19 QUYỀN CƠ BẢN – 19 YẾU TỐ CẤU THÀNH NỀN DÂN CHỦ BỀN VỮNG Ở ĐỨC

TÁC GIẢ BẢN DỊCH : NGUYỄN MINH TUẤN

Nguồn bản gốc Tiếng Đức: tại Website chính thức của Bundeszentrale für politische Bildung (BPB), truy cập tại đây

Nội dung và cơ chế đảm bảo thực hiện các quyền cơ bản là linh hồn của bất kỳ một bản Hiến pháp nào. 19 Điều đầu tiên của Luật cơ bản năm 1949 là 19 qui định về quyền cơ bản và cũng chính là 19 viên đá tảng gắn kết tạo dựng nên nền dân chủ bền vững ở Đức.

Xuất phát từ ý nghĩa quan trọng của những điều luật, tác giả xin trân trọng công bố và giới thiệu đến bạn đọc bản dịch tham khảo Tiếng Việt từ nguyên bản Tiếng Đức 19 quyền cơ bản trong Luật cơ bản (Grundgesetz) của CHLB Đức này.

Bản dịch Tiếng Việt dưới đây cũng như những bản dịch khác đã giới thiệu trên trang blog cá nhân này chỉ mang tính chất tham khảo. Tác giả bản dịch hoàn toàn không chịu trách nhiệm pháp lý về bất cứ sự trùng lặp, sao chép hay suy luận nào khác đáng tiếc liên quan đến bản dịch này có thể xảy ra. Tác giả bản dịch rất mong nhận được các ý kiến đóng góp thiện chí của bạn đọc gửi về địa chỉ email nguyenminhtuan_hn@yahoo.com để hoàn thiện bản dịch này và các bản dịch văn bản pháp luật khác. (NMT)

I. CÁC QUYỀN CƠ BẢN (I. GRUNDRECHTE)

Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch):

Artikel 1
[Menschenwürde;
Grundrechtsbindung der staatlichen Gewalt]

(1) Die Würde des Menschen ist unantastbar. Sie zu achten und zu schützen ist Verpflichtung aller staatlichen Gewalt.
(2) Das Deutsche Volk bekennt sich darum zu unverletzlichen und unveräußerlichen Menschenrechten als Grundlage jeder menschlichen Gemeinschaft, des Friedens und der Gerechtigkeit in der Welt.
(3) Die nachfolgenden Grundrechte binden Gesetzgebung, vollziehende Gewalt und Rechtsprechung als unmittelbar geltendes Recht.

Tiếng Việt (Vietnamesisch):

Điều 1
Bảo vệ nhân phẩm;
Sự ràng buộc của quyền lực nhà nước
bởi các quyền cơ bản

(1) Nhân phẩm là bất khả xâm phạm. Tôn trọng và bảo vệ nhân phẩm là nghĩa vụ của tất cả các nhánh quyền lực nhà nước.

(2) Nhân dân Đức vì thế thừa nhận việc nhân quyền (Menschenrechte) là bất khả xâm phạm và không thể bị lạm dụng như là nền tảng của cộng đồng, hoà bình và công lý trên toàn thế giới.

(3) Các quyền hạn cơ bản dưới đây ràng buộc trực tiếp các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Đọc tiếp

TÌM HIỂU PHÁP LUẬT PHÁ SẢN TRÊN THẾ GIỚI

PHAN THỊ THU HÀ – Viện Khoa học xét xử, Tòa án nhân dân tối cao

Trong điều kiện nền kinh tế toàn cầu hóa ngày nay, nhu cầu xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật về kinh tế nói chung và pháp luật phá sản nói riêng luôn được các quốc gia quan tâm, chú ý. Trong bối cảnh đó, Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm đến việc xây dựng, sửa đổi pháp luật, theo đó pháp luật phá sản cũng không là ngoại lệ. Do vậy, việc nghiên cứu, tham khảo pháp luật về phá sản của các nước trên thế giới và trong khu vực có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoàn thiện pháp luật phá sản trong nước.

Đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, đáp ứng các yêu cầu của việc gia nhập WTO và thực hiện các cam kết quốc tế đa phương, song phương của Việt Nam, ngay từ buổi đầu của công cuộc đổi mới nền kinh tế đất nước, Việt Nam đã xây dựng và ban hành Luật Phá sản doanh nghiệp (năm 1993). Trải qua 10 năm thi hành, các quy định của Luật này không còn phù hợp với thực tiễn nên Luật Phá sản đó đã được sửa đổi, bổ sung khá cơ bản và toàn diện.

Luật Phá sản năm 2004 được ban hành là kết quả của việc tổng kết thực tiễn sau 10 năm thi hành Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993, đồng thời cũng là kết quả của việc nghiên cứu, tiếp thu những kinh nghiệm xây dựng pháp luật về phá sản của một số nước trong khu vực và trên thế giới. Do vậy, trong chuyên đề này chúng tôi tìm hiểu chung (có tính khái quát) về pháp luật phá sản trên thế giới.

I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁ SẢN VÀ PHÁP LUẬT PHÁ SẢN

Theo quan niệm chung, tình trạng phá sản là hậu quả đư­ơng nhiên của quá trình cạnh tranh, kinh doanh trên thương trường. Việc giải quyết hậu quả của quá trình đó là tất yếu, là nhiệm vụ của bất kỳ quốc gia nào nhằm đảm bảo một môi trường kinh doanh lành mạnh cho các chủ thể tham gia kinh doanh, đảm bảo vai trò của nhà nước trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội.

Trải qua quá trình dài của lịch sử phát triển kinh tế, bên cạnh những yếu tố tích cực là thúc đẩy khoa học kỹ thuật phát triển, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân thì nền kinh tế cũng xảy ra nhiều biến động, thăng trầm và khủng hoảng. Hậu quả của sự khủng hoảng kinh tế thường kéo theo sự phá sản hàng loạt của các thương nhân.

Để giải quyết hậu quả của kinh doanh thua lỗ, mất khả năng thanh toán, giữa chủ nợ và người mắc nợ đã cùng nhau tìm ra những phương thức giải quyết khác nhau, hoặc là tự giải quyết, hoặc là với sự giúp đỡ của một cá nhân hoặc tập thể nào đó. Tuy nhiên, đôi khi các phương thức giải quyết tự phát không hiệu quả, từ đó phát sinh nhu cầu có những quy định pháp luật và sự can thiệp cần thiết để điều chỉnh, giải quyết hiện tượng phá sản một cách hiệu quả hơn, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội đồng thời bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan: chủ nợ, người mắc nợ và người lao động.

Đọc tiếp

MỘT SỐ NỘI DUNG TRONG LUẬT TRÁCH NHIỆM XÂM HẠI QUYỀN LỢI CỦA NƯỚC CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA

TS. ĐỔNG HIỂU TÙNG (Dong XiaoSong)- Giảng viên Trường Luật – Đại học Vân Nam (Trung Quốc)

Ngày 26/12/2009, Hội nghị lần thứ 12 của Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Quốc hội) khóa XI đã biểu quyết thông qua Luật Trách nhiệm xâm hại quyền lợi của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Luật Trách nhiệm xâm hại quyền lợi – Luật TNXHQL). Luật có hiệu lực từ ngày 1/7/2010. Tiếp sau các luật Luật Hợp đồng, Luật Vật quyền, đây là một đạo luật quan trọng trong lĩnh vực dân sự ở Trung Quốc. Đạo luật này sẽ là một trong các cơ sở để xây dựng xã hội pháp quyền, nó cũng có nghĩa là Trung Quốc tiến thêm một bước mới tới việc định hình một Bộ luật Dân sự.

1. Quá trình xây dựng luật

Những sự việc xâm hại quyền lợi cá nhân như trách nhiệm trong y tế, trách nhiệm với sản phẩm, tai nạn giao thông… xảy ra thường xuyên, hàng ngày. Cùng với sự phát triển của kinh tế – xã hội, các hình thức xâm hại quyền lợi của cá nhân cũng xuất hiện ngày càng nhiều.

Tuy nhiên, những quy định trong pháp luật hiện hành hoặc là mang tính nguyên tắc, hoặc là phân tán trong các đạo luật đơn lẻ, và còn thiếu những quy định về các vấn đề chung đối với trách nhiệm xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể dân sự. Một số quy định lại không còn phù hợp với nhu cầu của cuộc sống xã hội và của thực tiễn tư pháp. Để bảo vệ ngày càng tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể dân sự, xây dựng một xã hội hài hòa, ổn định, cần thiết phải đưa ra những quy định đối với trách nhiệm của việc xâm hại các quyền và lợi ích hợp pháp mang tính quy phạm, đáp ứng nhu cầu cấp thiết của cuộc sống xã hội, xây dựng một đạo luật tương đối hoàn chỉnh về trách nhiệm đối với việc xâm hại quyền lợi hợp pháp.

Việc xây dựng Luật TNXHQL của Trung Quốc được bắt đầu từ khi soạn thảo Bộ luật Dân sự năm 2002. Ngày 23/12/2002, Dự thảo Bộ luật Dân sự được trình lên Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khóa IX thẩm định, sau đó công bố lấy ý kiến của nhân dân trong cả nước, gọi là Dự thảo Luật Dân sự (bản trưng cầu ý kiến). Trong Dự thảo này, đã có một phần nói về TNXHQL. Vì vậy, phần 8 trong Dự thảo Luật Dân sự có thể coi là “sơ thảo lần thứ nhất” của Luật TNXHQL của Trung Quốc.

Sau đó, các nhà lập pháp thấy rằng, Dự thảo Luật Dân sự (bản trưng cầu ý kiến) gồm hơn 1.200 điều, đề cập đến quá nhiều lĩnh vực, nội dung phức tạp, việc sửa đổi, thẩm định của một đạo luật như vậy cần một thời gian quá dài, khả năng hoàn chỉnh là rất khó khăn. Do vậy, các nhà lập pháp quyết định chia Dự thảo Luật Dân sự thành từng phần để sửa đổi và thông qua, ban hành dưới các hình thức đạo luật đơn hành. Sau khi ban hành các đạo luật đơn hành, sẽ ghép các đạo luật này lại thành hình thức một Bộ luật để biên soạn Bộ luật Dân sự.

Đọc tiếp

LUẬT CÔNG VÀ LUẬT TƯ

NCS. NGUYỄN MINH TUẤN – Đại học SAARLAND, CHLB Đức

Ở các nước thuộc hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa (Civil Law), pháp luật mỗi quốc gia theo truyền thống thường được phân chia thành luật công (public law – droit public – öffentliches Recht) và luật tư (private law – droit privé – Privatrecht). Vấn đề tưởng như đã rõ ràng nhưng hóa ra lại còn đó nhiều câu hỏi cần làm sáng tỏ như: những tư tưởng, học thuyết về phân chia hệ thống pháp luật thành luật công và luật tư có từ bao giờ, được kế thừa, phát triển ra sao? quan niệm của các nhà luật học Civil Law hiện nay về vấn đề này như thế nào, những vấn đề lý luận nào còn bỏ ngỏ, cần tiếp tục giải đáp? Bài viết dưới đây sẽ góp phần làm sáng tỏ những câu hỏi trên từ góc nhìn lịch sử luật pháp và thực tiễn lý luận ở CHLB Đức.

1. Lịch sử phân chia luật công và luật tư

- Học thuyết dựa trên cơ sở lợi ích (Interresentheorie)
Tư tưởng, học thuyết phân chia luật công và luật tư đã có rất sớm từ thời La Mã cổ đại. Nhà triết học Cicero từ thế kỷ I TCN đã đưa ra quan điểm rằng pháp luật gồm có hai bộ phận cấu thành gồm: những qui định pháp luật điều chỉnh các quan hệ cá nhân (Ius privatum) và những qui định pháp luật điều chỉnh các quan hệ công (Ius publicum). (1)

Đến thế kỷ II SCN, nhà luật học La Mã Ulpian (170 -228 SCN) đã đưa ra học thuyết phân chia giữa luật tư (Ius civile) và luật công (Ius publicum) dựa trên cơ sở lợi ích (hay còn gọi là học thuyết lợi ích – Interessentheorie). Học thuyết này phân biệt: Luật công liên quan đến lợi ích của nhà nước và lợi ích công cộng, luật tư liên quan đến lợi ích của cá nhân. (2)
- Học thuyết quan hệ giữa các chủ thể (Subjektionstheorie)

Đến thế kỷ XIX, những tư tưởng về sự phân chia giữa luật công và luật tư của Luật La Mã được kế thừa và phát triển thông qua học thuyết dựa trên quan hệ giữa các chủ thể (Subjektionstheorie). Học thuyết này phân chia: Nếu là quan hệ có tính thứ bậc (Über-Unterordnungsverhältnis) giữa nhà nước và công dân thì đó là quan hệ pháp luật do luật công điều chỉnh, còn quan hệ mà các bên tham gia là quan hệ bình đẳng (Gleichrangigkeitsverhältnis) thì đó là quan hệ pháp luật của luật tư điều chỉnh. (3)

Đọc tiếp

TÌM HIỂU VỀ KHÁI NIỆM NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN TẠI PHÁP

ĐỖ KIM THÊM

Nước Pháp là một quốc gia dân chủ, văn minh, tiến bộ, tôn trọng nhân quyền và có tinh thần thượng tôn luật pháp. Từ nhận định này chúng ta dễ suy đoán rằng khái niệm về nhà nước pháp quyền chắc hẳn đã có một truyền thống trong văn hoá cũng như dân trí của nước Pháp. Đây là một cảm nhận sai lầm. Thực tế cho thấy là nước Pháp không hề có thuật ngữ État de droit trong học giới mà chỉ là một sự phiên dịch từ Rechtsstaat của Đức. Ngoài ra, khác với các quốc gia dân chủ phương Tây, chính thể lập hiến (constitutionalism) không làm nền tảng cho mọi sinh hoạt chính trị tại Pháp trong cả một thời gian dài.

Thế thì người Pháp hiểu gì, nghĩ gì và làm gì đối với khái niệm này, đặc biệt hơn kinh nghiệm của Pháp có giúp cho Việt Nam trong việc định hình cho khái niệm này không, đó là chủ đề của bài viết này.

1. Những đặc điểm chính

Có nhiều cách giải thích khác nhau về trường hợp của Pháp, một số học giả chỉ nêu lên những đặc điểm chính mà không đi sâu vào các học thuyết. Họ cho rằng vấn đề thuật ngữ không quan trọng mà chính ưu thế của quốc hội và sự bất ổn chính trị đã dần dần đưa tới việc lập Toà Bảo hiến để nâng cao tầm quan trọng của việc áp dụng những nguyên tắc hiến định. Từ đó mà khái niệm nhà nước pháp quyền mới thành hình.

Thuật ngữ

Lịch sử triết học pháp quyền của Pháp cho thấy Pháp không hề có khái niệm về État de droit. Giáo sư Léon Dugit là người đầu tiên đã du nhập ý niệm Rechtsstaat vào Pháp năm 1907. Sau đó giáo sư Raymond Carré de Malberg đã triển khai nội dung này trong tác phẩmContribution à la théorie générale de l’ État năm 1922. Ông đã đề xuất nhiều ý kiến để áp dụng, nhưng không gây được tiếng vang nào trong học giới hay ngoài công luận.
Dù thuật ngữ này không có trong văn kiện chính thức, tuyên ngôn, sách giáo khoa hay được thảo luận, nhưng chúng ta không kết luận rằng nước Pháp không quan tâm đến vấn đề pháp quyền. Pháp đã đặt trọng tâm vào hai khái niệm khác, đó là Nhà nước (État) và Cộng hoà(République), thay thế cho nhà nước pháp quyền. Ngay trong thuật ngữ Nhà nước, người Pháp đã hàm ý rằng nhà nước phải tuân theo luật pháp, mà không minh thị, vì đó là điều không cần thiết. Thuật ngữ Cộng hoà có lịch sử lâu đời và phức tạp hơn, nhưng đến khi Jean Jacques Rousseau đưa ra thảo luận thì thuật ngữ này trở nên chính xác hơn, nhất là khi xác minh rằng nhà nước phải cai trị bằng luật pháp. Rousseau cũng đề xuất rằng hai khái niệm Nhà nước và Cộng hoà nên hiểu là đồng nghĩa vì mang nhiều sự tương đồng trong lý thuyết. Do đó, giới học giả cho rằng về cơ bản thì Pháp cũng có khái niệm nhà nước pháp quyền dù không minh danh, mà điều XVI của bản Tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền là một thí dụ điển hình khi công nhận rằng nguyên tắc phân quyền và tôn trọng nhân quyền làm cơ sở cho mọi hoạt động của nhà nước.

Đọc tiếp

LỊCH SỬ RA ĐỜI PHÁP LUẬT CẠNH TRANH CỦA EC

CỔNG THÔNG TIN PHÁP LUẬT BỘ CÔNG THƯƠNG - Hiệp ước Rôme và các quy định cạnh tranh trong đó Hiệp ước có hiệu lực từ năm 1958. Các quy định này được thực thi cho đến khi có Quy chế số 17 được ban hành 4 năm sau đó, tức là 7 thập kỷ sau khi Hoa Kỳ có luật cạnh tranh. Luật của EC có sự liên hệ với Luật của Hoa Kỳ trong mối so sánh hệ thống giữa hai bờ Đại Tây Dương về các ý tưởng, bài học có thể được rút ra từ kinh nghiệm của Hoa Kỳ.

Ảnh hưởng của Hoa Kỳ trong lĩnh vực luật cạnh tranh được nhìn nhận khá cụ thể. Ngày 1/1/1958, Hiệp ước Rôme đồng thời với một hệ thống luật cạnh tranh mới của Đức cùng có hiệu lực. Các quan chức Hoa Kỳ chiếm đóng Tây Đức cho rằng việc nền công nghiệp nước Đức trước chiến tranh bị tập trung hóa và cartel hóa nặng nề đã giúp, hậu thuẫn cho Hitler nổi lên nắm quyền lực, gây ra chiến tranh thế giới; luật cạnh tranh theo kiểu Mỹ sẽ giúp nền dân chủ của nước Đức hậu chiến. Tuy Đạo luật chống cartel hóa đã lần đầu tiên được đưa ra vào năm 1947, nhưng do áp lực từ trong nước và của phíaHoa Kỳ yêu cầu phải có một hệ thống luật mới hoàn toàn, Bộ trưởng kinh tế thời Thủ tướng Adenauer, ông Ludwig Erhard, đã gây áp lực mạnh mẽ cho việc ban hành luật mới năm 1958.

Luật Cạnh tranh mới của Đức đã nhanh chóng có được một vai trò quan trọng trong hệ thống pháp lý và kinh tế của nước Đức. Tổ chức chịu trách nhiệm chính trong việc thực thi luật là Cục Cartel liên bang. Kinh nghiệm và ảnh hưởng của Đức có tác động quan trọng đến luật cạnh tranh của EC bắt đầu phát triển từ giữa những năm 1960 trở đi. Do luật chống độc quyền củaHoa Kỳ ảnh hưởng đến hệ thống luật của Đức, hệ thống luật của Đức lại ảnh hưởng đến luật của EC. Nên theo nguyên lý bắc cầu thì luật của EC liên quan chủ yếu đến luật của Hoa Kỳ.

Trên thực tế, Luật cạnh tranh EC đã được xây dựng bởi người châu Âu, trong đó chủ yếu là người Đức, với những ý tưởng của người Mỹ. Tuy nhiên, đã thành xu hướng là người ta thường thảo luận luật của EC thông qua lăng kính những phát triển của luật Mỹ. Trong một quyển sách xuất bản năm 1998, Daniel Gerber, một luật sư về luật so sánh, luận lập rằng Châu Âu có một truyền thống giàu có về những tư tưởng mà hiện nay được gọi là luật cạnh tranh. Chính điều này đã tạo cho pháp luật cạnh tranh trong nước của các nước Châu Âu cũng như luật cạnh tranh của EC một đặc trưng của riêng nó.

Đọc tiếp

TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI – NHIỆM VỤ CỦA KHU VỰC KINH DOANH, CHÍNH TRỊ VÀ XÃ HỘI DÂN SỰ

image GS.TS. DIETMAR MIETH – Trường đại học Tỹbingen, Cộng hoà Liên bang Đức, Ủy viên Hội đồng châu Âu về đạo đức trong khoa học và công nghệ (Người dịch: ThS.CAO THU HẰNG. Người hiệu đính: ThS.TRẦN TUẤN PHONG)

Bài viết đề cập ba vấn đề sau: 1/ Đạo đức học kinh tế như là một sự kết hợp giữa luật lệ bên ngoài và chiến lược bên trong; 2/ Cộng đồng các quyền; và 3/ Nguyên tắc liên đới trong cơ cấu xã hội của một xã hội dân sự. Theo tác giả, một nền kinh tế thị trường xã hội chỉ là hiện thực khi chính trị có được sự ưu tiên hàng đầu so với kinh tế, khi chính trị có trách nhiệm với “lợi ích chung” (công ích) và cùng với đó là việc thường xuyên kiến tạo xã hội. Khi phân tích cộng đồng các quyền, tác giả đã có những sự so sánh với Học thuyết xã hội Công giáo. Dẫn Học thuyết xã hội Công giáo, tác giả cho rằng, chỉ có sự công bằng và tình liên đới mới đảm bảo lâu dài cho sự bền vững của nền kinh tế thị trường tự do và từ đó, tác giả bàn về nguyên tắc bổ trợ. Theo đó, sự bổ trợ có thể được xem như một chuẩn mực mang tính chiến lược bên trong của việc hiện thực hoá tình liên đới.

“Những chuẩn mực nội tại của thị trường tự do không thể là thứ duy nhất điều tiết những mối quan hệ quốc tế” (Giáo hoàng Paul VI. Thông điệp Phát triển các dân tộc, 1967, n.58).

“Nếu không có sự xoá bỏ thị trường tự do, chúng ta cần thiết lập những giới hạn của sự cạnh tranh kinh tế để làm cho thị trường công bằng hơn, xã hội hơn và nhân văn hơn” (l.c.n.61).

“Chúng ta cần thị trường và sự cạnh tranh. Nỗ lực tìm kiếm lợi nhuận là hợp pháp. Nhưng, chúng ta cần một thị trường “được điều tiết”, chứ không phải một thị trường tự do” (Ferdinand Kerstiens, 2005).

Đạo đức học kinh tế như là một sự kết hợp giữa luật lệ bên ngoài và chiến lược bên trong

Đọc tiếp

BÁO CÁO TÓM TẮT CỦA BỘ CÔNG THƯƠNG VỀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ XÂY DỰNG PHÁP LUẬT BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ ĐỀ XUẤT CHO VIỆT NAM (HỒ SƠ DỰ ÁN LUẬT BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG)

A. PHÁP LUẬT BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

I. Luật bảo vệ người tiêu dùng của một số quốc gia

1. Tổng quan

Qua nghiên cứu pháp luật bảo vệ người tiêu dùng của một số quôc gia trên thế giới, Bộ Công Thương nhận thấy có thể phân thành 2 nhóm:

- Nhóm nước không ban hành luật bảo vệ người tiêu dùng mà các quy định về bảo vệ người tiêu dùng nằm rải rác tại các văn bản pháp luật chuyên ngành khác.

- Nhóm quốc gia và vùng lãnh thổ ban hành đạo luật riêng về bảo vệ người tiêu dùng như Thái Lan, Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, Hoa Kỳ, Canada, Pháp, Hồng Kông, Ấn Độ, Nga, Nauy, Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia, Anh.

Nhìn lại lịch sử quá trình phát triển của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng (BVNTD) ở các nước phát triển, có thể thấy rằng, các đạo luật về BVNTD được ban hành đầu tiên chủ yếu vào thập niên 1950-1970. Đây là thời kỳ mà phong trào BVNTD trở thành một trong những chủ điểm kinh tế, chính trị quan trọng.

Ví dụ, tại Hoa Kỳ, trong thập niên 1960-1970 hàng loạt đạo luật về BVNTD sau đây được ban hành: Luật Liên bang về các chất nguy hại năm 1960 (the Federal Hazardous Substances Act of 1960), Luật về đóng gói và ghi nhãn công bằng năm 1966 (The Fair Packaging and Labeling Act of 1966), Luật về tính trung thực trong hoạt động cho vay năm 1968 (The Truth in Lending Act of 1968), Luật về tiết lộ thông tin đầy đủ trong các giao dịch bất động sản liên bang năm 1968 (The Interstate Land Sales Full Disclosure Act of 1968), Luật đảm bảo an toàn đồ chơi cho trẻ em năm 1969 (The Child Protection and Toy Safety Act of 1969), Luật về báo cáo tín dụng công bằng năm 1970 (The Fair Credit Reporting Act of 1970), Luật về san toàn sản phẩm tiêu dùng năm 1972 (The Consumer Product Safety Act of 1972), Luật về cơ hội tín dụng bình đẳng năm 1974 (The Equal Credit Opportunity Act of 1974), Luật bảo hành Magnuson Moss năm 1975 (Magnuson Moss Warranty Act of 1975), Luật về hành vi đòi nợ công bằng năm 1977 (The Fair Debt Collection Practices Act of 1977) v.v.

Cũng trong giai đoạn đó, Nhật Bản ban hành Luật cơ bản về BVNTD (năm 1968) còn Úc ban hành Luật về các hành vi thương mại năm 1974 (the Trade Practices Act of 1974) với nhiều quy định về BVNTD. Tại Anh Quốc, hàng loạt đạo luật về BVNTD sau đây được ban hành: Luật thuê mua năm 1964 (Hire-purchase Act of 1964), Luật về thông tin sai lạc trong thương mại năm 1967 (Misrepresentation Act of 1967), Luật về các mô tả thương mại năm 1968 (Trade Descriptions Acts of 1968), Luật về cung ứng hàng hoá, dịch vụ ngoài ý muốn của NTD năm 1971 (Unsolicited Goods and Services Act of 1971), Luật thương mại công bằng năm 1973 (Fair Trading Act of 1973), Luật về các điều khoản mặc nhiên trong hợp đồng cung ứng hàng hoá năm 1973 (Supply of Goods (Implied Terms) Act of 1973), Luật về tín dụng tiêu dùng năm 1974 (Consumer Credit Act of 1974), Luật về các điều khoản hợp đồng không công bằng năm 1977 (Unfair Contract Terms Act of 1977), Luật về an toàn tiêu dùng năm 1978 (Consumer Safety Act of 1978).

Đọc tiếp

NHỮNG NGUYÊN TẮC CĂN BẢN TRONG VIỆC XEM XÉT TÍNH HỢP PHÁP CỦA HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TỪ MỘT PHÁN QUYẾT CỦA TÒA ÁN LIÊN BANG ĐỨC: CHÂU CHẤU THẮNG VOI

GS. TS.  NGUYỄN VÂN NAM

Nhân vụ dược sĩ Karl-Heinz R (ông R) khởi kiện tại Tòa Hiến pháp Liên bang Đức (THP) yêu cầu hủy quyết định của chính quyền không cấp giấy phép hoạt động cho ông, THP đã đề ra những nguyên tắc căn bản cho việc xem xét tính hợp pháp của hoạt động quản lý Nhà nước (Phán quyết „Hiệu thuốc“, số BverfGE 7, 377). Đến nay, những nguyên tắc này vẫn là kim chỉ nam giải quyết tranh chấp giữa Nhà nước với công dân và trở nên nổi tiếng đến mức được coi là kiến thức căn bản không thể không biết của mọi sinh viên luật trong hệ thống đào tạo Âu-Mỹ.

Ngày nay, quyền con người, quyền công dân được thừa nhận và bảo vệ ở tất cả các nước tiến bộ trên thế giới. Tuy nhiên, việc xác định một hoạt động quản lý cụ thể của Nhà nước trong thực tiễn có vi phạm hay hạn chế các quyền tự do cá nhân ghi trong Hiến pháp hay không, lại không phải dễ dàng.

Được giải thoát khỏi chế độ độc tài phát xít từ 1945, nhưng cho đến năm 1958, CHLB Đức (Tây Đức cũ, Việt Nam gọi là nước TBCN) vẫn lúng túng khi giải quyết xung đột giữa quyền lợi hiến định của cá nhân với quyền lợi cộng đồng do Nhà nước đại diện. Nhân vụ dược sĩ Karl-Heinz R (ông R) khởi kiện tại Tòa Hiến pháp Liên bang(THP) yêu cầu hủy quyết định của chính quyền không cấp giấy phép hoạt động cho ông, THP đã đề ra những nguyên tắc căn bản cho việc xem xét tính hợp pháp của hoạt động quản lý Nhà nước (Phán quyết „Hiệu thuốc“, số BverfGE 7, 377). Đến nay, những nguyên tắc này vẫn là kim chỉ nam giải quyết tranh chấp giữa Nhà nước với công dân và trở nên nổi tiếng đến mức được coi là kiến thức căn bản không thể không biết của mọi sinh viên luật trong hệ thống đào tạo Âu-Mỹ. Phán quyến này rất dài, đụng chạm đến nhiều vấn đề pháp lý căn bản rất thú vị của Nhà nước pháp quyền, nhưng có lẽ chưa thật cần thiết đối với các bạn sinh viên luật Việt nam. Vì vậy nó được rút ngắn đến mức có thể như sau:

Dược sĩ R làm đơn đề nghị chính quyền vùng Oberbayern (CQ) cấp giấp phép hoạt động cho hiệu thuốc mới của mình tại thị trấn Traunreut với dân số khoảng 6000 người.

Căn cứ điều 3, khoản 1, Luật Hiệu thuốc (LHT) của tiểu bang Bayern, CQ quyết định không cấp giấy phép cho ông R.

Đọc tiếp

KINH NGHIỆM CỦA NHẬT BẢN VỀ QUẢN LÝ KIỂM SOÁT HÀNH VI THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH

MINH NGỌC (Tổng hợp)

Luật cạnh tranh cơ bản của Nhật Bản là luật chống độc quyền được ban hành năm 1997. Nhằm ngăn chặn độc quyền tư nhân và tình trạng độc quyền,những hành vi cạnh tranh không lành mạnh và các vụ sáp nhập hạn chế cạnh tranh. Đạo luật này được bổ sung bởi rất nhiều hướng dẫn và quy định cũng như bởi các luật khác liên quan đến các khía cạnh cạnh tranh không lành mạnh làm tổn hại đến các doanh nghiệp khác. Những chính sách cạnh tranh của nhà nước chụi ảnh hưởng rất nhiều bởi các đạo luật chuyên nghành và những miễn trừ. Những miễn trừ này kể cả chính thức và phi chính thức, khuyến khích hoặc chấp nhận các thỏa thuận cấu kết các vụ sáp nhập và kiểm soát đối với hệ thống phân phối.

Tương tự như luật cạnh tranh của nhiều nước, luật chống độc quyền của Nhật Bản cấm các thỏa thuận giữa các đối thủ cạnh tranh cùng phối hợp hoạt động để hạn chế cạnh tranh, bao gồm các loại hợp đồng, thỏa thuận, các hành vi phối hợp hoạt động để chi phối giá cả, hạn chế sản lượng, công nghệ phát triển sản phẩm, phân chia thị trường,khách hàng,thông đồng trong bỏ thầu hoặc tẩy chay các đối tượng khác.

Trong luật chống độc quyền của Nhật bản có điều khỏan quy định về hiệp hội. cũng là quy định phổ biến trong luật của nước khác.Bên cạnh những tác động tích cực các hiệp hội đồng thời tạo điều kiện cho các hoạt động không phù hợp với tư tưởng cạnh tranh trong nội bộ một nghành và các ngành khác với nhau.Quy định này cấm các hiệp hội thương mại hạn chế cạnh tranh một các nghiêm trọng như hạn chế số hãng kinh doanh trong nghành, hạn chế một cách không công bằng cách thức các thành viên tiến hành kinh doanh. Các hội ở Nhật bản có quan hệ chặt chẽ với các bộ liên quan , được bộ sử dụng để đạt được các mục tiêu hành chính nào đó.

Các hướng dẫn hành chính về bảo vệ sức khỏe an toàn và môi trường được coi là không có tác động trực tiếp đến cơ chế thị trường, dẫn đến vi phạm Luật chống độc quyền.Những vấn đề còn đang tranh luận là ổn định giá cả, hàng hóa, đảm bảo sự công bằng và minh bạch trong dao dịch kinh doanh và bảo vệ các doanh nghiệp nhỏ.Những hạn chế khả năng lựa chọn của doanh nghiệp về tham gia thị trường, giá cả, đầu tư và sản lượng có thể tác động tới thị trường và gây tranh cãi.Các hướng dẫn nhằm ngăn ngừa cạnh tranh quá mức, điều chỉnh cung-cầu, điều chỉnh lợi thế và bất lợi giữa các hãng, duy trì trật tự trong nghành.Nội dung và hình thức hướng dẫn kỹ thuật kinh doanh, chất lượng, tiêu chuẩn, quảng cáo không nhất thiết có tác động trực tiếp đối với cơ chế thị trường, mặc dù những vấn đề này là những công cụ quan trọng của cạnh tranh.Trên thực tế, sự thừa nhận rộng rãi vai trò của chính phủ đối với việc hướng dẫn các doanh nghiệp thống nhất hành động trong kinh doanh là một khó khăn trong việc thực hiện chính sách cạnh tranh.

Đọc tiếp

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT Ở PHÁP

PHẠM THỊ DUYÊN THẢO – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Sau Cách mạng Pháp năm 1789, việc phân chia quyền lực ở nước Pháp được thực hiện triệt để. Tòa án có vai trò rất lớn, thẩm phán đã từng được ví như “cái miệng của pháp luật”. Trong Bộ Dân luật Pháp 1804 (thường được gọi là Bộ luật Napoleon), có một nguyên tắc đặc biệt nổi tiếng, đó là nguyên tắc thẩm phán không được phép nại vào lý do không có luật hay luật không rõ ràng để từ chối giải quyết vụ việc. Nếu vi phạm nguyên tắc này, thẩm phán sẽ phải chịu trách nhiệm. Thẩm phán có quyền, đồng thời có nghĩa vụ giải thích luật (Điều 4, Bộ Dân luật Pháp). Tất nhiên, trong thực tế từng vụ việc cụ thể có thể tác động nhất định đến mức độ và phạm vi quyền lực của thẩm phán trong việc ra các phán quyết. Nguyên tắc này tồn tại cho đến cuối thế kỷ XX. Điều đó cho thấy sự phát triển của hệ thống tư pháp, vai trò của thẩm phán, cũng như các giá trị mà nguyên tắc này mang lại.

Cũng như hầu hết các quốc gia khác, Pháp cho rằng, lý do phải tiến hành giải thích một văn bản pháp luật là vì trong quá trình lập pháp, nhà lập pháp không thể lường trước được tất cả những tình huống cũng như những khó khăn khi mang văn bản pháp luật vào cuộc sống, sự tương thích của văn bản với thực tế không cao, nghĩa của các đạo luật không phải luôn rõ ràng, và việc áp dụng pháp luật gây tranh cãi… Do vậy, việc giải thích pháp luật là thực sự cần thiết.

Ở Pháp, Nghị viện cũng có thể giải thích các đạo luật của chính họ bằng cách đưa ra một đạo luật sau đó, gọi là đạo luật mang tính giải thích. Tuy nhiên, các thẩm phán rất miễn cưỡng áp dụng các đạo luật này (đặc biệt là các quy định mang tính hồi tố), mặc dù chúng chỉ chiếm một số lượng không đáng kể. Các nghị sĩ cũng thường xuyên đưa ra những câu hỏi liên quan đến giải thích đạo luật tới các Bộ trưởng, và sự trả lời của Bộ trưởng thường là chỉ bày tỏ quan điểm và phụ thuộc vào sự giải thích tối cao của Tòa án.

Giải thích đạo luật cũng có thể được thực hiện thông qua các thông tư của Chính phủ, tuy nhiên, những thông tư mang tính giải thích này không có tác động pháp lý lên các cá nhân và thẩm phán, chúng không ràng buộc các thẩm phán về ý nghĩa và phạm vi của các điều khoản pháp lý mà họ đang giải thích. Tuy vậy, các thông tư này vẫn thường xuyên được các luật gia và các thẩm phán xem xét trong thực tế.

Đọc tiếp

MỘT SỐ KINH NGHIỆM PHÁP ĐIỂN HÓA CỦA HOA KỲ

TRẦN VĂN LỢI – Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp

Ý tưởng pháp điển hóa đã có từ rất sớm ở Mỹ. Căn cứ vào quá trình hình thành các Bộ tập hợp các đạo luật cho đến khi có các Bộ pháp điển, có thể thấy pháp điển hóa ở Mỹ có một quá trình lịch sử và nó hoàn toàn xuất phát từ nhu cầu thực tiễn. Tất nhiên, cùng với ý chí, quyết tâm chính trị, Bộ pháp điển đã ngày càng được hoàn thiện và mau chóng trở thành công cụ quan trọng cho các nhà nghiên cứu, luật sư, công dân Mỹ.

Hiện nay tại Hoa Kỳ tồn tại song song hai Bộ pháp điển: United States Code (U.S Code) Bộ pháp điển gồm các đạo luật của Nghị viện và Code of Federal Regulations (C.F.R) Bộ pháp điển gồm các quy định của các cơ quan hành pháp liên bang.

Bộ pháp điển các luật liên bang – Bộ luật Hoa Kỳ (U.S. Code): Bộ pháp điển này chỉ chứa đựng những đạo luật của Nghị viện mà không có các quy định do cơ quan hành pháp ban hành trong quá trình lập quy. Bộ pháp điển U.S.Code được chia thành 50 chủ đề khác nhau, được tổ chức một cách logíc theo lĩnh vực lập pháp như: Nghị viện, Tổng thống, nông nghiệp, thuế quan, hải quan, giao thông, thương mại, nông nghiệp, giáo dục, tài chính – tiền tệ, phá sản,…. Theo lời nói đầu của Bộ pháp điển (U.S. Code) thì từ năm 1897 đến năm 1907 đã có một ủy ban tiến hành tập hợp được khối lượng lớn các luật nhưng chưa hoàn thành công việc này. Trong những năm hai mươi của thế kỷ hai mươi, một số nghị sỹ của Quốc hội đã khôi phục lại dự án pháp điển hóa và kết quả là Quốc hội đã thông qua Bộ pháp điển vào năm 1926. Cách làm Bộ pháp điển US.Code chính là pháp điển từng chủ đề một, chính thức hóa từng phần của Bộ pháp điển theo thời gian. Hiện tại, sau 85 năm, mới chỉ có 26 trong tổng số 50 chủ đề được chính thức hóa. Những chủ đề còn lại đang tồn tại dưới dạng “luật tham khảo” trong khi đó các luật gốc vẫn tiếp tục có hiệu lực.

Bộ pháp điển các quy định của cơ quan hành chính liên bang (C.F.R): Các quy định pháp luật hiện hành được pháp điển hóa, sắp xếp theo chủ đề gồm 50 chủ đề tương tự với Bộ pháp điển các luật của liên bang (U.S Code). Mỗi quyển của Bộ pháp điển các quy định của cơ quan hành chính liên bang được chia thành chương và phần. Các chương thường mang tên của cơ quan ban hành. Số lượng tập của mỗi quyển – lĩnh vực khác nhau tùy theo khối lượng quy phạm. Tổng cộng hiện nay ứng với 50 chủ đề đã có tới 216 tập/cuốn và số lượng này sẽ còn tăng lên.

Đọc tiếp

MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN KINH TẾ TƯ NHÂN: KINH NGHIỆM TỪ ĐỨC

PHẠM ĐỨC TRUNG – Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế trung ương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Trên thế giới hiện chỉ ba nước có quy định riêng điều chỉnh tập đoàn: Đức (German Aktiengesetz – 1965), Bồ Đào Nha (“Código das Sociedades Comerciais”) và Brazil (“Lei das Sociedades Anónimas” of 1976). Trong đó Đức được coi là một trong những nền kinh tế phát triển nhất thế giới. Bài viết dưới đây được coi như gợi ý trong việc xây dựng mô hình tập đoàn kinh tế (TĐKT) tư nhân tại VN.

Hiện nay có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau, đa số quan niệm TĐKT là nhóm, tập hợp, tổ hợp các DN độc lập. Hầu hết không quy định về TĐKT với tư cách một chủ thể pháp luật. Tuy nhiên Đức và một vài nước khác là những trường hợp đặc thù.

Đức không có luật, nghị định riêng về TĐKT nhưng TĐKT – Konzern là đối tượng điều chỉnh của một số quy định trong pháp luật về tổ chức DN.

Các mô hình tổ chức

Có hai mô hình chủ đạo Unterordnungskonzern: Tập đoàn kinh tế phụ thuộc hoặc tập đoàn kinh tế theo thứ bậc và Gleichordnungkonzernen: Tập đoàn kinh tế đồng cấp hoặc tập đoàn kinh tế không phụ thuộc.

Đối với TĐKT đồng cấp, vị thế bình đẳng giữa các DN thành viên (không có DN chi phối). Các DN tự ký kết hợp đồng để hình thành sự chỉ đạo thống nhất (cho phù hợp với khái niệm TĐKT của luật). Họ cùng nhau hình thành một cơ quan lãnh đạo tập đoàn (dưới hình thức một hội đồng tham vấn hoặc tương tự). Tuy nhiên, hiện mô hình này không phổ biến và ít được pháp luật điều chỉnh.

Mô hình TĐKT phụ thuộc hoặc TĐKT theo thứ bậc hiện diễn ra phổ biến ở Đức. Theo đó các DN bị chi phối hoạt động dưới sự lãnh đạo của DN chi phối. Có ba dạng liên kết: Liên kết thâu tóm; Liên kết hợp đồng; Liên kết theo tình huống. Liên kết thâu tóm gồm: Cty bị thâu tóm vẫn là pháp nhân độc lập nhưng thực tế như một bộ phận kinh doanh của Cty nắm quyền chi phối. Quan hệ này rất gần với quan hệ hợp nhất và sáp nhập.

Đọc tiếp

CÔNG TY NẮM VỐN – HÌNH THỨC ĐỂ NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀO LĨNH VỰC BẢO HIỂM THEO LUẬT HOA KỲ

NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt. Bài viết khảo cứu cơ sở pháp lý và thực tiễn hình thành công ty nắm vốn trong lĩnh vực tài chính – công ty đầu tư tài chính ở Hoa kỳ. Mô hình công ty này cho phép định chế tài chính là ngân hàng khả năng sử dụng khả năng tài chính của chủ sở hữu để tham gia hoạt động tài chính đa dạng trong lĩnh vực bảo hiểm và chứng khoán thông qua hình thức thành lập công ty đầu tư tài chính theo Luật Gram-Leach-Billey. Công ty đầu tư tài chính được trao quyền tự chủ trong quyết định đầu tư, công ty đầu tư ngân hàng có thể chuyển đổi sang hình thức công ty đầu tư tài chính để tham gia kinh doanh bảo hiểm.

Để chuyển sang hình thức công ty đầu tư tài chính, các công ty con của nó phải đạt những tiêu chuẩn về tài chính nhất định. Khi công ty đầu tư tài chính sở hữu công ty bảo hiểm, thì công ty bảo hiểm ngoài sự chi phối của công ty đầu tư tài chính, còn chịu sự giám sát của Cục bảo hiểm của tiểu bang. Điểm mà Việt Nam có thể tham khảo là Luật hoá quyền tham gia đầu tư trong lĩnh vực tài chính của ngân hàng thương mại, và xây dựng cơ chế kiểm soát đầu tư vào hoạt động kinh doanh bảo hiểm của ngân hàng.

Năm 1999, Quốc hội Hoa Kỳ đã ban hành Luật Gramm-Leach-Bliley – Luật cải cách chế độ tài chính (Luật GLB), Luật này đã cho phép thành lập công ty nắm vốn trong lĩnh vực tài chính – công ty đầu tư tài chính (Financial holding company – FHC), theo đó

các ngân hàng, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm và các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính khác có thể hợp nhất hoặc sáp nhập vào nhau. Luật GLB được ban hành nhằm thúc đẩy sự năng động của ngân hàng thương mại và sử dụng ngân hàng thương mại là một tổ chức hỗ trợ tái thiết các công ty thuộc lĩnh vực tài chính.

Ở nước ta, gần đây các ngân hàng thương mại đã mở rộng hoạt động sang lĩnh vực kinh doanh chứng khoán và bảo hiểm. Ngâ nhàng thương mại có thể kinh doanh bảo hiểm thông qua làm đại lý bảo hiểm tại các chi nhánh ngân hàng hoặc góp vốn thành lập công ty bảo hiểm. Cơ sở pháp lý cho hình thức tham gia này là Luật kinh doanh bảo hiểm được Quốc Hội ban hành năm 2000 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Để được góp vốn vào công ty bảo hiểm, Ngân hàng thương mại phải bảo đảm các tỉ lệ an toàn trong hoạt động theo qui định của Ngân hàng Nhà nước.

Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 669 other followers

%d bloggers like this: