BẢO VỆ QUYỀN DÂN SỰ THÔNG QUA CƠ QUAN CÓ THẨM QUYỀN

PGS.TS. NGUYỄN QUỐC SỬU – Học viện Hành chính Quốc gia

 
BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015
Điều 1. Bảo vệ quyền dân sự thông qua cơ quan có thẩm quyền

1. Tòa án, cơ quan có thẩm quyền khác có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân.

Trường hợp quyền dân sự bị xâm phạm hoặc có tranh chấp thì việc bảo vệ quyền được thực hiện theo pháp luật tố tụng tại Tòa án hoặc trọng tài.

Việc bảo vệ quyền dân sự theo thủ tục hành chính được thực hiện trong trường hợp luật quy định. Quyết định giải quyết vụ việc theo thủ tục hành chính có thể được xem xét lại tại Tòa án.

2. Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng; trong trường hợp này, quy định tại Điều 5 và Điều 6 của Bộ luật này được áp dụng.

Điều 2. Hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền

Khi giải quyết yêu cầu bảo vệ quyền dân sự, Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền.

Trường hợp quyết định cá biệt bị hủy thì quyền dân sự bị xâm phạm được khôi phục và có thể được bảo vệ bằng các phương thức quy định tại Điều 11 của Bộ luật này.

CIVILLAWINFOR – Cập nhật

Trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong bảo vệ quyền dân sự là một trong mười vấn đề trọng tâm cần lấy ý kiến nhân dân theo Quyết định số 01/QĐ-TTg ngày 02-01-2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân đối với Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi).

Nội dung trên được quy định trong Dự thảo lần 4, tại “Điều 19. Bảo vệ quyền dân sự thông qua cơ quan có thẩm quyền”. Tiền đề của quy định này là Điều 9 trong Bộ luật Dân sự năm 2005; song quy định tại đó có tính nguyên tắc không đặt ra trách nhiệm cụ thể của cơ quan có thẩm quyền trong trường hợp quyền dân sự của cá nhân, tổ chức bị xâm phạm, bị tranh chấp.

Một yếu tố khác, Khoản 2 Điều 19 Dự thảo lần 4 quy định tòa án không được từ chối yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có luật quy định. Trong trường hợp này, tập quán, áp dụng tương tự pháp luật, án lệ và lẽ công bằng là các phương thức được dùng để giải quyết. Một quy định mới luôn kèm theo những phản hồi mới, từ đối tượng điều chỉnh lẫn những người thi hành pháp luật.

Đọc tiếp

KHÁI NIỆM VỀ HỘI TRONG PHÁP LUẬT CỘNG HÒA PHÁP VÀ GÓP Ý HOÀN THIỆN KHÁI NIỆM VỀ HỘI CỦA VIỆT NAM

TS. NGUYỄN VĂN QUÂN – Học viện Khoa học xã hội

HIẾN PHÁP NĂM 2013:

“Điều 25 

Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.”

BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015:

“Điều 2. Công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự

1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền dân sự được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.

2. Quyền dân sự chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.”

“Điều 74. Pháp nhân

2. Mọi cá nhân, pháp nhân đều có quyền thành lập pháp nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác.”

“Điều 76. Pháp nhân phi thương mại

1. Pháp nhân phi thương mại là pháp nhân không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận; nếu có lợi nhuận thì cũng không được phân chia cho các thành viên.

2. Pháp nhân phi thương mại bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, doanh nghiệp xã hội và các tổ chức phi thương mại khác.

3. Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân phi thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, các luật về tổ chức bộ máy nhà nước và quy định khác của pháp luật có liên quan.”

“Điều 82. Thành lập, đăng ký pháp nhân

1. Pháp nhân được thành lập theo sáng kiến của cá nhân, pháp nhân hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Đăng ký pháp nhân bao gồm đăng ký thành lập, đăng ký thay đổi và đăng ký khác theo quy định của pháp luật.

3. Việc đăng ký pháp nhân phải được công bố công khai.”
“Điều 101. Chủ thể trong quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân

1. Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Khi có sự thay đổi người đại diện thì phải thông báo cho bên tham gia quan hệ dân sự biết.”.

CIVILLAWINFOR (Cập nhật, không có mục đích phản biện tác giả)

Việc tìm hiểu, nghiên cứu về tự do hiệp hội ở các quốc gia khác là nhằm góp phần xây dựng một hệ thống pháp luật về tự do hiệp hội phù hợp với yêu cầu thực tế và các chuẩn mực quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã cam kết. Pháp là một trong những quốc gia có luật về hội sớm nhất (1901) và có sinh hoạt hội đoàn sôi động, với hơn 1,3 triệu hội đang hoạt động, ngân sách hoạt động 70 tỉ euros. Bài viết giới thiệu về khái niệm hội theo pháp luật của Pháp, từ đó đưa ra một số đề xuất góp phần hoàn thiện pháp luật về hội của Việt Nam.

1. Khuôn khổ pháp lý của quyền về hội tại Pháp

1.1 Tự do về hội trong luật của Pháp

Hiến pháp hiện hành của Pháp không có điều khoản về lập hội. Tuyên ngôn nhân quyền 1789 cũng không nhắc tới, nhưng quyền lập hội được xem như một nguyên tắc căn bản có giá trị hiến định thông qua các phán quyết của Tham chính viện (Conseil d’Etat) và Hội đồng bảo hiến (Conseil constitutionnel).

Đọc tiếp

MẤY CÂU HỎI GỬI CÁC ĐẠI BIỂU ỦNG HỘ LẬP “KHU NHẠY CẢM”

NGUYỄN ANH ĐỨC – Sinh viên Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trước luồng quan điểm ủng hộ có khá nhiều “ý” được đưa ra trong khi những quan điểm phản bác chỉ xoay quanh yếu tố đạo đức, thuần phong mĩ tục (vốn không thể thuyết phục). Tôi xin nêu ra một số quan điểm phân tích từ khía cạnh pháp lý như sau [1]:

– Thứ nhất, nếu nói rằng: "Ở ta không muốn công nhận, không thích công nhận nhưng thực tế lan tràn khắp nơi và bất lực không thể ngăn chặn được, hiện trạng ngày càng tăng". Với cách lập luận như vậy, chúng ta buộc phải liên tưởng đến những “thực trạng xã hội đang lan tràn khắp nơi” và “thuộc về bản chất của xã hội” như ma túy, buôn lậu, giết người, tham nhũng – lãng phí, chạy chức quyền, nhẹ hơn là học gạo – học vì điểm, cũng đang hoành hành và chưa có biện pháp giải quyết phù hợp ở Việt Nam. Điều đó, theo cách suy nghĩ của các đại biểu ủng hộ lập khu nhạy cảm, thì cũng nên và cần phải lập những “khu” riêng dành cho các hoạt động đã nêu trên. Lúc đó ta sẽ có phố buôn lậu, phố làm hàng giả – nhái, phố dành riêng cho các cán bộ tham nhũng, nhận hối lộ,…..Đây là áp dụng nguyên tắc bình đẳng cho “các hiện tượng xã hội thực tế”.

– Thứ hai, cho rằng: "Những người trực tiếp hành nghề không được bảo vệ, bị các ma cô, đầu gấu bắt nạt, ức hiếp, không được bảo vệ sức khoẻ từ đó ảnh hưởng sức khoẻ cộng đồng vì không có giám sát". Ở đây cần đặt ra câu hỏi: Sau khi lập khu thì những người được gọi là “ma cô”, “đầu gấu” sẽ trở thành thất nghiệp được chăng?, "hợp pháp" – một ngôn từ mĩ miều được dùng để dành cho lợi ích của các cô gái hay cho "ma cô, đầu gấu" thành "nhân viên kinh doanh"? Và bảo vệ sức khỏe của các cô gái hành nghề sẽ được thực hiện đến đâu, khi xét về mặt sinh lý, đã qua hết cái thời “đỉnh cao phong độ” lúc mới còn ở tuổi “ba mươi mấy”. Điều chắc chắn là ngành nghề nào cũng có “hạn sử dụng”, và có thể lập luận rằng sau khi nghỉ lao động thì phải được hưởng các trợ cấp xã hội, như bảo hiểm chẳng hạn. Nhưng câu chuyện sẽ khác giữa những lao động cống hiến đến năm 55, 60 tuổi với những lao động chỉ có thể cống hiến (bằng nghề chính) đến những năm ở tuổi đời chưa tròn bốn mươi chứ?

Đọc tiếp

KINH NGHIỆM HẬU CHIẾN CHO VIỆT NAM: CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CỦA TÂY ĐỨC SAU NĂM 1945

 TÔN THẤT THÔNG – CHLB ĐỨC

Tây Đức năm 1945 và Việt Nam năm 1975 khác biệt rất lớn trên nhiều mặt, nhưng đồng thời cũng có những điểm tương đồng mà người làm chính sách có thể căn cứ vào đó để tham khảo kinh nghiệm và vận dụng cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của đất nước. Tham luận này không đưa ra những đề nghị cụ thể, mà chỉ trình bày một cách tổng quát lịch sử phát triển Tây Đức trong 10 năm hậu chiến từ 1945-1955. Có ba vấn đề lý thú mà chúng ta có thể nghiên cứu thêm: 1) chính sách kinh tế hậu chiến, 2) chính sách dùng người với tinh thần hòa giải dân tộc, 3) chọn thế đứng chính trị và phương pháp đấu tranh. Trong giới hạn cho phép, phần trình bày sau đây đặt trọng điểm vào kinh tế hậu chiến. Đấy là chính sách Kinh tế Thị trường Xã hội. Trước hết chúng ta đi tìm nguồn gốc của lý thuyết Tự do trong Trật tự được trường phái Freiburg khai phá, sau đó tóm tắt những luận đề cơ bản của của chính sách kinh tế lấy lý thuyết đó làm nền tảng. Khi chiến tranh chấm dứt, Alfred Müller-Armack đã dựa vào nền tảng lý thuyết đó, bổ sung thêm bằng những nhân tố xã hội và phác hoạ khung trật tự kinh tế cũng như một loạt chính sách kinh tế xã hội cho chính phủ Cộng hòa Liên bang (CHLB) Đức. Sự thành công của CHLB Đức cho đến hôm nay gắn liền mật thiết với chính sách Kinh tế Thị trường Xã hội với bốn khuôn mặt tiêu biểu: lý thuyết gia kinh tế Walter Eucken, luật gia Franz Böhm, chiến lược gia kinh tế Alfred Müller-Armack và chính trị gia có viễn kiến Ludwig Erhard. * Tham luận trình bày tại Hội thảo Berlin tháng 7 năm 2015 thời đại mới TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU & THẢO LUẬN Số 34 tháng 11, 2015 Tôn Thất Thông | Chính sách phát triển Tây Đức 2 Thời Đại Mới | Tháng11, 2015 Sau cùng chúng ta sẽ duyệt lại những sự kiện kinh tế quan trọng trong những năm hậu chiến đầu tiên và thử phân tích xem đâu là yếu tố quan trọng đã đưa kinh tế nước Đức vượt qua cả những nước đồng minh thắng trận chiếm đóng.

***

Không ít người cho rằng lấy kinh nghiệm Tây Đức để áp dụng cho Việt Nam là một việc làm ảo tưởng vì sự khác nhau và chênh lệch về mọi mặt giữa hai nước quá lớn. Tuy thế có hai khía cạnh đáng chú ý:

Đọc tiếp

TRUNG QUỐC VÀ HỆ THỐNG THƯƠNG MẠI ĐA PHƯƠNG –LỢI THẾ VÀ XUNG ĐỘT

ĐỖ TUYẾT KHANH

Sức mạnh kinh tế khổng lồ của Trung Quốc ngày nay hiển nhiên và cũng hiển nhiên không kém là Trung Quốc đã xây dựng được thế lực ấy nhờ thương mại, đặc biệt từ sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cuối năm 2001. Trong 12 năm qua, Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng ngay cả lúc kinh tế thế giới suy thoái, lần lượt qua mặt các cường quốc thương mại truyền thống như Nhật Bản và Đức, và nhất là mỗi lúc một nhanh hơn các tiên đoán.

Năm 2001, Trung Quốc là nền kinh tế thứ 6 trên thế giới, đồng hạng với Ý. Chỉ tám năm sau, năm 2009, Trung Quốc là nước xuất khẩu lớn nhất thế giới và chiếm hạng nhì về nhập khẩu. Năm 2012, với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu non 3 870 tỉ đô la Mỹ (USD), Trung Quốc đứng hạng nhì nhưng chỉ thua 10 tỉ so với con số 3 880 tỉ USD của Mỹ. Tháng 3 năm nay, thống kê sơ khởi của WTO xác định tuyên bố của Trung Quốc là đã vượt qua Mỹ để trở thành cường quốc thương mại hàng đầu, với 4 160 tỉ USD xuất nhập khẩu trong năm 2013, trong đó xuất khẩu đạt 2 210 tỉ USD và nhập khẩu 1 950 tỉ USD. Ấn tượng hơn cả, ngày 1 tháng 5 vừa qua, Ngân hàng Thế giới dự đoán trên cơ sở ngang giá sức mua (purchasing power parity –PPP) Trung Quốc sẽ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới ngay trong năm nay, chứ không phải từ đây đến 2020 như theo các dự phóng trước đây, hạ bệ Mỹ khỏi vị trí độc tôn đã chiếm ngự trong gần 140 năm, từ 1872. Tất nhiên, tính theo GDP, Trung Quốc đứng hạng nhì (nếu không tính Liên hiệp châu Âu như một khối) nhưng còn rất xa Mỹ : theo thống kê của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho năm 2014, GDP của Trung Quốc (9 761 tỉ USD) chỉ hơn một nửa GDP của Mỹ (17 438 tỉ USD). So sánh GDP trên đầu người theo thống kê của IMF cho năm 2013, khoảng cách giữa Trung Quốc (6 747 USD) và Mỹ (53 101 USD) càng xa vời hơn nữa. Song, với đà phát triển như cho tới nay, viễn tượng Trung Quốc đứng đầu toàn thế giới về kinh tế ngày càng gần với hiện thực.

Đọc tiếp

VIỆT NAM 40 NĂM QUA VÀ NHỮNG NĂM TỚI: CẦN MỘT NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

TRẦN VĂN THỌ

Đổi mới đã đưa Việt Nam thoát khỏi bẫy nghèo và trở thành nước có thu nhập trung bình thấp. Nhưng so với tiềm năng, kể cả những thời cơ thuận lợi bị bỏ lỡ và so với kinh nghiệm của các nước Đông Á thì tốc độ phát triển của Việt Nam thấp và kém hiệu suất. Ngoài ra nền kinh tế hiện nay có những yếu kém như sức cạnh tranh của nền công nghiệp yếu, mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa còn rất xa, ngày càng dựa vào FDI và phụ thuộc nhiều vào kinh tế Trung Quốc.

Các nước Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc đã phát triển nhanh đưa nền kinh tế lên giai đoạn cao trong thời gian ngắn là nhờ khát vọng của lãnh đạo, của quan chức muốn đưa đất nước theo kịp các nước tiên tiến, từ đó chủ nghĩa phát triển và tinh thần dân tộc được đề cao, người tài được trọng dụng, tinh thần doanh nghiệp được phát huy. Doanh nghiệp tư nhân là động lực đưa nền kinh tế phát triển.

Hiện nay Việt nam trực diện ba thách thức lớn. Thứ nhất là nguy cơ chưa giàu đã già. Cơ cấu dân số vàng sắp qua đi, giai đoạn lão hóa dân số sẽ đến gần kề mà thu nhập đầu người còn rất thấp. Thứ hai là nguy cơ có sự phân hóa nền kinh tế thành hai khu vực FDI và tư bản trong nước vì ngày càng phụ thuộc vào FDI nhưng khu vực nầy ít bám rễ vào nền kinh tế quốc dân. Thứ ba là nguy cơ mắc vào bẫy thu nhập trung bình thấp (bẫy thu nhập trung bình đến sớm khi thu nhập đầu người còn thấp) vì tham nhũng và sự thao túng của các nhóm lợi ích làm méo mó thị trường vốn, thị trường đất, v.v… đưa đến sự phân bổ và sử dụng kém hiệu suất của các nguồn lực.

Kết quả phân tích ở trên đã gợi nhiều ý khi bàn về phương châm, chiến lược, chính sách cần thiết trong tương lai trung và dài hạn của Việt Nam. Theo tôi, xuất phát quan trọng nhất, có tính cách quyết định là khát vọng, khí khái của những người lãnh đạo trong giai đoạn sắp tới. Nếu lãnh đạo có lòng tự hào dân tộc, quyết đưa Việt Nam từng bước trở thành quốc gia thượng đẳng, xứng đáng với lịch sử, văn hóa và quy mô dân số sẽ bức xúc với thực trạng đang xuất khẩu lao động, đang tiếp tục nhận viện trợ, bức xúc với sự yếu kém của tư bản dân tộc và phụ thuộc vào kinh tế Trung Quốc. Giải phóng ra khỏi những ý thức hệ giáo điều và đề cao chủ nghĩa phát triển sẽ có những quyết sách, chiến lược phát triển đúng đắn.

Mũi đột phá trước mắt là làm cuộc cách mạng hành chánh mà nội dung chính là tinh giản bộ máy, quy củ hóa việc đề bạt, đánh giá cán bộ, cải cách tiền lương, và thi tuyển quan chức. Tránh được bẫy thu nhập trung bình thấp, phát huy tinh thần doanh nghiệp để hình thành tư bản dân tộc, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, mở đầu kỷ nguyên phát triển nhanh và bền vững đều tùy thuộc sự thành công của cuộc cách mạng hành chánh này.

ĐỌC TOÀN VĂN BÀI VIẾT TẠI ĐÂY

SOURCE: TẠP CHÍ THỜI ĐẠI SỐ 33, THÁNG 7/3015

LUẬN GIẢI VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

HUỲNH THẾ DU – giảng viên tại Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright và hiện đang nghiên cứu sau tiến sỹ về chính sách công và phát triển đô thị tại Đại học Harvard

Bài này được viết khi tác giả đang nghiên cứu sau tiến sỹ về chính sách công và phát triển đô thị tại Đại học Harvard. Tuy nhiên, bài viết không thuộc bất kỳ dự án hay được tài trợ bởi tổ chức hay cá nhân nào (kể cả Đại học Harvard và Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright nơi tác giả vẫn đang trong biên chế). Ý tưởng viết bài này được hình thành một cách tình cờ sau khi tác giả trao đổi với GS. Nguyễn Quang Thái về một số vấn đề liên quan. Bài viết hoàn toàn thể hiện quan điểm riêng của tác giả với mục tiêu duy nhất là đóng góp vào những thảo luận đến đường hướng phát triển cho Việt Nam hiện nay.

Để có thể hoàn thành bài viết, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ của rất nhiều người. Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn GS. Nguyễn Quang Thái với những trao đổi để tôi có thể hình thành bài viết cũng như việc cung cấp một số tài liệu và đọc các bản thảo với những nhận xét và góp ý vừa bao quát, vừa rất cụ thể. Tôi xin chân thành cảm ơn GS. Trần Hữu Dũng với những góp ý và bình luận hết sức thẳng thắn và xác đáng cho những nội dung cốt lõi của bài viết qua những bản thảo khác nhau. Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Trần Ngọc Anh, TS. Vũ Thành Tự Anh, bà Phạm Chi Lan, PGS. Phạm Duy Nghĩa, ông Trần Đức Nguyên, ông Nguyễn Vạn Phú, ông Nguyễn Xuân Thành, GS. Trần Văn Thọ và một số người khác đã đọc và có những nhận xét, bình luận và góp ý hết sức quý báu cho bài viết. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn bà Phạm Chi Lan đã chuyển bản thảo đến một số người đọc và góp ý giúp tôi. Tôi xin cảm ơn ông Phạm Vũ Lửa Hạ đã giúp tôi tìm hiểu một số thuật ngữ liên quan.

Tất cả những người đã đọc các bản thảo và góp ý cho tôi đều là những chuyên gia hàng đầu trong những lĩnh vực liên quan đến các nội dung chính của bài viết. Do vậy, tôi đã có được những nhận xét, bình luận và góp ý hết sức sâu sắc từ bao quát đến cụ thể. Có những góp ý đơn giản chỉ là điều chỉnh hay thay đổi một vài câu chữ, nhưng đã làm cho các nội dung cốt lõi của bài viết nổi lên rõ ràng hơn rất nhiều. Điều này chỉ có thể đến từ những người thực sự am hiểu vấn đề. So với bản thảo đầu tiên, phiên bản này đã được bổ sung và phát triển thêm rất nhiều. Tuy nhiên, đây là một vấn lớn và liên quan đến nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng các nguồn lực  và khả năng của tác giả có hạn nên bài viết không thể phân tích hay lý giải tất cả các vấn đề được nêu ra một cách thấu đáo. Thêm vào đó, những điểm yếu, những sai sót là không thể tránh khỏi và lỗi này hoàn toàn thuộc về tác giả. Cuối cùng, bài viết chỉ là một phân tích, một tiếp cận của tác giả về một số khía cạnh trong chủ đề quan trọng này. Tác giả sẽ tiếp tục tìm hiểu và nghiên cứu thêm về những vấn đề liên quan trong khả năng và nguồn lực của mình. Với mong muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình để cùng tất cả mọi người chung tay làm rõ con đường phát triển của Việt Nam vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh, tác giả rất mong nhận được những góp ý, bình luận và trao đổi của những người quan tâm đến vấn đề này nói riêng, vì sự phát triển và thịnh vượng của Việt Nam nói chung.

Cambridge Tháng 11, 2013

Đọc tiếp

BÀN THÊM VỀ MỐI QUAN HỆ VĂN HÓA VÀ VĂN MINH

PGS.TS. BÙI ĐÌNH PHONG

Sự phát triển của một quốc gia ở bất kỳ thời đại nào đều có dấu ấn khai sáng của văn hóa. Không phải văn minh, mà chính văn hóa mới thật sự là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội; là sức mạnh nội sinh, nguồn lực xã hội to lớn. Văn hóa thấm sâu vào quá trình phát triển, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội.

Ở phương Đông, từ “văn hóa” đã có trong đời sống ngôn ngữ khá sớm. Người sử dụng từ “văn hóa” sớm nhất có lẽ là Lưu Hướng (năm 776 tr. CN), thời Tây Hán với nghĩa như một phương thức giáo hóa con người, đối lập với vũ lực. Phương Đông bàn về văn hóa nghiêng về cái đẹp, cái giá trị (văn là vẻ đẹp, hóa là trở thành): những gì trở thành cái đẹp, cái giá trị, cái nhân bản là văn hóa. Còn từ “văn minh” được hiểu văn là cái đẹp, minh là sáng, chỉ tia sáng của đạo đức, biểu hiện ở chính trị, pháp luật, văn học, nghệ thuật.

Ở phương Tây, từ “văn hóa” xuất phát từ gốc latinh là chữ cultus animi là trồng trọt tinh thần (tiếng Anh, Pháp là culture). Theo đó, văn hóa được hiểu với hai khía cạnh: thích ứng, khai thác tự nhiên và giáo dục, đào tạo cá nhân hay cộng đồng để họ xa rời trạng thái nguyên sơ, không còn là con vật tự nhiên và có được những phẩm chất tốt đẹp. Còn từ “văn minh” có từ căn gốc la tinh là civitas  (tiếng Anh, Pháp là civilisation) với nghĩa gốc là đô thị, thành phố và các nghĩa phái sinh là thị dân, công dân. Nói chung khái niệm văn minh có nhiều cách hiểu, chẳng hạn để chỉ sự sáng tạo văn hóa hoặc theo nghĩa tổ chức xã  hội bởi các biện pháp kỹ thuật cải thiện, xếp đặt hợp lý tiện lợi cho cuộc sống của con người. Theo F.Ăngghen, văn minh là chính trị khoanh văn hóa lại và sợi dây liên kết văn minh là Nhà nước.

Tuy vậy, việc xác định và sử dụng các khái niệm văn hóa, văn minh không đơn giản. Vẫn còn sự lẫn lộn hoặc sử dụng đồng nghĩa hai thuật ngữ để chỉ toàn bộ sự sáng tạo và các tập quán tinh thần và vật chất riêng cho các tập đoàn người. Riêng thuật ngữ văn hóa, các nhà nhân loại học thế kỷ XIX sử dụng gần như khái niệm văn minh, theo đó văn hóa được hiểu theo tiêu chuẩn trí lực, có văn hóa từ trình độ thấp nhất đến cao nhất. ở thế kỷ XX, văn hóa không xét ở mức độ thấp cao mà ở góc độ khác biệt. Cũng có quan điểm cho rằng “văn hóa là một quan hệ. Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại. Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân khác”.

Đọc tiếp

“ĐỪNG NGHĨ LÀ DÂN KHÔNG BIẾT GÌ”

Nhà văn. NGUYỄN KHẮC PHỤC

Trên diễn đàn Quốc hội vừa qua, người dân được nghe không ít đại biểu nói đến hai từ  “Kiểm soát quyền lực” và “độc lập” – hai từ không mới, đã có sẵn trong ngôn ngữ dân tộc ta từ lâu, nhưng tại diễn đàn Quốc hội, trong thời điểm hiện nay, điều đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Nói như thế, vì cơ quan quyền lực cao nhất  nước lại đặt vấn đề “kiểm soát quyền lực”, chứng tỏ sự lạm quyền, độc quyền trong nhiều lĩnh vực thời gian qua là rất nghiêm trọng và cơ chế giám sát quyền lực chúng ta đang áp dụng không hiệu quả. Không cần phải chứng minh dài dòng, chỉ riêng tình trạng tham nhũng với bao nhiêu là tuyên bố và nghị quyết mạnh mẽ vẫn như là bệnh ung thư di căn, đã là bằng chứng hiển nhiên. Việc đòi hỏi sự “độc lập” của một số tổ chức (như cơ quan chống tham nhũng, kiểm toán…) cũng chứng tỏ sự minh bạch, công bằng, tránh mọi sức ép của mọi thế lực và “lợi ích phe nhóm” của những cơ quan làm nhiệm vụ “cán cân công lý” đã bị vi phạm nghiêm trọng. Những con số “khủng” thua lỗ của các tập đoàn, việc khiếu kiện đất đai kéo dài và vượt cấp là sự thật chứng minh cơ chế – cần nói rõ hơn là cách thức tổ chức, bố trí con người làm nhiệm vụ kiểm soát quyền lực – mà chúng ta thực hiện lâu nay không thích hợp.

Như vậy, vấn đề đặt ra đã rõ như ban ngày: Phải thay đổi cơ chế “kiểm soát quyền lực”. Chúng ta đều biết, ở bất cứ chế độ nào, quyền lực nếu không được kiểm soát, ắt sẽ dẫn đến lạm quyền và tha hóa. Nhân loại, qua đấu tranh và đúc rút kinh nghiệm hàng ngàn năm, đã xây dựng “cơ chế” kiểm soát quyền lực, có thể chưa hẳn là tối ưu, nhưng đã góp phần quan trọng hạn chế, ngăn chặn sự lạm quyền. Còn chúng ta thì chắc là đang đi tìm một “cơ chế” ưu việt hơn và đang thử nghiệm, những tiếc rằng chưa thành công!

Hẳn là đã nhận thức được điều đó, đại biểu Trần Đình Nhã, Phó Chủ nhiệm ủy ban Quốc phòng  – An ninh Quốc hội, trong ý kiến phát biểu khi thảo luận về nội dung bản Hiến pháp sửa đổi, đã nói: “Đảng ta đã đặc biệt nhấn mạnh nguyên lý quyền lực phải được kiểm soát, phải dùng quyền lực để kiểm soát quyền lực. Đáng tiếc là trong dự thảo sửa đổi Híến pháp 1992 nguyên lý trên chưa được triển khai mạnh mẽ.”… Ông đề nghị Hiến pháp cần bổ sung công cụ, thiết chế độc lập giúp Quốc hội thực hiện chức năng giám sát mà thực chất là kiểm soát quyền lực.” (Theo “Tuổi trẻ” ngày 17-11).

Đọc tiếp

TÁI CẤU TRÚC NGÂN HÀNG – MỘT TRONG BA TRỤ CỘT CỦA QUÁ TRÌNH TÁI CẤU TRÚC NỀN KINH TẾ

HIẾU NGÂN

Đối với bất cứ quốc gia nào, hoạt động ngân hàng (NH) luôn là huyết mạch của nền kinh tế, sự ổn định và lành mạnh của hệ thống ngân hàng giữ vai trò trọng yếu trong việc ổn định và phát triển nền kinh tế đất nước. Ngân hàng huy động tiền nhàn rỗi trong xã hội để đáp ứng vốn cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của xã hội. Vì vậy, để đảm bảo ổn định và lành mạnh hệ thống ngân hàng thì hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của xã hội (trong đó có chi tiêu của Chính phủ và tiêu dùng của cá nhân và doanh nghiệp) cũng phải được lành mạnh hóa. Người vay tiền sử dụng đồng vốn không hiệu quả, những khó khăn đó cũng sẽ đổ dồn gánh nặng cho ngân hàng. Chính vì vậy, tái cấu trúc ngân hàng đạt hiệu quả phải gắn liền với tái cấu trúc toàn bộ nền kinh tế, trong đó đặc biệt quan tâm tái cấu trúc đầu tư công và tái cấu trúc doanh nghiệp. 

Cuộc khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu gần đây nhất (2007-2009) xuất phát từ việc cho vay “dưới chuẩn” của các NH, đặc biệt là ở Mỹ, buộc các quốc gia phải quan tâm, đánh giá lại toàn bộ hoạt động của các NH. Việc tái cấu trúc NH trở nên phổ biến và cấp thiết ở mỗi quốc gia, đảm bảo cho các NH thích nghi được với nhu cầu phát triển mới trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đầy biến động. Ở Việt Nam, khi mà thị trường chứng khoán chưa phát triển, gánh nặng về vốn còn dồn lên vai NH, thì việc giữ cho hệ thống NH ổn định và lành mạnh càng phải đặc biệt quan tâm.

Có thể nói, nền kinh tế cũng như hệ thống ngân hàng Việt Nam đã cơ bản vượt qua cơn khủng hoảng 2007-2009. Tuy nhiên, trước những biến động phức tạp thời gian gần đây của nền kinh tế thế giới, để ôn định và phát triển nền kinh tế hiệu quả và bền vững, Đảng và Nhà nước ta đã ra Nghị quyết tái cấu trúc nền kinh tế, trong đó tái cấu trúc NH, tái cấu trúc đầu tư công và tái cấu trúc doanh nghiệp Nhà nước là 3 trụ cột trong tiến trình tái cấu trúc nền kinh tế.

Cho đến nay, chúng ta đã có 5 NHTM Nhà nước (mặc dù một số NH đã được Cổ phần nhưng Nhà nước chiếm giữ cổ phần chi phối), 1 NH Chính sách xã hội, 1 nh phát triển, 37 NHTMCP, 48 chi nhánh NH nước ngoài, 5 NH liên doanh, 5 NH 100% vốn nước ngoài, 48 văn phòng đại diện NH nước ngoài, 17 công ty tài chính, 13 công ty cho thuê tài chính, 1 QTDTW với 24 chi nhánh và hơn 1000 QTDND cơ sở. Có thể nói, Việt Nam đã đa dạng hóa hình thức sở hữu và loại hình hoạt động NH, phát triển mạnh mẽ về quy mô, tạo điều kiện cho hệ thống NH huy động vốn trong và ngoài nước để đáp úng vốn cho phát triển nền kinh tế. Năm năm trở lại đây, tốc độ tăng trưởng tín dụng trung bình khoảng 33% năm, so với thế giới thì tốc độ này là cao, nguyên nhân là do thị trường chứng khoán của Việt Nam chưa phát triển, nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng chủ yếu dựa vào NH. Thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 của Chính phủ về những giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, ngành NH phải đảm bảo tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2011 xuống dưới 20%, tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 15-16%; tăng tỷ trọng cho vay nông nghiệp, nông thôn, sản xuất kinh doanh, xuất khẩu; giảm cho vay BĐS, chứng khoán. Từ đó đến nay, ngành NH cơ bản đã thực hiện tốt các yêu cầu của Chính phủ đặt ra; lạm phát đã được kiểm soát. Tuy nhiên, hệ thống NH đã bộc lộ những bất cập cần được tái cơ cấu để đáp ứng yêu cầu phát triển mới.

Đọc tiếp

BIỆN PHÁP NÀO ĐỂ NHÀ NƯỚC SỬ DỤNG ĐƯỢC SỐ VÀNG DỰ TRỮ TRONG DÂN

PHÍ ĐĂNG MINH

Trong 10 năm lại đây ( 2001 – 2010 ), đồng USD liên tục mất giá, là nguyên nhân chính làm giá vàng tăng, song mức tăng giá thực tế của vàng lớn hơn nhiều so với mức mất giá của đồng USD.

Chỉ số đồng USD trước ngày 9/11/2001 là 121,02 điểm, đến tháng 11/2010 là 75,63 điểm, tính chung tỷ giá đồng USD sau 10 năm mất giá 37,5%.

Giá vàng ở mức thấp nhất năm 2001 là 253,55 USD/oz, giá vàng cao nhất vào tháng 12/2010 là 1.430,55 U SD/oz, giá vàng sau 10 năm tăng 464,2%.

Đến ngày 24/3/2011, giá vàng giao ngay trên thị trường châu Á vẫn duy trì ở mức cao 1.437 USD/oz. Các đỉnh cao của giá vàng luôn bị phá, năm 2008 là 900 USD/oz, năm 2009 là 1.000 USD/oz, năm 2010 là 1.400 USD/oz.

Vậy nguyên nhân nào làm cho giá vàng thế giới tăng đột biến:

Đồng USD mất giá làm cho giá vàng thế giới tăng, vấn đề này đều được các nhà nghiên cứu xác nhận. Tuy vậy, xung quanh việc giá vàng tăng mạnh so với tốc độ mất giá của đồng USD còn có nhiều ý kiến khác nhau.

Theo ý kiến của các chuyên gia Hội đồng vàng thế giới, nguyên nhân giá vàng tăng mạnh trong thời gian qua là do nhu cầu vàng của các nước tăng đột biến.

Hiện nay, tổng số vàng vật chất trên toàn thế giới quãng 163.000 tấn. Nhu cầu vàng của các nước trên thế giới năm 2010 lên đến 3.812,2 tấn, có giá trị tương đương 150 tỷ USD, tăng 9% so với năm 2009. Cụ thể nhu cầu vàng cho ngành kim hoàn là 2.060 tấn, tăng 17% so với năm 2009. Nhu cầu vàng cho ngành công nghiệp là 419,6 tấn, tăng 12,4%. Nhu cầu vàng cho đầu tư là 1,333 tấn đạt mức cao thứ hai trong lịch sử, mức cao kỷ lục là 1.360 tấn trong năm 2009. Trong khi đó sản lượng khai thác vàng của thế giới chỉ khoảng 2.600 tấn/năm, thấp hơn nhiều so với nhu cầu vàng. Nhu cầu của các nước tăng mạnh còn do ảnh hưởng của sự phục hồi kinh tế toàn cầu chậm chạp, sức ép lạm phát cao và tình hình chính trị thế giới thiếu ổn định.

Đọc tiếp

TRIỂN VỌNG MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA VIỆT NAM NĂM 2012 – DƯỚI GÓC NHÌN CỦA NGÂN HÀNG THẾ GIỚI

NGÔ THỊ THU TRÀ & PHAN NGỌC THẮNG – Vụ Dự báo, thống kê tiền tệ – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế – xã hội có nhiều khó khăn, phức tạp do tác động bất lợi từ kinh tế thế giới và những hạn chế từ nội tại, trong những năm qua, Chính phủ, các Bộ, ngành và các địa phương đều nỗ lực đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính bao gồm cả thể chế, tổ chức bộ máy, thủ tục hành chính, tài chính công.

Tuy nhiên, theo đánh giá của Chính phủ, mặc dù đạt được một số kết quả, song, công tác cải cách vẫn chưa đáp ứng yêu cầu. Nhiều thủ tục hành chính còn phức tạp, gây phiền phức cho người dân và doanh nghiệp; bộ máy còn chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, chế độ trách nhiệm chưa rõ ràng; bất hợp lý và chậm được điều chỉnh, khắc phục cả ở Trung ương và địa phương (Thông báo số  27/TB-VPCP ngày 30/1/2012 v/v thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị triển khai công tác ngành Nội vụ 2012 và chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020 – http://www.chinhphu.vn)  

Mới đây, Ngân hàng Thế giới (WB) đã công bố Báo cáo Đánh giá xếp hạng môi trường kinh doanh 2012 (Doing business 2012 – Doing Business in a more transparent World). Theo kết quả đánh giá tại Báo cáo này, vị trí xếp hạng môi trường kinh doanh của Việt Nam đã bị tụt 8 bậc, từ vị trí 90 xuống vị trí 98 trên tổng số 183 quốc gia (nền kinh tế) được xếp hạng bởi Ngân hàng Thế giới. 

Bài viết này phân tích một số nguyên nhân làm cho môi trường kinh doanh của Việt Nam bị tụt hạng so với năm trước theo đánh giá của WB  và nêu ra một số khuyến nghị nhằm hướng tới cải thiện môi trường kinh doanh của Việt Nam.

Mục tiêu và nội dung chính của Báo cáo xếp hạng môi trường kinh doanh (Doing Business) của Ngân hàng Thế giới                                               

Doing Business của Ngân hàng Thế giới là Báo cáo kết quả điều tra, khảo sát của một nhóm chuyên gia WB được thực hiện hàng năm về các quy định của các nước có tác dụng thúc đẩy hoặc kiềm chế hoạt động kinh doanh tại nước đó. Báo cáo đưa ra các chỉ tiêu định lượng nhằm đánh giá các vấn đề cụ thể được cho là quan trọng nhất trong việc hình thành và tạo thuận lợi cho môi trường kinh doanh của một nước trên cơ sở tính điểm và so sánh trong mối tương quan giữa 183 quốc gia (nền kinh tế) được khảo sát, từ Afghanistan đến Zimbabwe qua thời gian. Trên cơ sở đó, tổng hợp thành mức xếp hạng cho từng lĩnh vực riêng lẻ và mức xếp hạng tổng hợp cho từng nước.  Chỉ số chung được tổng hợp từ các chỉ số đánh giá riêng lẻ phản ánh các chính sách qui định về kinh doanh và vấn đề bảo hộ quyền sở hữu tài sản được so sánh 183 quốc gia qua thời gian, phản ánh cụ thể qua 10 lĩnh vực sau:

Đọc tiếp

ĐÔI ĐIỀU VỀ NGUYÊN NHÂN CỦA TÌNH HÌNH LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM

food-inflation3NGUYỄN TẤN DŨNG – Hai Bà Trưng, Quận 3, Thành phố Hồ Chí MInh

Thế giới đã và đang tiếp tục chứng kiến các cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính trên quy mô rộng hơn. Khủng hoảng ít nhiều đã tác động đến nền kinh tế-tài chính của mỗi nước, cũng như ảnh hưởng đến đời sống kinh tế của mỗi người dân trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam. Bài viết này không nhằm tìm hiểu về cuộc khủng hoảng đó, mà nhằm nhìn nhận lại nguyên nhân tình hình lạm pháp đã và vẫn còn diễn ra ở Việt Nam.

Lạm phát là một trong những vấn đề chính yếu của các quốc gia phát triển cũng như là các quốc gia đang phát triển, nó tồn tại tất yếu trong một nền kinh tế thị trường. Trong nhiều năm qua, kinh tế Việt Nam đã và đang diễn ra lạm phát dù không thực sự quá tầm trọng nhưng cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến chính sách kinh tế của Nhà nước, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và cả đời sống của người dân.

Lạm phát là sự mất sức mua của một đơn vị tiền tệ trong một khoảng thời gian nhất định, và thường được diễn tả như là sự gia tăng chung trong giá cả của hàng hóa và dịch vụ. Như vậy, có thể thấy rằng, đầu tiên lạm phát là do căn bệnh của tiền tệ, “lạm phát, mãi mãi và ở khắp mọi nơi đều là một vấn đề tiền tệ”- (Milton Friedman). Tình hình lạm phát ở Việt Nam trong những năm qua cũng không nằm ngoài nguyên nhân là từ căn bệnh tiền tệ đó. Vì sao lạm phát lại luôn có xu hướng tăng cao? Tình hình lạm phát này nếu không phải là do căn bệnh tiền tệ thì là từ đâu?

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã phải phát hành một lượng tiền đồng Việt Nam rất lớn để trả lương tăng lên khi mức lương cơ bản tăng. Lượng tiền này sẽ đi đâu nếu không được chi tiêu và “đổ” vào thị trường? điều đó phần nào đã làm mất sức mua của tiền đồng Việt Nam. Vì rằng, khi có nhiều tiền hơn, người dân sẽ tăng việc chi tiêu, mua sắm, từ đó làm tăng mức cầu đối với hàng hóa và dịch vụ (tổng cầu) do đó sẽ “kéo” giá cả lên, nhất là khi “tổng cung” bị hạn chế do chưa tăng việc sản xuất kịp so với “tổng cầu”. Đồng thời với đó, Nhà nước lại vì quá chú trọng đến việc hạn chế nhập khẩu cũng như là hạn chế việc tiêu dùng các hàng hóa có thể gọi là “sa sỉ”, điển hình như ô tô, nên nhà nước đã tăng mức thuế suất đối với các mặt hàng đó, bên cạnh là điều chỉnh mức thuế suất thuế thu nhập doanh ngiệp, điều này phần nào cũng góp phần là nguyên nhân của lạm phát, “khi vượt một điểm nào đó, chính việc đánh thuế là nguyên nhân của lạm phát” (Keynes).

Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 827 other followers

%d bloggers like this: