TỔNG HỢP VƯỚNG MẮC VỀ DÂN SỰ, HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH, KINH DOANH, THƯƠNG MẠI

imageTRƯỜNG CÁN BỘ TÒA ÁN, TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Thông qua hoạt động tập huấn, trao đổi nghiệp vụ năm 2010, có nhiều vướng mắc được các Tòa án nhân dân địa phương đưa ra thảo luận. Có một số vấn đề, qua thảo luận đã có nhiều ý kiến đồng thuận. Trường Cán bộ Tòa án xin lựa chọn và giới thiệu để các Tòa án nhân dân địa phương tham khảo cho việc áp dụng pháp luật (Civillawinfor chỉ trích dẫn phần về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại).

Câu hỏi 1. Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã nhập quốc tịch nước ngoài, về Việt Nam ủy quyền cho người đang cư trú tại Việt Nam tham gia tố tụng tại Tòa án và văn bản ủy quyền được công chứng, chứng thực tại Việt Nam thì việc ủy quyền này có hợp pháp không? Có phải hợp pháp hóa lãnh sự không? Tại sao? Và ủy quyền như thế nào mới là hợp pháp?

Trả lời: Trường hợp người đó đang ở Việt Nam mà ủy quyền cho người đang cư trú tại Việt Nam tham gia tố tụng tại Tòa án và văn bản ủy quyền được cơ quan công chứng, chứng thực Việt Nam thực hiện đúng quy định thì việc ủy quyền này là hợp pháp. Điều 418 Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định: “1. Giấy tờ, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc ở ngoài lãnh thổ Việt Nam được Tòa án Việt Nam công nhận nếu giấy tờ, tài liệu đó đã được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác.”. Theo quy định trên thì không đòi hỏi tất cả các văn bản của người ở nước ngoài nộp tại Tòa án Việt Nam đều phải hợp pháp hóa lãnh sự; chỉ những tài liệu làm ở nước ngoài hoặc cơ quan nước ngoài gửi đến Việt Nam thì mới phải hợp pháp hóa lãnh sự. 18 Hợp pháp hóa lãnh sự là gì? Điều 26 Pháp lệnh Lãnh sự quy định: “1.Lãnh sự chứng thực chữ ký và con dấu trên giấy tờ, tài liệu do cơ quan, tổ chức nước tiếp nhận lập và sự phù hợp của giấy tờ, tài liệu đó với pháp luật nước tiếp nhận” . Như vậy, hợp pháp hóa lãnh sự là việc cơ quan ngoại giao Việt Nam xác nhận những giấy tờ, tài liệu đó có phù hợp pháp luật nước ngoài, xuất xứ từ tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài (nước xuất xứ của tài liệu, giấy tờ đó) hay không; những giấy tờ làm tại Việt Nam thì tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam nên đã công chứng, chứng thực hợp lệ thì không phải hợp pháp hóa lãnh sự nữa. Cũng cần lưu ý là hợp pháp hóa lãnh sự khác với việc công chứng giấy tờ, tài liệu cho công dân Việt Nam ở nước ngoài. Ví dụ: Lãnh sự quán Việt Nam tại Mỹ chứng nhận di chúc hoặc một giấy tự khai, một bản sao… cho một người có quốc tịch Việt Nam đang sống ở Mỹ là việc công chứng; khác với việc công dân Mỹ (kể cả người gốc Việt không còn quốc tịch Việt Nam) làm di chúc đã có cơ quan có thẩm quyền của Mỹ chứng thực thì vẫn phải hợp pháp hóa lãnh sự mới có giá trị sử dụng ở Tòa án Việt Nam. Thẩm quyền công chứng của Lãnh sự được quy định tại Điều 24 và 25 của Pháp lệnh Lãnh sự và những giấy tờ đã được công chứng này có giả trị được sử dụng tại Tòa án Việt Nam vì nó không thuộc đối tượng phải Hợp pháp hóa lãnh sự theo Điều 26 Pháp lệnh Lãnh sự và Điều 418 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Đọc tiếp

NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN PHÁP LÝ: TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN VẢI

NGUYỄN THU PHƯƠNG (Sưu tầm)

Nguyên đơn: Công ty May Xuất khẩu Việt Nam ( Người mua )
Bị đơn: Công ty Hàn Quốc ( Người bán )

CÁC VẤN ĐỀ ĐƯỢC ĐỀ CẬP:

- Mua hàng theo mẫu;
- Giá trị pháp lý của mẫu hàng;
- Nghĩa vụ cung cấp mẫu hàng;
- Giá trị pháp lý của chứng thư giám định.

TÓM TẮT VỤ VIỆC:

Nguyên đơn và Bị đơn ký hai Hợp đồng mua vải. Trong các điều khoản của Hợp đồng, đáng lưu ý có các điều khoản sau:
- Chất lượng của hàng hóa sẽ dựa theo mẫu LABDIP ( Điều 2 Hợp đồng );
- Giám định trước khi gửi hàng do nhà sản xuất thực hiện là cuối cùng và có giá trị pháp lý ràng buộc hai bên ( Điều 7 Hợp đồng ).
Sau khi nhận hàng của Bị đơn, Nguyên đơn đã chuyển số vải cho một đơn vị gia công hàng của Nguyên đơn để kiểm tra chất lượng trước khi đưa vào gia công.Tuy nhiên, do lỗi vải quá nhiều nên đơn vị gia công đã từ chối nhận vải của Nguyên đơn. Nguyên đơn đã mời đại diện của Bị đơn là ông A (Trưởng văn phòng đại diện của Bị đơn ) đến kiểm tra chất lượng vải. Sau khi kiểm tra vải đại diện Bị đơn đồng ý để Nguyên đơn mời Công ty X giám định chất lượng vải của Hợp đồng. Sau đó, Nguyên đơn nhận được kết quả giám định của Công ty X với nội dung “toàn bộ lô hàng không sử dụng được trong công nghệ cắt may công nhiệp hàng loạt”.
Do hai bên không giải quyết được tranh chấp về chất lượng nên Nguyên đơn khởi kiện Bị đơn ra Trọng tài, yêu cầu Bị đơn hoàn trả lại cho Nguyên đơn 44.089,2USD gồm các khoản sau:

- Trị giá Hợp đồng : 31.669,2USD
- Chi phí nhận hàng : 300USD
- Lãi suất đến ngày khởi kiện : 675,61USD
- Tiền phạt mà Nguyên đơn bị khách hàng phạt do không có hàng để giao : 11.445USD.

Đọc tiếp

TRANH CHẤP MUA BÁN VÀNG TRÊN SÀN: KHÓ XỬ!

HOÀNG YẾN

Hai vụ án có nội dung y hệt nhau, chỉ khác tên, địa chỉ của bị đơn và số tiền phải trả nhưng cấp phúc thẩm giải quyết theo hai hướng…

Năm 2007, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (ACB) đưa ra hình thức đầu tư kinh doanh vàng. Theo đó, người tham gia đầu tư vàng trực tiếp ký các hợp đồng giao dịch vàng kiêm hợp đồng cấp tín dụng hạn mức và hợp đồng cầm cố số dư tài khoản VNĐ/vàng. ACB sẽ cung cấp hạn mức tín dụng cho người tham gia đầu tư. Người tham gia đầu tư trực tiếp giao dịch, đặt lệnh mua bán tại trung tâm giao dịch vàng thông qua đại diện của ACB ở đó. Người tham gia đầu tư phải nộp một khoản tiền ký quỹ trên tài khoản và lỗ lãi khi mua bán vàng trên sàn được khấu trừ vào tài khoản.

Hai vụ tương tự, hai hướng giải quyết

Năm 2008, Công ty TNHH Đông Dương đã ủy quyền cho 22 cá nhân là nhân viên công ty trực tiếp ký kết, thực hiện việc giao dịch vàng. Trong đó, có bảy trường hợp có số dư nợ nhưng không thanh toán cho ACB nên bị ACB khởi kiện ra TAND TP Hà Nội.

Tháng 9-2009, TAND TP Hà Nội xử vụ đầu tiên giữa ACB với ông TĐM, nhân viên Đông Dương. Tòa xác định Đông Dương là bên có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vì đã ủy quyền cho ông M. giao dịch trên sàn vàng, nhân danh công ty mở tài khoản cá nhân và thực hiện các giao dịch dưới sự chỉ đạo, kiểm soát của công ty. Tòa xác định hợp đồng giao dịch có hiệu lực và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ACB, buộc ông M. cùng Đông Dương liên đới trả cho ngân hàng số dư nợ. Sau đó, ông M. và Đông Dương kháng cáo. Tháng 4-2010, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại Hà Nội đã hủy bản án sơ thẩm với lý do cần bổ sung người tham gia tố tụng.

Tháng 2-2010, TAND TP Hà Nội xử vụ thứ hai giữa ACB với bà NTVA, nhân viên Công ty Đông Dương và cũng ra phán quyết tương tự như trên. Tháng 8-2010, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại Hà Nội xử phúc thẩm lại không hủy án mà chỉ sửa án sơ thẩm. Tòa phúc thẩm cho rằng hợp đồng giao dịch vàng giữa ACB và bị đơn là vô hiệu vì hình thức kinh doanh giao dịch trên sàn vàng là hình thức kinh doanh mới, cần phải có giấy phép hoạt động. Việc ACB kinh doanh giao dịch vàng trên sàn là chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp phép cho hoạt động.

Đọc tiếp

TRANH CHẤP GIỮA LỢI ÍCH CỦA CÔNG TY VÀ CỔ ĐÔNG: TRANH CHẤP QUYỀN MUA CỔ PHẦN

NGUYỄN TRUNG NAM

Trong rất nhiều trường hợp chúng ta thấy nguyên nhân của tranh chấp chính là sự lạm quyền của giám đốc, sự thiếu giám sát, tắc trách, tiền hậu bất nhất của HĐQT. Các thành viên HĐQT chưa thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình cẩn trọng vì lợi ích của Cty và cổ đông.

Phiên toà đầu tiên tại Thái Bình xử vụ tranh chấp cổ phần với nguyên đơn là các cổ đông bị mất quyền mua cổ phần phát hành mới, trong khi lãnh đạo công ty gốm sứ lý giải việc “tước” quyền vì số đông người lao động.

Cty CP gốm sứ Thái Bình tiền thân là Xí nghiệp sứ Thái Bình (cổ phần hoá năm 2005) với vốn điều lệ là 2,5 tỷ đồng, chia thành 250.000 cổ phần cho 272 cổ đông. Mặc dù hoạt động chưa được 5 năm nhưng nội bộ công ty đã nhiều lần xảy ra mâu thuẫn.

Tháng 4/2008, Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) công ty nhất trí thông qua kế hoạch tăng vốn điều lệ từ 2,5 tỷ lên 5 tỷ đồng (chia thành 500.000 cổ phần) theo phương thức phát hành cổ phiếu phổ thông để huy động vốn.

Tuy nhiên, danh sách cổ đông được lập đưa quá nửa số người lao động chưa từng có cổ phần tại Cty vào trong khi lại cố ý bỏ qua nhiều người đang nắm giữ tỷ lệ gần nửa số cổ phần vào thời điểm đó.

Ngày 15/2/2009, ông Nguyễn Viết Xuân – Chủ tịch HĐQT Cty ký Nghị quyết chào bán 12.280 đồng/cổ phần. Theo đó, thành viên HĐQT mỗi người được mua 10.000 cổ phần.

Riêng Chủ tịch HĐQT và GĐ được ưu ái thêm 10.000 cổ phần, phó GĐ tăng thêm 5.000 cổ phần, Trưởng, phó các phòng, quản đốc… mỗi người được tăng 10.000 cổ phần, kế toán trưởng được thêm 5.000 cổ phần, nhân viên quản lý là 2.000 cổ phần/người, người lao động làm việc thường xuyên mỗi người được 300 cổ phần… Xác minh trước toà, chỉ 40% số người được mua cổ phần theo sự phân chia này là cổ đông của công ty. Còn các cổ đông không phải là lao động của Cty hoàn toàn không được đả động trong khi nếu được mua đúng quyền, số này sẽ nắm quyền kiểm soát Cty.

Đọc tiếp

BÌNH LUẬN VỤ VIỆC VỀ TRANH CHẤP NỘI BỘ CÔNG TY CỔ PHẦN

TỪ THẢO – Cố vấn cao cấp Công ty Tư vấn Nam An Luật.

Diễn biến sự việc

Ngày 23/10/2004, Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) công ty cổ phần (CTCP) Bạch Đằng thành lập, bầu ra Hội đồng quản trị (HĐQT) 5 người gồm ông Phúc, ông Lâm và các bà Phương, Hiền, Oanh. Các thành viên HĐQT đều là cổ đông sáng lập của Công ty. Ngày 2/11/2004, ông Phúc – Chủ tịch HĐQT đã đứng ra bán 17.602 cổ phần, bán cho người ngoài doanh nghiệp là ông Cường với giá hơn 3,363 tỷ đồng. Bà Hiền, kế toán trưởng cũng đã chuyển nhượng 1.000 cổ phần trong tổng số 1.353 cổ phần của mình cho người khác.

Việc mua bán cổ phần này bị các cổ đông phát giác và đề nghị tổ chức Đại hội cổ đông thường niên. Tuy nhiên, ông Phúc và một số thành viên HĐQT Công ty Bạch Đằng đã không tiến hành đại hội theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Theo điều 16, khoản 2 điều lệ Công ty, ĐHCĐ thường niên do chủ tịch HĐQT triệu tập vào quý I hàng năm, nhưng đến hết quý II/2005, ông Phúc vẫn không triệu tập.

Ngày 4/5/2005, nhóm cổ đông nắm giữ 52,41% cổ phần liên tục sáu tháng đã gửi đơn đề nghị HĐQT triệu tập Đại hội cổ đông bất thường. Ngày 13/5/2005, HĐQT do bà Phó Chủ tịch HĐQT đại diện đã có thông báo không triệu tập họp ĐHĐCĐ. Ngày 17/6/2005, nhóm cổ đông nắm giữ 52,41% cổ phần đã đứng ra triệu tập Đại hội cổ đông bất thường vào ngày 2/7/2005.

Tại đại hội, các cổ đông tham dự đã bỏ phiếu bãi miễn 3 thành viên HĐQT, trong đó có ông Phúc, bà Hiền. Do đó, ông Quang – Chủ tịch HĐQT (mới) – đồng thời là cổ đông trong nhóm cổ đông 53,04% (nhóm cổ đông đã tham dự cuộc họp ngày 2/7/2005), đã kiện ra toà án yêu cầu: Công nhận kết quả Đại hội đồng cổ đông bất thường ngày 2/7/2005 là hợp pháp. Buộc các thành viên HĐQT bị bãi miễn, các thành viên Giám đốc điều hành bị bãi miễn phải bàn giao quyền, nghĩa vụ quản trị, điều hành, kiểm soát Công ty cho HĐQT, giám đốc mới.

Tuy vậy, bên bị kiện lại đề nghị hủy bỏ toàn bộ nội dung ĐHĐCĐ bất thường ngày 2/7/2005 vì cho rằng đây là hoạt động bất hợp pháp.

Bình luận tình huống

Luật áp dụng. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Diễn biến tranh chấp trong nội bộ CTCP nêu trên diễn ra trong thời gian từ năm 2004 đến 2005, do vậy Luật áp dụng để giải quyết tình huống này là Luật doanh nghiệp 1999 (Luật Doanh nghiệp 1999 chấm dứt hiệu lực từ 1/7/2006 và được thay thế bằng Luật Doanh nghiệp 2005).

Đọc tiếp

TRANH CHẤP VỀ CHUYỂN NHƯỢNG CỔ PHẦN: BÀI HỌC KHÔNG CŨ

PHẠM HUẤN

Chuyển nhượng cổ phần của cổ đông sáng lập sẽ phải theo trình tự nào ? DN phải làm gì để không xảy ra tranh chấp khi chuyển nhượng?

Cty cổ phần BĐG được cấp giấy chứng nhận kinh doanh lần đầu vào tháng 6/2003. Điều lệ Cty quy định như Luật Doanh nghiệp 1999. Ngày 15/7/2005, ông Thanh là cổ đông sáng lập – Chủ tịch HĐQT của Cty cổ phần ĐBG có ký Hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ 8.500 cổ phần của mình trong Cty cổ phần ĐBG cho ông Sơn với giá chuyển nhượng 1,5 tỷ đồng và đã nhận đủ số tiền này từ ông Sơn. Trong hợp đồng cũng có điều khoản ông Thanh phải từ chức Chủ tịch HĐQT và thực hiện các thủ tục để ông Sơn được giữ chức Chủ tịch HĐQT của Cty ĐBG. Ông Sơn nhận một số giấy tờ của Cty BĐG do ông Thanh giao để làm tin bao gồm một số hóa đơn GTGT do bên bán phát hành cho Cty ĐBG và 2 chứng nhận bảo hiểm do Cty bảo hiểm cấp cho Cty ĐBG.

Tuy nhiên, sau đó ông Thanh không thực hiện việc làm thủ tục đăng ký ông Sơn vào Sổ đăng ký cổ đông và làm thủ tục thay đổi Chủ tịch HĐQT của Cty. Do đó, ông Sơn làm đơn khởi kiện yêu cầu ông Thanh phải trả lại số tiền chuyển nhượng cổ phần đã nhận 1,5 tỷ đồng nói trên

Ông Thanh xác nhận chỉ ký khống vào tờ giấy trắng để ông Sơn sử dụng vào việc liên hệ mua hàng hóa tại Hà Nội, thực tế không có ký hợp đồng chuyển nhượng cổ phần.

Tòa án đã thụ lý vụ việc.

Giải quyết tranh chấp

Căn cứ vào bản Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần ngày 15/7/2005, có đủ cơ sở để xác định giữa ông Thanh và ông Sơn có thỏa thuận việc chuyển nhượng 8.500 cổ phần của ông Thanh trong Cty cổ phần ĐBG cho ông Sơn với giá chuyển nhượng 1,5 tỷ đồng. Nhưng có vấn đề cần xem xét là ông Sơn không đưa ra được bằng chứng chứng tỏ bên chuyển nhượng là ông Thanh đã nhận đủ số tiền chuyển nhượng nói trên. Tuy nhiên, việc chuyển nhượng cổ phần nói trên giữa ông Thanh và ông Sơn không được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông Cty cổ phần BĐG theo quy định tại khoản 1 Điều 58 Luật DN năm 1999.

Đọc tiếp

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ ĐẤU THẦU: DỊCH VỤ … BẢO ĐẢM TRÚNG THẦU

HOÀNG YẾN

Về nguyên tắc, việc đấu thầu phải công khai, minh bạch, tiến hành đúng trình tự quy định. Vậy mà hiện nay đã xuất hiện dịch vụ… bảo đảm trúng thầu, thậm chí một hợp đồng còn được sang tay qua nhiều “cò”. Liệu pháp luật có công nhận, cho phép?

TAND quận 11 (TP.HCM) vừa hoãn xử vụ tranh chấp hợp đồng dịch vụ bảo đảm trúng thầu khu chợ Văn Thánh để trưng cầu giám định thêm một số chứng cứ trước khi ra phán quyết.

Chi 15 tỉ đồng để được trúng thầu

Theo bà L., năm 2007, ông T. gặp bà chào bán dự án chợ Văn Thánh (phường 25, quận Bình Thạnh, TP.HCM) với giá 165 tỉ đồng. Ngày 6-11-2007, giữa bà và ông T. ký kết hợp đồng dịch vụ với nội dung chính như sau: Ông T. có trách nhiệm lập thủ tục cho Công ty B tham gia đấu thầu khai thác chợ Văn Thánh theo quy định của UBND TP.HCM và đảm bảo Công ty B sẽ trúng thầu, còn bà có trách nhiệm trả 15 tỉ đồng phí dịch vụ cho ông T.

Trước và sau khi ký hợp đồng, bà đã giao cho ông T. tổng cộng 5 tỉ đồng, có đợt lập biên nhận, có đợt không. Dù vậy, cuối cùng Công ty B vẫn không phải là đơn vị trúng thầu. Tháng 2-2008, ông T. viết giấy cam kết sẽ hoàn lại cho bà 5 tỉ đồng nhưng không thực hiện. Tiếp đó, ông T. ký văn bản xác nhận là đã nhận của bà số tiền trên và cam kết trả lãi cho bà 2%/tháng. Tháng 5-2008, một lần nữa ông T. ký văn bản xác nhận đã nhận của bà 5 tỉ đồng và cam kết trả lãi 2%/tháng, thời hạn thanh toán là ngày 10-5-2008. Nhưng đến nay, ông T. vẫn không hoàn trả lại tiền cho bà.

Tháng 10-2009, bà L. đã khởi kiện ông T. ra TAND quận 11, yêu cầu ông T. phải trả lại 5 tỉ đồng. Nếu ông T. không đồng ý thì bà yêu cầu ông T. phải trả thêm tiền lãi 2%/tháng như thỏa thuận giữa đôi bên. Đồng thời, cho rằng vợ ông T. là người biết rất rõ việc làm ăn giữa hai bên, bà L. đề nghị tòa buộc vợ ông T. phải có trách nhiệm liên đới cùng chồng.

Đọc tiếp

TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TẠI TPHCM: RỐI THÊM DO TÒA ÁN?

VIẾT ĐOÀN

Chỉ là một vụ án “Kinh doanh thương mại về tranh chấp Hợp đồng kinh tế” thế nhưng liên tiếp trong thời gian vừa qua TAND Q7 (TP HCM) đã có đến 1 thông báo và 2 quyết định về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời yêu cầu ngăn chặn và phong tỏa tài sản tiền gửi của đương sự. Tuy nhiên, điều đáng nói là những văn bản này đều có dấu hiệu trái luật hoặc không phù hợp với quy định của pháp luật khiến DN phải… kêu cứu.

Theo Hợp đồng số 110809/UREA/12,500/MT, ngày 11/8/2009 Cty CP Kim Phú Gia (bên Bán) và Cty CP vật tư nông sản (bên Mua) mua bán phân UREA N46% với số lượng mua hàng là 12.500 tấn, được giao hàng tại Cảng Đà Nẵng với giá trị trên 3,4 triệu USD (khoảng 61,875 tỷ đồng). Như thỏa thuận NH NN-PTNT VN CN 8 phát hành 1 bảo lãnh thực hiện hợp đồng tương ứng 3% giá trị lô hàng cho bên Bán và bên Mua thụ hưởng (hơn 1,856 tỷ đồng). Số tiền này được trả cho bên Mua như một khoản bồi thường thiệt hại phát sinh do lỗi của bên Bán. Đồng thời, theo yêu cầu của bên Mua, NH Đầu tư & Phát triển CN Hà Thành (BIDV) đã ra một chứng thư bảo lãnh thanh toán 100% trị giá hợp đồng cho bên Bán và người thụ hưởng chứng thư bảo lãnh là Ngân hàng TMCP Phương Nam (Southern Bank).

Rắc rối ngoài hợp đồng

Trong khi hợp đồng chưa được thực hiện thì hai bên đã xảy ra tranh chấp và bên Bán đã khởi kiện ra TAND Q 7 (TP HCM). Theo như đơn khởi kiện ngày 11/11/2009, bên Bán cho rằng bên Mua đã vi phạm hợp đồng và đòi bồi thường số tiền 2% hợp đồng do chậm thực hiện. Trong đó, công văn ngày 4/9/2009 bên Bán gửi cho bên Mua cho rằng chứng thư bảo lãnh của BIDV không được Southern Bank đồng ý với một số điều trong thư bảo lãnh và đòi hỏi những cái không cần thiết. Do đó, đã đề nghị chuyển người thụ hưởng là NH NN-PTNT VN CN Sài Gòn.

Ngày 16/9/2009 bên Bán lại có văn bản gửi bên Mua với nội dung cho rằng “Chứng thư bảo lãnh của BIDV đã ràng buộc thêm điều kiện kèm theo các chứng từ chứng minh bên Mua đã nhận đủ hàng nhưng không thanh toán theo quy định của hợp đồng”. Tuy nhiên, nội dung của những văn bản này và các cuộc đàm phán đều bị bên Mua bác bỏ. Ông Nguyễn Tiến Dũng – TGĐ Cty CP vật tư nông sản (đại diện bên Mua) khẳng định: “Việc xác định người thụ hưởng trong thư bảo lãnh chúng tôi đã làm theo đúng như cam kết trong hợp đồng. Còn việc thay đổi người thụ hưởng thì hợp đồng không ràng buộc mà chỉ do hai bên đàm phán nên việc chấp thuận hay không phụ thuộc vào nội dung của cuộc đàm phán và chúng tôi không chấp thuận”.

Đọc tiếp

RẮC RỐI THỜI HIỆU VĂN BẢN

LG. VŨ XUÂN TIỀN – Chủ tịch Hội đồng thành viên Cty TNHH tư vấn VFAM VN

Thời hiệu của một văn bản được coi là vấn đề “rõ như ban ngày”. Thế nhưng, sự việc dưới đây lại không hẳn như vậy.

Câu chuyên Cty TNHH Thép Thành Long (Cty Thành Long) bị truy thu hơn 12,1 tỷ đồng tiền thuế NK xảy ra từ đầu năm 2009. TGĐ Cty này đã có đơn gửi Thủ tướng để kêu oan. Song, Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn cũng đã thực hiện hàng loạt biện pháp để đôn đốc, thu hồi nợ đọng thuế như: ba lần gửi thông báo yêu cầu Cty nộp đủ số thuế nợ và tiền phạt; thành lập đoàn công tác đến trụ sở Cty Thành Long dể thu nợ và ban hành Quyết định số 676/QĐ-HQLS ngày 22/7/2009 về việc áp dụng biện pháp cưỡng chế trích tiền gửi từ tài khoản ngân hàng đối với số nợ thuế của Cty  Thành Long. Tuy nhiên, sự việc đến nay vẫn chưa có hồi kết.

Nguồn cơn câu chuyện

Vào tháng 11 và 12/2008, Cty Thép Thành Long (Hưng Yên) ký ba hợp đồng nhập khẩu thép hợp kim cán nóng từ Trung Quốc. Số lượng hàng nhập là 28.839 tấn. Cty Thành Long đã mở 17 tờ khai hải quan tại Chi cục Hải quan đường sắt quốc tế ga Đồng Đăng, Lạng Sơn để nhập khẩu số hàng trên và nộp 17,23 tỷ đồng thuế GTGT với thuế suất thuế NK được xác định là 0%. Lô hàng đầu tiên về VN ngày 10/1/2009. Song, ngày 28/2/200, Cty nhận được quyết định về việc ấn định thuế nhập khẩu cho các tờ khai hải quan mở từ ngày 7/2/2009 đến 13/2/2009 với số thuế phải nộp hơn 6,53 tỷ đồng. Ngày 14/3/2009, Cty Thành Long lại nhận thêm quyết định nữa về việc truy thu thuế nhập khẩu đối với các tờ khai hải quan mở từ ngày 1/1 đến 20/1/2009, số tiền thuế “truy thu” hơn 5,56 tỷ đồng. Tổng cộng, số tiền thuế nhập khẩu Cty bị truy thu là 12.147.649.670 đồng.

Một quyết định – hai thời điểm có hiệu lực

Việc Cty Thành Long  bị "truy thu" thuế NK có nguyên nhân chính là hiệu lực thi hành của Quyết định số 123/QĐ-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính về việc điều chỉnh thuế suất thuế nhập khẩu của mặt hàng thép hợp kim có hàm lượng Bo 0,0008% thuộc mã số hàng hóa 7227900010 từ 0% lên 5%. Việc thay đổi thuế suất thuế NK bằng một quyết định của Bộ trưởng là thuộc thẩm quyền của Bộ Tài chính và phù hợp với Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật tại thời điểm đó. Tuy nhiên, rắc rối xẩy ra từ quy định về hiệu lực thi hành của quyết định này.

Đọc tiếp

TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI: TRANH CHẤP GIỮA HAI DOANH NGHIỆP – RẮC RỐI BỞI . . .TÒA ÁN

CAO NGUYỄN HOÀNG HƯNG

Việc mua 12.500 tấn phân urea, không ngờ lại gây nhiều phiền toái cho phía Cty CP vật tư nông sản.

Một vụ án đơn thuần tranh chấp hợp đồng kinh tế, nhưng thời gian qua, Toà án Nhân dân (TAND) Q.7 (TPHCM) đã làm rắc rối thêm vụ việc, khi ban hành các biện pháp khẩn cấp tạm thời không cần thiết, ngăn chặn và phong toả tài sản tiền gửi của DN, gây nhiều khó khăn cho DN.

Kiện ra toà để… “xù” tiền bảo lãnh thực hiện hợp đồng?

Ngày 11.8.2009, Cty CP Kim Phú Gia (bên bán) và Cty CP vật tư nông sản (bên mua) ký với nhau một hợp đồng kinh tế. Theo đó, Cty Kim Phú Gia sẽ bán 12.500 tấn phân urea N46% (do Nga sản xuất) cho Cty vật tư nông sản (VTNS). Tổng giá trị mua – bán số lượng phân hơn 3,4 triệu USD (61,8 tỉ đồng VN).
Hai bên thoả thuận, Ngân hàng NNPTNTVN – chi nhánh 8 ở TPHCM, sẽ phát hành một chứng thư bảo lãnh thực hiện hợp đồng tương ứng 3% giá trị lô hàng (1,8 tỉ đồng) cho bên bán. Một khi bên bán – Cty Kim Phú Gia – không giao hàng, thì bên mua – Cty VTNS – sẽ tịch thu khoản tiền 1,8 tỉ đồng của bên bán.
Bên cạnh đó, Cty VTNS (bên mua) cũng yêu cầu Ngân hàng Đầu tư – Phát triển VN (BIDV) – chi nhánh Hà Thành – phát hành một chứng thư bảo lãnh thanh toán 100% giá trị hợp đồng (61,8 tỉ đồng VN) cho bên bán. Người được thụ hưởng chứng thư bảo lãnh trên là Ngân hàng TMCP Phương Nam (TPHCM).
Trong khi hợp đồng mua – bán 12.500 tấn phân trên chưa thực hiện; bất ngờ xảy ra tranh cãi giữa 2 Cty Kim Phú Gia và VTNS. Theo Cty Kim Phú Gia, chứng thư bảo lãnh của BIDV Hà Thành phát hành không được Ngân hàng Phương Nam đồng ý (?). Cty Kim Phú Gia cũng cho rằng Ngân hàng Phương Nam “đòi hỏi những cái không cần thiết” v.v… Từ đó, Cty Kim Phú Gia đề nghị chuyển người thụ hưởng từ Ngân hàng Phương Nam sang Ngân hàng NNPTNT – chi nhánh Sài Gòn. Song, phía bên mua là Cty VTNS đã không đồng ý thay đổi này.
Ông Nguyễn Tiến Dũng – Tổng GĐ Cty VTNS – cho biết: “Chúng tôi đã làm theo đúng như cam kết trong hợp đồng. Việc thay đổi người thụ hưởng là ngân hàng này hay ngân hàng kia, hợp đồng không ràng buộc, đó là việc của bên mua tự sắp xếp; không phải việc của chúng tôi”. Sau đó, hợp đồng mua – bán phân bón phải tiếp tục được thực thi như đã cam kết. Khi Cty Kim Phú Gia không hoàn thành trách nhiệm giao hàng, lẽ đương nhiên Cty VTNS tịch thu 1,8 tỉ đồng tiền bảo lãnh thực hiện hợp đồng của Cty Kim Phú Gia.

Đọc tiếp

TRANH CHẤP NỘI BỘ CÔNG TY CỔ PHẦN: CỔ ĐÔNG KIỆN ĐÒI HƠN 7,7 TỶ ĐỒNG

VĂN NGUYÊN

Nguyên đơn còn yêu cầu hủy các văn bản, giấy tờ mà chủ tịch hội đồng quản trị (HĐQT) ký sai thẩm quyền.

TAND TP.HCM đang giải quyết một tranh chấp khá hy hữu trong nội bộ Công ty Cổ phần Công nghiệp hóa chất và vi sinh (gọi tắt là Bicico). Một nhóm cổ đông đã yêu cầu tòa buộc chủ tịch HĐQT (kiêm tổng giám đốc) của công ty phải trả lại trên 7,7 tỉ đồng chi sai nguyên tắc và hủy các văn bản, giấy tờ đã ban hành không đúng.

 Sai nhưng không nhận

Theo đơn kiện, từ năm 2004 đến nay, bị đơn đã lợi dụng chức vụ, cố ý làm trái các quy định, điều lệ công ty…, tự ý ra các quyết định đầu tư mua sắm tài sản không thông qua HĐQT… gây thiệt hại cho công ty. Mặc dù đã được góp ý nhiều lần nhưng bị đơn không sửa chữa. Sau đó, các cổ đông đã yêu cầu thanh tra, kiểm tra. Khi có kết luận khẳng định bị đơn sai phạm, các cổ đông đã đề nghị hòa giải nhưng không thành. Mặt khác, do bị đơn không có thiện chí nhìn nhận sai phạm, không chấp nhận yêu cầu triệu tập đại hội cổ đông bất thường… nên buộc phía nguyên đơn phải khởi kiện.

Theo đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải hủy quy chế nội bộ về quản trị công ty, quy chế quản lý tài chính, quy chế tiền lương (đều được ban hành năm 2007)… vì lạm dụng quyền, không được ký khóa từng trang, không đảm bảo tính khách quan; buộc hủy hơn 10 quyết định khác do bị đơn ban hành cùng nghị quyết của HĐQT năm 2009… Đồng thời, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lại hơn 7,7 tỉ đồng đã chi sai nguyên tắc cho công ty để HĐQT và các cổ đông quyết định.

Ngoài ra, nguyên đơn cũng yêu cầu bị đơn không ngăn cản cổ đông thực hiện quyền giám sát kiểm tra hoạt động của công ty. Bởi lẽ nguyên đơn có chứng cứ cho thấy bị đơn đã có nhiều sai phạm, khi được yêu cầu tạo điều kiện cho việc kiểm tra thì bị đơn không đáp ứng do sợ bị phát hiện.

Đọc tiếp

XUNG QUANH VỤ THUỐC TÂN DƯỢC TRỊ GIÁ HÀNG TỶ ĐỒNG CỦA VINACERO HẾT HẠN SỬ DỤNG

1. QUAN ĐIỂM CỦA NHÓM PHÓNG VIÊN BÁO NGƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN

1.1. Vì sao Bộ Y tế lại im lặng?

Công ty CP chữ thập đỏ Việt Nam (Vinareco) là doanh nghiệp hoạt động vì sự nghiệp nhân đạo. Đầu năm 2008, cùng một lúc, từ nhà sản xuất thuốc-Polysan (LB Nga) và các công ty đại lý cho Vinareco là Công ty TNHH Thống nhất và Công ty Thanh Phương lén lút bắt tay nhau bội tín, làm cho thuốc của Vinareco tồn kho và nguy cơ phải hủy gần chục tỷ đồng tiền thuốc do quá date.

Trong nhiều năm qua, Vinareco là Nhà phân phối chính thức duy nhất 2 loại thuốc Cycloferon và Reamberin (thuốc điều trị gan và điều hoà miễn dịch) tại Việt Nam. Trong nhiều năm, doanh nghiệp này phải bỏ hàng tỷ đồng để làm thị trường. Từ những năm đầu 2004, thuốc chỉ tiêu thụ vài trăm ngàn USD, đến năm 2008, thuốc đã có thương hiệu tiêu thụ trên 1 triệu USD/năm là do Vinareco đã lập hồ sơ và 2 lần đưa vào danh mục của Bộ Y tế. Thế nhưng đầu 2008, từ sự bội tín của 2 doanh nghiệp vốn là đại lý cho Vinareco là Công ty TNHH Thống nhất và Công ty Thanh Phương đã đẩy doanh nghiệp này phải tồn kho và phải tiêu hủy hàng tỷ đồng tiền thuốc một cách hết sức lãng phí. Điều đáng nói, ngay khi bắt đầu sự việc xảy ra Vinareco và Trung ương Hội chữ thập đỏ Việt Nam đã có nhiều “cầu khẩn” đối với Bộ Y tế nhưng hơn 1 năm nay tất cả đều rơi vào im lặng.

Ngày 24.3.2009, trước khó khăn của đơn vị trực thuộc, Trung ương Hội chữ thập đỏ Việt Nam đã có nhiều công văn gửi Bộ trưởng Bộ Y tế và Bệnh viện Bạch Mai nhờ giúp đỡ tiêu thụ số thuốc để khỏi cận date phải hủy, lúc đó hạn sử dụng còn khá dài, mặc dù trong Công văn có nêu: Nếu được Bệnh viện giúp đỡ thì coi đây là nghĩa cử cao đẹp góp phần vào sự nghiệp nhân đạo… nhưng các đơn vị này hầu như không có trả lời!

Tiếp đến, ngày 24.8.2009, Chủ tịch Trung ương Hội chữ thập đỏ Việt Nam lại có Công văn gửi Phó chủ tịch Nước Nguyễn Thị Doan, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai Nguyễn Quốc Anh nhờ giúp đỡ, trong Công văn có nêu: Người trúng thầu năm 2008-2009 là Công ty TNHH Thống Nhất, chính là người bội tín gây hậu quả cho Công ty CP chữ thập đỏ Việt Nam (Vinareco) của Trung ương Hội chữ thập đỏ Việt Nam. Lại một lần nữa, từ Bộ Y tế đến Giám đốc Bệnh viện vẫn thờ ơ, vô cảm.

Đọc tiếp

TUYÊN BỐ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP: TÒA KHÔNG CHO DOANH NGHIỆP “CHẾT” THEO LUẬT ĐỊNH

HỒNG NGÂN

Làm ăn liên tục thua lỗ, nợ lương công nhân và nợ ngân hàng, Công ty CP xi măng Vĩnh Phú xin mở thủ tục phá sản theo luật định nhưng Tòa lại khước từ. Hàng trăm công nhân đang đứng trước nguy cơ không nhận được một cắc tiền nợ lương.

Chúng tôi có mặt tại tỉnh Phú Thọ khi dư luận đang xôn xao về chuyện Công ty CP xi măng Vĩnh Phú xin được phá sản để trả nợ lương cho toàn bộ công nhân công ty và Chi nhánh ngân hàng Công thương tỉnh Phú Thọ nhưng lại bị Tòa từ chối.

Quyết định từ chối của Tòa đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của các công nhân vì toàn bộ số tiền hơn 5 tỉ đồng nợ ngân hàng có thể phải chuyển đủ cho Chi nhánh ngân hàng Công thương tỉnh Phú Thọ trong khi định giá sơ bộ tài sản của doanh nghiệp hiện không còn nhiều.

Theo tìm hiểu, Công ty CP xi măng Vĩnh Phú làm ăn thua lỗ nghiêm trọng trong nhiều năm là sự thật. HĐQT của công ty đã nhiều lần họp bàn việc xin mở thủ tục phá sản doanh nghiệp và tính phương án trả nợ ngân hàng, trả nợ lương công nhân.

Tại Nghị quyết họp HĐQT Công ty CP xi măng Vĩnh Phú ngày 8/7/2009 do ông Phan Hồng Phong, Chủ tịch HĐQT ký có nêu việc thanh toán các khoản nợ sau khi bán đấu giá tài sản công ty sẽ: “Trả nợ gốc món vay trung hạn, ngắn hạn và một phần lãi trong hạn, xin miễn lãi phạt (trả nợ ngân hàng); trả nợ ngân sách Nhà nước, bảo hiểm xã hội, thuế đọng, lương CBCNV…”.

Ngày 29/6/2009, Công ty CP xi măng Vĩnh Phú có công văn số 41/XMVP gửi Tòa án Nhân dân (TAND) tỉnh Phú Thọ đề nghị mở thủ tục phá sản nhưng điều khó hiểu là sau 15 ngày (ngày 14/7), TAND tỉnh mới nhận được công văn này.

Đọc tiếp

NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐÒI CHIA LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TRÀNG TIỀN: BÀI HỌC TỪ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP

HẢI YẾN

Thời gian gần đây, Cty cổ phần Tràng Tiền được khá nhiều báo chí nhắc đến không phải vì sản phẩm kem nổi tiếng mà vì những mâu thuẫn xung quanh sự việc người lao động đòi được trả “lương hiệu quả kinh doanh bằng 50% lợi nhuận sau thuế”. Theo các chuyên gia pháp lý, đây là sự đòi hỏi hoàn toàn không có cơ sở pháp lý.

Trước hết, cần phân biệt giữa tiền lương và các khoản phụ cấp có tính chất lương và chỉ tiêu lợi nhuận. Lợi nhuận sau thuế là chỉ tiêu được tính vào cuối năm bằng cách lấy tổng doanh thu cộng các khoản thu nhập khác trừ tổng chi phí sản xuất, kinh doanh hợp pháp, hợp lệ và thuế TNDN phải nộp.

Vô lý

Vì vậy, nếu xác định “lương hiệu quả kinh doanh bằng tỷ lệ % lợi nhuận sau thuế” là xác định một khoản phải chi ngay trên cơ sở một chỉ tiêu chưa biết hoặc mới chỉ là ước tính. Bên cạnh đó, sau khi đã bù đắp các khoản chi phí, trong đó có chi phí tiền lương và thực hiện các nghĩa vụ tài chính với nhà nước, trong các DN, lợi nhuận sau thuế là của chủ sở hữu. Với các DNNN, đó là của Nhà nước, với các Cty cổ phần, đó là của các cổ đông – những người là chủ sở hữu của Cty. Quy định đó là hợp lý vì khi DN có lãi thì chủ sở hữu được hưởng phần lợi nhuận sau thuế, ngược lại, nếu DN kinh doanh thua lỗ, thì chủ sở hữu sẽ bị mất vốn góp. Việc phân phối lợi nhuận sau thuế được thực hiện theo quy định tại Điều lệ Cty. Khoản 12, Điều 22 Luật DN năm 2005 quy định một trong những Nội dung của Điều lệ Cty là: “12. Nguyên tắc phân chia lợi nhuận sau thuế và xử lý lỗ trong kinh doanh”. Điều lệ Cty do các cổ đông thông qua, không có quy định nào bắt buộc phải lấy ý kiến của người lao động vào văn bản này.

Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 654 other followers

%d bloggers like this: