹp đi thì sẽ có nhiều đối tượng không được bảo vệ.

Khái niệm người tiêu dùng là thể nhân hay pháp nhân ở một số nước trên thế giới?

Ở các nước châu Âu: Khái niệm NTD theo Chỉ thị của Châu Âu bao gồm các đặc điểm sau: Là bất kỳ cá nhân nào mua hàng theo hợp đồng mà mục tiêu của hợp đồng không liên quan đến thương mại, kinh doanh hay nghề nghiệp.

Như vậy theo khái niệm này thì khái niệm NTD không bao gồm pháp nhân và không bao gồm người sử dụng, thụ hưởng hàng hóa dịch vụ mà không trực tiếp giao kết hợp đồng với nhà sản xuất, kinh doanh

Theo pháp luật Đài Loan  thì khái niệm NTD được quy định là những ai tham gia vào các giao dịch, sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ và mục đích là để tiêu dùng. Như vậy chủ thể tham gia vào các giao dịch ở đây có thể được hiểu là bao hàm cả thể nhân và pháp nhân, miễn là mục đích của họ là để tiêu dùng.

Đọc tiếp

BẤT NGỜ VỚI VAI TRÒ CHỦ ĐẠO CỦA KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH

MẠNH QUÂN

Riêng về thuế, theo tính toán của ông Nguyễn Quang A, số thu thuế thu nhập doanh nghiệp của khối DNNN hiện chỉ chiếm khoảng 7% tổng thu ngân sách, là con số quá thấp so với những đặc quyền của khu vực kinh tế này được hưởng. Hơn nữa, những DNNN hiện có đóng góp thuế thu nhập doanh nghiệp lớn như tập đoàn Dầu khí, tập đoàn Than – khoáng sản Việt Nam… thì thực chất, thu nhập của các tập đoàn này chủ yếu dựa trên việc moi tài nguyên của đất nước lên bán. Đó không thể coi như một thành tích của doanh nghiệp. Cũng giống như các khoản thuế VAT mà Sabeco, Habeco thu tiền khi bán bia, thực chất là doanh nghiệp đi thu hộ, nộp vào ngân sách.

Theo bảng xếp hạng 1.000 doanh nghiệp nộp thuế nhiều nhất Việt Nam (V-1000), số lượng doanh nghiệp tư nhân đã chiếm tỷ lệ ngang với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nước ngoài.

Bảng xếp hạng 1.000 doanh nghiệp nộp thuế nhiều nhất Việt Nam (V-1000) do công ty cổ phần Báo cáo đánh giá Việt Nam thực hiện, được công bố hôm qua (23.9) đã gợi lên rất nhiều suy nghĩ về vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trong giai đoạn mới. Bởi vì, bất ngờ trong bảng xếp hạng này là số lượng doanh nghiệp tư nhân đã vươn lên chiếm tỷ lệ (khoảng 33%) ngang bằng với các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) về đóng góp thuế thu nhập doanh nghiệp (tính cho ba năm: 2007 – 2009)…

10 doanh nghiệp đứng đầu trong V-1000:

1. Công ty Thông tin di động (MobiFone)
2. Tập đoàn Viễn thông quân đội (Viettel)
3. Tổng công ty khí Việt Nam – Công ty TNHH MTV
4. Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank)
5. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam)
6. Tập đoàn công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam
7. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank)
8. Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam (Vietinbank)
9. Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Prudential Việt Nam
10. Công ty TNHH liên doanh Phú Mỹ Hưng

Đọc tiếp

CHỦ TRƯƠNG TỰ DO, THỰC TẾ NGĂN CẤM

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Công ty Luật BASICO

Điều quan trọng nhất là phải xem xét toàn diện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, theo hướng nới lỏng thay vì ngày càng xiết chặt các điều kiện kinh doanh. Cần xem xét bỏ bớt các điều kiện hạn chế, đặc biệt là các lĩnh vực cấm kinh doanh.

Số lượng ngành, nghề, hàng hoá, dịch vụ bị ngăn cấm trong kinh doanh đã được gia tăng một cách nhanh chóng trong một thập kỷ qua. Nếu như năm 1999 mới chỉ có 29 loại hàng hoá, dịch vụ bị đặt vào vòng cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện, thì đến nay con số đó đã “tăng trưởng” vượt bậc trên 500%, đều tiến 23,5% mỗi năm.

Bảng tổng hợp Danh mục hàng hoá, dịch vụ bị cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện:

Ghi chú:  Năm 1999: Theo Nghị định số 11/1999/NĐ-CP ngày 03-3-1999.
                 Năm 2002: Theo Nghị định số 11/1999/NĐ-CP và được bổ sung
                                       theo Nghị định số 73/2002/NĐ-CP ngày 20-8-2002.
                 Năm 2006: Theo Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12-6-2006.
                  Đến 8-2010: Theo Nghị định số 59/2006/NĐ-CP, 43/2009/NĐ-CP và
                                       được bổ sung theo các văn bản hiện hành liên quan.
                 Cuối 2010: Theo Nghị định số 59/2006/NĐ-CP và dự kiến bổ sung theo Dự thảo Nghị định 8-2010.

Đọc tiếp

BÁO CÁO TÓM TẮT CỦA BỘ CÔNG THƯƠNG VỀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ XÂY DỰNG PHÁP LUẬT BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ ĐỀ XUẤT CHO VIỆT NAM (HỒ SƠ DỰ ÁN LUẬT BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG)

A. PHÁP LUẬT BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

I. Luật bảo vệ người tiêu dùng của một số quốc gia

1. Tổng quan

Qua nghiên cứu pháp luật bảo vệ người tiêu dùng của một số quôc gia trên thế giới, Bộ Công Thương nhận thấy có thể phân thành 2 nhóm:

- Nhóm nước không ban hành luật bảo vệ người tiêu dùng mà các quy định về bảo vệ người tiêu dùng nằm rải rác tại các văn bản pháp luật chuyên ngành khác.

- Nhóm quốc gia và vùng lãnh thổ ban hành đạo luật riêng về bảo vệ người tiêu dùng như Thái Lan, Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, Hoa Kỳ, Canada, Pháp, Hồng Kông, Ấn Độ, Nga, Nauy, Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia, Anh.

Nhìn lại lịch sử quá trình phát triển của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng (BVNTD) ở các nước phát triển, có thể thấy rằng, các đạo luật về BVNTD được ban hành đầu tiên chủ yếu vào thập niên 1950-1970. Đây là thời kỳ mà phong trào BVNTD trở thành một trong những chủ điểm kinh tế, chính trị quan trọng.

Ví dụ, tại Hoa Kỳ, trong thập niên 1960-1970 hàng loạt đạo luật về BVNTD sau đây được ban hành: Luật Liên bang về các chất nguy hại năm 1960 (the Federal Hazardous Substances Act of 1960), Luật về đóng gói và ghi nhãn công bằng năm 1966 (The Fair Packaging and Labeling Act of 1966), Luật về tính trung thực trong hoạt động cho vay năm 1968 (The Truth in Lending Act of 1968), Luật về tiết lộ thông tin đầy đủ trong các giao dịch bất động sản liên bang năm 1968 (The Interstate Land Sales Full Disclosure Act of 1968), Luật đảm bảo an toàn đồ chơi cho trẻ em năm 1969 (The Child Protection and Toy Safety Act of 1969), Luật về báo cáo tín dụng công bằng năm 1970 (The Fair Credit Reporting Act of 1970), Luật về san toàn sản phẩm tiêu dùng năm 1972 (The Consumer Product Safety Act of 1972), Luật về cơ hội tín dụng bình đẳng năm 1974 (The Equal Credit Opportunity Act of 1974), Luật bảo hành Magnuson Moss năm 1975 (Magnuson Moss Warranty Act of 1975), Luật về hành vi đòi nợ công bằng năm 1977 (The Fair Debt Collection Practices Act of 1977) v.v.

Cũng trong giai đoạn đó, Nhật Bản ban hành Luật cơ bản về BVNTD (năm 1968) còn Úc ban hành Luật về các hành vi thương mại năm 1974 (the Trade Practices Act of 1974) với nhiều quy định về BVNTD. Tại Anh Quốc, hàng loạt đạo luật về BVNTD sau đây được ban hành: Luật thuê mua năm 1964 (Hire-purchase Act of 1964), Luật về thông tin sai lạc trong thương mại năm 1967 (Misrepresentation Act of 1967), Luật về các mô tả thương mại năm 1968 (Trade Descriptions Acts of 1968), Luật về cung ứng hàng hoá, dịch vụ ngoài ý muốn của NTD năm 1971 (Unsolicited Goods and Services Act of 1971), Luật thương mại công bằng năm 1973 (Fair Trading Act of 1973), Luật về các điều khoản mặc nhiên trong hợp đồng cung ứng hàng hoá năm 1973 (Supply of Goods (Implied Terms) Act of 1973), Luật về tín dụng tiêu dùng năm 1974 (Consumer Credit Act of 1974), Luật về các điều khoản hợp đồng không công bằng năm 1977 (Unfair Contract Terms Act of 1977), Luật về an toàn tiêu dùng năm 1978 (Consumer Safety Act of 1978).

Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 642 other followers

%d bloggers like this: