BÀN VỀ VẤN ĐỀ VƯỢT QUÁ PHẠM VI YÊU CẦU KHỞI KIỆN BAN ĐẦU TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ

TRẦN ĐỨC LONG – Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình

I. Quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự:

Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự là nguyên tắc mang tính bắt buộc và rất quan trọng, được áp dụng xuyên suốt từ khi Tòa án thụ lý đến khi giải quyết xong vụ án. Nguyên tắc này được quy định tại Điều 5 BLTTDS: “Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc dân sự… Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện không trái pháp luật và đạo đức xã hội”.

Xuất phát từ nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự nên quyền và nghĩa vụ của đương sự được quy định cụ thể tại Điều 58, 59 60,61 BLTTDS, trong đó quy định: Đương sự có quyền giữ nguyên, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Theo quy định tại khoản 1 Điều 218 BLTTDS : "Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự, nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu". Như vậy, hiểu như thế nào là vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu? đây là vướng mắc hiện nay còn nhiều quan điểm, chưa thống nhất.

Tại điểm 6 mục III Nghị quyết 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần thứ hai thủ tục giải quyết các vụ án tại tòa cấp sơ thẩm của Bộ luật tố tụng dân sự “Việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự tại phiên tòa chỉ được Hội đồng xét xử chấp nhận nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu được thể hiện trong đơn khởi kiện của nguyên đơn, đơn phản tố của bị đơn, đơn yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”.

Continue reading

THỦ TỤC XÉT XỬ NHANH TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ PHÁP VÀ DỰ THẢO BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

Bài được viết tại thời điểm Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đang được dự thảo

THS. TRẦN ANH TUẤN  – Khoa Luật Dân sự – Đại học Luật Hà nội

Trong công cuộc cải cách tư pháp và thủ tục tố tụng dân sự hiện nay, việc tham khảo pháp luật tố tụng dân sự nước ngoài nhằm rút ra những nhân tố hợp lý cho việc hoàn thiện Dự thảo Bộ luật tố tụng dân (BLTTDS) sự phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của nước ta và xu hướng hội nhập quốc tế là một nhu cầu khách quan. Trong Liên minh Châu Âu, hệ thống pháp luật tố tụng dân sự của Pháp được coi là một điển hình mẫu mực. Trên cơ sở sự kết hợp hài hoà giữa các nguyên tắc truyền thống, sự mềm dẻo, linh hoạt trong việc xây dựng thủ tục giải quyết tranh chấp, bên cạnh thủ tục tố tụng thông thường các nhà lập pháp của Pháp đã xây dựng được những thủ tục xét xử nhanh áp dụng đối với những tranh chấp mang tính đặc thù riêng. So sánh các quy định về thủ tục tố tụng nhanh trong BLTTDS Pháp 1807 và các quy định về thủ tục này trong Dự thảo BLTTDS Việt Nam cho thấy các quy định về thủ tục tố tụng trong hệ thống pháp luật của hai nước có những điểm tương đồng và những đặc thù riêng.

Theo BLTTDS Pháp 1807 thủ tục xét xử nhanh được quy định để áp dụng giải quyết đối với những tranh chấp mà việc giải quyết mang tính khẩn cấp và những loại tranh chấp đơn giản mà việc giải quyết theo thủ tục tố tụng thông thường là quá chậm chạp và tốn kém. Thủ tục tố tụng nhanh được thiết lập để áp dụng giải quyết những loại việc mang tính khẩn cấp là thủ tục xét xử cấp thẩm và thủ tục xét xử theo đơn yêu cầu. Bên cạnh đó một loại thủ tục tố tụng đặc biệt được thiết lập để áp dụng giải quyết đối với những loại tranh chấp đơn giản ,rõ ràng là thủ tục ra lệnh.

1.Thủ tục xét xử cấp thẩm và thủ tục xét xử theo đơn yêu cầu trong BLTTDS Pháp và thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Dự thảo BLTTDS Việt Nam.

Trong pháp luật tố tụng dân sự Pháp quyết định giải quyết vụ án theo thủ tục xét xử cấp thẩm và thủ tục xét xử theo đơn yêu cầu đều là những quyết định mang tính chất tạm thời và không có hiệu lực quyết tụng như một bản án xử sơ thẩm về nội dung của vụ tranh chấp. Điểm khác biệt cơ bản giữa hai thủ tục này là vấn đề có triệu tập bị đơn đến tham gia tố tụng hay không(1). Theo thủ tục xét xử theo đơn yêu cầu trong tố tụng dân sự Pháp không cần thiết phải triệu tập bị đơn đến tham gia tố tụng, ngược lại thủ tục xét xử cấp thẩm tuân theo trình tự tranh tụng, việc triệu tập bị đơn đến tham gia phiên xét xử là bắt buộc.Thủ tục xét xử theo đơn yêu cầu không đòi hỏi Thẩm phán phải triệu tập bị đơn đến tham gia tố tụng,bởi lẽ thủ tục này được áp dụng đối với các loại việc có nhiều bị đơn mà Toà án không thể triệu tập các đương sự đến tham gia tố tụng hoặc các vụ việc mà việc triệu tập bị đơn là khó khăn. Ví dụ: buộc những người đình công chiếm giữ công sở phải rời nơi họ chiếm giữ, sở hữu chủ yêu cầu trục xuất những người chiếm hữu nhà của họ một cách bất hợp pháp mà không có hợp đồng thuê nhà, lập bằng chứng về việc ngoại tình(2)

Continue reading

CHẾ ĐỊNH BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

THS. TRẦN ANH TUẤN – Giảng viên Khoa Pháp luật Dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Trong công cuộc cải cách tư pháp và thủ tục tố tụng hiện nay, việc xây dựng thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bộ luật tố tụng dân sự, phải đáp ứng được hai đòi hỏi cơ bản của thực tiễn giải quyết tranh chấp là tính nhanh chóng và sự bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên đương sự trong việc bảo vệ quyền lợi của họ. Chế định về các biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được xây dựng tại Chương thứ 8 Dự thảo 11 Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam (BLTTDSVN), bao gồm 28 điều luật (từ điều 98-125). Tuy nhiên các quy định tại Dự thảo này cũng đặt ra nhiều vấn đề mà chúng ta cần giải quyết:

1. Về phạm vi áp dụng

- Điểm tiến bộ của Dự thảo 11 BLTTDS Việt Nam là đã mở rộng phạm vi áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời. Cụ thể là thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể được áp dụng trước khi khởi kiện vụ án hoặc trong quá trình giải quyết vụ án (K2 Điều 98 DTBLTTDSVN ). Tuy nhiên nếu so sánh với các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) Pháp 1807 thì có hạn chế là các quy định này chỉ áp dụng đối với những yêu cầu khẩn cấp nhằm đảm bảo việc giải quyết vụ kiện chính, ngược lại theo BLTTDS Pháp 1807 thủ tục xét xử cấp thẩm cũng có thể áp dụng một cách độc lập mà không phụ thuộc vào vụ kiện chính. Hiện nay các biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định trong DTBLTTDSVN thì hầu hết là những biện pháp nhằm đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án trong vụ kiện chính. Tuy nhiên Khoản12, Khoản13 Điều 101 Dự thảo cho phép Thẩm phán “ Cấm hoặc buộc đương sự thực hiện hành vi nhất định” và áp dụng “ Các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác mà pháp luật có quy định”. Chúng tôi cho rằng để đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn, trên cơ sở các quy định này các nhà lập pháp Việt Nam có thể phát triển, bổ sung theo hướng cho phép Thẩm phán trong trường hợp khẩn cấp có thể áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của đương sự ngay cả khi giữa các đương sự không có tranh chấp về vụ kiện chính hoặc có tranh chấp về vụ kiện chính nhưng các bên không có yêu cầu khởi kiện giải quyết tranh chấp này.

Trong thực tiễn tố tụng của Việt Nam cũng xuất hiện không ít những trường hợp để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình hoặc tránh những hậu quả xấu có thể xảy ra đương sự chỉ yêu cầu Toà án áp dụng ngay lập tức các biện pháp cần thiết mà không khởi kiện về vụ kiện chính bởi giữa họ không có tranh chấp nào khác hoặc có tranh chấp về vụ kiện chính nhưng sau khi Toà án áp dụng các biện pháp khẩn cấp các bên đã tự giải quyết được.Chẳng hạn:

Continue reading

QUY ĐỊNH VỀ “ĐÌNH CHỈ” TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

THS. TỐNG CÔNG CƯỜNG – Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Đình chỉ là một phương thức xử lý đặc biệt của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự. Trước đây, trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế hay Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động chỉ quy định một loại đình chỉ duy nhất là đình chỉ giải quyết vụ án dưới hình thức “Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án”.[1]

Hiện nay, Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) quy định nhiều loại đình chỉ khác nhau tương ứng với từng giai đoạn tố tụng và từng loại căn cứ khác nhau, theo đó Tòa án sẽ ra nhiều loại quyết định đình chỉ khác nhau: đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong thủ tục sơ thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong thủ tục phúc thẩm, đình chỉ xét xử phúc thẩm, đình chỉ xét xử yêu cầu của đương sự. Tuy nhiên, quy định trong BLTTDS về tính chất, căn cứ, hình thức quyết định của các loại đình chỉ nêu trên cũng chưa thật sự rõ ràng, cụ thể, dẫn đến có nhiều vướng mắc về mặt lý luận cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng dân sự. Bài viết này phân tích về các loại đình chỉ trong tố tụng dân sự theo quy định của BLTTDS hiện hành.

1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại thủ tục sơ thẩm

Tính chất của loại đình chỉ giải quyết vụ án dân sự này là chấm dứt hoạt động tố tụng. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong thủ tục sơ thẩm là một phương thức giải quyết vụ án dân sự. Bởi vì, một vụ án dân sự sẽ được giải quyết qua một trong ba phương thức là hòa giải thành công, đình chỉ giải quyết vụ án và mở phiên tòa xét xử.[2] Các căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án được quy định cụ thể tại Điều 192 BLTTDS bao gồm: (i) Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế; (ii) Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản mà không có cá nhân, cơ quan, tổ chức nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó; (iii) Người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được Tòa án chấp nhận hoặc người khởi kiện không có quyền khởi kiện; (iv) Cơ quan, tổ chức rút văn bản khởi kiện trong trường hợp không có nguyên đơn hoặc nguyên đơn yêu cầu không tiếp tục giải quyết vụ án; (v) Các đương sự đã tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án; (vi) Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt; (vii) Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó; (viii) Các trường hợp khác mà pháp luật có quy định.

Continue reading

BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA – Khoa Luật & Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright – Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh.

Khái niệm biện pháp khẩn cấp tạm thời (KCTT)

Trong pháp luật Việt Nam, Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) 2004 có một chương riêng với 28 điều quy định về biện pháp KCTT (Chương VIII, các Điều từ 99 đến 126). Về bản chất, các quy định mới của các Điều từ 48 đến 53 Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 (LTT 2010) là luật riêng so với các quy định chung của BLTTDS 2004. Nói cách khác, trong tố tụng trọng tài phải áp dụng trước tiên các quy định của LTT 2010, nếu các quy định đó thiếu, chưa rõ hoặc chưa cụ thể thì cần áp dụng các nguyên tắc chung về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự.

Biện pháp KCTT (Interim injunctive relief, Vorläufiger Rechtsschutz) được hiểu là một công đoạn tố tụng rút ngắn và giản đơn nhằm giúp cơ quan tài phán can thiệp nhanh chóng, kịp thời nhằm bảo vệ chứng cứ, tài sản tranh chấp hoặc các đảm bảo khác thiết yếu cho thi hành các nghĩa vụ, trong khi phiên tranh tụng chính chưa kết thúc. Tuy rằng mục đích hướng tới là các biện pháp cụ thể, ví dụ kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, cấm định đoạt tài sản, song Chương VII LTT 2010 các Điều từ 48 đến 53 về biện pháp KCTT là một quy trình, quy định quyền yêu cầu, thẩm quyền xem xét và ban hành các quyết định tố tụng, các đảm bảo, quyền khiếu nại và yêu cầu đền bù thiệt hại nếu có.

Quy trình tố tụng này là một phần phụ, phái sinh, có tính chất chuẩn bị, bổ trợ cho một thủ tục tố tụng chính đang được cơ quan tài phán thụ lý. Đây là một chế định của luật tố tụng dân sự, thường có các đặc trưng sau:

- Thứ nhất, các biện pháp này phải do một bên yêu cầu, thường là nguyên đơn, còn cơ quan tòa án thường không có quyền tự mình ra các quyết định nhằm bảo tồn tài sản tranh chấp hoặc chứng cứ; trừ những trường hợp hết sức hãn hữu tòa án mới tự mình (ex officio) ra các lệnh tòa, ví dụ được nêu tại Điều 119, Điều 102 1-5 BLTTDS 2004;

- Thứ hai, phải có những điều kiện nhất định kèm theo các yêu cầu cho áp dụng biện pháp này, ví dụ phải có chứng cứ đủ tin rằng quyền lợi của bên yêu cầu sẽ không được đảm bảo nếu không áp dụng ngay các biện pháp ví dụ như phong tỏa tài khoản hay kê biên tài sản;

Continue reading

QUAN NIỆM VỀ NGUYÊN TẮC HAI CẤP XÉT XỬ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ NƯỚC TA

THS. TỐNG CÔNG CƯỜNG – Đại học luật TP. Hồ Chí Minh

1. Đặt vấn đề

Hai cấp xét xử là một nguyên tắc quan trọng trong tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp ở nước ta nói chung, trong đó có tư pháp dân sự. Tuy nhiên, nguyên tắc này không phải được áp dụng phổ biến ở các nước trên thế giới. Trước khi đi vào tìm hiểu nội dung của nguyên tắc hai cấp xét xử, thiết nghĩ chúng ta tìm hiểu sự áp dụng của nguyên tắc này qua hai mô hình tố tụng là mô hình tranh tụng thuộc hệ thống pháp luật Anh-Mỹ và mô hình thẩm xét ở các nước châu Âu lục địa, trong đó điển hình là Pháp.

Trước hết, các nước theo hệ thống tranh tụng như Anh, Hoa Kỳ không áp dụng nguyên tắc hai cấp xét xử, mà ngược lại áp dụng nguyên tắc đặc trưng là xét xử chung thẩm.89

Tức là các bản án, quyết định sau khi ban hành sẽ mặc nhiên được thừa nhận là giải pháp cuối cùng và có hiệu lực pháp luật ngay, trừ những trường hợp đặc biệt vi phạm về thủ tục tố tụng hoặc những sai lầm về mặt pháp lý thì sẽ được tòa phúc thẩm xem xét lại. Tuy nhiên tòa phúc thẩm cũng chỉ xem xét lại về mặt pháp lý và thủ tục chứ không xét lại những nội dung sự kiện đã được bồi thẩm đoàn quyết định tại tòa sơ thẩm.90 Sở dĩ các nước theo mô hình tranh tụng không áp dụng nguyên tắc hai cấp xét xử là vì quan niệm về vai trò, ý nghĩa của bồi thẩm đoàn tham gia tố tụng ở các nước này. Trong những vụ án dân sự phức tạp hoặc tranh chấp có giá trị lớn đều có bồi thẩm đoàn tham gia phiên tòa sơ thẩm.91 Nếu vụ án dân sự xét xử có bồi thẩm đoàn thì tại phiên tòa, bồi thẩm đoàn chỉ xem xét và quyết định về những vấn đề sự kiện còn những nội dung pháp lý sẽ do thẩm phán quyết định.92

Trái lại, các nước theo mô hình tố tụng thẩm xét thì nguyên tắc đặc trưng lại là hai cấp xét xử. Cơ sở lý luận cho việc áp dụng nguyên tắc này là: thứ nhất, với quan niệm rằng thẩm phán mặc dù được đào tạo chuyên môn về luật pháp, có kinh nghiệm xét xử và được sự bổ trợ những kinh nghiệm thực tế cuộc sống của hội thẩm hay phụ thẩm khi xét xử nhưng dầu sao vẫn là những con người bình thường, tức là cũng có thể mắc những sai lầm do trình độ, nhận thức hoặc cảm tính cá nhân. Để khắc phục những sai sót có thể xảy ra đó, pháp luật tạo điều kiện cho các đương sự sau khi xét xử lần đầu (sơ thẩm) có cơ hội yêu cầu tòa áp cấp trên xem xét lại một lần nữa (phúc thẩm).93 Toà án cấp trên với hội đồng xét xử có số lượng thẩm phán nhiều hơn, có kinh nghiệm hơn sẽ là đảm bảo tốt hơn cho vụ án được giải quyết công bằng, khách quan.94 Thứ hai, nguyên tắc bản án, quyết định có thể bị xem xét lại còn có tác dụng nâng cao tinh thần trách nhiệm của các thẩm phán sơ thẩm. Thực vậy, với khả năng các phán quyết của mình có thể sẽ bị phúc thẩm để xem xét lại sẽ làm cho họ cảnh giác hơn, thận trọng hơn. Mặt khác, nếu thẩm phán bị phát hiện có nhiều sai lầm trong nghiệp vụ sẽ là một dấu ấn không tốt cho việc thăng tiến trong tương lai hoặc tái bổ nhiệm.95

Continue reading

MỘT SỐ ĐIỂM CẦN TRAO ĐỔI THÊM VỀ ĐIỀU 192 BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2004

LS. NGUYỄN VIỆT CƯỜNG – Công ty Luật Hợp Danh Luật Việt

Tham luận của Toà Dân sự Toà án nhân dân Tối cao (TDSTANTC) tại Hội nghị tổng kết ngành Toà án năm 2008 có nêu những quan điểm khác nhau về việc hiểu và áp dụng khoản 2 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS). Qua nghiên cứu tham luận của TDSTATC về điều luật này, chúng tôi thấy có những điểm cần trao đổi thêm.

Để minh hoạ các quan điểm khác nhau về việc hiểu và áp dụng khoản 2 Điều 192 BLTTDS, TDSTANTC đã đưa ra ví dụ:

Toà án cấp sơ thẩm đã thụ lý vụ án đúng quy định của pháp luật. Sau khi thụ lý, có một đương sự chết, nhưng nguyên đơn không biết được địa chỉ những người thừa kế của đương sự đã chết, để Toà án đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Toà án cấp sơ thẩm xác định đây là trường hợp “chưa đủ điều kiện khởi kiện” theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 168 BLTTDS, nên áp dụng khoản 2 Điều 192 BLTTDS ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

Nguyên đơn kháng cáo không đồng ý với việc đình chỉ giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thẩm, với lý do theo Điều 193 BLTTDS họ không được khởi kiện lại.

Với ví dụ trên Toà án cấp phúc thẩm có hai quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: khoản 1 Điều 192 BLTTDS đã quy định cụ thể các căn cứ để đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong đó có quy định cả căn cứ dự phồng là điểm h (Các trường hợp khác mà pháp luật đã quy định), nên không còn căn cứ đình chỉ nào khác ngoài Khoản 1, Khoản 2 Điều 192 không phải là loại căn cứ để đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Việc áp dụng khoản 2 Điều 192 BLTTDS để đình chỉ giải quyết vụ án dân sự và trả lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự khi có những căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 192 trùng với các căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 168 BLTTDS. Còn các căn cứ khác quy định tại Khoản 1 Điều 168 BLTTDS nhưng không trùng với các căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 192 BLTTDS thì Toà án trả lại đơn khởi kiện cho đương sự, không phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

Continue reading

HÒA GIẢI DÂN SỰ

LS. VÕ THÀNH VỊ

Trong vụ án dân sự , luật sư chúng ta tùy điều kiện và tình tiết vụ án, cố gắng thực hiện các thủ tục hòa giải vừa có lợi cho hai bên đương sự, đồng thời có lợi cho luật sư chúng ta.

Căn cứ các qui định của Bộ Luật Dân sự và Bộ Luật Tố tụng dân sự: Trong quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt bên nào. Các thỏa thuận của các bên không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Do vậy, khi có tranh chấp dân sự việc hòa giải của các bên được pháp luật khuyến khích.

Điều 10 của Bộ luật Tố tụng dân sự qui định: “Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ việc dân sự theo qui định của bộ luật này”. Các đương sự gồm có: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, tham gia hòa giải do tòa án tiến hành.

Về trình tự, thủ tục tố tụng dân sự, nguyên tắc hòa giải phải được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

1. Trường hợp thứ nhất: Hòa giải và chuẩn bị xét xử (hòa giải lần 1)

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; Trừ trường hợp vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được.

Continue reading

TÌM HIỂU VỀ “ĐÌNH CHỈ” THEO QUI ĐỊNH TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2004

LS. ĐIỀN ĐỨC THÀNH

Điều 39, 50 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế; Điều 41, 53 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các các tranh chấp lao động chỉ qui định một loại đình chỉ giải quyết vụ án dưới hình thức “Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án”.

BLTTDS năm 2004 thì có nhiều loại đình chỉ khác nhau như: Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong thủ tục sơ thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án trong thủ tục phúc thẩm, đình chỉ xét xử phúc thẩm, đình chỉ xét xử theo yêu cầu của đương sự; nhưng trong quá trình thực hiện thì tính chất, căn cứ, hình thức vẫn chưa được cụ thể, chưa thực sự rõ ràng, đã dẫn tới sự lầm lẫn hay xem xét các căn cứ vẫn còn mù mờ theo cách hiểu của mỗi tòa án hay của mỗi vị thẩm phán…

Theo khoản 2 Điều 192 BLTTDS năm 2004 qui định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự bằng cách xóa tên vụ án trong sổ thụ lý và trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự nếu vụ án thuộc trường hợp trả lại đơn khởi kiện theo qui định tại Điều 168 BLTTDS năm 2004. Những căn cứ, qui định tại điều này bao gồm: Thời hiệu khởi kiện đã hết; người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự; sự việc đã được giải quyết bằng một bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Trừ trường hợp vụ án mà tòa án bác đơn ly hôn, xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại hoặc vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà tòa án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện; hết thời hạn thông báo nộp tiền tạm ứng án phí mà người khởi kiện không nộp hoặc không đến tòa án làm thủ tục thụ lý vụ án, trừ trường hợp có lý do chính đáng; chưa có đủ điều kiện khởi kiện. Vụ án không thuộc thẩm quyền của tòa án.

Continue reading

GIÁM ĐỐC THẨM – “XÉT” CHỨ KHÔNG “XỬ”

NGUYỄN THỊ PHƯỢNG – Trung tâm Luật So sánh, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Sau khi đăng bài “Tính công khai của phiên tòa giám đốc thẩm dân sự” của tác giả Mai Ngọc Dương (Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 11 – tháng 6/2009), Tạp chí đã nhận được một số ý kiến phản hồi, trao đổi về bài viết này. Chúng tôi trân trọng giới thiệu bài viết của tác giả Nguyễn Thị Phượng và mong muốn sẽ tiếp tục nhận được các ý kiến trao đổi khác.

1. Luận điểm chủ đạo của tác giả Mai Ngọc Dương trong bài “Tính công khai của phiên tòa giám đốc thẩm dân sự” là phiên tòa giám đốc thẩm dân sự thiếu tính công khai. Tác giả đưa ra ba lý do cho luận điểm này như sau:.

Thứ nhất, tác giả cho rằng phiên tòa giám đốc thẩm được tổ chức như một phiên họp, không giống như một phiên tòa.

Thứ hai, tác giả nhận xét rằng sự tham gia của nguyên đơn, bị đơn dân sự còn hạn chế bởi sự tham gia của những người này, theo luật, là không bắt buộc.

Thứ ba, sự tham gia của người bào chữa trong phiên tòa giám đốc thẩm còn hạn chế bởi những người này cũng như các nguyên đơn, bị đơn, thuộc nhóm “những người tham gia tố tụng” chỉ được Tòa án triệu tập khi thấy cần thiết.

Cuối cùng, tác giả đề xuất bổ sung vào Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về hình thức của phiên tòa giám đốc thẩm như sau: “Phiên tòa giám đốc thẩm được mở công khai với sự tham gia của các bên đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người bào chữa” (1).

2. Chúng tôi xin trao đổi lại với tác giả Mai Ngọc Dương về luận điểm nêu trên. Theo chúng tôi, phiên tòa giám đốc thẩm dân sự không cần mở công khai, không cần quy định bắt buộc phải có sự tham gia của các bên đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bào chữa. Lý do căn bản của điều này là giám đốc thẩm không phải là một hoạt động xét xử mà là một hoạt động tự kiểm tra trong nội bộ hệ thống tư pháp, nên không cần phải tiến hành công khai. Điều này được chứng minh bởi những lý do sau đây:

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỜI GIAN TRIỆU TẬP ĐƯƠNG SỰ

VĂN LUẬN – TAND Quận Tân Phú, TPHCM

Đối với các tranh chấp về kinh doanh thương mại và lao động thì thời gian ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của đương sự, ví dụ: hai công ty tranh chấp về chất lượng của hàng hóa nên bên mua không đồng ý nhận hàng, vì vậy không cho bên bán nhập hàng vào kho của mình, buộc nên bán phải thuê kho để gửi hàng. Đối với số lượng hàng hóa lớn thì số tiền lưu kho là rất lớn và tăng lên từng ngày. Ngòai ra đối với một số hàng hóa thì nếu để lâu ngày có thể gây hư hỏng hoặc không sử dụng được.

Vì vậy để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự nên tại điểm b khoản 1 Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sư 2005 qui định “Đối với các vụ án quy định tại Điều 29 và Điều 31 của Bộ luật này, thời hạn là hai tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án”. Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự 2005 qui định những tranh chấp về kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và Điều 31 Bộ luật tố tụng dân sự 2005 qui định những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Tại khỏan 1 Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự 2005 có quy định “ Đối với các vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá hai tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a và một tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khỏan 1 Điều này”. Như vậy, thời hạn chuẩn bị xét xử tối đa của các tranh chấp quy định tại Điều 29 và Điều 31 Bộ luật này là 03 tháng.

Tuy nhiên khoản 3 Điều 154 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005 qui định “Thời gian niêm yết công khai văn bản tố tụng là 15 ngày, kể từ ngày niêm yết”.

Continue reading

TÍNH CÔNG KHAI CỦA PHIÊN TÒA GIÁM ĐỐC THẨM DÂN SỰ

THS. MAI NGỌC DƯƠNG – Văn phòng Chính phủ

Nguyên tắc toà án xét xử công khai được quy định tại Điều 131 của Hiến pháp năm 1992 và được cụ thể hoá trong Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2002. Điều 7 của Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2002 quy định: “Toà án xét xử công khai, trừ trường hợp cần xét xử kín để giữ gìn bí mật Nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ”.

Nguyên tắc này bảo đảm cho nhân dân giám sát được hoạt động xét xử của toà án, đồng thời tạo điều kiện cho toà án thực hiện việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử . Tuy nhiên hiện nay, trong phiên toà giám đốc thẩm dân sự, nguyên tắc xét xử công khai chưa hoàn toàn được áp dụng, sự tham gia của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người bào chữa còn hạn chế.

1. Thủ tục của phiên toà giám đốc thẩm không như một phiên toà

Phiên toà giám đốc thẩm dân sự là phiên toà do Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà dân sự (hoặc Toà kinh tế, Toà lao động) Toà án nhân dân tối cao và Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao tiến hành để xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án.

Theo quy định tại Điều 295 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (BLTTDS), thì phiên toà giám đốc thẩm diễn ra theo thủ tục sau:

Continue reading

KHỞI KIỆN ĐƠN VỊ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG VI PHẠM LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI TÒA ÁN

LÊ QUYẾT THẮNG – Trưởng ban Kiểm tra, BHXH Việt Nam

Luật BHXH được Quốc hội nước Cộng hòa xă hội chủ nghĩa khoá XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006 và có hiệu lực từ 01/01/2007. Theo quy định của Luật BHXH, các hành vi vi phạm trong thực hiện chính sách BHXH đă rõ ràng, cụ thể tại Điều 134, Điều 135 gồm các hành vi vi phạm pháp luật về đóng BHXH, các hành vi vi phạm về thủ tục thực hiện BHXH như: không đóng, đóng không đúng thời gian quy định, đóng không đúng mức quy định, đóng không đủ số người thuộc diện tham gia BHXH; cố tì́nh gây khó khăn hoặc cản trở việc hưởng các chế độ BHXH của người lao động …

Ngày 16/8/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 135/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH. Theo đó đă phân loại, quy định cụ thể mức phạt tiền tối đa đối với các hành vi trên là 20.000.000 đồng. Ngày 18/2/2008, Bộ Lao động-Thương binh và Xă hội, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đă có Thông tư liên tịch 03/2008/TTLT-BLĐTBXH-BTC-NHNN hướng dẫn thủ tục buộc trích tiền từ tài khoản tiền gửi của người sử dụng lao động để nộp tiền BHXH chưa đóng, chậm đóng và tiền lăi phát sinh.

Như vậy, chế tài xử lý vi phạm pháp luật BHXH nói chung và về vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH bắt buộc nói riêng đă tương đối đầy đủ nhưng với những quy định như hiện nay cho thấy: mức xử phạt vi phạm hành chính còn thấp, chưa đủ sức răn đe, tính khả thi của biện pháp buộc trích tiền nộp chậm và tiền lăi phát sinh không cao. Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trốn tránh và nợ đọng BHXH tại các doanh nghiệp không có dấu hiệu giảm.

Continue reading

CƠ CHẾ KHÁNG NGHỊ BẢN ÁN QUÁ THỜI HIỆU: CẦN HAY KHÔNG?

VƯƠNG THÀNH 

Giải quyết như thế nào đối với những trường hợp bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nhưng khi phát hiện sai sót thì đã quá thời hiệu để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm? Có người đề xuất nên giao cho Chánh án TAND Tối cao quyền kháng nghị đối với trường hợp bản án đã quá thời hiệu. Tuy nhiên, ý kiến khác lại cho rằng việc xét xử phải có “điểm dừng”, bởi nếu cứ phát hiện sai sót, lại đem ra xét xử, thì xử đến bao giờ. Theo quy định hiện hành thì quyết định của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao là “tối thượng”, không còn cấp xét xử nào cao hơn. Vấn đề đặt ra là nếu những quyết định này có sai sót thì giải quyết ra sao?

Còn sai thì còn phải sửa

Hiện tỉ lệ bản án, quyết định bị sửa còn chiếm 3% – 4%, bị huỷ chiếm 1%. Số lượng đơn đề nghị xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định dân sự của Toà án đã có hiệu lực pháp luật chiếm trên 60%. Nhưng đáng lo ngại hơn cả là việc giải quyết đơn khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của các Toà án thời gian qua cho thấy đơn khiếu nại đúng chiếm tới 23%. Từ thông tin trên, cùng với đề xuất của ông Trương Hoà Bình – Chánh án TAND Tối cao – “nên có cơ chế kháng nghị bản án quá thời hiệu”. Luật sư Nguyễn Văn Chiến, nguyên Phó chủ nhiệm Đoàn luật sư Hà Nội cho rằng: việc đã giải quyết mà hết thời hiệu thì không còn giá trị để xem xét, đấy là theo lý luận từ xưa tới nay.

Continue reading

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 619 other followers

%d bloggers like this: