LUẬN GIẢI VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

HUỲNH THẾ DU – giảng viên tại Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright và hiện đang nghiên cứu sau tiến sỹ về chính sách công và phát triển đô thị tại Đại học Harvard

Bài này được viết khi tác giả đang nghiên cứu sau tiến sỹ về chính sách công và phát triển đô thị tại Đại học Harvard. Tuy nhiên, bài viết không thuộc bất kỳ dự án hay được tài trợ bởi tổ chức hay cá nhân nào (kể cả Đại học Harvard và Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright nơi tác giả vẫn đang trong biên chế). Ý tưởng viết bài này được hình thành một cách tình cờ sau khi tác giả trao đổi với GS. Nguyễn Quang Thái về một số vấn đề liên quan. Bài viết hoàn toàn thể hiện quan điểm riêng của tác giả với mục tiêu duy nhất là đóng góp vào những thảo luận đến đường hướng phát triển cho Việt Nam hiện nay.

Để có thể hoàn thành bài viết, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ của rất nhiều người. Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn GS. Nguyễn Quang Thái với những trao đổi để tôi có thể hình thành bài viết cũng như việc cung cấp một số tài liệu và đọc các bản thảo với những nhận xét và góp ý vừa bao quát, vừa rất cụ thể. Tôi xin chân thành cảm ơn GS. Trần Hữu Dũng với những góp ý và bình luận hết sức thẳng thắn và xác đáng cho những nội dung cốt lõi của bài viết qua những bản thảo khác nhau. Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Trần Ngọc Anh, TS. Vũ Thành Tự Anh, bà Phạm Chi Lan, PGS. Phạm Duy Nghĩa, ông Trần Đức Nguyên, ông Nguyễn Vạn Phú, ông Nguyễn Xuân Thành, GS. Trần Văn Thọ và một số người khác đã đọc và có những nhận xét, bình luận và góp ý hết sức quý báu cho bài viết. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn bà Phạm Chi Lan đã chuyển bản thảo đến một số người đọc và góp ý giúp tôi. Tôi xin cảm ơn ông Phạm Vũ Lửa Hạ đã giúp tôi tìm hiểu một số thuật ngữ liên quan.

Tất cả những người đã đọc các bản thảo và góp ý cho tôi đều là những chuyên gia hàng đầu trong những lĩnh vực liên quan đến các nội dung chính của bài viết. Do vậy, tôi đã có được những nhận xét, bình luận và góp ý hết sức sâu sắc từ bao quát đến cụ thể. Có những góp ý đơn giản chỉ là điều chỉnh hay thay đổi một vài câu chữ, nhưng đã làm cho các nội dung cốt lõi của bài viết nổi lên rõ ràng hơn rất nhiều. Điều này chỉ có thể đến từ những người thực sự am hiểu vấn đề. So với bản thảo đầu tiên, phiên bản này đã được bổ sung và phát triển thêm rất nhiều. Tuy nhiên, đây là một vấn lớn và liên quan đến nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng các nguồn lực  và khả năng của tác giả có hạn nên bài viết không thể phân tích hay lý giải tất cả các vấn đề được nêu ra một cách thấu đáo. Thêm vào đó, những điểm yếu, những sai sót là không thể tránh khỏi và lỗi này hoàn toàn thuộc về tác giả. Cuối cùng, bài viết chỉ là một phân tích, một tiếp cận của tác giả về một số khía cạnh trong chủ đề quan trọng này. Tác giả sẽ tiếp tục tìm hiểu và nghiên cứu thêm về những vấn đề liên quan trong khả năng và nguồn lực của mình. Với mong muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình để cùng tất cả mọi người chung tay làm rõ con đường phát triển của Việt Nam vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh, tác giả rất mong nhận được những góp ý, bình luận và trao đổi của những người quan tâm đến vấn đề này nói riêng, vì sự phát triển và thịnh vượng của Việt Nam nói chung.

Cambridge Tháng 11, 2013

Đọc tiếp

BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH, NGƯỜI CHUYỂN GIỚI TRONG TƯ PHÁP HÌNH SỰ

THS. THÁI THỊ TUYẾT DUNG & VŨ THỊ THỦY

Ngày 19/7/2010, Ủy ban Quốc tế nhân quyền người đồng tính (International Gay and Lesbian Human Rights Commission – IGLHRC)[1] được thừa nhận có tư cách tư vấn cho Hội đồng Liên hiệp quốc, đã thúc đẩy những người đồng tính (NĐT) quyết định công khai giới tính của mình với mong muốn được thừa nhận các quyền cơ bản của họ. Đối với đa số những người đang sống trên trái đất này, đây là một thông tin đáng quan tâm, nhưng với cộng đồng NĐT, đây là một cái mốc lịch sử.[2]

Ở nước ta, trong thời gian gần đây, nhiều người đã công khai việc chuyển đổi giới tính (CĐGT) cũng như thừa nhận mình là NĐT cho thấy, xã hội đã bớt cái nhìn khắt khe, đồng thời hướng đến việc tôn trọng và công nhận họ như một thành tố bình đẳng trong xã hội.

Mặc dù chưa được Nhà nước thừa nhận, thực tiễn vẫn đặt ra những vấn đề pháp lý liên quan đến việc áp dụng các quy định của luật hình sự, luật tố tụng hình sự (TTHS) và luật thi hành án hình sự liên quan đến NĐT và người chuyển giới (NCG) như hành vi xâm phạm tình dục NĐT, NCG; hành vi mua dâm, môi giới mại dâm, chứa mại dâm đồng giới; hành vi chung sống như vợ chồng với NĐT, NCG hoặc các thủ tục về khám người, thi hành các biện pháp tạm giữ, tạm giam, thi hành án phạt tù đối với những người này.

1. Một số khái niệm liên quan đến người đồng tính và người chuyển giới

Giới (gender): được sử dụng không chỉ với con người mà còn sử dụng cho động thực vật khác, chỉ giống đực (masculine) và giống cái (feminine). Ở con người, giới hàm nghĩa biểu hiện về mặt hình thức, thực thể xã hội của nam (male) và nữ (female).

Tính hoặc giới tính (sex): ngoài sự bao hàm giới còn được bổ sung về mặt tâm lý học, ý thức và ý chí tính dục (gọi chung là xu hướng tính dục). Thông thường, người ta chia giới tính ra hai đối tượng dị tính: nam/đàn ông và nữ/đàn bà.

Đọc tiếp

ỨNG DỤNG QUAN ĐIỂM HỆ THỐNG TRONG LIỆU PHÁP GIA ĐÌNH

DOÃN THỊ NGỌC

Ngày 30 và 31 tháng 6, năm 2013, Trường Đại học An Giang tổ chức Hội thảo Quốc tế về Công Tác Xã Hội và Sức Khỏe Cộng Đồng. GS Susan Newfield (trường Đại học Y) và GS Neal Newfield (trường Công Tác Xã Hội) thuộc Viện Đại học West Virginia đã trình bày về các quan điểm hệ thống trong liệu pháp gia đình, cụ thể là, những nguyên tắc cốt lõi trong liệu pháp gia đình và làm thế nào giúp các cặp vợ chồng và gia đình tăng khả năng giải quyết vấn đề.

Theo GS Susan and Neal Newfields, giga đình như những hệ thống, gồm nhiều  mối liên hệ qua lại chằng chịt về mặt huyết thống hoặc luật định, cùng chia sẻ những lợi ích, nhiệm vụ và lịch sử gia đình. Vì vậy, để áp dụng hệ thống các quan điểm vào việc giải quyết vấn đề trong gia đình đòi hỏi nhà tham vấn (NTV) phải hiểu hệ thống gia đình là một hệ thống vừa đóng vừa mở và được phân chia thành các tiểu hệ thống có những ranh giới, vai trò, thứ bậc, tầm ảnh hưởng bên trong gia đình, sự liên kết, và bị chi phối bới các luật lệ.

Để làm được điều này đòi hỏi nhà tham vấn phải nắm vững quan điểm về lý thuyết hệ thống, giao tiếp, thay đổi, truyền thông Cybernetics, vai trò, và lý thuyết phát triển để đưa ra những biện pháp can thiệp phù hợp. Các quan điểm của những trường phái trên có tính đa ngành và có thể vận dụng trong nghiên cứu, trong việc giải quyết những trường hợp cụ thể, cũng như những vấn đề xã hội khác ở lĩnh vực sinh học, tâm lý, giới và phát triển, xã hội, vật lý, hóa học v.v…

Bài viết này chỉ tập trung trình bày các quan điểm lý thuyết hệ thống (systems concepts), lý thuyết thay đổi, cụ thể là mô hình trị liệu mối quan hệ nhân quả một chiều (A > B) và mô hình mối quan hệ nhân quả vòng xoay (tác động qua lại -circular causality), lý thuyết giao tiếp, phương pháp phân tích và đánh giá gia đình bằng biểu đồ gia tộc và sinh thái, và một số qui tắc cơ bản cần ghi nhớ khi làm việc với gia đình.

Thứ nhất, các quan điểm về lý thuyết hệ thống

Hệ thống được định nghĩa là một tổng thể phức hợp gồm nhiều thành tố tương tác và phụ thuộc lẫn nhau. Quan điểm về hệ thống cung cấp cho chúng ta một khung tổ chức gồm nhiều yếu tố, bộ phận liên quan và tác động qua lại với nhau trong môi trường xã hội. Ví dụ, xét về mặt sinh học của cơ thể, khi một cơ quan nào đó bị bệnh (viêm phổi, đau tim, tiểu đường, đau răng, hay đứt tay chẳng hạn) thì bác sĩ y khoa sẽ phải xem xét tiến trình bệnh tại cơ quan đó trong mối liên hệ với cơ quan và bộ phận khác và với toàn bộ cơ thể. Như vậy, nếu có biến động từ một bộ phận thì đều tác động lên các bộ phận khác, tác động lên toàn hệ thống, và tác động theo kiểu quan hệ nhân quả xoay vòng (circular causality). Vì thế, trong liệu pháp gia đình “tổng thể quan trọng hơn bộ phận” (Whole is greater than part).

Đọc tiếp

BÀN THÊM VỀ MỐI QUAN HỆ VĂN HÓA VÀ VĂN MINH

PGS.TS. BÙI ĐÌNH PHONG

Sự phát triển của một quốc gia ở bất kỳ thời đại nào đều có dấu ấn khai sáng của văn hóa. Không phải văn minh, mà chính văn hóa mới thật sự là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội; là sức mạnh nội sinh, nguồn lực xã hội to lớn. Văn hóa thấm sâu vào quá trình phát triển, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội.

Ở phương Đông, từ “văn hóa” đã có trong đời sống ngôn ngữ khá sớm. Người sử dụng từ “văn hóa” sớm nhất có lẽ là Lưu Hướng (năm 776 tr. CN), thời Tây Hán với nghĩa như một phương thức giáo hóa con người, đối lập với vũ lực. Phương Đông bàn về văn hóa nghiêng về cái đẹp, cái giá trị (văn là vẻ đẹp, hóa là trở thành): những gì trở thành cái đẹp, cái giá trị, cái nhân bản là văn hóa. Còn từ “văn minh” được hiểu văn là cái đẹp, minh là sáng, chỉ tia sáng của đạo đức, biểu hiện ở chính trị, pháp luật, văn học, nghệ thuật.

Ở phương Tây, từ “văn hóa” xuất phát từ gốc latinh là chữ cultus animi là trồng trọt tinh thần (tiếng Anh, Pháp là culture). Theo đó, văn hóa được hiểu với hai khía cạnh: thích ứng, khai thác tự nhiên và giáo dục, đào tạo cá nhân hay cộng đồng để họ xa rời trạng thái nguyên sơ, không còn là con vật tự nhiên và có được những phẩm chất tốt đẹp. Còn từ “văn minh” có từ căn gốc la tinh là civitas  (tiếng Anh, Pháp là civilisation) với nghĩa gốc là đô thị, thành phố và các nghĩa phái sinh là thị dân, công dân. Nói chung khái niệm văn minh có nhiều cách hiểu, chẳng hạn để chỉ sự sáng tạo văn hóa hoặc theo nghĩa tổ chức xã  hội bởi các biện pháp kỹ thuật cải thiện, xếp đặt hợp lý tiện lợi cho cuộc sống của con người. Theo F.Ăngghen, văn minh là chính trị khoanh văn hóa lại và sợi dây liên kết văn minh là Nhà nước.

Tuy vậy, việc xác định và sử dụng các khái niệm văn hóa, văn minh không đơn giản. Vẫn còn sự lẫn lộn hoặc sử dụng đồng nghĩa hai thuật ngữ để chỉ toàn bộ sự sáng tạo và các tập quán tinh thần và vật chất riêng cho các tập đoàn người. Riêng thuật ngữ văn hóa, các nhà nhân loại học thế kỷ XIX sử dụng gần như khái niệm văn minh, theo đó văn hóa được hiểu theo tiêu chuẩn trí lực, có văn hóa từ trình độ thấp nhất đến cao nhất. ở thế kỷ XX, văn hóa không xét ở mức độ thấp cao mà ở góc độ khác biệt. Cũng có quan điểm cho rằng “văn hóa là một quan hệ. Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại. Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân khác”.

Đọc tiếp

ĐẠO LUẬT VÀ ĐẠO LÝ

TRẦN XUÂN HOÀI

Hiến pháp là đạo luật gốc của xã hội vì vậy khi xây dựng Hiến pháp phải lấy Đạo lý làm tiêu chí khởi thủy. Đạo lý không phải và không thể là ý chí của một người, một nhóm người, một tổ chức. Nó phải được toàn nhân loại thừa nhận. Đó là đạo lý phổ quát.

Luật pháp là chuyện trọng đại hàng đầu của một nhà nước. Chỉ riêng thuật ngữ thôi cũng đã phải cân nhắc kỹ lưỡng. Các sinh viên luật trẻ tuổi đang tranh luận kịch liệt về phân biệt thuật ngữ "luật", "bộ luật" và "đạo luật". Điều này xin dành cho các vị hàn lâm áo mão cũng như các cây đa cây đề về luật pháp trả lời cho các bạn trẻ, và cũng là để các vị tự vấn mình.
Tìm trong tiếng Việt, có hai thứ văn bản được gọi là “Đạo”. Thứ nhất là Đạo sắc phong của vua. Ví như bản hiệu “Tiết hạnh khả phong” vua ban cho bà góa trẻ thờ chồng trọn đời. Cái thứ hai là Đạo luật. Chữ “Đạo” ở cả hai trường hợp cùng một ý, có lẽ xuất phát từ chữ Đạo(*), gốc Hán-Việt là cờ tiết, biển hiệu nhà vua. Chắc các cụ nhà ta ngày xưa ghép từ gốc Hán tạo ra hai thứ văn bản có chữ Đạo này với ý cái văn bản nào được vua ban, thì gọi là đạo. Như vậy, đạo luật phải chăng là hàm ý của vua ban luật cho dân. Điều suy đoán đó có thể đúng, có thể sai. Nhưng trên thực tế thì cung cách làm luật, tư duy làm luật, cách thảo luận và thông qua luật của nước ta ngày nay vẫn mang đậm dấu ấn của việc ban cho dân cái luật. Nói khác đi, luật là để cho đối tượng bị luật điều chỉnh chấp hành, còn người thảo ra và thi hành luật đó thì không thể bị ràng buộc. Chỉ lấy một thí dụ nhỏ, luật đã soạn ra, được thông qua rồi, mà còn phải chờ thông tư, nghị định mới thi hành được là một kiểu ban luật như vậy.. Đọc văn bản luật giấy trắng mực đen rồi nhưng hiểu luật thế nào, giải thích thế nào… thì không được phép, nếu không có văn bản dưới luật của bên thực thi luật ban hành.. Chưa nói đến việc thực thi hay không, thực thi thế nào, có đúng luật hay không là hoàn toàn tùy thuộc vào bên thực thi luật, cho thế nào dân được thế ấy.
Chẳng hạn đã có phán quyết về việc người dân phạm “tội lợi dụng sơ hở của pháp luật để…”. Rõ ràng phải xử người tạo ra sơ hở của pháp luật, sao lại xử người sử dụng nó!

Đọc tiếp

MỘT SỐ XU HƯỚNG MỚI VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

THS. NGUYỄN LINH GIANG – Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Khoa học xã hội Việt Nam.

Ngày nay, quyền con người (QCN) đã được thừa nhận một cách rộng rãi và được xem là giá trị chung của toàn nhân loại. Tuy nhiên, để có được vị trí như hiện nay, QCN phải trải qua một quá trình phát triển lâu dài với biết bao thăng trầm của lịch sử. Từ những tư tưởng sơ khai đầu tiên, khái niệm về QCN đã phát triển và không ngừng được mở rộng. Từ những văn bản ghi nhận các quyền cá nhân chỉ được giới hạn trong phạm vi các quốc gia[1], QCN đã được ghi nhận trong các văn kiện mang tính quốc tế. Cùng với sự phát triển không ngừng của các ngành khoa học và quá trình toàn cầu hóa, mỗi con người đều đã trở thành “công dân toàn cầu”, thì QCN đã và đang xuất hiện các xu hướng phát triển mới, gắn liền với sự phát triển không ngừng của xã hội loài người.

1. Quyền con người và phát triển bền vững

Con người là trung tâm của mọi sự phát triển. Nếu như trước đây, người ta chỉ đặt ra vấn đề về quyền được phát triển hay phát triển dựa trên quyền, thì hiện nay vấn đề QCN và phát triển bền vững lại được nhắc đến nhiều trong các diễn đàn về QCN. Sự phát triển bền vững trên các lĩnh vực của đời sống là tiền đề cho sự phát triển về QCN, đồng thời, bảo đảm QCN cũng là tiền đề quan trọng để phát triển bền vững mọi mặt.

- QCN và phát triển bền vững về môi trường. Nếu như giai đoạn trước, người ta thường chỉ nhắc đến quyền được sống trong môi trường trong lành của con người, thì ngày nay, đứng trước các vấn đề về biến đổi khí hậu, việc bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, tiết kiệm năng lượng, quyền được tham gia vào các quyết định về môi trường… đã trở thành vấn đề thường trực hàng ngày của mỗi đất nước, mỗi cộng đồng xã hội. Đồng thời, phát triển bền vững về môi trường còn để đảm bảo quyền “công bằng giữa các thế hệ” – một quyền được nhắc đến thường xuyên trong thời gian gần đây. Đó không chỉ là quyền của những người đang sống, mà đó là quyền cho thế hệ mai sau, những người còn chưa xuất hiện trên trái đất này nhưng họ cũng có quyền được hưởng những nguồn tài nguyên không phải là vô tận của trái đất. Quyền công bằng giữa các thế hệ đặt ra vấn đề của những người đang sống hiện nay phải “cư xử” và khai thác thiên nhiên như thế nào để đảm bảo quyền công bằng với thế hệ tương lai.

Đọc tiếp

“ĐỪNG NGHĨ LÀ DÂN KHÔNG BIẾT GÌ”

Nhà văn. NGUYỄN KHẮC PHỤC

Trên diễn đàn Quốc hội vừa qua, người dân được nghe không ít đại biểu nói đến hai từ  “Kiểm soát quyền lực” và “độc lập” – hai từ không mới, đã có sẵn trong ngôn ngữ dân tộc ta từ lâu, nhưng tại diễn đàn Quốc hội, trong thời điểm hiện nay, điều đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Nói như thế, vì cơ quan quyền lực cao nhất  nước lại đặt vấn đề “kiểm soát quyền lực”, chứng tỏ sự lạm quyền, độc quyền trong nhiều lĩnh vực thời gian qua là rất nghiêm trọng và cơ chế giám sát quyền lực chúng ta đang áp dụng không hiệu quả. Không cần phải chứng minh dài dòng, chỉ riêng tình trạng tham nhũng với bao nhiêu là tuyên bố và nghị quyết mạnh mẽ vẫn như là bệnh ung thư di căn, đã là bằng chứng hiển nhiên. Việc đòi hỏi sự “độc lập” của một số tổ chức (như cơ quan chống tham nhũng, kiểm toán…) cũng chứng tỏ sự minh bạch, công bằng, tránh mọi sức ép của mọi thế lực và “lợi ích phe nhóm” của những cơ quan làm nhiệm vụ “cán cân công lý” đã bị vi phạm nghiêm trọng. Những con số “khủng” thua lỗ của các tập đoàn, việc khiếu kiện đất đai kéo dài và vượt cấp là sự thật chứng minh cơ chế – cần nói rõ hơn là cách thức tổ chức, bố trí con người làm nhiệm vụ kiểm soát quyền lực – mà chúng ta thực hiện lâu nay không thích hợp.

Như vậy, vấn đề đặt ra đã rõ như ban ngày: Phải thay đổi cơ chế “kiểm soát quyền lực”. Chúng ta đều biết, ở bất cứ chế độ nào, quyền lực nếu không được kiểm soát, ắt sẽ dẫn đến lạm quyền và tha hóa. Nhân loại, qua đấu tranh và đúc rút kinh nghiệm hàng ngàn năm, đã xây dựng “cơ chế” kiểm soát quyền lực, có thể chưa hẳn là tối ưu, nhưng đã góp phần quan trọng hạn chế, ngăn chặn sự lạm quyền. Còn chúng ta thì chắc là đang đi tìm một “cơ chế” ưu việt hơn và đang thử nghiệm, những tiếc rằng chưa thành công!

Hẳn là đã nhận thức được điều đó, đại biểu Trần Đình Nhã, Phó Chủ nhiệm ủy ban Quốc phòng  – An ninh Quốc hội, trong ý kiến phát biểu khi thảo luận về nội dung bản Hiến pháp sửa đổi, đã nói: “Đảng ta đã đặc biệt nhấn mạnh nguyên lý quyền lực phải được kiểm soát, phải dùng quyền lực để kiểm soát quyền lực. Đáng tiếc là trong dự thảo sửa đổi Híến pháp 1992 nguyên lý trên chưa được triển khai mạnh mẽ.”… Ông đề nghị Hiến pháp cần bổ sung công cụ, thiết chế độc lập giúp Quốc hội thực hiện chức năng giám sát mà thực chất là kiểm soát quyền lực.” (Theo “Tuổi trẻ” ngày 17-11).

Đọc tiếp

TÁI CẤU TRÚC NGÂN HÀNG – MỘT TRONG BA TRỤ CỘT CỦA QUÁ TRÌNH TÁI CẤU TRÚC NỀN KINH TẾ

HIẾU NGÂN

Đối với bất cứ quốc gia nào, hoạt động ngân hàng (NH) luôn là huyết mạch của nền kinh tế, sự ổn định và lành mạnh của hệ thống ngân hàng giữ vai trò trọng yếu trong việc ổn định và phát triển nền kinh tế đất nước. Ngân hàng huy động tiền nhàn rỗi trong xã hội để đáp ứng vốn cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của xã hội. Vì vậy, để đảm bảo ổn định và lành mạnh hệ thống ngân hàng thì hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của xã hội (trong đó có chi tiêu của Chính phủ và tiêu dùng của cá nhân và doanh nghiệp) cũng phải được lành mạnh hóa. Người vay tiền sử dụng đồng vốn không hiệu quả, những khó khăn đó cũng sẽ đổ dồn gánh nặng cho ngân hàng. Chính vì vậy, tái cấu trúc ngân hàng đạt hiệu quả phải gắn liền với tái cấu trúc toàn bộ nền kinh tế, trong đó đặc biệt quan tâm tái cấu trúc đầu tư công và tái cấu trúc doanh nghiệp. 

Cuộc khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu gần đây nhất (2007-2009) xuất phát từ việc cho vay “dưới chuẩn” của các NH, đặc biệt là ở Mỹ, buộc các quốc gia phải quan tâm, đánh giá lại toàn bộ hoạt động của các NH. Việc tái cấu trúc NH trở nên phổ biến và cấp thiết ở mỗi quốc gia, đảm bảo cho các NH thích nghi được với nhu cầu phát triển mới trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đầy biến động. Ở Việt Nam, khi mà thị trường chứng khoán chưa phát triển, gánh nặng về vốn còn dồn lên vai NH, thì việc giữ cho hệ thống NH ổn định và lành mạnh càng phải đặc biệt quan tâm.

Có thể nói, nền kinh tế cũng như hệ thống ngân hàng Việt Nam đã cơ bản vượt qua cơn khủng hoảng 2007-2009. Tuy nhiên, trước những biến động phức tạp thời gian gần đây của nền kinh tế thế giới, để ôn định và phát triển nền kinh tế hiệu quả và bền vững, Đảng và Nhà nước ta đã ra Nghị quyết tái cấu trúc nền kinh tế, trong đó tái cấu trúc NH, tái cấu trúc đầu tư công và tái cấu trúc doanh nghiệp Nhà nước là 3 trụ cột trong tiến trình tái cấu trúc nền kinh tế.

Cho đến nay, chúng ta đã có 5 NHTM Nhà nước (mặc dù một số NH đã được Cổ phần nhưng Nhà nước chiếm giữ cổ phần chi phối), 1 NH Chính sách xã hội, 1 nh phát triển, 37 NHTMCP, 48 chi nhánh NH nước ngoài, 5 NH liên doanh, 5 NH 100% vốn nước ngoài, 48 văn phòng đại diện NH nước ngoài, 17 công ty tài chính, 13 công ty cho thuê tài chính, 1 QTDTW với 24 chi nhánh và hơn 1000 QTDND cơ sở. Có thể nói, Việt Nam đã đa dạng hóa hình thức sở hữu và loại hình hoạt động NH, phát triển mạnh mẽ về quy mô, tạo điều kiện cho hệ thống NH huy động vốn trong và ngoài nước để đáp úng vốn cho phát triển nền kinh tế. Năm năm trở lại đây, tốc độ tăng trưởng tín dụng trung bình khoảng 33% năm, so với thế giới thì tốc độ này là cao, nguyên nhân là do thị trường chứng khoán của Việt Nam chưa phát triển, nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng chủ yếu dựa vào NH. Thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 của Chính phủ về những giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, ngành NH phải đảm bảo tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2011 xuống dưới 20%, tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 15-16%; tăng tỷ trọng cho vay nông nghiệp, nông thôn, sản xuất kinh doanh, xuất khẩu; giảm cho vay BĐS, chứng khoán. Từ đó đến nay, ngành NH cơ bản đã thực hiện tốt các yêu cầu của Chính phủ đặt ra; lạm phát đã được kiểm soát. Tuy nhiên, hệ thống NH đã bộc lộ những bất cập cần được tái cơ cấu để đáp ứng yêu cầu phát triển mới.

Đọc tiếp

BIỆN PHÁP NÀO ĐỂ NHÀ NƯỚC SỬ DỤNG ĐƯỢC SỐ VÀNG DỰ TRỮ TRONG DÂN

PHÍ ĐĂNG MINH

Trong 10 năm lại đây ( 2001 – 2010 ), đồng USD liên tục mất giá, là nguyên nhân chính làm giá vàng tăng, song mức tăng giá thực tế của vàng lớn hơn nhiều so với mức mất giá của đồng USD.

Chỉ số đồng USD trước ngày 9/11/2001 là 121,02 điểm, đến tháng 11/2010 là 75,63 điểm, tính chung tỷ giá đồng USD sau 10 năm mất giá 37,5%.

Giá vàng ở mức thấp nhất năm 2001 là 253,55 USD/oz, giá vàng cao nhất vào tháng 12/2010 là 1.430,55 U SD/oz, giá vàng sau 10 năm tăng 464,2%.

Đến ngày 24/3/2011, giá vàng giao ngay trên thị trường châu Á vẫn duy trì ở mức cao 1.437 USD/oz. Các đỉnh cao của giá vàng luôn bị phá, năm 2008 là 900 USD/oz, năm 2009 là 1.000 USD/oz, năm 2010 là 1.400 USD/oz.

Vậy nguyên nhân nào làm cho giá vàng thế giới tăng đột biến:

Đồng USD mất giá làm cho giá vàng thế giới tăng, vấn đề này đều được các nhà nghiên cứu xác nhận. Tuy vậy, xung quanh việc giá vàng tăng mạnh so với tốc độ mất giá của đồng USD còn có nhiều ý kiến khác nhau.

Theo ý kiến của các chuyên gia Hội đồng vàng thế giới, nguyên nhân giá vàng tăng mạnh trong thời gian qua là do nhu cầu vàng của các nước tăng đột biến.

Hiện nay, tổng số vàng vật chất trên toàn thế giới quãng 163.000 tấn. Nhu cầu vàng của các nước trên thế giới năm 2010 lên đến 3.812,2 tấn, có giá trị tương đương 150 tỷ USD, tăng 9% so với năm 2009. Cụ thể nhu cầu vàng cho ngành kim hoàn là 2.060 tấn, tăng 17% so với năm 2009. Nhu cầu vàng cho ngành công nghiệp là 419,6 tấn, tăng 12,4%. Nhu cầu vàng cho đầu tư là 1,333 tấn đạt mức cao thứ hai trong lịch sử, mức cao kỷ lục là 1.360 tấn trong năm 2009. Trong khi đó sản lượng khai thác vàng của thế giới chỉ khoảng 2.600 tấn/năm, thấp hơn nhiều so với nhu cầu vàng. Nhu cầu của các nước tăng mạnh còn do ảnh hưởng của sự phục hồi kinh tế toàn cầu chậm chạp, sức ép lạm phát cao và tình hình chính trị thế giới thiếu ổn định.

Đọc tiếp

TRIỂN VỌNG MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA VIỆT NAM NĂM 2012 – DƯỚI GÓC NHÌN CỦA NGÂN HÀNG THẾ GIỚI

NGÔ THỊ THU TRÀ & PHAN NGỌC THẮNG – Vụ Dự báo, thống kê tiền tệ – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế – xã hội có nhiều khó khăn, phức tạp do tác động bất lợi từ kinh tế thế giới và những hạn chế từ nội tại, trong những năm qua, Chính phủ, các Bộ, ngành và các địa phương đều nỗ lực đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính bao gồm cả thể chế, tổ chức bộ máy, thủ tục hành chính, tài chính công.

Tuy nhiên, theo đánh giá của Chính phủ, mặc dù đạt được một số kết quả, song, công tác cải cách vẫn chưa đáp ứng yêu cầu. Nhiều thủ tục hành chính còn phức tạp, gây phiền phức cho người dân và doanh nghiệp; bộ máy còn chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, chế độ trách nhiệm chưa rõ ràng; bất hợp lý và chậm được điều chỉnh, khắc phục cả ở Trung ương và địa phương (Thông báo số  27/TB-VPCP ngày 30/1/2012 v/v thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị triển khai công tác ngành Nội vụ 2012 và chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020 – http://www.chinhphu.vn)  

Mới đây, Ngân hàng Thế giới (WB) đã công bố Báo cáo Đánh giá xếp hạng môi trường kinh doanh 2012 (Doing business 2012 – Doing Business in a more transparent World). Theo kết quả đánh giá tại Báo cáo này, vị trí xếp hạng môi trường kinh doanh của Việt Nam đã bị tụt 8 bậc, từ vị trí 90 xuống vị trí 98 trên tổng số 183 quốc gia (nền kinh tế) được xếp hạng bởi Ngân hàng Thế giới. 

Bài viết này phân tích một số nguyên nhân làm cho môi trường kinh doanh của Việt Nam bị tụt hạng so với năm trước theo đánh giá của WB  và nêu ra một số khuyến nghị nhằm hướng tới cải thiện môi trường kinh doanh của Việt Nam.

Mục tiêu và nội dung chính của Báo cáo xếp hạng môi trường kinh doanh (Doing Business) của Ngân hàng Thế giới                                               

Doing Business của Ngân hàng Thế giới là Báo cáo kết quả điều tra, khảo sát của một nhóm chuyên gia WB được thực hiện hàng năm về các quy định của các nước có tác dụng thúc đẩy hoặc kiềm chế hoạt động kinh doanh tại nước đó. Báo cáo đưa ra các chỉ tiêu định lượng nhằm đánh giá các vấn đề cụ thể được cho là quan trọng nhất trong việc hình thành và tạo thuận lợi cho môi trường kinh doanh của một nước trên cơ sở tính điểm và so sánh trong mối tương quan giữa 183 quốc gia (nền kinh tế) được khảo sát, từ Afghanistan đến Zimbabwe qua thời gian. Trên cơ sở đó, tổng hợp thành mức xếp hạng cho từng lĩnh vực riêng lẻ và mức xếp hạng tổng hợp cho từng nước.  Chỉ số chung được tổng hợp từ các chỉ số đánh giá riêng lẻ phản ánh các chính sách qui định về kinh doanh và vấn đề bảo hộ quyền sở hữu tài sản được so sánh 183 quốc gia qua thời gian, phản ánh cụ thể qua 10 lĩnh vực sau:

Đọc tiếp

ĐÔI ĐIỀU VỀ NGUYÊN NHÂN CỦA TÌNH HÌNH LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM

food-inflation3NGUYỄN TẤN DŨNG – Hai Bà Trưng, Quận 3, Thành phố Hồ Chí MInh

Thế giới đã và đang tiếp tục chứng kiến các cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính trên quy mô rộng hơn. Khủng hoảng ít nhiều đã tác động đến nền kinh tế-tài chính của mỗi nước, cũng như ảnh hưởng đến đời sống kinh tế của mỗi người dân trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam. Bài viết này không nhằm tìm hiểu về cuộc khủng hoảng đó, mà nhằm nhìn nhận lại nguyên nhân tình hình lạm pháp đã và vẫn còn diễn ra ở Việt Nam.

Lạm phát là một trong những vấn đề chính yếu của các quốc gia phát triển cũng như là các quốc gia đang phát triển, nó tồn tại tất yếu trong một nền kinh tế thị trường. Trong nhiều năm qua, kinh tế Việt Nam đã và đang diễn ra lạm phát dù không thực sự quá tầm trọng nhưng cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến chính sách kinh tế của Nhà nước, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và cả đời sống của người dân.

Lạm phát là sự mất sức mua của một đơn vị tiền tệ trong một khoảng thời gian nhất định, và thường được diễn tả như là sự gia tăng chung trong giá cả của hàng hóa và dịch vụ. Như vậy, có thể thấy rằng, đầu tiên lạm phát là do căn bệnh của tiền tệ, “lạm phát, mãi mãi và ở khắp mọi nơi đều là một vấn đề tiền tệ”- (Milton Friedman). Tình hình lạm phát ở Việt Nam trong những năm qua cũng không nằm ngoài nguyên nhân là từ căn bệnh tiền tệ đó. Vì sao lạm phát lại luôn có xu hướng tăng cao? Tình hình lạm phát này nếu không phải là do căn bệnh tiền tệ thì là từ đâu?

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã phải phát hành một lượng tiền đồng Việt Nam rất lớn để trả lương tăng lên khi mức lương cơ bản tăng. Lượng tiền này sẽ đi đâu nếu không được chi tiêu và “đổ” vào thị trường? điều đó phần nào đã làm mất sức mua của tiền đồng Việt Nam. Vì rằng, khi có nhiều tiền hơn, người dân sẽ tăng việc chi tiêu, mua sắm, từ đó làm tăng mức cầu đối với hàng hóa và dịch vụ (tổng cầu) do đó sẽ “kéo” giá cả lên, nhất là khi “tổng cung” bị hạn chế do chưa tăng việc sản xuất kịp so với “tổng cầu”. Đồng thời với đó, Nhà nước lại vì quá chú trọng đến việc hạn chế nhập khẩu cũng như là hạn chế việc tiêu dùng các hàng hóa có thể gọi là “sa sỉ”, điển hình như ô tô, nên nhà nước đã tăng mức thuế suất đối với các mặt hàng đó, bên cạnh là điều chỉnh mức thuế suất thuế thu nhập doanh ngiệp, điều này phần nào cũng góp phần là nguyên nhân của lạm phát, “khi vượt một điểm nào đó, chính việc đánh thuế là nguyên nhân của lạm phát” (Keynes).

Đọc tiếp

GIẢI PHÁP CHO “CĂN BỆNH” ĐỘC QUYỀN TẠI VIỆT NAM

 NGUYỄN TẤN DŨNG – Hai Bà Trưng, Quận 3, Thành phố Hồ Chí MInh

Thị trường là nơi mọi người gặp gỡ, với một bên là những người bán, cung cấp, điều hòa các hàng hóa dịch vụ và bên kia là những người mua, đảm bảo nhu cầu tiêu thụ ổn định, nhờ đó đã duy trì được cho nhà sản xuất và thị trường hoạt động. Cạnh tranh là một quy luật, là kết quả của nền kinh tế thị trường tự do gồm có nhiều doanh nghiệp của nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại để tranh dành cùng một lợi ích, mong mở rộng thị phần của mình trên một thị trường liên quan. Cạnh tranh là động lực của cải tiến và phát triển.

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà có sự tồn tại sự độc quyền, cũng như một số công ty độc quyền trong nền kinh tế thị trường, đó có thể là do, doanh nghiệp được nhà nước bảo hộ độc quyền về bí quyết kinh doanh, bằng sáng chế, hay là do doanh nghiệp kiểm soát được toàn bộ nguồn cung cấp các nguyên liệu để chế tạo ra một sản phẩm nào đó, hay cũng có thể là doanh nghiệp độc quyền là nhờ vào các quy định của pháp luật-doanh nghiệp được Chính phủ bảo hộ độc quyền. Cái giá mà xã hội phải trả cho độc quyền tồn tại là không nhỏ, các doanh nghiệp độc quyền thường đưa đến kết quả là mức giá cả cao hơn, số lượng sản xuất ra thấp hơn, làm cho người tiêu thụ sa sút hơn và doanh nghiệp độc quyền khấm khá hơn.

Tuy nhiên, sự tồn tại của độc quyền là không thể tránh khỏi, chúng ta nên bảo hộ và khuyến khích các doanh nghiệp độc quyền nhờ vào những phát minh, sáng chế mới làm phát triển khoa học kỹ thuật và tăng năng suất lao động. Nhưng bên cạnh đó chúng ta cũng nên đặt dấu hỏi đối với các doanh nghiệp độc quyền nhờ vào sự bảo hộ của Chính phủ hay là sự độc quyền từ sự kiểm soát nguyên liệu đầu vào của việc sản xuất. Nhất là câu hỏi cho sự độc quyền của các công ty nhà nước.

Như đã biết, các công ty nhà nước thường không có động lực tìm kiếm lợi nhuận, chúng thiếu sự khích lệ mà những công ty ngoài quốc doanh thường có và phải có để sản xuất ra hàng hóa, dịch vụ mà những người tiêu thụ mong muốn và làm điều đó với mức chi phí thấp, để đạt một giá cả hợp lý. Một vấn đề nữa là các công ty nhà nước thường cung cấp các sản phẩm và dịch vụ mà không có trách nhiệm trực tiếp với người tiêu thụ. Kết quả của điều này là sự phân phối tài nguyên không cân xứng. Các công ty nhà nước có khuynh hướng đáp ứng cho áp lực về chính trị hơn là cho thương mại. Việc thiếu áp lực về hiệu quả kinh tế trong công ty nhà nước thường sẽ dẫn đến kiềm chế sự đổi mới và phát triển của các sản phẩm và dịch vụ mà nó cung ứng.

Đọc tiếp

VIỆT NAM CẦN THOÁT KHỎI NỀN KINH TẾ PHI THỊ TRƯỜNG

NGUYỄN TẤN DŨNG – Hai Bà Trưng, Quận 3, Thành phố Hồ Chí MInh

“Việt Nam chấp nhận là nền kinh tế “phi thị trường” khi gia nhập WTO”. Đây là một cam kết mà Việt Nam đã chấp nhận khi gia nhập Tổ chức thương mại lớn nhất thế giới vào năm 2007”.

Công cuộc đổi mới và từng bước hội nhập của Việt Nam đã thu được những thành tựu đáng kể và khích lệ. Việt Nam đã từng bước hội nhập, là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế và khu vực. Là thành viên thứ 150, là nước đang và chậm phát triển nên khi gia nhập WTO nên được các ưu đãi của WTO khi gia nhập.

Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam vẫn chưa là nền kinh tế thị trường. Nó chưa tuân thủ hay đáp ứng đầy đủ các tiêu chí cơ bản của nền kinh tế thị trường, là một nền kinh tế tự do, với cạnh tranh công bằng, cung cầu… Điều này được minh chứng trong cam kết chính về đa phương sau khi Viêt Nam gia nhập WTO: “Việt Nam chấp nhận bị coi là nền kinh tế phi thị trường trong 12 năm, tức là không muộn hơn ngày 31/12/2018”. Tuy nhiên, trước thời điểm trên, nếu Việt Nam chứng minh được với đối tác nào là nền kinh tế Việt Nam hoàn toàn hoạt động theo cơ chế thị trường thì đối tác đó ngừng áp dụng chế độ phi thị trường đối với Việt Nam. Cam kết này là một ưu đãi lớn nhưng đồng thời cho thấy Viêt Nam đang ở đâu trong thế giới đa phương? và nền kinh tế Việt nam đã đạt được gì và ở đâu ở hiện tại.

Kinh tế thị trường là nền kinh tế mà lợi nhuận, tự do, tồn tại và diệt vong, bình đẳng và cạnh tranh, phát triển và bất ổn, cung và cầu…là những quy luật, những đặc tính cơ bản. Nhưng thử hỏi, tại sao Việt Nam lại chấp nhận là nền kinh tế “phi thị trường”, có phải Việt Nam chưa có nền kinh tế thị trường? tại sao lại như vậy trong gần 25 năm đổi mới? Có phải nhà nước quản lý quá sâu và quá nhiều vào nền kinh tế, kinh tế bị “bàn tay hữu hình bóp quá chặt”?

Để chuyển đổi cơ chế kinh tế từ tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường, thì 3 yếu tố cơ bản thường thấy là: Sự ổn định, tự do hoá và tư nhân hoá.

Đọc tiếp

NHU CẦU SỬA ĐỔI QUY ĐỊNH CỦA HIẾN PHÁP NĂM 1992 VỀ SỞ HỮU TOÀN DÂN

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA – Trưởng Khoa Luật, ĐHKT TPHCM

I. Tổng quan về sở hữu toàn dân

Hiếm có quốc gia nào trên thế giới này mất công phân loại ra vô số loại hình sở hữu và ghi nhận chúng trong một bản Hiến pháp như ở nước ta. Về cơ bản, tư hữu là một quyền thiêng liêng, một nhân quyền cơ bản, là người ai cũng mặc nhiên được hưởng, nhà nước cam kết bảo vệ nhân quyền, tức là trước hết bảo vệ là các quyền tư hữu về tư liệu sản xuất. Vì lẽ đó, các quyền này thường không xuất hiện trong một bản hiến văn nếu được hiểu là một khế ước cương tỏa quyền lực của chính quyền. Sở hữu tư của cá nhân, của một công ty hay của một quốc gia đều có tính loại trừ có thể so sánh được với nhau. Sự phân biệt sở hữu theo loại hình chủ thể là một việc làm ít ý nghĩa về pháp lý và ít mang tính khái quát. Có thể tuân theo tư duy như vậy, xét về chế độ sở hữu, bản HP 1946 duy nhất chỉ có một Điều 12 quy định “quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm”.

Khái niệm sở hữu toàn dân đã xuất hiện như một sản phẩm của ý thức hệ, của triết học và kinh tế chính trị học hơn là từ truyền thống cổ điển của dân luật. Xóa bỏ tư hữu, những người ta cho rằng cần tạo ra một nền tảng sở hữu xã hội mới về các tư liệu sản xuất, đối lập với quan niệm về sở hữu của chủ nghĩa tư bản, một hệ thống quan hệ sở hữu XHCN được xây dựng, nền tảng của nó là sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu cá nhân về các vật dụng có tính chất tiêu dùng.

Khái niệm sở hữu toàn dân có vẻ đã được du nạp chính thức vào Việt nam từ Hiến pháp 1959, tuy nhiên sự ghi nhận chưa thật chắc chắn. Điều 11 HP 1959 ghi nhận: “Ở nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong thời kỳ quá độ, các hình thức sở hữu chủ yếu về tư liệu sản xuất hiện nay là: hình thức sở hữu của nhà nước tức là của toàn dân, hình thức sở hữu của hợp tác xã tức là hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động, hình thức sở hữu của người lao động riêng lẻ và hình thức sở hữu của nhà tư sản dân tộc”. Điều này chỉ liệt kê, không định nghĩa các loại sở hữu, trong đó khái niệm sở hữu của nhà nước được định nghĩa tức là của toàn dân. Điều 12 của bản Hiến pháp 1959 bắt đầu tuyên bố kinh tế quốc doanh, hầm mỏ, sông ngòi, rừng cây, đất hoang, tài nguyên khác mà pháp luật quy định của nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân.

Cho đến HP 1980, dường như tư tưởng XHCN về cách mạng về quan hệ sản xuất đã được thể hiện thành đường lối công khai trong Hiến pháp, phạm vi của sở hữu toàn dân đã được nới rộng ra tất cả các nguồn tài nguyên kinh tế quan trọng của quốc gia, xem §19 HP 1980.

Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 656 other followers

%d bloggers like this: