CÔNG VĂN SỐ 38/KHXX CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO HƯỚNG DẪN VIỆC PHÁP NHÂN KHỞI KIỆN VÀ ỦY QUYỀN KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
—–
Số: 38/KHXX
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
——-

Hà Nội, ngày 29 tháng 3 năm 2007

CÔNG VĂN

HƯỚNG DẪN VIỆC PHÁP NHÂN KHỞI KIỆN VÀ ỦY QUYỀN KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ

Trong thời gian qua Tòa án nhân dân tối cao đã nhận được Công văn của một số Tòa án nhân dân địa phương và một số cơ quan, tổ chức kinh tế phản ánh còn có các cách hiểu khác nhau khi thực hiện hướng dẫn tại tiểu mục 1.4 mục 1 Phần I Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” (sau đây viết tắt là Nghị quyết số 02) đối với các trường hợp văn phòng đại diện hoặc chi nhánh của pháp nhân khởi kiện vụ án dân sự.

Để thực hiện đúng và thống nhất hướng dẫn tại tiểu mục 1.4 mục 1 Phần I của Nghị quyết số 02 trong trường hợp pháp nhân hoặc văn phòng đại diện, chi nhánh của pháp nhân khởi kiện vụ án dân sự (vụ án dân sự gọi chung), Tòa án nhân dân tối cao giải thích và hướng dẫn bổ sung một số điểm như sau:

1. Về người đại diện hợp pháp của pháp nhân

Theo quy định tại Điều 91 Bộ luật dân sự và Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự thì người đại diện hợp pháp của pháp nhân có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền.

Đọc tiếp

LẠM DỤNG GIÁM ĐỐC THẨM

HỒ KHẢI HÀ

image 1. Con dao hai lưỡi

Cách đây không lâu, Pháp Luật TP.HCM từng phản ánh một vụ tranh chấp mua bán nhà tại quận Bình Thạnh (TP.HCM). Hai bên có hợp đồng mua bán hẳn hoi. Hợp đồng còn cho phép họ có quyền đổi ý và bị chế tài tương ứng. Sau đó, bên bán ngưng không bán nữa. Tranh chấp, vụ việc được chuyển qua tòa.

Án kéo dài lê thê vì kháng nghị

Quá trình xét xử, các cấp tòa có những quan điểm khác biệt. Một quan điểm cho rằng bên bán phải tiếp tục hợp đồng để bảo vệ quyền lợi cho bên mua. Quan điểm khác thì cho rằng theo hợp đồng, các bên có quyền đổi ý và tòa phải tôn trọng thỏa thuận đó.

Vì lấn cấn này mà vụ án phải qua hai lần xử phúc thẩm, hai lần bị kháng nghị giám đốc thẩm rồi hai lần cấp giám đốc thẩm, hủy án, yêu cầu xử sơ thẩm lại. Tòa cứ xử đi xử lại như thế suốt… 14 năm! Hiện vụ án quay trở lại từ đầu khiến các đương sự ngao ngán. Họ than thở, chỉ một tranh chấp đơn giản, án phải kéo dài ngoài sức tưởng tượng, gây biết bao khó khăn, tốn kém về thời gian, công sức, tiền bạc của cả họ lẫn các cấp tòa.

Đọc tiếp

LẠM DỤNG GIÁM ĐỐC THẨM

HỒ KHẢI HÀ

1. Phần 1:

Khi giải quyết án dân sự, việc kháng nghị, xét xử giám đốc thẩm nhiều lúc đã đẩy cơ quan chức năng và người dân vào thế dở khóc dở mếu!

Cách đây không lâu, Pháp Luật TP.HCM từng phản ánh một vụ tranh chấp mua bán nhà tại quận Bình Thạnh (TP.HCM). Hai bên có hợp đồng mua bán hẳn hoi. Hợp đồng còn cho phép họ có quyền đổi ý và bị chế tài tương ứng. Sau đó, bên bán ngưng không bán nữa. Tranh chấp, vụ việc được chuyển qua tòa.

Án kéo dài lê thê vì kháng nghị

Quá trình xét xử, các cấp tòa có những quan điểm khác biệt. Một quan điểm cho rằng bên bán phải tiếp tục hợp đồng để bảo vệ quyền lợi cho bên mua. Quan điểm khác thì cho rằng theo hợp đồng, các bên có quyền đổi ý và tòa phải tôn trọng thỏa thuận đó.

Đọc tiếp

NGƯỜI TIÊU DÙNG KIỆN DOANH NGHIỆP NƯỚC TƯƠNG BỒI THƯỜNG 30 TỶ ĐỒNG

Anh Hà Hữu Tường, một cử nhân luật ở Q.Thủ Đức- TPHCM đã thay mặt hàng triệu người tiêu dùng, vừa chính thức khởi kiện các cơ sở nước tương “đen” và yêu cầu bồi thường 30 tỷ đồng!

Dù các DN đã có lời xin lỗi đến người tiêu dùng trên các phương tiện thông tin đại chúng, tuy nhiên anh Hà Hữu Tường- cử nhân Luật, cán bộ thi hành án dân sự quận 8 cho rằng: Các bên liên quan đến sai phạm phải bị xử lý theo đúng luật định.

“Người dân đòi hỏi sự giải quyết triệt để, làm tiền đề cho tất cả những vụ việc tương tự nếu có xảy ra. Tôi nghĩ đây cũng là cách đấu tranh cho những doanh nghiệp (DN) làm ăn chân chính, xây dựng một nền kinh tế an toàn và phát triển thực sự do dân và vì dân” – Anh Tường nói.

Theo đơn khởi kiện, anh Tường yêu cầu các nhà sản xuất phải bồi thường thiệt hại 30 tỷ đồng đối với sức khỏe và tính mạng hàng triệu NTD đã sử dụng sản phẩm nước tương chứa 3-MCPD vượt tiêu chuẩn trong nhiều năm qua. Yêu cầu Nhà nước truy thu khoản thu nhập bất hợp pháp của các nhà sản xuất và có mức phạt cụ thể với những hành vi sai phạm đã gây ra.

Đọc tiếp

NGƯỜI TIÊU DÙNG KHỞI KIỆN NHÀ SẢN XUẤT NHƯ THẾ NÀO?

MINH ĐỨC – LÊ NGA

Liên quan đến vụ nước tương có chất độc 3-MCPD bày bán trên thị trường nhiều năm qua, mới đây ông Hà Hữu Tường, 28 tuổi, thường trú tại 982/9 tỉnh lộ 43, KP1, P.Bình Chiểu, Q.Thủ Đức, TP.HCM đã gửi đơn đến TAND TP.HCM khởi kiện các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất nước tương có chất 3-MCPD vượt quá tiêu chuẩn quy định và yêu cầu các đơn vị này bồi thường 30 tỉ đồng. Xung quanh đơn kiện này, Chánh án TAND TP.HCM Bùi Hoàng Danh cho biết:

TAND TP.HCM đã nhận được đơn khởi kiện và yêu cầu bồi thường thiệt hại của ông Hà Hữu Tường và chính tôi là người trực tiếp xem xét đơn. Qua xem xét, tôi thấy đơn khởi kiện của ông Tường còn chung chung quá và cần phải bổ sung nhiều điểm.

Đọc tiếp

KHỞI TỐ, KHỞI KIỆN VÌ LỢI ÍCH CHUNG TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

NGUYỄN VĂN TIẾN – GV Khoa luật Dân sự, Trường ĐH Luật TP. HCM

Khởi tố, khởi kiện vì lợi ích chung là một quy định quan trọng trong tố tụng dân sự. Đó là công cụ pháp lý cần thiết nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà nước, công dân khi có vi phạm, tranh chấp mà không có ai khởi kiện. Theo quy định này, công dân do không có năng lực hành vi tố tụng dân sự hoặc có năng lực hành vi tố tụng dân sự nhưng vì một lý do nào đó mà họ không tự bảo vệ quyền lợi của chính mình được thì các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự sẽ tiến hành khởi tố, khởi kiện nhằm bảo vệ các quyền lợi đó của công dân. Ngoài mục đích bảo vệ quyền lợi của công dân, khởi tố, khởi kiện vì lợi ích chung cũng là phương thức bảo vệ các quyền và lợi ích trong lĩnh vực dân sự của nhà nước bị xâm hại. Khởi tố, khởi kiện vì lợi ích chung là một nội dung bảo đảm quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật, là hình thức bảo hộ của nhà nước khi công dân có quyền, lợi ích hợp pháp bị vi phạm hay tranh chấp.

Đọc tiếp

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ HOẠT ĐỘNG HÒA GIẢI VỤ ÁN DÂN SỰ Ở THỦ TỤC SƠ THẨM

THS. ĐẶNG THANH HOA  – Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Hòa giải trong tố tụng dân sự, nguyên tắc đặc trưng của ngành luật Tố tụng dân sự, đã được tiếp tục ghi nhận và hoàn thiện tại Bộ luật Tố tụng dân sự 2005 (BLTTDS). Việc quán triệt, củng cố và phát triển nguyên tắc hòa giải trong tố tụng dân sự đã góp phần đưa Tòa án về đúng vị trí và vai trò của mình khi giải quyết các tranh chấp dân sự (tranh chấp “tư”), đó chính là vai trò trung gian, trọng tài, giải quyết các tranh chấp dân sự trên nền tảng sự chủ động thỏa thuận của đôi bên đương sự. Chúng tôi hoàn toàn thống nhất với quan điểm và ghi nhận của BLTTDS về vấn đề này. Bởi lẽ, các tranh chấp về dân sự phần lớn được hình thành trên cơ sở bình đẳng, thỏa thuận của chính các chủ thể trong quan hệ đó (khái niệm tranh chấp dân sự được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm: các tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động). Vì vậy, một khi có xảy ra tranh chấp thì không ai khác mà chính các chủ thể này phải tiến hành thương lượng để đi đến thống nhất nhằm hóa giải các mâu thuẫn, tranh chấp và Toa án chỉ phải ra quyết định giải quyết các tranh chấp một khi các bên không thể thỏa thuận được với nhau. Cũng chính vì vậy, quyền hòa giải – thỏa thuận của các đương sự được thực hiện xuyên suốt trong quá trình tố tụng dân sự từ lúc Tòa án thụ lý vụ án dân sự, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, cho đến khi mở phiên tòa sơ thẩm và cả trong thủ tục phúc thẩm… Song song đó, nhiệm vụ và quyền hạn của Tòa án cũng đã được BLTTDS quy định cụ thể đối với hoạt động hòa giải: nguyên tắc tiến hành hòa giải (Điều 180); thông báo về phiên hòa giải (Điều 183); nội dung hòa giải, biên bản hòa giải và việc ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự (Điều 185, 186, 187),… Đọc tiếp

VIỆC THAY ĐỔI, BỔ SUNG VÀ RÚT YÊU CẦU CỦA ĐƯƠNG SỰ TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM DÂN SỰ

THS. Bùi Thị Huyền – Khoa Luật dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Theo nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự, trong quá trình tố tụng, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi, bổ sung các yêu cầu của mình. Cho nên, phạm vi xét xử của phiên toà sơ thẩm dân sự là yêu cầu của đương sự được xác định công khai tại phiên toà. Do đó, Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) quy định trước khi hỏi về nội dung vụ án, chủ tọa phiên tòa hỏi đương sự về các vấn đề thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu, cụ thể:

- Hỏi nguyên đơn có thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện hay không?

- Hỏi bị đơn có thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu phản tố hay không?

- Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có thay đổi bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu độc lập hay không?

1. Việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự tại phiên toà sơ thẩm dân sự

Để đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự đồng thời tạo điều kiện cho đương sự phía bên kia biết trước được yêu cầu của đương sự đối lập để chuẩn bị các chứng cứ, tài liệu chống lại yêu cầu đó và thực hiện việc tranh tụng một cách tốt nhất, tại phiên toà sơ thẩm Hội đồng xét xử (HĐXX) chỉ chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự, nếu không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu. Tuy nhiên, hiểu như thế nào là “yêu cầu ban đầu” và “vượt quá yêu cầu ban đầu” là vấn đề có nhiều quan điểm khác nhau.

1.1. Về “yêu cầu ban đầu”

Nghị quyết số 02 ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (HĐTPTANDTC) hướng dẫn, “yêu cầu ban đầu là yêu cầu được thể hiện trong đơn khởi kiện của nguyên đơn, đơn phản tố của bị đơn, đơn yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” [2, tr 21]. Tuy nhiên, có ý kiến lại cho rằng, yêu cầu ban đầu là yêu cầu cuối cùng đư­ợc đ­ưa ra trư­ớc khi Toà án mở phiên toà.

Chúng tôi cho rằng, phạm vi xét xử của Toà án chính là quan hệ pháp luật nội dung tranh chấp giữa các bên đương sự. Nếu giải quyết như hướng dẫn của Nghị quyết số 02, quyền tự định đoạt của các đương sự sẽ bị hạn chế. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, các hoạt động cung cấp, thu thập chứng cứ của các chủ thể nhằm mục đích cho việc giải quyết các yêu cầu đó. Khi Toà án ra quyết định đưa ra xét xử tại phiên toà, trong giai đoạn chuẩn bị cho việc mở phiên toà thực chất là việc Toà án nghiên cứu kỹ lại các yêu cầu, các chứng cứ, tài liệu chứng minh cho yêu cầu đó. Nếu chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu trong giai đoạn này, Toà án sẽ phải thông báo cho đương sự phía bên kia, thu thập chứng cứ… tức là lại phải có thời gian để chuẩn bị việc xét xử cho yêu cầu mới được thay đổi, bổ sung. Điều đó sẽ làm kéo dài quá trình tố tụng và không hợp lý. Vì vậy, cần phải hiểu yêu cầu ban đầu cùng là quan hệ pháp luật tranh chấp được đưa ra trước khi Toà án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử (thường là buổi hoà giải cuối cùng).

1.2. Về “không vượt quá” yêu cầu ban đầu

Theo quy định của Điều 217, khoản 1 Điều 218 BLTTDS tại phiên toà sơ thẩm, đương sự có quyền thay đổi, bổ sung nếu không v­ượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu. Nhận thức về cụm từ “vượt quá” có nhiều quan điểm khác nhau.

Ý kiến thứ nhất cho rằng, theo quy định tại Điều 218 BLTTDS thì quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự tại phiên toà bị hạn chế theo hướng rút bớt yêu cầu thì được còn theo hướng thêm thì không được [4; tr 4 ].

Ý kiến thứ hai cho rằng, không được vượt quá yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu là không được đưa thêm yêu cầu mới đồng thời không được tăng giá trị yêu cầu, có nghĩa không được gây bất lợi cho các đương sự khác.

Nghị quyết số 02 ngày 12/5/2006 của HĐTPTANDTC hướng dẫn, “không được vượt quá yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu là không vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu” [2, tr 21 ]. Có thể thấy, hướng dẫn trên chưa làm rõ được cụm từ “phạm vi” là phạm vi quan hệ pháp luật tranh chấp hay phạm vi về giá trị yêu cầu.

Theo chúng tôi, không vượt quá yêu cầu ban đầu là không làm xuất hiện thêm quan hệ pháp luật tranh chấp mới so với yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu hay yêu cầu tại phiên toà không làm phát sinh thêm quan hệ pháp luật mới. Chúng ta sẽ xem xét vấn đề trên thông qua tình huống sau.

Ví dụ: Khi khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả 30 triệu đồng là tiền mà nguyên đơn đã cho bị đơn vay. Trong trường hợp này, quan hệ pháp luật tranh chấp là hợp đồng vay tài sản hay giá trị tranh chấp là 30 triệu đồng. Việc xem xét để giải thích cụm từ không vượt quá yêu cầu ban đầu phải xem xét sự giải thích đó có vi phạm các nguyên tắc, quy định của pháp luật tố tụng dân sự hay không và phải tính đến yêu cầu, mục đích của hoạt động tố tụng.

Nếu cho rằng, tại phiên toà nguyên đơn có quyền đưa thêm yêu cầu Toà án giải quyết một quan hệ pháp luật mới (ngoài hợp đồng vay tài sản) là không hợp lý. Bởi “thực tế chứng minh rằng tranh tụng chỉ có hiệu quả nếu mỗi đương sự có được sự hiểu biết đầy đủ và toàn diện các yêu cầu và lý lẽ chống lại mình. Về mặt logíc, người ta chỉ có thể đối đáp lại những gì mà mình biết” [3; tr 45 ]. Để bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự khi đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầu thì đương sự phải đưa ra các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp đồng thời phải thông báo cho đương sự phía bên kia biết về việc đã bị khởi kiện về vấn đề gì ( quan hệ pháp luật gì). Cho nên, tại phiên toà đương sự không thể có quyền đưa thêm yêu cầu Toà án giải quyết một quan hệ pháp luật mới, điều đó nhằm đảm bảo cho đương sự có cơ hội tiếp cận yêu cầu của đương sự phía bên kia, bảo đảm khả năng bảo đảm quyền bảo vệ của các đương sự và thực hiện tranh tụng.

Nhưng nếu cho rằng, tại phiên toà đương sự cũng không có quyền tăng thêm giá trị cho dù nó không làm phát sinh thêm một quan hệ pháp luật mới là cứng nhắc. Ở đây cần hiểu rằng, các tài liệu chứng cứ mà bên đưa ra yêu cầu phải xuất trình khi khởi kiện để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp là các chứng cứ chứng minh rằng họ có quyền khởi kiện đối với quan hệ pháp luật đó, còn trong quan hệ pháp luật đó ai là người có quyền, ai là người có nghĩa vụ và quyền, nghĩa vụ như thế nào phải khi bản án của Toà án có hiệu lực pháp luật mới xác định được. Theo quy định của PLTTDS hiện hành, trong suốt quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều có quyền cung cấp chứng cứ, tài liệu mới và thực tế đã chứng minh nhiều trường hợp những chứng cứ quan trọng thường được các đương sự giữ kín đến phiên toà sơ thẩm hoặc phúc thẩm mới xuất trình. Thậm chí còn chờ một HĐXX “ưng ý” mới xuất trình. Những chứng cứ mới đó có thể làm tăng giá trị yêu cầu hoặc giảm nghĩa vụ phải thực hiện của đương sự. Vì vậy, chỉ khi nào những chứng cứ mới làm phát sinh một quan hệ pháp luật mới mới gây sự bất lợi cho đương sự phía đối lập và cần phải được tách riêng để giải quyết bằng một vụ việc khác. Còn nếu chỉ là sự gia tăng về giá trị yêu cầu nhưng không làm phát sinh thêm quan hệ pháp luật mới cần giải quyết thì vẫn được chấp nhận. Chỉ khi nào, PLTTDS Việt Nam có quy định về thời hạn cung cấp, giao nộp chứng cứ của các đương sự thì yêu cầu về tăng giá trị mới có thể không được chấp nhận.

Từ các lập luận trên chúng tôi cho rằng, trước mắt, nếu giữ nguyên quy định về việc đương sự có quyền cung cấp chứng cứ trong suốt quá trình tố tụng thì cần sửa khoản 1 Điều 218 BLTTDS theo hướng: “Tại phiên toà sơ thẩm, đương sự có quyền thay đổi, bổ sung nếu không làm xuất hiện thêm đương sự mới, không làm phát sinh thêm quan hệ pháp luật mới cần giải quyết”.

2. Việc rút yêu cầu của đương sự tại phiên toà sơ thẩm dân sự

Rút yêu cầu là việc đương sự từ bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu mình đã đưa ra. Việc xem xét, giải quyết việc rút yêu cầu của đương sự được quy định tại Điều 217, 218 BLTTDS. Điều 218 BLTTDS quy định: “Trong trường hợp đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì HĐXX chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đã rút ”. Tuy nhiên, việc hiểu và áp dụng các điều luật này có nhiều ý kiến khác nhau. Chúng ta sẽ xem xét vấn đề trên trong từng trường hợp cụ thể.

2.1. Đối với trường hợp, vụ án chỉ có yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Khi nguyên đơn rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì HĐXX chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đã rút (Điều 218 BLTTDS). Vấn đề đặt ra ở đây là hình thức của quyết định đình chỉ xét xử đó như thế nào? Điều 218 của BLTTDS không quy định cụ thể và Nghị quyết số 02 ngày 12/5/2006 của HĐTPTNDTC cũng không hướng dẫn về vấn đề này.

a, Trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu

Có ý kiến cho rằng, khi nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu, HĐXX ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày Toà án ra quyết định. Bởi vì, theo điểm c Khoản 1 Điều 192 và Điều 193 BLTTDS thì quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm là quyết định chưa có hiệu lực pháp luật.

Chúng tôi cho rằng, khi nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu Toà án sẽ đình chỉ việc giải quyết vụ án và quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay. Bởi, khi vụ án chỉ có yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mà nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu dẫn đến đối tượng xét xử của vụ án không còn nữa. Do đó, Tòa án phải ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án. Điều 192, 193 BLTTDS được quy định để áp dụng cho việc đình chỉ giải quyết vụ án ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm dân sự. Nhưng BLTTDS không có điều luật nào dẫn chiếu quy định này để áp dụng cho việc đình chỉ giải quyết vụ án tại phiên tòa sơ thẩm dân sự. Hơn nữa, nếu tại phiên toà, đương sự rút đơn khởi kiện và sau đó có thể chống lại quyết định của mình thì Toà án sẽ phải mở phiên toà khác. Điều đó làm kéo dài quá trình tố tụng và Toà án phải chạy theo đương sự. Cho nên, tại phiên toà, nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì họ sẽ không có quyền kháng cáo, VKS không có quyền kháng nghị. Cách quy định này, buộc các đương sự phải suy nghĩ thận trọng khi rút đơn khởi kiện tại phiên toà đồng thời hạn chế sự can thiệp của VKS vào việc giải quyết vụ án dân sự.

b,Trong trường hợp nguyên đơn rút một phần yêu cầu

Cách hiểu thứ nhất, khi nguyên đơn rút một phần yêu cầu, Toà án sẽ xét xử yêu cầu còn lại, yêu cầu mà đương sự đã rút sẽ được HĐXX đánh giá trong phần nhận định nhưng không đề cập trong quyết định của bản án.

Cách hiểu thứ hai, khi nguyên đơn rút một phần yêu cầu, Toà án sẽ xét xử yêu cầu còn lại, yêu cầu mà đương sự rút sẽ được HĐXX đánh giá trong phần nhận định và ghi nhận trong quyết định của bản án

Theo chúng tôi, khi nguyên đơn rút một phần yêu cầu, cũng giống như trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu, đương sự sẽ phải cân nhắc và chịu trách nhiệm đối với yêu cầu của mình. Do đó, Toà án sẽ xét xử phần còn lại bình thường. Phần yêu cầu mà đương sự rút sẽ được HĐXX đề cập ở phần nhận thấy, nhận định và quyết định trong phần quyết định của bản án, bởi về nguyên tắc, tất cả những vấn đề được đánh giá trong phần nhận định sẽ phải được ghi nhận trong quyết định của bản án. Quyết định đình chỉ xét xử yêu cầu có hiệu lực pháp luật ngay, đương sự không có quyền kháng cáo, VKS không có quyền kháng nghị.

2.2. Đối với trường hợp, vụ án có yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Quyền phản tố của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là điểm mới của BLTTDS so với các văn bản pháp luật trước kia. Trong tiếng Việt, phản tố là “ngược lại, ngược trở lại” [1; tr 764 ]. Trong TTDS, phản tố được hiểu là việc bị đơn kiện ngược lại nguyên đơn về một quan hệ pháp luật khác với quan hệ pháp luật nguyên đơn đã kiện bị đơn nhưng có liên quan đến quan hệ pháp luật mà nguyên đơn đã khởi kiện.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là người tham gia vào vụ án đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn nhưng để bảo vệ quyền và lợi ích của chính họ. Yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là việc người có quyền lợi nghĩa vụ kiện ngược lại nguyên đơn và bị đơn về một quan hệ pháp luật khác với quan hệ pháp luật nguyên đơn đã kiện bị đơn nhưng có liên quan đến quan hệ pháp luật mà nguyên đơn đã khởi kiện.

Để đảm bảo việc giải quyết dứt điểm tranh chấp giữa các bên đương sự một cách nhanh chóng, Điều 219 BLTTDS quy định, trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình thì bị đơn trở thành nguyên đơn và nguyên đơn trở thành bị đơn. Nếu cả nguyên đơn và bị đơn đều rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc yêu cầu phản tố, nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của mình thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người có nghĩa vụ đối với yêu cầu độc lập trở thành bị đơn.

Việc thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự trong những trường hợp này nhằm tránh việc Toà án ra quyết định đình chỉ xét xử, sau đó nếu bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đưa ra yêu cầu độc lập, Toà án lại phải thụ lý và giải quyết các yêu cầu đó. Trong khi đó, quan hệ pháp luật tranh chấp đó đã được Tòa án được Toà án thụ lý và xem xét. Vì vậy, quy định về thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự nhằm đảm bảo việc giải quyết tranh chấp dân sự một cách nhanh chóng, tiết kiệm, hiệu quả. Khi thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự thì quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách đương sự sẽ thay đổi, nên kể từ thời điểm các đương sự thay đổi địa vị tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định theo yêu cầu của nguyên đơn mới, các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng theo địa vị được thay đổi.

Tuy nhiên, BLTTDS không quy định về trường hợp nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của mình. Theo chúng tôi, trong trường hợp này, nguyên đơn vẫn còn một phần yêu cầu đối với bị đơn và bị đơn vẫn phải có nghĩa vụ trả lời yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cho nên, trường hợp này không thể dẫn đến việc thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự. Ngoài ra, BLTTDS không quy định về thời điểm thực hiện việc phản tố của bị đơn và đưa ra yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Vì thế, tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập hay không và hậu quả của việc nguyên đơn rút đơn khởi kiện như thế nào là những vấn đề có nhiều quan điểm khác nhau.

a, Giải quyết hậu quả của việc nguyên đơn rút đơn khởi kiện

Khi nguyên đơn rút đơn khởi kiện sẽ có hai vấn đề đặt ra là: giải quyết việc rút yêu cầu của nguyên đơn và giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Ý kiến thứ nhất cho rằng, khi nguyên đơn rút đơn khởi kiện, HĐXX sẽ ra quyết định tách vụ án, sau đó ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo điểm c Khoản 1 Điều 192 và Điều 193 BLTTDS và đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày Toà án ra quyết định. HĐXX tiếp tục xét xử đối với yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự.

Ý kiến thứ hai cho rằng, khi nguyên đơn rút đơn khởi kiện, mà vẫn bị đơn giữ yêu cầu phản tố thì “Toà án phải xét xử ngay yêu cầu phản tố của bị đơn mới đúng tinh thần của Điều 219 BLTTDS. Trong trường hợp này chứng cứ trong hồ sơ vụ kiện đã được Toà án thu thập đầy đủ, vì vậy hoàn toàn có cơ sở để xử ngay sau khi chuyển đổi tư cách tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp mà không cần thiết phải kéo dài thời gian giải quyết vụ kiện chỉ vì những thủ tục tố tụng phiền hà” [4; tr 28].

Ý kiến thứ ba cho rằng, khi nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện, HĐXX chỉ xem xét với yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự. Cuối cùng HĐXX ra bản án để quyết định đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn và quyết định về việc xét xử yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa liên quan. Các đương sự có quyền kháng cáo, VKS có quyền kháng nghị đối với toàn bộ bản án. Cách giải quyết này thường được các Toà án áp dụng.

Theo chúng tôi, đối với cách giải quyết thứ nhất, hiện nay chưa có hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc tách vụ án dân sự và hiệu lực của quyết định tách vụ án dân sự. Mặt khác, chỉ có thể tách vụ án dân sự được nếu nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu và yêu cầu của nguyên đơn độc lập với yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Đối với cách giải quyết thứ nhất và thứ ba, như đã phân tích ở trên, việc đương sự có quyền kháng cáo đối với quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự hoặc phần quyết định đình chỉ yêu cầu trong bản án sơ thẩm là điều không hợp lý. Đối với cách giải quyết thứ hai, chưa đề cập về hình thức để chấp nhận việc rút yêu cầu của đương sự và hiệu lực của nó

Chúng tôi cho rằng, trong trường hợp này, HĐXX sẽ đình chỉ xét xử yêu cầu của nguyên đơn mà không đình chỉ giải quyết vụ án vì vụ án vẫn còn yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bởi, thực chất Điều 219 BLTTDS là quy định tiếp nối Điều 218 về trường hợp vụ án có yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Cho nên, HĐXX sẽ đình chỉ xét xử yêu cầu của nguyên đơn trong bản án và phần quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay. HĐXX tiếp tục xét xử đối với yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự. Cách giải quyết tương tự cũng được áp dụng trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập.

Từ các phân tích trên, chúng tôi kiến nghị như sau:

Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 218 BLTTDS theo hướng: “Trong trường hợp đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì HĐXX chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đã rút, quyết định đình chỉ xét xử yêu cầu có hiệu lực pháp luật ngay”.

Bổ sung Điều 219 BLTTDS thêm khoản 3 theo hướng: “Toà án quyết định đình chỉ xét xử yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn (nếu có) trong phần quyết định của bản án, quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay ”.

b, Về thời điểm thực hiện quyền phản tố của bị đơn

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Bị đơn chỉ được thực hiện quyền yêu cầu phản tố cùng với việc nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo khoản 1 Điều 176 BLTTDS, tức là không quá ba mươi ngày kể từ ngày bị đơn nhận được thông báo thụ lý [4, tr 17 ].

Quan điểm thứ hai cho rằng: Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố vào bất cứ thời điểm nào họ muốn, việc quy định nội dung thay đổi địa vị tố tụng tại Điều 219 trong thủ tục hỏi tại phiên toà sơ thẩm đã thể hiện việc bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố ngay tại phiên toà, HĐXX sẽ quyết định về án phí đối với họ mà không cần phải nộp tiền tạm ứng án phí [4, tr 15 ].

Quan điểm thứ ba cho rằng, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố cho đến trước khi Toà án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Chúng tôi đồng tình với quan điểm này vì những lý do sau:

Thứ nhất, nếu trước phiên toà sơ thẩm nguyên đơn có quyền đưa ra yêu cầu và có quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện không bị giới hạn bởi phạm vi đơn khởi kiện ban đầu thì bị đơn cũng phải có quyền phản tố đối với các yêu cầu đó của nguyên đơn; còn tại phiên toà sơ thẩm thì nguyên đơn được thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện nhưng không được vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu vì vậy bị đơn cũng chỉ có quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu phản tố so với yêu cầu ban đầu (nếu có) chứ không được đưa ra yêu cầu phản tố mới.

Thứ hai, nếu bị đơn thực hiện quyền phản tố trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, bị đơn vẫn thực hiện được nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí mà không phải hoãn phiên toà. Hơn nữa, “quá trình giải quyết vụ án dân sự thường là tương đối dài nên bị đơn có điều kiện để cân nhắc kỹ việc có đưa ra yêu cầu phản tố hay không” [4, tr 15 ]. Còn tại phiên toà sơ thẩm thì bị đơn mới thực hiện quyền phản tố thì Toà án không thể làm thủ tục gia hạn để giải quyết vụ án bởi “việc xét xử của Toà án… phải được tiến hành liên tục trừ thời gian nghỉ. Các thành viên của HĐXX phải xét xử vụ án từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 198” [4, Điều 197], trong khi đó việc giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn thì Toà án cũng phải tiến hành những thủ tục cần thiết như thủ tục thụ lý đơn khởi kiện của nguyên đơn (Điều 178 BLTTDS). Như vậy, nếu quy định bị đơn có quyền phản tố tại phiên toà sơ thẩm sẽ dẫn đến vi phạm về thời hạn tố tụng, không đảm bảo được quyền lợi của đương sự cũng như bình đẳng giữa các đương sự.

Trên cơ sở phân tích các nội dung trên, chúng tôi kiến nghị bổ sung thêm Khoản 3 Điều 176 BLTTDS theo hướng: “ Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố cho đến trước thời điểm mở phiên toà sơ thẩm”.

Tài liệu tham khảo

1. Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà nẵng, Trung tâm từ điển học, năm 2003.

2. Nghị quyết số 02 ngày 12/5/2006 của HĐTPTATC hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ hai “ Thủ tục giải quyết các vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm ” của BLTTDS.

3. Phạm Nh­ư Hư­ng, Nguyên tắc tranh tụng trong luật Tố tụng dân sự Cộng hoà Pháp, Tạp chí Luật học số 4/2003.

4. Tài liệu hội thảo khoa học cấp trường, Đề tài: “Về việc thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự”, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2005.

Các bài viết cùng tác giả: http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/?s=%22B%C3%B9i+Th%E1%BB%8B+Huy%E1%BB%81n%22

SOURCE: TẠP CHÍ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT SỐ 9/2007, TR 61 – 67

HOÃN VÀ TẠM NGỪNG PHIÊN TÒA SƠ THẨM

THS. Bùi Thị Huyền – Khoa Luật dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Quá trình giải quyết vụ án dân sự có thể trải qua các giai đoạn tố tụng khác nhau nhưng xét xử tại phiên tòa sơ thẩm là giai đoạn quan trọng nhất, nơi thể hiện rõ chức năng xét xử của Toà án, nơi biểu hiện tập trung của quyền tư pháp. Về nguyên tắc, phiên toà sơ thẩm sẽ được tiến hành với sự tham gia của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng theo đúng thời gian, địa điểm được xác định trong quyết định đưa vụ án ra xét xử. Khi kết thúc phiên toà, Hội đồng xét xử ( viết tắt là HĐXX) ra bản án, quyết định về giải quyết toàn bộ vụ án. Tuy nhiên, có những trường hợp vì những lý do khác nhau dẫn đến phiên toà sơ thẩm dân sự không diễn ra theo đúng trình tự nêu trên, phiên toà sơ thẩm có thể bị hoãn hoặc tạm ngừng. Hoãn và tạm ngừng phiên toà là hai khả năng khác nhau có thể xảy ra tại phiên toà nhưng việc hiểu và áp dụng hai trường hợp này trong thực tiễn không được phân biệt rõ ràng. Trong phạm vi bài viết, chúng tôi muốn trao đổi về hai trường hợp này.

1.Hoãn phiên toà sơ thẩm dân sự

Trong tiếng Việt “hoãn là chuyển thời điểm đã định để làm việc gì đó sang thời điểm khác muộn hơn”(1). Theo nội hàm của từ này thì hoãn phiên toà là việc chuyển thời điểm tiến hành phiên toà dân sự đã định sang thời điểm khác muộn hơn. Việc hoãn phiên toà chỉ được thực hiện khi có các căn cứ do pháp luật quy định

1.1. Căn cứ hoãn phiên tòa

Vì tính chất quan trọng của sự tham gia tố tụng tại phiên tòa của các chủ thể quan hệ pháp luật tố tụng, Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) quy định HĐXX phải hoãn phiên tòa trong các trường hợp sau:

- Trường hợp phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân (HTND), Thư ký Tòa án mà không có Thẩm phán, HTND dự khuyết thay thế; vắng mặt Kiểm sát viên trong trường hợp Viện Kiểm sát (VKS) phải tham gia phiên toà hoặc trong trường hợp Kiểm sát viên bị thay đổi hoặc không thể tiếp tục tham gia phiên tòa mà không có Kiểm sát viên dự khuyết để thay thế như quy định tại Điều 207 BLTTDS;

- Trường hợp phải thay đổi người giám định mà không có người khác thay thế như quy định tại khoản 2 Điều 72 BLTTDS;

- Trường hợp người phiên dịch vắng mặt mà không có người khác thay thế, trừ trường hợp đương sự vẫn yêu cầu tiến hành xét xử như quy định tại khoản 2 Điều 206 BLTTDS;

- Trường hợp người làm chứng, người giám định vắng mặt thì tùy từng hoàn cảnh cụ thể, HĐXX quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử như quy định tại Điều 204 và Điều 205 BLTTDS;

- Trường hợp nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng như quy định tại các Điều 199, 200, 201và 203 BLTTDS;

- Trường hợp tại phiên toà khi cần thiết phải giám định lại, giám định bổ sung theo khoản 4 Điều 230.

Bên cạnh đó, nếu có người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa mà không thuộc trường hợp Tòa án buộc phải hoãn phiên tòa (như vắng mặt người làm chứng, người giám định, người phiên dịch) thì chủ tọa phiên tòa phải hỏi xem có ai đề nghị hoãn phiên tòa hay không; nếu có người đề nghị thì HĐXX xem xét, quyết định và có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận, trường hợp không chấp nhận thì phải nêu rõ lý do (Điều 215 BLTTDS). Quy định này cho phép HĐXX sẽ được tuỳ nghi lựa chọn hoãn hay không hoãn. Trên thực tế, các HĐXX thường chọn giải pháp an toàn là hoãn phiên toà. Tuy nhiên, theo chúng tôi HĐXX vẫn có thể tiếp tục phiên toà nếu người vắng mặt đã có lời khai trong hồ sơ.

Ngoài ra, đối với các trường hợp khác theo các Điều 199, 201 BLTTDS thì HĐXX giải quyết như sau:

- Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Toà án quyết định đình chỉ giải quyết vụ án;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập của mình và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu nguyên đơn, bị đơn đồng ý.

So với quy định của pháp luật tố tụng dân sự ( viết tắt là PLTTDS) trước kia, các căn cứ hoãn phiên toà trong BLTTDS đã đầy đủ, chặt chẽ hơn, hạn chế việc hoãn phiên toà tuỳ tiện nhằm kéo dài thời gian giải quyết vụ án. . Tuy nhiên, một số căn cứ hoãn phiên tòa vẫn chưa rõ ràng, chưa bao quát được các trường hợp xảy ra trong thực tiễn xét xử dẫn đến có những cách hiểu và áp dụng khác nhau.

- Về trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt tại phiên tòa.

Các Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động trước kia đều quy định, đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt dù có lý do chính đáng hay không thì HĐXX đều phải hoãn phiên toà. Thực tiễn xét xử cho thấy, quy định này là một trong những nguyên nhân góp phần làm cho phiên toà sơ thẩm có thể bị hoãn nhiều lần, đặc biệt với những vụ án có nhiều đương sự, có những đương sự lợi dụng quy định này để kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Khắc phục tình trạng đó, BLTTDS quy định, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì hoãn phiên tòa nhưng không đưa ra cách giải quyết trong trường hợp vắng mặt lần thứ nhất không có lý do chính đáng. Tuy vậy, quy định tại các khoản 2 Điều 200, khoản 2 Điều 201 BLTTDS lại quy định dứt khoát bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vắng mặt thì Toà án mới được xét xử vắng mặt họ; khoản 2 Điều 199 quy định dứt khoát nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vắng mặt thì Toà án mới được ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Chính quy định không chặt chẽ và thiếu logic đó của BLTTDS đã dẫn đến cách hiểu và áp dụng pháp luật khác nhau của các Toà án trong thời gian đầu khi BLTTDS mới được ban hành. Thẩm phán Bùi Huy Tiến – Thẩm phán toà Kinh tế TANDTC đã thẳng thắn đánh giá rằng: “Đây là một lỗ thủng của BLTTDS”(2). Để giải quyết tình huống này nhiều Thẩm phán cho rằng: “bất luận vắng mặt lần thứ nhất của đương sự có lý do chính đáng hay không thì Toà án vẫn phải hoãn phiên toà và việc xét xử vắng mặt đương sự chỉ có thể tiến hành khi họ được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt“(3). Hơn nữa, BLTTDS cũng không chỉ ra những trường hợp nào được coi là lý do chính đáng nên trong thực tiễn xét xử “ việc hiểu thế nào là lý do chính đáng hiện nay vẫn chưa thống nhất” (4). Có ý kiến cho rằng, lý do được coi là chính đáng khi nó là bất khả kháng đối với đương sự đó như tai nạn, ốm đau, đi công tác xa đột xuất…và tất cả các lý do đó đương sự phải chứng minh được khi HĐXX kiểm tra căn cước ở phần thủ tục bắt đầu phiên toà. Cho đến ngày 12/5/2006 Nghị quyết 02 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (HĐTPTANDTC) hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ hai “ Thủ tục giải quyết các vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm ” của BLTTDS ( Viết tắt là NQ 02) đã quy định: “Khi nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ nhất dù không có lý do chính đáng thì Toà án vẫn hoãn phiên toà” (5). Như vậy, hướng dẫn trên là “bất nhất” với BLTTDS và giống như quy định của PLTTDS trước khi ban hành BLTTDS.

- Đối với trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt có lý do.

Các Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động trước kia đều quy định, khi đương sự được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt có lý do chính đáng dù là lần thứ mấy thì HĐXX đều hoãn phiên toà. Bộ luật TTDS không quy định về vấn đề này nhưng NQ 02 hướng dẫn: “Đối với những trường hợp đương sự đã nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều 195 của BLTTDS, đã được Toà án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập phiên toà theo quy định tại các điều từ Điều 150 đến Điều 156 của BLTTDS và đương sự đã chuẩn bị tham dự phiên toà xét xử vụ án, nhưng do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan xảy ra đối với họ ngay vào thời điểm trước ngày Toà án mở phiên toà hoặc ngay trong thời điểm họ đang trên đường đến Toà án để tham dự phiên toà (do thiên tai, địch hoạ, bị tai nạn, ốm nặng phải đi bệnh viện cấp cứu, người thân bị chết…) nên họ không thể có mặt tại phiên toà theo giấy triệu tập của Toà án, thì Toà án cũng hoãn phiên toà” (6). Nhưng NQ 02 lại không hướng dẫn rõ hướng dẫn trên áp dụng đối với trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ mấy. Rõ ràng đối với trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất Toà án phải hoãn phiên toà. Cho nên, cần phải hiểu đây là hướng dẫn cho trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ hai trở đi mà vẫn vắng mặt tại phiên toà khi có lý do chính đáng. Do đó, quy định của PLTTDS về vấn đề này lại giống như quy định của PLTTDS trước khi có BLTTDS. Cách quy định, giải thích pháp luật về vấn đề này thể hiện sự lúng túng, thiếu nhất quán của các nhà làm luật.

- Đối với trường hợp vụ án có nhiều đương sự.

BLTTDS không quy định cách giải quyết trong trường hợp vụ án có nhiều đương sự nhưng khi Toà án triệu tập họ tham gia phiên toà sơ thẩm thì một trong số họ lại vắng mặt. Tại NQ 02, HĐTPTANDTC hướng dẫn, mỗi đương sự sẽ được quyền vắng mặt một lần khi có lý do chính đáng. Cách giải quyết này nhìn chung là hợp lý vì bảo đảm được sự bình đẳng giữa các đương sự, nhưng đối với những vụ án có nhiều đương sự cách giải quyết này sẽ làm thời hạn giải quyết bị kéo dài. Có Thẩm phán cho rằng, “đối với những vụ án phức tạp có quá nhiều người tham gia tố tụng cần có quy định để tránh phải hoãn phiên toà nhiều lần. Chẳng hạn, trong vụ án chia thừa kế có tới hàng chục đương sự tham gia tố tụng, nếu mỗi đương sự được một lần vắng mặt có lý do chính đáng thì việc hoãn phiên toà cũng phải tới hàng chục lần, do đó cần có quy định thêm trong trường hợp vụ án có nhiều đương sự, mà có đương sự vắng mặt tại phiên toà, nhưng các đương sự có mặt đồng ý xét xử vắng mặt họ, hoặc việc xét xử vắng mặt các đương sự này không làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của các đương sự khác thì việc xét xử vẫn được tiến hành vắng mặt họ” (7)

Chúng tôi cho rằng quan điểm trên là hợp lý vì vừa bảo đảm được quyền lợi của các đương sự, vừa giải quyết nhanh chóng vụ án. Do đó cần bổ sung thêm Khoản 4 Điều 202 theo hướng: “trong trường hợp vụ án có nhiều đương sự, mà có đương sự vắng mặt tại phiên toà lần thứ nhất, nhưng các đương sự có mặt đồng ý xét xử vắng mặt họ, hoặc việc xét xử vắng mặt các đương sự này không làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của các đương sự khác thì việc xét xử vẫn được tiến hành vắng mặt họ”.

- Đối với trường hợp hoãn phiên toà khi cần thiết phải giám định lại, giám định bổ sung theo khoản 4 Điều 230.

Đây là trường hợp hoãn phiên toà khi HĐXX đã giải quyết về nội dung vụ án; khác với các trường hợp khác HĐXX hoãn phiên toà ở thời điểm trong phần thủ tục bắt đầu. Nếu xem xét về tính chất của hoãn phiên toà thì trường hợp này phải là trường hợp tạm ngừng phiên toà nên cần bỏ căn cứ hoãn phiên toà quy định tại Khoản 4 Điều 230 và quy định đây là căn cứ tạm ngừng phiên toà. Khi xây dựng BLTTDS vấn đề này đã có ý kiến khác nhau. Nhưng có lẽ do thời hạn tạm ngừng phiên toà quá ngắn, tối đa chỉ là 5 ngày làm việc nên thực tế các cơ quan, tổ chức giám định không thể trả lời kết quả giám định và vì thế, trường hợp này BLTTDS vẫn cứ quy định là căn cứ hoãn phiên toà để có thời gian hoãn phiên toà dài hơn.

1.2. Thời hạn hoãn phiên tòa

Theo quy định tại khoản 1 Điều 208 BLTTDS, khi có căn cứ hoãn phiên toà thì thời hạn hoãn phiên tòa sơ thẩm không quá 30 ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa. Việc hoãn phiên tòa do HĐXX quyết định. Trong trường hợp sau khi hoãn phiên tòa mà Tòa án không thể mở lại phiên tòa đúng thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa ghi trong quyết định hoãn phiên tòa thì Tòa án phải thông báo ngay cho VKS cùng cấp và những người tham gia tố tụng biết về thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa. Thời hạn hoãn phiên toà tối đa không quá 30 ngày, kể từ ngày ra quyết định. Thời hạn hoãn phiên toà không tính vào thời hạn chuẩn bị xét xử. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, bảo đảm việc mở lại phiên toà xét xử vụ án theo đúng quy định, thì sau khi hoãn phiên toà Toà án phải có kế hoạch mở lại phiên toà trong thời gian sớm nhất mà không nhất thiết phải để đến 30 ngày mới mở lại phiên toà.

1.3. Hình thức hoãn phiên tòa

Việc hoãn phiên toà phải được thực hiện bằng một quyết định. Trong quyết định hoãn phiên tòa phải nêu đầy đủ các nội dung về ngày, tháng năm ra quyết định; tên Toà án và họ, tên những người tiến hành tố tụng; vụ án được đưa ra xét xử; lý do của việc hoãn phiên toà; thời gian, địa điểm mở lại phiên toà. Quyết định hoãn phiên tòa phải được chủ tọa phiên tòa thay mặt HĐXX ký tên và thông báo công khai cho những người tham gia tố tụng biết; đối với người vắng mặt thì Tòa án gửi ngay cho họ quyết định đó, đồng thời gửi cho VKS cùng cấp. Quyết định này được coi như giấy triệu tập mới đối với đương sự. Trong trường hợp có sự thay đổi về thời gian, địa điểm mở lại phiên toà ghi trong quyết định hoãn phiên toà, thì Toà án phải thông báo ngay cho VKS cùng cấp và những người tham gia tố tụng biết về thời gian, địa điểm mở lại phiên toà. Quyết định hoãn phiên tòa phải được HĐXX thảo luận, thông qua theo đa số tại phòng nghị án và phải được lập thành văn bản. Đây là điểm mới của BLTTDS so với quy định của pháp luật tố tụng dân sự trước kia. Pháp luật tố tụng dân sự trước kia không quy định việc hoãn phiên toà phải bằng một quyết định nên dẫn đến việc hoãn phiên toà nhiều khi tuỳ tiện, không đúng các căn cứ do pháp luật quy định.

1.4. Thời điểm và thẩm quyền ra quyết định hoãn phiên tòa

Hoãn phiên toà là việc chuyển thời điểm tiến hành phiên toà dân sự đã định sang thời điểm khác muộn hơn, nên về nguyên tắc chỉ khi phiên toà được mở thì Toà án mới xác định chính xác được chính xác có căn cứ hoãn hay không, do đó quyền hoãn phiên toà chỉ thuộc về HĐXX. Chức năng và mục đích của phiên tòa sơ thẩm dân sự là giải quyết toàn bộ nội dung vụ án. Cho nên khi hoãn phiên toà nội dung vụ án chưa xem xét, tức là thời điểm hoãn phiên toà chỉ xảy ra ở phần thủ tục bắt đầu phiên toà. Về thẩm quyền hoãn phiên tòa, khoản 1 Điều 208 BLTTDS quy định: “ HĐXX quyết định hoãn phiên toà…”. Vì vậy, thời điểm hoãn phiên toà là trong phần thủ tục bắt đầu phiên toà và quyền ra quyết định hoãn phiên toà là thuộc về HĐXX.

Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử hiện nay còn có nhiều trường hợp việc hoãn phiên toà không thực hiện tại phiên toà mà Thẩm phán tự hoãn phiên toà trước khi mở phiên toà với các lý do như đương sự thông báo trước là sẽ không đến phiên toà vào ngày, giờ theo quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc theo giấy triệu tập, HTND có việc đột xuất không tham gia xét xử được… Trong trường hợp, lý do mà đương sự đề nghị hoãn phiên tòa là chính đáng hoặc các trường hợp khác thuộc căn cứ hoãn phiên tòa thì khi mở phiên tòa, HĐXX vẫn phải hoãn phiên tòa. Do đó, việc Thẩm phán hoãn phiên tòa trước khi mở phiên tòa nếu thông báo được cho những người tham gia tố tụng sẽ có lợi cho đương sự có yêu cầu, thuận tiện cho Toà án và tiết kiệm được chi phí tố tụng. Vì vậy, cần sửa khoản 1 Điều 208 BLTTDS theo hướng: “ Tòa án quyết định hoãn phiên toà…”.

Có thể thấy, lần đầu tiên pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam quy định chặt chẽ về căn cứ, thủ tục, thời hạn ra quyết định hoãn phiên toà nhằm tránh việc hoãn phiên toà tuỳ tiện, kéo dài thời gian giải quyết vụ án, từ đó bảo đảm việc bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

2. Tạm ngừng phiên toà sơ thẩm dân sự

Xét xử là hoạt động tố tụng và tư duy nên để bảo đảm cho HĐXX và những người tham gia tố tụng dễ dàng theo dõi được diễn biến cũng như các tình tiết của vụ án và giải quyết được dứt điểm từng vụ thì việc xét xử ở phiên tòa phải được tiến hành liên tục, trừ thời gian nghỉ. Các thành viên của HĐXX phải xét xử vụ án từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc, phải xét xử xong dứt điểm từng vụ án một rồi mới được chuyển sang xét xử vụ án khác, không được phép làm thủ tục khai mạc phiên tòa chung cho nhiều vụ án, hoặc tuyên án cùng một lúc cho nhiều vụ án. Tuy nhiên, có những trường hợp sau khi kết thúc bước 1- thủ tục khai mạc phiên tòa, chuyển sang thủ tục hỏi – bắt đầu đi vào giải quyết phần nội dung vụ án có những lý do khác nhau dẫn đến phiên tòa không thể tiếp tục được, trong trường hợp đó HĐXX phải tạm ngừng phiên toà.

Theo sách Đại Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin năm 1998, “tạm ngừng” là từ ghép của hai từ “tạm”“ngừng”. Tạm là chỉ trong thời gian ngắn và sẽ còn thay đổi. Ngừng là dừng lại, không tiếp tục hoạt động. Tạm ngừng là không tiếp tục hoạt động mà phải dừng lại trong thời gian ngắn (8). Như vậy, tạm ngừng phiên tòa có thể hiểu là phiên tòa không tiếp tục các hoạt động tố tụng trong thời gian ngắn khi có các căn cứ do pháp luật tố tụng dân sự quy định.

Căn cứ tạm ngừng phiên toà

Khoản 2 Điều 197 quy định, về nguyên tắc phiên toà sơ thẩm phải được tiến hành liên tục từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc phiên toà, trừ trường hợp có căn cứ tạm ngừng phiên toà và Toà án chỉ tạm ngừng phiên toà trong trường hợp đặc biệt do Bộ luật này quy định. Nhưng BLTTDS và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành BLTTDS lại không quy định những trường hợp nào là căn cứ tạm ngừng phiên toà dẫn đến có những cách hiểu và áp dụng khác nhau giữa các Toà án, thậm chí giữa các Thẩm phán trong cùng một Toà án. Có quan điểm cho rằng, đó là căn cứ được quy định tại Điều 198 “ thay thế thành viên HĐXX trong trường hợp đặc biệt” tức là trong trường hợp Thẩm phán, HTND không thể tiếp tục tham gia xét xử vụ án nhưng không có Thẩm phán, HTND dự khuyết thay thế thì phiên toà phải tạm ngừng, trong trường hợp này thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu. Theo chúng tôi đây chỉ là một trong các trường hợp phải tạm ngừng phiên toà, bởi thực tế còn có những trường hợp tại phiên toà đương sự xuất trình chứng cứ, tài liệu mới. Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành, đương sự có quyền cung cấp chứng cứ trong suốt quá trình Toà án giải quyết vụ án và Toà án phải có trách nhiệm xem xét, đánh giá các chứng cứ, tài liệu đó. Nhưng trong nhiều trường hợp, việc xem xét đánh giá chứng cứ không thể thực hiện được tại phiên toà mà cần phải có thời gian và các điều kiện khác, khi đó phiên toà không thể tiếp tục các hoạt động tố tụng tiếp theo như quy định mà phải dừng lại.

Ví dụ: tại phiên toà đương sự A xuất trình bản di chúc mới, theo đó A được hưởng toàn bộ di sản của ông M, nhưng B phản đối cho rằng đó là di chúc giả do A tạo ra. Để khẳng định chính xác bản di chúc do A xuất trình có phải do ông M lập hay không, B đề nghị trưng cầu giám định; trong trường hợp này HĐXX phải tạm ngừng phiên toà để trưng cầu giám định. Hoặc trong trường hợp tại phiên toà khi cần thiết phải giám định lại, giám định bổ sung, HĐXX không thể tiếp tục phiên toà…

Như vậy, trường hợp HĐXX đang giải quyết nội dung vụ án nhưng không thể tiếp tục phiên toà vì cần phải thu thập thêm chứng cứ thì mới có thể giải quyết được vụ án, nên phiên toà phải được tạm ngừng phiên toà nhưng hiện tại BLTTDS và các văn bản hướng dẫn thi hành BLTTDS không quy định và không hướng dẫn về căn cứ tạm ngừng phiên toà. Trước kia, căn cứ tạm ngừng phiên toà đã được TANDTC hướng dẫn trong Công văn số 305/ NCPL ngày 22/12/1990 giải thích một số vấn đề về thủ tục tố tụng dân sự : “Trong trường hợp HĐXX tiến hành thẩm vấn tại phiên toà, mà thấy cần phải xem xét thêm về chứng cứ, cần phải có thời gian để điều tra, xác minh thêm… mới có thể giải quyết được vụ án thì HĐXX không được hoãn phiên toà mà chỉ có thể tạm ngừng việc tiến hành phiên toà để điều tra, xác minh thêm trong thời gian thích hợp do HĐXX quyết định. Sau khi đã điều tra, xác minh HĐXX tiếp tục mở lại phiên toà để xét xử vụ án”. Theo chúng tôi, căn cứ tạm ngừng phiên toà được TANDTC hướng dẫn trong công văn 305/ NCPL là phù hợp với tính chất, đặc điểm của tạm ngừng phiên toà.

Vì vậy, theo tôi, cần sửa đổi, bổ sung đoạn 2 Khoản 2 Điều 197 BLTTDS theo hướng: “Trong trường hợp HĐXX đã tiến hành hỏi tại phiên toà, mà thấy cần phải xem xét thêm về chứng cứ, cần phải có thời gian để thu thập, xác minh thêm chứng cứ theo yêu cầu của đương sự mới có thể giải quyết được vụ án thì HĐXX tạm ngừng việc tiến hành phiên toà để thu thập chứng cứ…”. Đồng thời sửa Khoản 4 Điều 230 BLTTDS theo hướng: “ Khi có người tham gia tố tụng không đồng ý với kết luận giám định được công bố tại phiên toà và có yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại, nếu xét thấy việc giám định bổ sung hoặc giám định lại là cần thiết cho việc giải quyết vụ án thì HĐXX quyết định giám định bổ sung, giám định lại; trong trường hợp này thì HĐXX quyết định tạm ngừng phiên toà”.

Thời hạn tạm ngừng phiên toà

Theo quy định tại đoạn 2 Khoản 2 Điều 197 BLTTDS, thời gian tạm ngừng phiên toà tối đa không quá năm ngày làm việc. Quy định này nhằm đảm bảo việc xét xử nhanh chóng, tránh việc kéo dài thời gian giải quyết vụ án, bảo vệ kịp thời các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Tuy nhiên, nếu tạm ngừng phiên toà trong trường hợp Thẩm phán, HTND không thể tiếp tục tham gia xét xử vụ án nhưng không có Thẩm phán, HTND dự khuyết thay thế thì phiên toà phải tạm ngừng, trong trường hợp này thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu tức là nội dung vụ án phải được xem xét từ đầu bởi một HĐXX mới thì khoảng thời hạn năm ngày làm việc trong nhiều trường hợp, đặc biệt là các vụ án phức tạp, có nhiều đương sự không thể đủ thời gian để HĐXX mới có thể tiếp cận, nghiên cứư hồ sơ vụ án. Mặt khác, nếu kiến nghị các căn cứ hoãn phiên toà theo hướng nêu trên thì thời gian năm ngày làm việc cũng không thể đủ để các cơ quan, tổ chức thực hiện được việc giám định hoặc thu thập chứng cứ. Theo chúng tôi việc tạm ngừng phiên toà dài ngày hay ngắn ngày phụ thuộc vào căn cứ tạm ngừng của từng vụ án cụ thể nên không thể quy định cứng nhắc nhưng cũng cần phải giới hạn khoảng thời gian tối đa để tránh việc lợi dụng quy định của pháp luật kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Vì vậy, thời gian tạm ngừng nên quy định như sau: “trong trường hợp HĐXX đã tiến hành hỏi tại phiên toà, mà thấy cần phải xem xét thêm về chứng cứ, cần phải có thời gian để thu thập, xác minh thêm chứng cứ theo yêu cầu của đương sự mới có thể giải quyết được vụ án thì HĐXX tạm ngừng việc tiến hành phiên toà để thu thập chứng cứ cho đến khi thực hiện xong việc thu thập chứng cứ nhưng tối đa không quá ba mươi ngày kể từ ngày tạm ngừng phiên toà”.

Hình thức tạm ngừng phiên toà

Đoạn 2 Khoản 2 Điều 197 BLTTDS không quy định về hình thức tạm ngừng phiên toà, dẫn đến trong thực tiễn có những cách thức tạm ngừng phiên toà khác nhau giữa các Toà án. Theo tôi, việc tạm ngừng phiên toà có ảnh hưởng quan trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự bởi nhiều trường hợp việc kéo dài thời gian giải quyết vụ án làm lợi cho một bên đương sự nhiều triệu đồng và ngược lại, đặc biệt là các tranh chấp về kinh doanh, thương mại…Cho nên, bên cạnh việc quy định chặt chẽ căn cứ tạm ngừng phiên toà, thì việc tạm ngừng phiên toà cần được thể hiện dưới hình thức quyết định, trong đó nêu rõ tên vụ án; họ, tên những người tiến hành tố tụng; họ, tên các đương sự; căn cứ tạm ngừng; thời hạn tạm ngừng. Quyết định này phải được HĐXX thảo luận và thông qua tại phòng nghị án.

Tài liệu tham khảo

(1)Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà nẵng, Trung tâm từ điển học, tr. 450, năm 2003.

(2) Tài liệu tập huấn BLTTDS, Trường Cán bộ Toà án, tr. 108, năm 2004.

(3), (4), (7) Tài liệu hội thảo khoa học cấp trường, Đề tài: “Về việc thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự”, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.13,20 năm 2005;

(5), (6) Nghị quyết số 02 ngày 12/5/2006 của HĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ hai “ Thủ tục giải quyết các vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm ” của BLTTDS.

(8) Đại Từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa Thông tin, năm 1998.

Các bài viết cùng tác giả: http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/?s=%22B%C3%B9i+Th%E1%BB%8B+Huy%E1%BB%81n%22

SOURCE: TẠP CHÍ LUẬT HỌC SỐ 6/2007, TR 33 – 40

VỀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM DÂN SỰ

THS. Bùi Thị Huyền – Khoa Dân sự- ĐH Luật Hà Nội

1. Hoà giải và điểm mới của Bộ luật Tố tụng dân sự về sự thoả thuận của các đương sự tại phiên toà sơ thẩm dân sự

Hoà giải là sự thoả thuận giữa các bên đương sự về việc giải quyết vụ án. Việc đương sự thỏa thuận, thương lượng giải quyết tranh chấp trong mọi giai đoạn tố tụng dân sự luôn được Nhà nước khuyến khích. Bởi, khi các đương sự thoả thuận với nhau về giải quyết vụ án không chỉ có nội dung tranh chấp mà mâu thuẫn của các đương sự cũng được giải quyết triệt để, tiết kiệm, nhanh chóng nhất và thường Nhà nước không phải sử dụng sức mạnh cưỡng chế để thi hành thoả thuận đó. Hoà giải là quyền tố tụng của đương sự và cũng chỉ đương sự mới có quyền hoà giải vì đương sự là chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung nên có quyền tự mình quyết định những vấn đề của vụ tranh chấp. Trong trường hợp đương sự uỷ quyền cho người đại diện, người đại diện theo pháp luật, người đại diện do Toà án cử có quyền hoà giải với đương sự phía bên kia vì họ là những người mang quyền, nghĩa vụ của đương sự. Còn đối với cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ lợi ích của người khác theo quy định của pháp luật là người đại diện theo pháp luật nhưng do họ không phải là chủ thể của quan hệ tranh chấp nên họ không có quyền tham gia hoà giải. Trong Bộ luật Tố tụng dân sự ( viết tắt là BLTTDS), hoà giải vừa được quy định với nghĩa là quyền tự định đoạt của đương sự, đồng thời cũng được khẳng định là một trong những nguyên tắc đặc trưng của tố tụng dân sự. Khoản 2 Điều 5 BLTTDS quy định: “Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền… thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội”. Và Toà án có trách nhiệm tiến hành hoà giải, tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án theo quy định của BLTTDS. Dù việc hoà giải do Toà án tiến hành hay do các đương sự tự thoả thuận cũng phải xuất phát từ ý chí chủ quan, từ sự tự nguyện của đương sự, không ai, bằng bất cứ hình thức nào có thể cưỡng ép, bắt buộc đương sự thoả thuận với nhau giải quyết những mâu thuẫn tranh chấp và nội dung hoà giải giữa các đương sự không được trái pháp luật và đạo đức xã hội. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, hoà giải là trách nhiệm bắt buộc của Toà án đối với hầu hết các vụ án dân sự, trừ những vụ án dân sự không được hoà giải (Điều 181 BLTTDS) và những vụ án dân sự không tiến hành hoà giải được (Điều 182 BLTTDS). Trong trường hợp, Toà án tiến hành hoà giải và các đương sự thoả thuận được với nhau về toàn bộ vụ án (bao gồm các vấn đề về nội dung vụ án và án phí) thì Toà án sẽ lập biên bản hoà giải thành. Biên bản này được gửi ngay cho các đương sự tham gia hoà giải. Hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó thì Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự, Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay (các điều, từ Điều 183 đến Điều 188 BLTTDS).

Pháp luật tố tụng dân sự trước kia, ngoài việc quy định trách nhiệm bắt buộc hoà giải của Toà án trước khi xét xử sơ thẩm, còn quy định việc Toà án có thể hoà giải ở các giai đoạn khác nếu xét thấy có khả năng hoà giải. Điều đó có nghĩa, tại phần thủ tục tranh luận của phiên tòa sơ thẩm dân sự, Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) sẽ giải thích pháp luật, phân tích nội dung tranh chấp, phân tích lợi ích của việc hoà giải để giúp các đương sự thoả thuận với nhau. Tuy nhiên, BLTTDS được xây dựng trên tinh thần “việc dân sự cốt ở hai bên”, xác định nhiều hơn trách nhiệm của đương sự đối với yêu cầu khởi kiện của mình, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh yêu cầu thuộc về các đương sự, cho nên Toà án chỉ có trách nhiệm hoà giải các vụ án ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, còn đối với các giai đoạn tiếp theo thì Toà án không hoà giải mà Toà án chỉ tạo điều kiện để các bên tự hoà giải bằng cách hỏi các đương sự có thoả thuận được với nhau về giải quyết vụ án hay không? Vì vậy, Điều 220 BLTTDS quy định trình tự tiếp theo của thủ tục hỏi tại phiên toà là chủ toạ phiên toà hỏi các đương sự có thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án hay không? Đây là điểm mới quan trọng của BLTTDS so với các văn bản pháp luật trước kia về thủ tục tiến hành phiên toà.

Việc Toà án hỏi các đương sự có thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án thực chất là việc Toà án kiểm tra xem các đương sự có tự hoà giải được với nhau hay không. Nếu các đương sự tự thoả thuận được với nhau và việc thoả thuận đó là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội thì Toà án sẽ công nhận sự thoả thuận đó. Mặc dù có kết quả giống nhau nhưng việc Tòa án tiến hành hòa giải sẽ khác với trường hợp các đương sự tự hòa giải, đây là hai trường hợp khác nhau trong tố tụng dân sự. Việc hoà giải do các đương sự tự thoả thuận, về thủ tục hoàn toàn không có sự tham gia của Toà án, các đương sự tự mình thương lượng với nhau về các vấn đề của vụ án, tự gặp nhau để giải quyết tranh chấp không phụ thuộc vào thời gian, địa điểm nhất định. Kết quả của việc đó là các đương sự thoả thuận được với nhau do các đương sự thực hiện quyền tự định đoạt của mình, mặc dù Tòa án không hề tác động gì. Đối với trường hợp việc hoà giải do Toà án tiến hành, mặc dù các đương sự vẫn là chủ thể của hoà giải nhưng kết quả hoà giải có vai trò rất lớn của Toà án. Khi tiến hành hoà giải giữa các đương sự, Toà án giữ vị trí đặc biệt quan trọng, Toà án như một người trọng tài giúp đỡ các đương sự thoả thuận với nhau trong việc chủ động xác định thời gian, địa điểm, thành phần, nội dung hoà giải, giải thích pháp luật, nội dung tranh chấp, quyền và nghĩa vụ của các bên…, để từ đó các đương sự nhận thức được các quyền và nghĩa vụ của mình và đi đến thoả thuận.

2. Những vụ án dân sự Toà án áp dụng thủ tục hỏi các đương sự về sự thoả thuận giải quyết vụ án tại phiên toà sơ thẩm dân sự

Trong trường hợp hoà giải do Toà án tiến hành thì Toà án không hoà giải đối với những vụ án không được hoà giải và những vụ án không hoà giải được. Vậy, đối với những vụ án không được hoà giải và những vụ án không hoà giải được, HĐXX có hỏi các đương sự về sự thoả thuận hay không? Do Điều 220 BLTTDS không quy định cụ thể nên dẫn đến có những nhận thức khác nhau về vấn đề này. Cách thứ nhất có thể hiểu rằng, Điều 220 BLTTDS không quy định có nghĩa không hạn chế bất cứ trường hợp nào, vì vậy tất cả các vụ dân sự đều bắt buộc phải áp dụng thủ tục hỏi các đương sự về sự thoả thuận. Cách thứ hai có thể hiểu rằng, mặc dù Điều 220 BLTTDS không quy định cụ thể nhưng những quy định chung về hoà giải được quy định ở phần chuẩn bị xét xử sơ thẩm cũng được áp dụng tại phiên toà sơ thẩm, cho nên, phải trừ những vụ án không được hoà giải và những vụ án không hoà giải được, còn lại Toà án mới hỏi các đương sự về sự thoả thuận. Chúng tôi cho rằng, các ý kiến trên đều có những điểm hợp lý nhưng đều chưa xem xét vấn đề một cách thấu đáo trên cơ sở bản chất của từng loại việc.

Như đã phân tích ở trên, thực chất của việc Toà án hỏi các đương sự có thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án là việc Toà án kiểm tra xem các đương sự có tự hoà giải được với nhau hay không. Tuy trường hợp hoà giải thành do Toà án tiến hành và trường hợp các đương sự tự hoà giải khác nhau về thủ tục, vai trò của Toà án và hậu quả pháp lý nhưng đều có chung bản chất là Toà án công nhận sự thoả thuận của các đương sự. Mà bản chất của thoả thuận về giải quyết vụ án của đương sự là một dạng giao dịch dân sự. Cho nên, Toà án chỉ công nhận giao dịch đó nếu nó thoả mãn các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự.

Đối với trường hợp không được hoà giải là những vụ án phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội là những trường hợp mà bản thân giao dịch dân sự trước đó giữa các bên là các giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự về nội dung và mục đích. Đây là những giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối. Theo Điều 137 Bộ luật dân sự năm 2005 (BLDS) thì “giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập; các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận. Vì vậy, Toà án không thể hỏi các bên đương sự về sự thoả thuận của các bên về việc tiếp tục thực hiện giao dịch đó để rồi công nhận sự thoả thuận đó. Tuy nhiên, nếu các bên chỉ tranh chấp về việc giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu đó thì Toà án vẫn phải hỏi các đương sự xem có thoả thuận được với nhau về việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự đó. Bởi sự thỏa thuận của các bên ở đây là việc thống nhất phương thức khôi phục lại tình trạng ban đầu của giao dịch dân sự hoặc phương án hoàn trả lại tài sản. Mà bản thân những vấn đề này không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên đương sự vẫn có quyền thỏa thuận.

Đối với vụ án yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước là trường hợp tài sản của Nhà nước bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật, do hợp đồng vô hiệu, do vi phạm nghĩa vụ dân sự… gây ra và người được thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản Nhà nước đó có yêu cầu đòi bồi thường. Vì vậy, cần phân biệt như sau. Đối với những trường hợp mà tài sản Nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp mà các doạnh nghiệp được tự chủ chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản và tự chịu trách nhiệm đối với tài sản đó như trường hợp tài sản của Nhà nước được đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp liên doanh có vốn đầu tư của các chủ sở hữu khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì khi có tranh chấp, các bên có quyền thoả thuận về việc giải quyết vụ án. Do đó, trong những trường hợp này Toà án phải hỏi các đương sự về sự thoả thuận. Đối với những trường hợp mà tài sản Nhà nước được giao cho cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang quản lý, sử dụng hoặc đầu tư vào các doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước thực hiện quyền sở hữu thông qua cơ quan có thẩm quyền tức là trường hợp các chủ thể không được tự chủ chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản… nên khi có tranh chấp, các bên cũng không có quyền thoả thuận về việc giải quyết vụ án vì sự thoả thuận có thể làm thiệt hại đến tài sản của Nhà nước. Do đó, trong những trường hợp này Toà án không được hỏi các đương sự về sự thoả thuận.

Đối với những vụ án không hoà giải được (bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, đương sự không thể tham gia hoà giải vì có lý do chính đáng, đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự) là những trường hợp mà pháp luật quy định phải hoà giải nhưng thực tế có những trở ngại khách quan dẫn đến không hoà giải được. Sở dĩ những trường hợp này toà án không hoà giải được vì hoà giải là sự thoả thuận của chính các đương sự, cho nên khi tiến hành hoà giải nếu vắng mặt một bên đương sự hoặc một bên đương sự mất năng lực hành vi dân sự mà quan hệ tranh chấp là quan hệ gắn liền với nhân thân của đương sự đó thì sẽ không thể hoà giải được. Tuy nhiên, đối với những trường hợp ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm khi triệu tập hoà giải, bị đơn cố tình vắng mặt khi đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, đương sự không thể tham gia hoà giải vì có lý do chính đáng. Đến phiên toà sơ thẩm dân sự các đương sự có mặt thì Toà án vẫn phải hỏi các đương sự về sự thoả thuận. Đối với vụ án ly hôn mà đương sự là vợ hoặc chồng là người mất năng lực hành vi dân sự, nếu tại phiên tòa đương sự đó vẫn là người mất năng lực hành vi dân sự thì họ không thể thoả thuận đối với đương sự phía bên kia, do đó, Toà án không hỏi các đương sự về sự thoả thuận.

3. Hậu quả pháp lý của việc Toà án hỏi các đương sự về sự thoả thuận của các bên tại phần thủ tục hỏi ở phiên toà sơ thẩm dân sự

Khi HĐXX hỏi các đương sự có thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, Điều 220 BLTTDS quy định: “ Trong trường hợp các đương sự thoả thuận được với nhau về giải quyết vụ án và thoả thuận của họ là tự nguyện, không trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội thì HĐXX ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự về giải quyết vụ án”.

Như vậy, tại phiên tòa nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về toàn bộ vụ án (bao gồm các thoả thuận về nội dung vụ án và phần án phí) và sự thoả thuận đó là tự nguyện, không trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội thì HĐXX ra ngay quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự về việc giải quyết vụ án mà không cần chờ sau bảy ngày như việc hoà giải ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm. Trong trường hợp này, toàn bộ nội dung thoả thuận của các đương sự được Thư ký Toà án ghi vào biên bản phiên toà chứ không lập riêng biên bản hoà giải thành, quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự có hiệu lực pháp luật ngay và phiên toà sơ thẩm dân sự kết thúc tại đây. Tuy nhiên, trong trường hợp các đương sự chỉ thoả thuận giải quyết được một phần vụ án, Toà án sẽ giải quyết như thế nào thì BLTTDS không quy định minh bạch nên có thể có những cách hiểu khác nhau.

Ý kiến thứ nhất, Toà án vẫn tiếp tục xét xử phần các đương sự không thoả thuận được với nhau, còn việc thoả thuận của các đương sự sẽ được phản ánh trong biên bản phiên toà và phần thoả thuận được sẽ được Toà án ghi nhận trong phần quyết định của bản án.Theo quan điểm này, toàn bộ nội dung vụ án vẫn được Toà án ra bản án và đương sự có quyền kháng cáo đối với phần quyết định về chính thoả thuận trước đó của mình. Ưu điểm của cách làm này là việc giải quyết vụ án được tiến hành nhanh, không quá phức tạp về thủ tục tố tụng và dường như phán quyết của Toà án có lợi cho đương sự vì nếu đương sự thay đổi ý kiến, không đồng ý với thoả thuận trước đó thì họ có quyền kháng cáo. Nhưng nhược điểm của phương án này là đương sự có quyền chống lại thoả thuận của chính mình nên Toà án phải chạy theo đương sự và trong nhiều trường hợp có đương sự sẽ lợi dụng quy định này để kéo dài thời gian giải quyết vụ án.

Ý kiến thứ hai, Toà án sẽ ra quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự đối với phần các đương sự thoả thuận được, nội dung thoả thuận được ghi nhận trong biên bản phiên toà, quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay và đưa ra xét xử phần các đương sự không thoả thuận được. Phương án này sẽ khắc phục được những nhược điểm của phương án thứ nhất. Tuy nhiên, nếu phần nội dung tranh chấp các đương sự thoả thuận được và phần nội dung các đương sự không thoả thuận được có liên quan chặt chẽ với nhau thì Toà án không thể vừa công nhận sự thoả thuận và vừa ra bản án để giải quyết một quan hệ pháp luật tranh chấp, trong khi hiệu lực của quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự và hiệu lực của bản án sơ thẩm lệch pha nhau.

Chúng ta sẽ xem xét vấn đề trên qua một số ví dụ sau:

Ví dụ 1: M, N, P tranh chấp về việc chia di sản thừa kế của cụ K. Tại phiên toà, cả ba người đã thống nhất được căn nhà sẽ giao cho M quản lý, sử dụng đồng thời là nơi thờ cúng tổ tiên, còn các tài sản khác đương sự chưa thống nhất cách phân chia.

Ví dụ 2: Các đương sự thoả thuận được việc giải quyết nội dung quan hệ pháp luật tranh chấp nhưng không thoả thuận được về phần án phí.

Ví dụ 3: A khởi kiện ly hôn B và chia tài sản chung của vợ chồng. Khi biết A khởi kiện ly hôn B, C yêu cầu A, B trả nợ C 80 triệu đồng. Tại phiên toà sơ thẩm A,B đã thoả thuận trở về đoàn tụ nhưng C vẫn giữ nguyên yêu cầu đòi nợ.

Nhận xét về hai quan điểm trên, chúng tôi thấy, việc Toà án sẽ giải quyết vụ án như thế nào phụ thuộc vào nội dung quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự. Nếu vụ án chỉ có một quan hệ pháp luật tranh chấp ( như ví dụ 1,2) thì Toà án chỉ ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự khi đương sự thoả thuận được toàn bộ các vấn đề của vụ án, kể cả án phí; nếu các đương sự không thoả thuận được toàn bộ các vấn đề của vụ án thì HĐXX sẽ ra bản án công nhận phần các đương sự thoả thuận được và xét xử phần các đương sự không thoả thuận được. Bởi thực chất trong trường hợp này các bên chỉ tranh chấp về một quan hệ pháp luật, vì vậy Toà án không thể tách quan hệ pháp luật đó thành hai phần để ra quyết định công nhận sự thoả thuận đối với phần các đương sự thoả thuận được và xét xử đối với phần các đương sự không thoả thuận được. Còn trong trường hợp nếu vụ án có nhiều quan hệ pháp luật tranh chấp ( như ví dụ 3) thì thực chất trong trường hợp này Toà án đã nhập các quan hệ tranh chấp đó để giải quyết trong cùng một vụ án, vì vậy nếu trong quá trình giải quyết các đương sự thoả thuận được một trong số các quan hệ đó thì Toà án sẽ ra quyết định tách vụ án và ra quyết định công nhận sự thoả thuận đối với quan hệ mà các đương sự thoả thuận được, tiếp tục xét xử đối với quan hệ mà các đương sự không thoả thuận được .

4. Giải quyết việc các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án tại giai đoạn tranh luận và nghị án của phiên toà sơ thẩm dân sự

Trong trường hợp việc giải quyết vụ án đang ở giai đoạn tranh luận hoặc nghị án, nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, HĐXX có được áp dụng Điều 220 BLTTDS để công nhận sự thoả thuận của các đương sự hay vẫn phải tiếp tục ra bản án và công nhận sự thoả thuận của các đương sự là vấn đề có nhiều quan điểm khác nhau.

Có quan điểm cho rằng, Điều 220, theo cách sắp xếp hiện nay trong BLTTDS, được hiểu chỉ có thể áp dụng ngay trong phần đầu của giai đoạn hỏi mà không thể áp dụng trong suốt phiên toà sơ thẩm được. Do đó khi quá trình giải quyết vụ án vượt qua thời điểm giai đoạn đầu của giai đoạn hỏi, nếu các đương sự thoả thuận được về việc giải quyết vụ án sẽ không có điều luật cụ thể để áp dụng trong khi bản án, quyết định theo đòi hỏi sẽ cần viện dẫn điều luật một các cụ thể từ điểm, khoản cho tới điều luật. Bởi, trong phần phiên toà sơ thẩm, không có được một quy định như Điều 270 của phiên toà phúc thẩm (1). Vì vậy, cần phải ra bản án để công nhận sự thoả thuận của đương sự.

Quan điểm thứ hai cho rằng cho rằng, trong trường hợp việc giải quyết vụ án đang ở giai đoạn tranh luận hoặc nghị án, nếu thấy cần thiết phải quay lại phần hỏi, căn cứ vào các điều 235,237 BLTTDS, HĐXX sẽ quyết định trở lại phần hỏi, mà việc công nhận sự thoả thuận của các đương sự tại phiên toà sơ thẩm được quy định ở thủ tục hỏi. Vì vậy, HĐXX có quyền áp dụng Điều 220 BLTTDS để công nhận sự thoả thuận của các đương sự.

Theo chúng tôi, HĐXX được quyền áp dụng Điều 220 BLTTDS để công nhận sự thoả thuận của các đương sự. Bởi, nếu nhìn từ góc độ quyền tự định đoạt của các đương sự thì không nên hạn chế việc áp dụng Điều 220 trong suốt quá trình diễn ra phiên toà sơ thẩm. Nếu không áp dụng Điều 220 BLTTDS, Hội đồng xét xử sẽ phải ra bản án công nhận sự thoả thuận, đương sự có quyền kháng cáo bản án tức là có quyền chống lại sự thoả thuận của chính mình, điều đó sẽ làm kéo dài quá trình tố tụng và không đề cao được trách nhiệm của đương sự với sự thoả thuận của chính mình. Hơn nữa, xét về mặt logíc nếu thoả thuận ở phần thủ tục hỏi, Toà án ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự, quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay, đương sự không có quyền kháng cáo nhưng nếu thoả thuận ở giai đoạn sau (tranh luận hoặc nghị án) đương sự lại có quyền kháng cáo là điều vô lý. Mặt khác mục đích của việc mở phiên toà cũng chỉ nhằm giải quyết tranh chấp giữa các đương sự mà thôi nên khi các đương sự đã tự giải quyết được mâu thuẫn thì việc xét xử là không cần thiết.

5. Xem xét nội dung thoả thuận của các đương sự tại phiên toà sơ thẩm dân sự

Điều 5 và Điều 220 BLTTDS quy định tại phiên toà sơ thẩm đương sự có quyền thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng việc thoả thuận đó phải “không trái pháp luật” và đạo đức xã hội. Còn theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 122 Bộ luật dân sự (BLDS) thì một trong những điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật là: “Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội”. Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng. Như vậy, giữa luật nội dung và luật tố tụng quy định không thống nhất với nhau. Sở dĩ có sự không thống nhất như vậy là vì khi ban hành BLTTDS thì BLDS năm 1995 vẫn có hiệu lực nên Điều 5 BLTTDS được xây dựng dựa trên Điều 131 BLDS năm 1995. Theo Điều 131 BLDS năm 1995 thì một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là: “Mục đích và nội dung của giao dịch không trái pháp luật và trái đạo đức xã hội”. Nhưng đến ngày 1/1/2006 thì BLDS năm 1995 hết hiệu lực và thay vào đó là BLDS năm 2005 có hiệu lực. Việc quy định không thống nhất như vậy sẽ rất khó khăn cho đương sự trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình cũng như việc ra quyết định của Toà án. Vì nếu theo quy định của Điều 220 BLTTDS thì đương sự có quyền thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình nhưng việc thực hiện đó phải “không trái pháp luật”, nghĩa là đương sự chỉ được làm những gì đúng với quy định của pháp luật. Còn theo quy định của điểm b khoản 1 Điều 122 BLDS thì các chủ thể trong quan hệ pháp luật nội dung có thể thoả thuận tất cả những gì mà pháp luật không cấm.

Với quy định của Điều 122 BLDS năm 2005, các chủ thể trong các giao dịch dân sự có thể thực hiện các giao dịch dân sự nếu mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội đó. Việc quy định như BLDS là hoàn toàn hợp lý, nó phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về chất lượng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, về định hướng xây dựng và hoàn thiện pháp luật về dân sự, kinh tế thì “hoàn thiện chế độ bảo vệ quyền tự do kinh doanh theo nguyên tắc công dân được làm những gì mà pháp luật không cấm”. Vì vậy, cần sửa cụm từ “không trái pháp luật” được quy định trong khoản 2 Điều 5 và Điều 220 BLTTDS thành cụm từ “không vi phạm điều cấm của pháp luật”. Với việc quy định như vậy một mặt đã mở rộng các quyền tố tụng của đương sự, mặt khác, tạo ra sự phù hợp giữa luật tố tụng dân sự với luật dân sự./.

Tài liệu tham khảo

(1) Tài liệu hội thảo khoa học cấp trường, Đề tài: “Về việc thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự”, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 21 năm 2005.

Các bài viết cùng tác giả: http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/?s=%22B%C3%B9i+Th%E1%BB%8B+Huy%E1%BB%81n%22

SOURCE: TẠP CHÍ LUẬT HỌC SỐ 8/2007, TR 23-29

NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ

THS. BÙI THỊ HUYỀN – Khoa Luật dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Quá trình giải quyết vụ án dân sự trải qua các giai đoạn tố tụng khác nhau như khởi kiện và thụ lý, hoà giải và chuẩn bị xét xử, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, thi hành án…trong đó xét xử sơ thẩm tại phiên toà là giai đoạn quan trọng nhất của tố tụng dân sự, nơi thể hiện rõ chức năng xét xử của toà án. Tại phiên toà sơ thẩm, toàn bộ các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được trong các giai đoạn trước, những yêu cầu của các đương sự được xem xét, đánh giá trực tiếp, công khai, khách quan và toàn diện với sự tham gia của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng. Trên cơ sở kết quả phiên toà, hội đồng xét xử sẽ quyết định ra bản án hoặc các quyết định về việc giải quyết vụ án, trong đó xác định các quyền và nghĩa vụ của các đương sự. Do đó, việc xét xử sơ thẩm đạt chất lượng tốt là cơ sở để toà án ra bản án, quyết định chính xác, khách quan, góp phần hạn chế kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm giải quyết được dứt điểm tranh chấp giữa các đương sự; ổn định giao lưu dân sự, từ đó quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự được bảo vệ kịp thời, ý thức pháp luật của người dân được nâng cao, pháp chế XHCN được bảo đảm.

Trong những năm gần đây, số lượng các tranh chấp dân sự ngày càng ra tăng và phức tạp. “…Tuy nhiên, trong công tác xét xử và giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình ở toà án cấp sơ thẩm còn có những thiếu sót…”[1], “… nhiều trường hợp việc điều tra, xác minh, xây dựng hồ sơ vụ án chưa đầy đủ, thiếu chặt chẽ, đặc biệt việc chấp hành các thủ tục tố tụng còn nhiều sai sót…”[2]. Bên cạnh đó, các quy định của các PLTTGQCVADS, PLTTGQCVAKT, PLTTGQCTCLĐ về phiên toà sơ thẩm còn sơ sài, chưa chặt chẽ, đặc biệt là các quy định về việc chuẩn bị cho việc mở phiên toà sơ thẩm, thủ tục triệu tập những người tham gia tố tụng đến phiên toà sơ thẩm, trình tự xét xử sơ thẩm còn nặng về xét hỏi như phiên toà hình sự v.v.. Đó chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng việc giải quyết các vụ án bị kéo dài, phiên toà sơ thẩm bị hoãn nhiều lần, số vụ án có kháng cáo, kháng nghị gia tăng, tỷ lệ cải sửa, huỷ án sơ thẩm khi xét xử phúc thẩm còn cao …

Thực hiện mục tiêu của Đảng về cải cách tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp, ngày 02/01/2002 Bộ chính trị đã ra Nghị quyết 08-NQ/TW về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, trong đó đã nhấn mạnh định hướng đổi mới trong hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung và toà án nói riêng. Đó là: “…Khi xét xử, các toà án phải bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ khách quan, Thẩm phán, Hội thẩm nhân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật qui định”. Khi nói đến vấn đề nâng cao chất lượng hoạt động, cải cách tổ chức của toà án trong lĩnh vực tố tụng dân sự trước hết phải nói đến vấn đề đổi mới hoạt động xét xử của toà án tại phiên toà sơ thẩm. Trên cơ sở đường lối đổi mới của Đảng, thực trạng pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử các vụ việc dân sự, ngày 27/5/2004 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua BLTTDS, trong đó với 45 điều từ Điều 196 đến Điều 241, các quy định về phiên toà sơ thẩm có nhiều điểm mới, đầy đủ và chặt chẽ hơn trước, bảo đảm hơn sự tham gia tố tụng của các đương sự , người bảo vệ quyền lợi của đương sự theo hướng mở rộng tranh tụng v.v..

I. Những điểm mới của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên toà sơ thẩm dân sự.

1. Những quy định chung về phiên toà sơ thẩm

Ba pháp lệnh PLTTGQCVADS năm 1989, PLTTGQCVAKT năm 1994, PLTTGQCTCLĐ năm 1996 ( sau đây gọi tắt là ba pháp lệnh thủ tục) không có những quy định chung về phiên toà sơ thẩm. BLTTDS có hẳn một mục, gồm 17 điều, từ Điều 196 đến Điều 212 quy định về những quy định chung về phiên toà sơ thẩm, trong đó chứa đựng nhiều quy định mới so với ba pháp lệnh trước kia.

1.1. Nguyên tắc tiến hành phiên toà sơ thẩm.

Để đảm bảo cho các hoạt động tiến hành phiên toà diễn ra đúng thời gian, địa điểm, công khai, khách quan thì việc tiến hành phiên toà sơ thẩm ngoài việc tuân thủ những nguyên tắc chung được quy định từ Điều 3 đến Điều 24, BLTTDS còn quy định thêm hai nguyên tắc tại các điều 196, 197. Theo quy định tại Điều 196 BLTTDS phiên toà sơ thẩm phải được tiến hành đúng thời gian, địa điểm đã được ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc giấy báo mở lại phiên toà.

Ngoài ra, BLTTDS còn quy định phiên tòa sơ thẩm dân sự phải được tiến hành theo phương thức xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục (Điều 197 BLTTDS). Theo quy định này, tòa án phải trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án bằng cách hỏi và nghe lời trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, của các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác; xem xét, kiểm tra tài liệu, chứng cứ đã thu thập được; và phát biểu tranh luận của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, của các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, nghe kiểm sát viên phát biểu ý kiến của viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án, trong trường hợp có kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Bản án chỉ được căn cứ vào kết quả tranh tụng, việc hỏi tại phiên tòa và các chứng cứ đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa. Ba pháp lệnh thủ tục trước kia không quy định về nguyên tắc này nhưng thực chất nguyên tắc “xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục” là việc kế thừa nguyên tắc “xét xử trực tiếp, bằng miệng và liên tục” đã được quy định trong “Bản hướng dẫn về trình tự xét xử sơ thẩm về dân sự kèm theo Thông tư số 96- NCPL ngày 8/2/1997 của TANDTC”. Quy định này nhằm bảo đảm cho tòa án thẩm định và xác minh được đầy đủ, chính xác các tài liệu, chứng cứ của vụ án và đánh giá chúng một cách toàn diện.

Việc xét xử ở phiên tòa phải được tiến hành liên tục, trừ thời gian nghỉ. Các thành viên của hội đồng xét xử phải xét xử vụ án từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc, trừ trường hợp không thể tham gia xét xử được phải thay đổi. Trong trường hợp đặc biệt do BLTTDS quy định thì việc xét xử có thể tạm ngừng không quá 5 ngày làm việc. Hết thời hạn tạm ngừng, việc xét xử vụ án được tiếp tục (khoản 2 Điều 197). Sở dĩ BLTTDS quy định việc xét xử bằng lời nói và phải được tiến hành liên tục là nhằm bảo đảm cho hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng dễ dàng nhớ được các tình tiết của vụ án và giải quyết được dứt điểm từng vụ. Tòa án phải xét xử xong từng vụ án một rồi mới được xét xử đến vụ án khác, không được làm thủ tục khai mạc phiên tòa chung cho nhiều vụ án, hoặc tuyên án cùng một lúc cho nhiều vụ án.

1.2. Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm và việc thay thế thành viên hội đồng xét xử trong trường hợp đặc biệt.

Theo PlTTGQCVADS thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân.Theo các PlTTGQCVAKT, PLTTGQTCLĐ thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án kinh tế và vụ án lao động gồm hai thẩm phán và một hội thẩm nhân dân. Trên cơ sở kế thừa quy định của ba pháp lệnh trước kia và xuất phát từ thực tiễn Điều 52 BLTTDS quy định thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân. Ngoài ra, BLTTDS còn quy định trong trường hợp đặc biệt thì hội đồng xét xử có thể gồm hai thẩm phán và ba hội thẩm.

Ba pháp lệnh thủ tục không quy định việc có thẩm phán, hội thẩm nhân dân dự khuyết để thay thế thành viên hội đồng xét xử trong trường hợp trong quá trình xét xử, nếu có một thành viên nào đó của hội đồng xét xử vì một lý do đặc biệt, không thể tham gia xét xử vụ án được nữa. Điều 198 BLTTDS quy định việc thay thế thành viên trong trường hợp đặc biệt này nhằm mục đích giải quyết nhanh chóng vụ án, tránh việc phải hoãn phiên toà. Việc xác định trong trường hợp nào cần có thẩm phán, hội thẩm nhân dân dự khuyết do chánh án toà án quyết định.

1.3.Những người tham gia phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự

Để đảm bảo việc xét xử trực tiếp nên tất cả những người tham gia tố tụng phải được triệu tập tham gia phiên toà. Ba pháp lệnh thủ tục quy định về những người tham gia phiên toà sơ thẩm trong một điều luật, nhưng BLTTDS quy định tại các điều, từ điều 199 đến điều 207. Theo đó, những người tham gia phiên toà sơ thẩm bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch và kiểm sát viên. Về cơ bản thành phần những người tham gia phiên toà sơ thẩm không khác trước, tuy nhiên khác với các pháp lệnh trước kia, theo quy định của BLTTDS kiểm sát viên chỉ tham gia phiên toà sơ thẩm đối với vụ án do toà án thu thập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại ( khoản 2 Điều 21 BLTTDS).

1.4. Vấn đề hoãn phiên toà sơ thẩm

* Về căn cứ hoãn phiên toà

Theo khoản 1 Điều 208 BLTTDS hội đồng xét xử sẽ hoãn phiên toà trong các trường hợp sau:

- Trong trường hợp thẩm phán, hội thẩm nhân dân, thư ký toà án, kiểm sát viên bị thay đổi hoặc không thể tiếp tục tham gia phiên toà mà không có người dự khuyết để thay thế ( Điều 51, 207);

- Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng ( Điều 199, 200, 201, 203);

- Trong trường hợp phải thay đổi người giám định, người phiên dịch ( khoản 2 Điều 72). Người phiên dịch vắng mặt mà không có người khác thay thế, trừ trường hợp đương sự vẫn yêu cầu tiến hành xét xử ( Điều 206);

- Người làm chứng vắng mặt trong trường hợp lời khai của họ là cần thiết tại phiên toà; người giám định vắng mặt, trong trường hợp cần xem xét kết luận giám định tại phiên toà.

- Khi cần thiết phải giám định lại, giám định bổ sung tại phiên toà.

* Về thời hạn hoãn phiên toà

Trước kia các pháp lệnh thủ tục không quy định về thời hạn hoãn phiên toà nên nếu phiên toà bị hoãn thời hạn giải quyết vụ án thường bị kéo dài. Khoản 1 Điều 208 BLTTDS quy định thời hạn hoãn phiên toà không quá ba mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên toà.

* Quyết định hoãn phiên toà

Trước kia các pháp lệnh thủ tục không quy định rõ việc hoãn phiên toà có được thực hiện bằng quyết định hay không, sau khi hoãn phiên toà toà án có phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử để xác định lại thời gian địa điểm mở phiên toà hay không dẫn đến việc áp dụng không thống nhất giữa các toà án. Để tránh việc hoãn phiên toà tuỳ tiện, BLTTDS quy định rõ việc hoãn phiên toà phải được thực hiện bằng quyết định, nội dung quyết định và thủ tục ra quyết định được quy định cụ thể tại Điều 208 BLTTDS. Quyết định hoãn phiên tòa phải được hội đồng xét xử thảo luận, thông qua theo đa số tại phòng nghị án và phải được lập thành văn bản.

Ngoài ra, BLTTDS còn quy định về nội quy phiên toà, bản án sơ thẩm, biên bản phiên toà, chuẩn bị khai mạc phiên toà.

2. Thủ tục tiến hành phiên toà

So với các pháp lệnh thủ tục trước kia, các quy định về thủ tục phiên toà sơ thẩm được quy định trong BLTTDS chi tiết, cụ thể hơn, gồm 27 điều, từ Điều 213 đến Điều 239. Hơn nữa, trình tự của mỗi bước cũng có nhiều thay đổi theo hướng mở rộng quyền dân chủ và quyền tự định đoạt của các đương sự, xác định rõ quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

2.1.Thủ tục khai mạc và bắt đầu phiên toà

Các pháp lệnh chỉ có một điều luật quy định về thủ tục bắt đầu phiên toà, BLTTDS có hẳn một mục về thủ tục bắt đầu phiên toà, gồm bốn điều luật. Nội dung các điều luật không có nhiều vấn đề mới so với các pháp lệnh nhưng chi tiết, cụ thể hơn. Điểm mới quan trọng của thủ tục này là bổ sung quy định về khai mạc phiên toà và thư ký toà án báo cáo với hội đồng xét xử về sự có mặt và vắng mặt của những người tham gia phiên toà đã được triệu tập. Trong thực tiễn xét xử những năm qua cho thấy, mặc dù các pháp lệnh không quy định nhưng khi tiến hành phiên toà sơ thẩm các toà án vẫn thực hiện các thủ tục trên. Việc quy định của BLTTDS nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, đảm bảo tính trang nghiêm của phiên toà đồng thời hội đồng xét xử chủ động giải quyết khi có người tham gia tố tụng vắng mặt.

2.2. Thủ tục hỏi tại phiên toà

Đây là thủ tục có nhiều thay đổi nhất. Ngay tên gọi cũng đổi từ “ thủ tục xét hỏi ” thành “ thủ tục hỏi tại phiên toà”. Cách gọi đó phản ánh đúng bản chất của thủ tục giải quyết vụ án dân sự khác với thủ tục giải quyết các vụ án hình sự. Đối với vụ án dân sự, mục đích của phần hỏi tại phiên toà là toà án hỏi để làm rõ yêu cầu, quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các bên chứ không phải là việc truy xét của nhà nước về một hành vi vi phạm pháp luật.

Trình tự của thủ tục hỏi cũng khác trước rất nhiều. Trước kia các pháp lệnh quyđịnh khi khởi kiện các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, toà án thu thập thêm khi cần thiết nhưng không có văn bản nào quy định trường hợp nào là cần thiết dẫn đến cách hiểu nghĩa vụ chứng minh trong vụ án dân sự là thuộc về toà án. Vì vậy, thủ tục xét hỏi tại phiên toà trong các pháp lệnh là toà án chủ động hỏi tất cả các vấn đề của nội dung vụ án, thậm chí theo một kế hoạch đã được định trước, không có phần để các đương sự tự trình bày v.v.. Còn theo BLTTDS, nghĩa vụ chứng minh là thuộc về các đương sự, quyền định đoạt của các đương sự được tôn trọng triệt để hơn nên thủ tục hỏi được bắt đầu bằng việc chủ toạ phiên toà hỏi các đương sự về việc có thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu hay không ( Điều 217). Để bảo đảm quyền lợi của đương sự và đảm bảo cho việc giải quyết vụ án đúng thời hạn, tại pjiên toà sơ thẩm hội đồng xét xử chỉ chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự, nếu thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu. Trong trường hợp có đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đã rút. Trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình thì bị đơn trở thành nguyên đơn và nguyên đơn trở thành bị đơn.Trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của mình thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người có nghĩa vụ đối với yêu cầu độc lập trở thành bị đơn.Việc xem xét rút yêu cầu và thay đổi địa vị tố tụngcủa các đương sự để tránh việc toà án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án, sau đó nếu bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu giải quyết yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập toà án lại phải thụ lý và tiến hành các công việc chuẩn bị xét xử, trong khi đó quan hệ pháp luật tranh chấp, chủ thể của các quan hệ đó không thay đổi. Vì vậy, quy định về thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự nhằm đảm bảo việc giải quyết tranh chấp nhanh chóng, tiết kiệm, hiệu quả. Theo quy định của các pháp lệnh trước kia, việc hoà giải tại phiên toà sơ thẩm không mang tính chất bắt buộc và nếu xét thấy có khả năng hoà giải hội đồng xét xử sẽ hoà giải tại phần thủ tục tranh luận. Khác với trước kia, theo BLTTDS tại phiên toà toà án không hoà giải mà trong phần hỏichủ toạ phiên toà hỏi các đương sự có thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không. Trong trường hợp các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thoả thuận cuả họ là tự nguyện, không trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội thì hội đồng xét xử ra quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự về việc giải quyết vụ án( Điều 220). Nếu các đương sự không thoả thuận được với nhau thì hội đồng xét xử sẽ nghe các đương sự trình bày. Điểm mới của BLTTDS so với các pháp lệnh trước kia là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thay mặt các đương sự trình bày yêu cầu và chứng cứ chứng minh cho yêu cầu, sau đó đương sự bổ sung ý kiến. Khi đến phần các đương sự được hỏi tại phiên toà người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể trình bày thay đương sự. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người am hiểu pháp luật, có kinh nghiệm tham gia tố tụng nên quy định này sẽ giúp cho chất lượng phiên toà và việc bảo vệ quyền lợi của đương sự được thực hiện tốt hơn đồng thời phát huy tối đa khả năng và vai trò của người bảo vệ quyền lợi của đương sự nói chung, luật sư nói riêng trong hoạt động tố tụng.

Sau khi nghe các đương sự trình bày xong, sẽ đến phần hỏi tại phiên toà. Về thứ tự người hỏi tại phiên toà cũng có sự thay đổi. Trước kia theo các pháp lệnh, sau khi hội đồng xét xử hỏi đến kiểm sát viên, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hỏi. Điều 222 BLTTDS quy định, chủ toạ phiên toà là người hỏi trước, sau đó đến hội thẩm nhân dân, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đương sự, những người tham gia tố tụng khác và kiểm sát viên là người hỏi sau cùng. Quy định này thể hiện chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước ta trong hoạt độngtư pháp theo xu hướng thực hiện dân chủ trong phiên toà dân sự, tránh sự can thiệp của viện kiểm sát vào việc giải quyết các tranh chấp dân sự. Về nội dung hỏi, khác với trước kia hội đồng xét xử không hỏi về toàn bộ nội dung vụ án, mà chỉ hỏi về những vấn đề mà đương sự trình bày chưa rõ hoặc có mâu thuẫn. Trong thủ tục này, khi cần thiết, hội đồng xét xử cho nghe băng ghi âm, đĩa ghi âm, xem băng ghi hình, đĩa ghi hình ( Điều 228). Đây là sự thể hiện việc ứng dụng công nghệ trong hoạt động xét xử.

2.3. Thủ tục tranh luận tại phiên toà

Tranh luận tại phiên toà là hoạt động trung tâm của phiên tòa. Ba pháp lệnh thủ tục trước kia chỉ quy định một điều luật về tranh luận tại phiên toà, còn BLTTDS đã dành hẳn một mục với bốn điều luật, từ Điều 232 đến Điều 235 quy định về hoạt động tranh luận tại phiên tòa. Điều đó thể hiện tầm quan trọng của hoạt động tranh luận trong việc tìm ra sự thật khách quan của vụ án và xu hướng đổi mới hoạt động tư pháp ở nước ta là mở rộng quyền tranh luận của đương sự, đề cao vai trò chủ động của đương sự trong việc tranh luận ở tại phiên tòa, bảo đảm cho đương sự bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của họ trước toà án v.v.. Các quy định của BLTTDS về tranh luận tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp được nêu trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2/1/2002 của Bộ chính trị là: “Muốn nâng cao chất lượng xét xử thì phải nâng cao chất lượng tranh tụng dân chủ tại phiên tòa”. Vì vậy, những quy định về tranh luận tại phiên toà cũng có nhiều thay đổi.

Các pháp lệnh trước kia không quy định căn cứ khi tranh luận. Để tránh việc các bên khi tham gia tranh luận chỉ dựa vào suy đoán cảm tính, tranh luận không có căn cứ Điều 233 BLTTDS quy định rõ khi phát biểu về đánh giá chứng cứ, đề xuất quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án các bên phải căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được và đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa cũng như kết quả việc hỏi tại phiên tòa;

Về trình tự tranh luận, các pháp lệnh trước kia các đương sự trình bày quan điểm của mình về đánh giá chứng cứ, hướng giải quyết vụ án trước, sau đó người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự sẽ trình bày bổ sung (nếu có). Đề vai trò của người bảo vệ quyền và lợi hợp pháp của họ trong tranh luận, bảo đảm quá trình tranh luận đạt kết quả, Điều 232 BLTTDS quy định khi phát biểu khi tranh luận người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nguyên đơn phát biểu trước, sau đó đương sự bổ sung ý kiến (theo thứ tự nguyên đơn, bị đơn, người có quyền, nghĩa vụ liên quan). Để đảm bảo cho đương sự và những đại diện của họ được thực hiện đầy đủ khả năng tranh luận, được tạo điều kiện tối đa cho họ được sử dụng tất cả các phương pháp chứng minh theo luật định để bảo vệ quyền và lợi hợp pháp của mình, BLTTDS không hạn chế thời gian tranh luận nhưnh chủ tọa phiên tòa chỉ có quyền cắt những ý kiến không có liên quan đến vụ án.

2.4. Nghị án và tuyên án

a, Nghị án

Nghị án là việc hội đồng xét xử xem xét, quyết định giải quyết vụ án trên cơ sở kết quả của việc hỏi và tranh luận tại phiên tòa. Các pháp lệnh thủ tục trước đây chỉ có một điều luật về nghị án với nội dung đơn giản và không cụ thể. Nghị án được BLTTDS quy định tại hai điều 236 và 237 với những nội dung trên tinh thần đổi mới hoạt động tư pháp đã được đề ra trong Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị là “Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của… nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục trong thời hạn pháp luật quy định”. Theo Điều 236 BLTTDS, việc nghị án được tiến hành tại phòng riêng, chỉ có các thành viên của hội đồng xét xử mới có quyền nghị án. Quy định này nhằm đảm bảo nguyên tắc nghị án bí mật, nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, tránh tình trạng thư ký toà án và kiểm sát viên cũng có mặt trong phòng nghị án khi nghị án. Để phát huy vai trò và trách nhiệm của hội thẩm nhân dân trong hoạt động tố tụng, thứ tự biểu quyết khi nghị án cũng được quy định cụ thể là hội thẩm nhân dân biểu quyết trước,thẩm phán biểu quyết sau cùng. Bên cạnh đó, để đảm bảo nguyên tắc xét xử liên tục, phát huy trách nhiệm của các thành viên hội đồng xét xử trong việc giải quyết vụ án, tránh việc tạm ngừng tuyên án kéo dài, BLTTDS còn quy định về thời gian nghị án tối đa không quá năm ngày làm việc, kể từ khi kết thúc tranh luận tại phiên tòa. Ngoài ra, một điểm mới về nghị án được quy định tại Điều 237 BLTTDS là qua nghị án, nếu xét thấy có tình tiết của vụ án chưa được xem xét, việc hỏi chưa đầy đủ hoặc cần xem xét thêm chứng cứ thì hội đồng xét xử quyết định trở lại việc hỏi và tranh luận. Quy định này nhằm mở rộng hơn nữa khả năng tranh tụng tại phiên toà, thể hiện tư duy mới, thể hiện tính dân chủ cao, tính thận trọng của việc xét xử, bảo đảm cho bản án được tuyên một cách khách quan, công bằng và toàn diện.[3] Tuy nhiên, quy định này dễ dẫn đến việc xét xử bị kéo dài, quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự không được bảo vệ kịp thời, không phát huy được trách nhiệm của các thành viên hội đồng xét xử trong việc giải quyết vụ án.

b, Tuyên án

Sau khi bản án đã được thông qua, hội đồng xét xử trở lại phòng xét xử để tuyên án. Theo Điều 239 BLTTDS thì thủ tục tuyên án có ba nội dung mới giúp cho việc tuyên án phù hợp với thực tế hơn. Khi tuyên án, mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy, trừ trường hợp đặc biệt như sức khoẻ yếu, bệnh tật v.v.. không thể đứng được được phép của chủ tọa phiên tòa có thể ngồi nghe tuyên án.Theo các pháp lệnh thủ tục trước kia thì chỉ có chủ toạ phiên toà mới được đọc bản án. BLTTDS quy định việc tuyên án có thể do chủ tọa phiên tòa hoặc một thành viên khác của hội đồng xét xử đứng đọc. Quy định này nhằm giải quyết tình huống bản án quá dài một người không thể đứng đọc hoặc đến ngaỳ tuyên án sức khoẻ của chủ toạ không tốt v.v.. Ngoài ra, BLTTDS còn quy định trong trường hợp có đương sự không biết tiếng Việt thì sau khi tuyên án, người phiên dịch phải dịch lại cho họ nghe toàn bộ bản án sang ngôn ngữ mà họ biết.

II. Một số kiến nghị nhầm hoàn thiện quy định của BLTTDS về phiên toà sơ thẩm dân sự

Bộ luật tố tụng dân sự được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 15/6/2004 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2005 là sự thống nhất ba pháp lệnh : PLTTGQCVADS, PLTTGQCVAKT, PLTTGQCTCLĐ. Bộ luật đã có nhiều quy định mới, tiến bộ, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong việc giải quyết các vụ án dân sự, phù hợp với chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta.Trong quy định về xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, BLTTDS đã khắc phục được nhiều hạn chế của các pháp lệnh thủ tục trước đây. Quyền tự định đoạt của các đương sự được tôn trọng và phát huy, nâng cao trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng. Đặc biệt, thủ tục tranh luận đã được quy định cụ thể và rõ ràng hơn, tạo một bước đột phá trong việc mở rộng quyền tranh tụng theo tinh thần cải cách tư pháp, qua đó phát huy tính tích cực, chủ động và trách nhiệm của những người tham gia tố tụng. Tuy vậy, BLTTDS còn có những bất cập nhất định. Trong phạm vi bài viết chúng tôi xin nêu một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của BLTTDS về phiên toà sơ thẩm dân sự.

1. BLTTDS quy định người đại diện hợp pháp của đương sự có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức đó, là người thay mặt đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự, vì vậy cần bổ sung vào Mục 1 Chương XIV quy định về sự có mặt của người đại diện tại phiên tòa sơ thẩm dân sự.

2. Theo ba pháp lệnh thủ tục trước kia, khi các đương sự vắng mặt lần thứ nhất dù có lý do chính đáng hay không, tòa án đều phải hoãn phiên toà. Thực tiễn xét xử những năm qua cho thấy, quy định này là một trong những nguyên nhân góp phần làm cho phiên toà sơ thẩm có thể bị hoãn nhiều lần. Khắc phục tình trạng đó, BLTTDS không quy định đối với các trường hợp nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt lần thứ nhất không có lý do chính đáng là căn cứ hoãn phiên toà nhưng lại không đưa ra khái niệm thế nào là có lý do chính đáng và cách giải quyết trong trường hợp này. Nếu không có sự hướng dẫn thống nhất sẽ dẫn đến việc áp dụng khác nhau giữa các thẩm phán và các toà án. Theo chúng tôi, tuỳ từng trường hợp toà án sẽ quyết định hoãn hoặc vẫn tiến hành phiên toà. Nếu họ đã có lời khai tại toà án, các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ tương đối đầy đủ thì phiên toà vẫn có thể tiến hành([4]).

Theo chúng tôi “lý do chính đáng” tại các điều 199, 200, 201, 203 của BLTTDS là những lý do bất khả kháng đối với đương sự như đương sự ốm nặng, đương sự phải đi công tác xa chưa về kịp, gia đình đương sự gặp thiên, tai hoả hoạn v.v..

Bên cạnh đó, theo khoản 4 Điều 230 trong trường hợp tại phiên toà khi cần thiết phải giám định lại, giám định bổ sung thì hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà. Nhưng hoãn phiên toà là việc chuyển thời điểm tiến hành phiên toà dân sự đã định sang thời điểm khác muộn hơn [5]. Như vậy, hội đồng xét xử chỉ hoãn phiên toà khi bắt đầu phiên toà tức là chưa xem xét giải quyết về mặt nội dung vụ án, còn khi đã xem xét giải quyết về mặt nội dung vụ án nhưng cần phải thu thập thêm chứng cứ mới có thể giải quyết được vụ án thì Hội đồng xét xử phải quyết định tạm ngừng phiên toà. Vì vậy, theo tôi đây không phải là căn cứ hoãn phiên toà mà là căn cứ tạm ngừng phiên toà.

3. “Phạm vi yêu cầu” (yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập) quy định tại Điều 218 là vấn đề còn gây nhiều tranh cãi, nên hiểu phạm vi yêu cầu bao gồm các loại yêu cầu hay phạm vi về giá trị của yêu cầu. Theo chúng tôi, về yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu là yêu cầu được nêu trong đơn khởi kiện chứ không phải là yêu cầu tại buổi hòa giải cuối cùng. Để bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự thì các đương sự phải được biết trước các yêu cầu của đương sự phía bên kia để chuẩn bị tài liệu, chứ cứ phản đối yêu cầu đó. Vì vậy, tại phiên toà đương sự được quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu nhưng không được vượt quá yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu. Không được vượt quá yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu là không được đưa thêm yêu cầu mới đồng thời không được tăng giá trị yêu cầu, có nghĩa không được gây bất lợi cho các đương sự khác.

4. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần có hướng dẫn cách giải quyết những vấn đề phát sinh từ việc thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự theo quy định của Điều 219, như tên vụ án, tư cách đương sự trong hồ sơ, quan hệ pháp luật tranh chấp v.v.. Theo chúng tôi, khi thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự thì tư cách đương sự trong hồ sơ, quan hệ pháp luật tranh chấp v.v.. sẽ thay đổi . Cho nên, BLTTDS cần quy định rõ kể từ thời điểm thay đổi địa vị tố tụng các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng thêo địa vị được thay đổi đồng thời trong biểu mẫu sổ thụ lý vụ án dân sự cần có thêm cột ghi chú tất cả những thay đổi đó.

5. Trong thủ tục hỏi tại phiên toà, khi cần thiết, hội đồng xét xử cho nghe băng ghi âm, đĩa ghi âm, xem băng ghi hình, đĩa ghi hình. Đây là sự thể hiện việc ứng dụng công nghệ trong hoạt động xét xử nhưng hiện tại không phải toà án nào cũng có thể thực hiện được quy định này. Do đó, đòi hỏi sự cần thiết phải tăng cường cơ sở vật chất cho các toà án.

1.1. 6. Điều 239 BLTTDS quy định trong trường hợp có đương sự không biết tiếng Việt thì sau khi tuyên án, người phiên dịch phải dịch lại cho họ nghe toàn bộ bản án sang ngôn ngữ mà họ biết. Nhưng hiểu thế nào là “sau khi tuyên án”. Theo chúng tôi, bản án của toà án là phán quyết nhân danh nhà nước giải quyết tranh chấp dân sự. Việc dịch bản án phải chính xác, vì vậy cần có thời gian để người phiên dịch dịch bản án sang tiếng nước ngoài. Khoảng thời gian đó vừa đủ cho người phiên dịch có thể thực hiện được công việc của mình đồng thời phải đảm bảo đủ thời gian cho đương sự thực hiện quyền kháng cáo. Theo chúng tôi, Điều 239 BLTTDS cần quy định theo hướng “trong trường hợp có đương sự không biết tiếng Việt thì chậm nhất sau năm ngày kể từ ngày tuyên án, toà án phải triệu tập đương sự không sử dụng được tiếng Việt đến nghe người phiên dịch dịch toàn bộ bản án sang ngôn ngữ mà họ biết ”. Pháp luật tố tụng dân sự một số nước về phiên toà sơ thẩm dân sự.

Xây pháp luật TTDS nói chung và các qui định pháp luật về phiên toà sơ thẩm dân sự nói riêng phù hợp với thực tiễn Việt nam, nhất là trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế và hội nhập quốc tế là một vấn đề không đơn giản. Mặc dù khi nghiên cứu pháp luật TTDS Việt nam qua các giai đoạn lịch sử trước đó và pháp luật hiện hành, chúng ta có thể kế thừa những qui định hợp lý đã từng tồn tại, nhưng ngày nay( nghề luật ngày càng trở nên mang tính quốc tế và trong thề giới hiện đại các luật gia không thể tự giới hạn trong việc chỉ nghiên cứu pháp luật của chính nước mình)[6]. Trong phạm vi chuyên đề, chúng tôi chỉ có thể giới thiệu một số nét cơ bản về phiên toà sơ thẩm dân sự một số nước trên thế giới nhằm so sánh và tham khảo.

1.4.1. Phiên toà sơ thẩm dân sự theo quy định của BLTTDS Thuỵ Điển[7]:

Pháp luật Việt Nam và Thuỵ Điển đều thuộc hệ thống pháp luật Civil law nhưng có nhiều điểm khác biệt. Các quy định về tố tụng dân sự được quy định trong Bộ luật năm 1734. Đây là Bộ luật quy định về Đất đai, dân sự và tố tụng dân sự, trong đó có cả các quy định về phiên toà sơ thẩm dân sự. Hệ thống toà án được chia thành 3 cấp: sơ thẩm, phúc thẩm, thượng thẩm. Toà sơ thẩm được thiết lập ở các địa phương, có chức năng xét xử cả hình sự và dân sự. Quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm được bắt đầu bằng việc hai bên trao đổi tài liệu viết cho nhau. Sau đó, bên nguyên đơn sẽ gửi đơn đến toà án. Toà án sẽ gặp gỡ hai bên để hoà giải. Phiên toà sơ thẩm dân sự được mở nếu sau phiên toà trù bị, các bên vẫn còn có tranh chấp và không hoà giải được. Phiên toà sơ thẩm được tiến hành trên những nguyên tắc cơ bản như nguyên tắc tự do đánh giá chứng cứ, nguyên tắc xét xử trực tiếp, liên tục, bằng lời nói, nguyên tắc xét xử công khai, trừ trường hợp liên quan đến bí mật riêng tư, liên quan đến người dưới 18 tuổi, một số vụ việc về gia đình… thì toà án xử kín nhưng vẫn phải tuyên án công khai. Thành phần tham gia xét xử sơ thẩm đối với các vụ việc về dân sự như tranh chấp về tài sản, thừa kế, bồi thường thiệt hại…không có bồi thẩm, có thể một thẩm phán hoặc ba thẩm phán ( đối với vụ án phức tạp) . Các vụ việc về hôn nhân gia đình, lao động, liên quan đến… vì cần phải xem xét đến yếu tố đạo đức, xã hội nên có bồi thẩm tham gia với thành phần là 1 thẩm phán và 3 bồi thẩm.

Khác với pháp luật Việt Nam, Viện công tố chỉ tham gia xét xử các vụ án hình sự chứ không tham gia vào vụ án dân sự.

- Nếu đương sự đã được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt không có lý do thì toà án vẫn mở phiên toà xét xử vắng mặt họ chứ không cần đến lần thứ hai như quy định của pháp luật Việt Nam.

- Về vấn đề tranh tụng tại phiên toà : không như pháp luật nước ta, ở Thuỵ Điển, thẩm phán chỉ lắng nghe ý kiến của người làm chứng, lập luận của các bên đương sự, có vấn đề gì không rõ, thẩm phán nêu một số câu hỏi để người làm chứng, đương sự trình bày. Sau khi nghe tất cả các bên tranh tụng thẩm phán sẽ đưa ra quyết định ai là người thắng kiện.

Điểm cần lưu ý

1.4.2. Phiên toà sơ thẩm dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng của Hoa Kỳ[8]

Theo pháp luật tố tụng dân sự Hoa Kỳ, thủ tục tố tụng dân sự khởi đầu với một văn bản viết lời buộc tội của nguyên đơn và hình thức bồi thường anh ta muốn, được gọi là “đơn kiện”. Sau đó toà án gửi trát đòi ra hầu toà, yêu cầu phải trả lời đơn kiện trong một khoảng thời gian nhất định sau khi nhận được nó.

Bị đơn phải thừa nhận hoặc phủ nhận từng lời cáo buộc và đưa ra những lý lẽ biện hộ. Anh ta cũng có thể đưa ra lời buộc tội chống lại nguyên đơn, một bị đơn khác hoặc một người vốn chưa được nêu tên trong vụ việc(điểm này có nét tương đồng với quy định của BLTTDS Việt Nam về quyền yêu cầu phản tố của bị đơn). Trong văn bản trả lời, anh ta còn có thể yêu cầu toà án bác bỏ vụ kiện do không có lời buộc tội xác đáng, do thiếu quyền hạn pháp lý đối với nội dung vụ kiện hoặc bản thân bị đơn. Anh ta cũng có thể cho rằng nguyên đơn đã khởi kiện tại một toà án không thích hợp hoặc bị đơn không được thông báo một cách hợp lệ về vụ việc sắp xảy ra.

Giai đoạn tiếp theo là một“quá trình điều tra”khái quát, thường là quá trình

trình này không liên quan đến toà án. Tuy nhiên, một bên tìm kiếm chứng cứ có thể yêu cầu toà án giúp đỡ để buộc bên đối lập không chịu hợp tác hoặc những người khác phải cung cấp thông tin. Tương tự như vậy, bên bị hạch sách chứng cứ một cách bất hợp lý có thể yêu cầu toà án bảo vệ.

Việc điều tra có thể bao gồm những câu hỏi dạng viết cần phải được trả lời sau khi đã tuyên thệ trước toà; yêu cầu cung cấp những tài liệu thích hợp; kiểm tra về thể lực và tâm thần nếu có đơn kiện về gây thương tổn; yêu cầu thừa nhận những điều không thuộc phạm vi tranh chấp. Trước khi xét xử, mỗi bên đều có thể đề nghị phán quyết ngay về bất kỳ vấn đề nào thiếu chứng cứ. Nếu vụ việc tiếp tục được xét xử, toà án có thể ra một lệnh tiền xét xử, xác định những vấn đề sẽ được quyết định trong xét xử và đưa ra các điều khoản khác để tiến hành.

Phiên toà thường được tiến hành công khai trước dân chúng tại một toà án chỉ với một thẩm phán, nếu các bên không đồng ý với điều này thì thành phần xét xử sẽ có thêm ban bồi thẩm gồm từ 6 đến 12 bồi thẩm viên được lựa chọn ngẫu nhiên. Các bên cũng có quyền đòi loại ra một số bồi thẩm viên nhất định. Thẩm phán điều hành quy trình xét xử và tuyên bố luật pháp được áp dụng. Sau những lời tuyên bố mở đầu, bên nguyên đơn, người có trách nhiệm dẫn chứng đưa ra bằng chứng của mình còn bị đơn phải trình bày lập luận của mình. Thẩm phán có thể bác bỏ tất cả hoặc bất kỳ lời cáo buộc nào tỏ ra không có sức thuyết phục. Sau đó, mỗi bên được phép trình bày một tuyên bố kết thúc và thẩm phán giải thích luật cho ban bồi thẩm nhưng ban bồi thẩm phải tự mình quyết định sự thật là gì và theo đó quyết định về vụ án. Cũng giống như pháp luật tố tụng Việt Nam , bản án được quyết định dựa trên đa số. Trong trường hợp không có ban bồi thẩm thì thẩm phán sẽ đưa ra phán quyết.

Kết luận

Hưởng ứng tinh thần chỉ đạo của Nghị quyết số 08/NQ-TW của Bộ chính trị, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 ra đời với nhiều quy định mới nhằm xây dựng một hệ thống pháp luật tố tụng dân sự hoàn thiện hơn, trong đó có quy định về phiên toà sơ thẩm dân sự. Song có thể nhận thấy rằng, trên thực tế, đây là điều không dễ dàng, nó đòi hỏi phải có thời gian và sự nỗ lực rất lớn.

Xét về mặt nghiên cứu lý luận thì phiên toà sơ thẩm dân sự không phải là vấn đề mới mẻ, nhưng xét trên phương diện thực tiễn thì đây là vấn đề còn nhiều điều cần phải bàn luận thêm.

Trong khoá luận này, tác giả tập trung phân tích, đánh giá những quy định của BLTTDS về các thủ tục cần tiến hành tại phiên toà sơ thẩm dân sự, từ việc chuẩn bị mở phiên toà cho đến khi nghị án và tuyên án, kể cả những việc phải tiến hành sau phiên toà sơ thẩm. Trong quá trình phân tích tác giả có nêu lên những tình huống và những hạn chế thiếu sót trên thực tiễn xét xử sơ thẩm, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng của phiên toà sơ thẩm và góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về phiên toà sơ thẩm dân sự; đó là các kiến nghị về việc giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật, vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ thẩm phán và hội thẩm nhân dân. Ngoài ra, người viết cũng đề cập đến một số quy định của pháp luật tố tụng dân sự nước ngoài về vấn đề nghiên cứu để tăng sự phong phú cho việc trình bày khoá luận.

Mặc dù đã rất cố gắng song do trình độ nghiên cứu còn hạn chế, sự tiếp xúc với thực tiễn chưa nhiều nên chắc chắn khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy rất mong nhận được sự đóng góp của các thày, cô giáo, các bạn và những người quan tâm đến đề tài này./.


[1] Báo cáo tổng kết công tác ngành Toà án năm 2000

[2] Báo cáo tổng kết công tác ngành Toà án năm 1999

[3] Tài liệu hội thảo “ BLTTDS- nhừng điểm mới và các vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành”- Học viện Tư pháp, Hà Nội, tháng 12/2004, tr 86

(1)Trong trường hợp người có yêu cầu vắng mặt lần thứ nhất không có lý do chính đáng, BLTTDS không quy định cụ thể.

[5] Từ điển giải thích thuật ngữ luật học LDS, LHN&GĐ, LTTDS – Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân năm1999, tr 197.

[6] Luật so sánh

[7] Về pháp luật tố tụng dân sự- Kỷ yếu Dự án VIE/ 95/017- Tăng cường năng lực xét xử tại Việt Nam, Hà Nội 5/2000, tr 30-35.

[8] Tạp chí Điện tử – Triển vọng kinh tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 9/1999.

Các bài viết cùng tác giả: http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/?s=%22B%C3%B9i+Th%E1%BB%8B+Huy%E1%BB%81n%22

SOURCE: CHƯA XÁC ĐỊNH

TÒA ÁN PHẢI XÉT XỬ ĐỘC LẬP

LƯU TIẾN DŨNG – Luật sư Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam, hiện đang công tác tại Văn phòng Luật sư YKVN của Việt Nam.

Trong buổi làm việc với Tòa án nhân dân tối cao gần đây, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã yêu cầu Tòa án phải độc lập khi xét xử và khẳng định các cơ quan, cũng như những nhà lãnh đạo cấp cao không can thiệp vào hoạt động xét xử của Tòa án. Vấn đề đặt ra là, cần phải làm những gì để cam kết chính trị đó của Chủ tịch nước trở thành hiện thực trong công cuộc xây dựng Nhà nước Pháp quyền.

Một nhà nước pháp quyền theo đúng nghĩa của nó không thể thiếu được một nền tư pháp độc lập bởi lẽ tính tối thượng của pháp luật chỉ có thể được thực hiện khi có các vị quan tòa áp dụng pháp luật một cách độc lập. Độc lập xét xử cùng có ý nghĩa rất quan trọng để bảo đảm một môi trường đầu tư và kinh doanh lành mạnh vì khi đó các nhà đầu tư trong và ngoài nước sẽ yên tâm rằng những tranh chấp đầu tư và hợp đồng kinh doanh của họ sẽ được bảo vệ bởi một cơ chế phán xét độc lập, vô tư và khách quan. Các quyền cơ bản của mỗi con người trong xã hội cũng sẽ được bảo đảm khi những người cầm cân nảy mực thực sự độc lập xét xử những hành vi vi phạm các quyền đó. Độc lập xét xử cũng là điều rất quan trọng để bảo đảm sự thành công của việc phòng và chống tham nhũng bởi lẽ những kẻ tham nhũng sẽ không có cơ hội được bao che bởi sự can thiệp hoặc tác động vào quá trình xét xử của Tòa án.   Đọc tiếp

XÉT HỎI VÀ TRANH LUẬN TẠI PHIÊN TÒA DÂN SỰ SƠ THẨM

THS. NGUYỄN THỊ THU HÀ - Khoa Luật dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Xét xử tại phiên tòa sơ thẩm là giai đoạn tố tụng quan trọng nhất, quyết định nhất bởi tại phiên tòa sơ thẩm Tòa án giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án, các đương sự công khai bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án.

ở phiên tòa, Hội đồng xét xử không chỉ dựa vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án mà phải xác định lại chúng đồng thời làm rõ thêm những tình tiết bằng cách nghe ý kiến trình bày của các đương sự, những người tham gia tố tụng khác, xem xét các tài liệu, vật chứng. Chỉ sau khi nghe ý kiến của những người tham gia tố tụng và kiểm tra, đánh giá đầy đủ các chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử mới nghị án để ra các quyết định về việc giải quyết vụ án.

Theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS) việc xét xử tại phiên tòa sơ thẩm tuân theo một trình tự nhất định bao gồm: thủ tục bắt đầu phiên tòa, xét hỏi tại phiên tòa, tranh luận tại phiên tòa, nghị án và tuyên án.

Trong bài viết này, chúng tôi xin trao đổi một số ý kiến về thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa dân sự sơ thẩm.

Theo quy định tại Điều 50 PLTTGQCVADS, thủ tục xét hỏi tại phiên tòa được thực hiện như sau: “1. Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ các tình tiết của vụ án bằng cách nghe lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người đại diện của đương sự, người đại diện của tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung, kiểm sát viên trong trường hợp Viện kiểm sát khởi tố vụ án, người làm chứng, người giám định; xem xét vật chứng;

2. Khi xét hỏi, Hội đồng xét xử hỏi trước, rồi đến kiểm sát viên, người bảo vệ quyền lợi của đương sự. Những người tham gia tố tụng có quyền đề xuất với Hội đồng xét xử những vấn đề cần được hỏi thêm”.

Thủ tục tranh luận tại phiên tòa theo quy định tại Điều 51 PLTTGQCVADS được thực hiện như sau: “1. Sau khi Hội đồng xét xử kết thúc việc xét hỏi, các đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người đại diện của tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung trình bày ý kiến của mình về đánh giá chứng cứ, đề xuất hướng giải quyết vụ án. Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác, nhưng chỉ được phát biểu một lần đối với mỗi ý kiến mà mình không đồng ý. Nếu thấy cần thiết thì Hội đồng xét xử cho phát biểu thêm. Sau đó kiểm sát viên trình bày ý kiến về hướng giải quyết vụ án.

2. Nếu qua tranh luận mà thấy cần xem xét thêm chứng cứ thì Hội đồng xét xử có thể quyết định xét hỏi lại và tranh luận lại”.

Như vậy, theo quy định của các Điều luật đó thì thủ tục xét hỏi khác với thủ tục tranh luận. ở thủ tục xét hỏi Hội đồng xét xử đặt câu hỏi và nghe những người tham gia tố tụng trả lời, xem xét các chứng cứ, tài liệu của vụ án. ở thủ tục tranh luận đương sự, những người tham gia tố tụng được đưa ra ý kiến về chứng cứ và dựa vào các quy định của pháp luật để phân tích, lập luận, đưa ra các lý lẽ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Thông qua xét hỏi Hội đồng xét xử thẩm tra các chứng cứ, tài liệu của vụ án, làm rõ thêm các tình tiết của vụ án. Thông qua tranh luận Hội đồng xét xử nhận thức được một cách toàn diện các vấn đề của vụ án từ các yêu cầu của đương sự , quan hệ pháp luật dân sự giữa các đương sự cần giải quyết, chứng cứ, tài liệu được sử dụng để giải quyết vụ án, pháp luật áp dụng cần giải quyết vụ án, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đương sự trong vụ án theo quy định của pháp luật.

Với những quy định về trình tự, thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm chúng ta có thể thấy đây là kiểu “tố tụng xét hỏi trong đó đề cao vai trò của Thẩm phán và coi nhẹ vai trò của các bên đương sự. Trong quá trình xét xử tại phiên tòa thẩm phán giữ vai trò chủ động, tích cực. Thẩm phán là người điều khiển phiên tòa, bảo đảm phiên tòa được tiến hành theo trình tự và thủ tục do pháp luật quy định. Vai trò tích cực và chủ động của Thẩm phán còn được thể hiện ở việc tham gia vào quá trình xét xử tại phiên tòa như: yêu cầu các bên đương sự cung cấp thêm chứng cứ, xét hỏi các đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người làm chứng, xem xét các chứng cứ, tài liệu của vụ án… Còn các đương sự không có quyền xét hỏi mà có chỉ quyền đề xuất với Hội đồng xét xử những vấn đề cần được hỏi thêm, được trình bày ý kiến của mình về đánh giá chứng cứ và dựa vào các quy định của pháp luật để phân tích, lập luận, đưa ra các lý lẽ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Nghiên cứu về vấn đề này, chúng tôi thấy việc quy định về thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa như trên là chưa phù hợp, chưa bảo đảm tính dân chủ và bảo vệ các quyền con người trong quá trình tham gia tố tụng tại phiên tòa, làm đương sự ỷ lại phụ thuộc vào Tòa án, “hạn chế tính tích cực, chủ động của đương sự trong tố tụng vai trò của luật sư tại phiên tòa bị mờ nhạt, toàn bộ trách nhiệm chứng minh được đặt lên vai Hội đồng xét xử đặt biệt là chủ tọa phiên tòa, còn các bên đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, những người tham gia tố tụng khác chỉ tham gia vào quá trình chứng minh ở mức độ hạn chế. Và khi phải đảm nhiệm toàn bộ trách nhiệm chứng minh ở phiên tòa thì Hội đồng xét xử không có điều kiện tập trung vào xem xét, đánh giá các chứng cứ, hướng quá trình tranh tụng giữa các bên đương sự vào việc làm sáng tỏ các yêu cầu, các căn cứ thực tiễn và pháp lý của các yêu cầu đó cũng như các tình tiết khác nhau về quan hệ pháp luật dân sự mà từ đó phát sinh tranh chấp giữa các đương sự. Mặt khác, việc Tòa án chủ động thu thập chứng cứ không bảo đảm sự khách quan, vô tư và công minh trong việc phân xử vụ án, không tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự.

Ngoài ra, trên thực tế hiện nay, thủ tục tranh luận ở nhiều phiên tòa không được tiến hành hoặc được tiến hành rất đại khái, có nhiều trường hợp “chủ tọa phiên tòa để cho đương sự tranh luận trong quá trình thẩm vấn. “Tòa xét hỏi trước khi xét xử, Thẩm phán báo cáo… án, việc xét xử có chủ định, bàn bạc từ trước. Vì vậy phiên tòa không khách quan, không có việc tranh tụng thực tế mà việc đó diễn ra một cách hình thức và “một số Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa coi phiên tòa chỉ là một hình thức để hợp pháp hoá một bản án đã quyết định trưóc rồi, quyết định của tập thể Thẩm phán ở tại, của cấp uỷ hoặc của Tòa án cấp trên. Bên cạnh đó, Tòa án chưa thực sự tôn trọng, “chưa tạo điều kiện thuận lợi để luật sư đọc hồ sơ vụ kiện; việc triệu tập phiên tòa quá gấp làm luật sư không kịp bố trí thời gian để thực hiện các quyền và nghiã vụ của mình trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa” và cũng không ít trường hợp “Hội đồng xét xử chưa tôn trọng, lắng nghe ý kiến của luật sư, cá biệt còn tư tưởng coi thường vai trò của luật sư tại phiên tòa, làm phiên tòa thiếu dân chủ

Do đó đã đến lúc trình tự, thủ tục tiến hành phiên tòa được quy định lại theo hướng bảo đảm Tòa án thực hiện đúng chức năng của mình trong tố tụng dân sự. Để đạt được mục đích của tố tụng dân sự là xác định sự thật khách quan của vụ án: “Tòa án sẽ thực sự đóng vai trò trọng tài nếu không phải tự đi thu thập chứng cứ mà chỉ xem xét, đánh giá chứng cứ do các đương sự cung cấp. Điều này có nghĩa là nếu đương sự (hoặc tự mình hoặc có luật sư giúp đỡ) không xuất trình được chứng cứ cho Tòa án thì yêu cầu của họ sẽ bị bác bỏ.

Vì vậy, để thực hiện đúng định hướng như Nghị quyết 08/ NQ – TƯ của Bộ chính trị ngày 2/1/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã đề ra: “Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên… nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định”, nên bỏ thủ tục xét hỏi, các bên đương sự thực hiện trách nhiệm chứng minh còn Tòa án chỉ thẩm tra tư cách các đương sự và những người tham gia tố tụng khác để bảo đảm tính hợp pháp của quá trình tranh tụng tại phiên tòa. Tòa án có quyền tham gia vào quá trình đó bất cứ thời điểm nào khi thấy cần thiết phải làm sáng tỏ các tình tiết, chứng cứ nào đó về vụ án chưa được các bên làm rõ. Do đó thủ tục tiến hành phiên tòa cần được quy định như sau:

Sau thủ tục bắt đầu phiên tòa, Tòa án cho đương sự trình bày yêu cầu, xuất trình chứng cứ và tranh luận.

¨ Dưới sự hướng dẫn của Hội đồng xét xử, nguyên đơn, người đại diện của nguyên đơn hoặc luật sư của nguyên đơn trình bày công khai tại phiên tòa nội dung đơn khởi kiện và các yêu cầu của mình. Tiếp đó, các đương sự, những người tham gia tố tụng khác (người đại diện hoặc luật sư của họ) trình bày các yêu cầu cụ thể của mình.

¨ Để chứng minh cho các yêu cầu của mình nguyên đơn, người đại diện của nguyên đơn hoặc luật sư của nguyên đơn trình bày trước Tòa án ý kiến của họ và xuất trình, chứng minh sự việc bằng các chứng cứ (giấy tờ, tài liệu, vật chứng, người làm chứng…), lý lẽ, viện dẫn các quy định của pháp luật. (Trong trường hợp vụ án do Viện kiểm sát khởi tố hoặc tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung thì đại diện Viện kiểm sát, tổ chức xã hội trình bày quan điểm cùng các chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý).

¨ Bị đơn, người đại diện của bị đơn hoặc luật sư của bị đơn cũng đưa ra các quan điểm cùng các chứng cứ (giấy tờ, tài liệu, vật chứng, người làm chứng…), các căn cứ pháp lý trên cơ sở đó đưa ra lập luận, lý lẽ để bảo vệ quan điểm của mình, phản bác lại quan điểm, lập luận của phía nguyên đơn.

¨ Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người đại diện hoặc luật sư của họ cũng dựa vào chứng cứ, căn cứ pháp lý, đưa ra các lý lẽ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Đối với những người làm chứng khi khai báo tại tòa có thể bị chất vấn bởi đương sự, người đại diện của đương sự hoặc luật sư của đương sự phía bên kia.

Trong quá trình tranh luận giữa những người tham gia tố tụng, nếu có điểm nào chưa rõ thì Hội đồng xét xử có quyền hỏi thêm. Cuối cùng kiểm sát viên phát biểu ý kiến về vụ án và đề xuất hướng giải quyết vụ án. Trong trường hợp các đương sự không đồng ý với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát thì họ có quyền đối đáp lại.

Trên đây là một số ý kiến của chúng tôi về các quy định của PLTTGQCVADS về trình tự, thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa dân sự sơ thẩm. Mong rằng các ý kiến này được các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu và tham khảo trong quá trình xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự.


(1) Xem: Nhà pháp luật Việt – Pháp (29, 30/10/2001), Tài liệu hội thảo pháp luật TTDS, tr. 3, 6.

Xem: Nguyễn Công Bình, Nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Luật học năm 1998, tr. 83.

Xem: Lương Duy, “Thực tiễn tiến hành phiên tòa dân sự và một số kiến nghị”, Tạp chí dân chủ pháp luật số 7/1998, tr. 10

Xem: Lạc Thảo, “án tại hồ sơ – Quan niệm không còn phù hợp”, Báo pháp luật ngày 12/3/2002, tr. 3

5) Xem: Nguyễn Thành Vĩnh, Luật sư với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, NXB Pháp lý năm 1990, tr. 81.

Nguyễn quang Lộc (2002), “Luật sư dưới góc nhìn của Thẩm phán”, Tạp chí dân chủ và pháp luật, (số2/2002), tr. 27.

Xem: Thu Tâm, “Để luật sư có vai trò đích thực”, Báo pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh ngày 1/4/2002, tr. 7.

) Nghị quyết 08/NQ -TƯ của Bộ chính trị ngày 2/1/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới.

SOURCE: CHƯA XÁC ĐỊNH (RẤT MONG ĐƠN VỊ PHÁT HÀNH VÀ TÁC GIẢ THÔNG CẢM)

Các bài viết cùng tác giả: http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/?s=%22NGUY%E1%BB%84N+TH%E1%BB%8A+THU+H%C3%80%22

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHIÊN TÒA SƠ THẨM

THS. NGUYỄN THỊ THU HÀ – Khoa luật dân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội

Xét xử tại phiên toà sơ thẩm là giai đoạn tố tụng quan trọng nhất, quyết định nhất bởi tại phiên toà sơ thẩm, toà án giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án, các đương sự công khai bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước toà án. ở phiên toà, hội đồng xét xử không chỉ dựa vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án mà phải xác định lại chúng đồng thời làm rõ thêm những tình tiết bằng cách nghe ý kiến trình bày của các đương sự, những người tham gia tố tụng khác, xem xét các tài liệu, vật chứng. Chỉ sau khi nghe ý kiến của người tham gia tố tụng và kiểm tra, đánh giá đầy đủ các chứng cứ tại phiên toà, hội đồng xét xử mới nghị án để ra các quyết định về việc giải quyết vụ án. Hiện nay, xét xử tại phiên toà sơ thẩm được quy định trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự. Tuy nhiên, thực tiễn vận dụng các quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự về phiên toà sơ thẩm dân sự cho thấy có nhiều vấn đề nảy sinh mà pháp luật chưa có quy định hoặc có quy định nhưng thiếu cụ thể, không phù hợp với thực tiễn dẫn tới những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng.

Trước yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế và sự hoàn thiện của pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình Nhà nước ta đã cho xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự. Nghiên cứu các quy định về phiên tòa sơ thẩm trong Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự chúng tôi thấy vẫn còn một số quy định chưa hợp lý, chưa khắc phục được những thiếu sót của phiên toà sơ thẩm trong pháp luật tố tụng dân sự hiện nay.

1. Về sự tham gia tố tụng tại phiên toà của viện kiểm sát nhân dân

Điều 208 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự quy định: ”1. Kiểm sát viên viện kiểm sát cùng cấp có nhiệm vụ tham gia phiên toà xét xử vụ án mà viện kiểm sát khởi tố. Đối với những vụ án khác, kiểm sát viên có thể tham gia phiên toà, nếu xét thấy cần thiết…“.

Tuy nhiên trong quá trình xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này. Có ý kiến cho rằng viện kiểm sát cần phải tham gia tất cả các phiên toà và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án vì theo Khoản 3 Điều 20 Luật tổ chức Viện kiểm sát thì viện kiểm sát tham gia các phiên toà và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án. Ngoài ra, việc viện kiểm sát tham gia phiên toà là để thực hiện tốt hơn chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp. Do đó, cần quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự tinh thần này của Luật tổ chức Viện kiểm sát.

Quan điểm khác cho rằng theo quy định tại Điều 20 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân thì:”Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc giải quyết vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm việc giải quyết các vụ án “. Viện kiểm sát kiểm sát hoạt động xét xử của toà án bằng nhiều biện pháp khác nhau chứ không bắt buộc phải tham gia tất cả các phiên toà xét xử các vụ án. Mặt khác khi viện kiểm sát tham gia tất cả các phiên tòa thì toà án nhân dân bắt buộc phải chuyển tất cả hồ sơ cho viện kiểm sát nghiên cứu trước khi mở phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm và như vậy ảnh hưởng đến thời gian giải quyết vụ án. Do đó quy định như trong Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự là hợp lý và phù hợp với thực tế.

Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm thứ hai vì trong trường hợp viện kiểm sát khởi tố vụ án thì theo quy định tại Điều 166 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự viện kiểm sát phải có trách nhiệm cung cấp những tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho quyền lợi của bên đương sự mà viện kiểm sát đứng ra bảo vệ đồng thời viện kiểm sát phải đưa ra những chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý bác bỏ yêu cầu của đương sự phía bên kia đưa ra. Để có thể làm được điều đó thì khi xét xử tại phiên toà viện kiểm sát phải tham gia tố tụng. Còn trong trường hợp viện kiểm sát không khởi tố vụ án thì viện kiểm sát đứng về phía ai, nguyên đơn, bị đơn hay người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và nếu họ không đứng về phía đương sự nào mà chỉ là cơ quan tiến hành tố tụng để kiểm sát hoạt động xét xử của toà án thì không cần thiết phải tham gia phiên toà. Và trên thực tế “Tỷ lệ kiểm sát viên tham gia phiên toà hiện nay là khá cao nhưng tỷ lệ án bị huỷ và cải sửa vẫn rất lớn. Nhiều sai sót về thủ tục, về hồ sơ nhưng kiểm sát viên vẫn không phát hiện được mặc dù đã kiểm sát hồ sơ và tham gia phiên toà. Điều đó cho thấy việc tham gia phiên tòa chỉ là hình thức. Vì vậy viện kiểm sát chỉ bắt buộc tham gia phiên tòa xét xử vụ án mà viện kiểm sát khởi tố để bảo đảm chất lượng tham gia phiên toà cũng như bảo đảm việc giải quyết vụ án đúng pháp luật, kịp thời.

Nếu chúng ta tham khảo các quy định của pháp luật nước ngoài thì thấy rất ít nước trong Bộ luật tố tụng dân sự quy định về sự tham gia tố tụng tại phiên toà sơ thẩm của viện kiểm sát và nếu có thì cũng chỉ trong một số trường hợp nhất định ví dụ Điều 431 Bộ luật tố tụng dân sự của Pháp quy định:”Viện công tố chỉ phải dự phiên toà trong những trường hợp Viện công tố với tư cách các bên đương sự chính tham gia tố tụng hoặc đại diện cho người khác hoặc khi pháp luật quy định Viện công tố phải có mặt tại phiên toà“.

Vì vậy chúng tôi cho rằng quy định về sự tham gia tố tụng tại phiên toà của viện kiểm sát như trong Điều 208 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự là hoàn toàn hợp lý.

2. Về thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên toà

1. Điều 223 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự quy định về thứ tự xét hỏi, Điều 224, Điều 225, Điều 226, Điều 227 và Điều 231 Dự thảo quy định về việc hỏi nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người giám định.

Việc quy định về thủ tục xét hỏi như trong Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự vẫn là kiểu “tố tụng xét hỏi trong đó đề cao vai trò của thẩm phán và coi nhẹ vai trò của các bên đương sự. Trong quá trình xét xử tại phiên tòa hội đồng xét xử vẫn giữ vai trò chủ động và tích cực tham gia vào các hoạt động xét hỏi các đương sự, người đại diện của đương sự, người làm chứng, người giám định…. Nghiên cứu về vấn đề này, chúng tôi thấy việc quy định về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa như trên là chưa hợp lý, chưa phù hợp, chưa bảo đảm tính dân chủ và bảo vệ các quyền con người trong quá trình tham gia tố tụng tại phiên tòa, làm đương sự ỷ lại phụ thuộc vào tòa án, “hạn chế tính tích cực, chủ động của đương sự trong tố tụng vai trò của luật sư tại phiên tòa bị mờ nhạt, toàn bộ trách nhiệm chứng minh được đặt lên vai hội đồng xét xử đặt biệt là chủ tọa phiên tòa, còn các bên đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, những người tham gia tố tụng khác chỉ tham gia vào quá trình chứng minh ở mức độ hạn chế. Và khi phải đảm nhiệm toàn bộ trách nhiệm chứng minh ở phiên tòa thì hội đồng xét xử không có điều kiện tập trung vào xem xét, đánh giá các chứng cứ, hướng quá trình tranh tụng giữa các bên đương sự vào việc làm sáng tỏ các yêu cầu, các căn cứ thực tiễn và pháp lý của các yêu cầu đó cũng như các tình tiết khác nhau về quan hệ pháp luật dân sự mà từ đó phát sinh tranh chấp giữa các đương sự. Ngoài ra, việc quy định như vậy không phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp đã được quán triệt trong Nghị quyết 08/ NQ – TƯ của Bộ chính trị ngày 2/1/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đó là: “Việc phán quyết của tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên… nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định”

Do đó chúng tôi cho rằng trong Bộ luật tố tụng dân sự cần bỏ thủ tục xét hỏi. Khi xét xử các bên đương sự thực hiện trách nhiệm chứng minh còn tòa án chỉ thẩm tra tư cách các đương sự và những người tham gia tố tụng khác để bảo đảm tính hợp pháp của quá trình tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có quyền tham gia vào quá trình đó bất cứ thời điểm nào khi thấy cần thiết phải làm sáng tỏ các tình tiết, chứng cứ nào đó về vụ án chưa được các bên làm rõ. Do đó thủ tục tiến hành phiên tòa cần được quy định như sau: sau thủ tục bắt đầu phiên tòa, hội đồng xét xử cho đương sự trình bày yêu cầu, xuất trình chứng cứ và tranh luận.

2. Hiện nay tranh luận tại phiên tòa trong Dự thảo cũng mới chỉ đề cập đến trình tự phát biểu khi tranh luận, phát biểu khi tranh luận và đối đáp, phát biểu của viện kiểm sát và trở lại việc xét hỏi mà chưa đề cập đến những người có quyền tham gia tranh luận, phạm vi tranh luận, cơ sở của việc tranh luận trong khi đó đây là những vấn đề có ý nghĩa quan trọng để ra những bản án, quyết định có căn cứ và hợp pháp.

· Về những người tham gia tranh luận:

Các quan hệ dân sự là những quan hệ diễn ra trong đời sống dân sự của xã hội, theo đó các chủ thể của quan hệ dân sự có quyền tự do tự nguyện, bình đẳng trong việc thiết lập các quyền và nghĩa vụ dân sự phục vụ cho lợi ích của mình phù hợp với lợi ích chung của xã hội. Trong trường hợp có tranh chấp hoặc vi phạm xẩy ra thì họ cũng có quyền lựa chọn cách thức, biện pháp để giải quyết tranh chấp. Khi họ lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng tòa án thì trách nhiệm chứng minh cho yêu cầu, phản yêu cầu của mình phải thuộc về các đương sự. Hơn nữa, các vụ kiện dân sự chủ yếu phát sinh là do có sự tranh chấp về quyền và lợi ích giữa các đương sự. Do đó, việc xác định quyền và nghĩa vụ đó có tồn tại hay không phải thuộc về các đương sự người biết rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh ra tranh chấp vì nó không chỉ là con đường ngắn nhất để biết rõ sự thật, mà còn làm các bên thoả mãn hơn với kết quả được xác lập lại theo đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, trong quá trình tranh luận tại phiên tòa những người tham gia tranh luận, giữ vai trò chủ động và tích cực trong quá trình tranh luận chính là các bên đương sự, người đại diện hoặc người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Đối với những vụ án do viện kiểm sát khởi tố hoặc cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung thì mặc dù viện kiểm sát, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội không phải là chủ thể của quan hệ pháp luật tranh chấp nhưng viện kiểm sát, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội là người đưa ra yêu cầu khởi kiện, khởi tố nên để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, khởi tố của mình là có căn cứ và hợp pháp thì viện kiểm sát, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội phải có quyền tranh luận. Trong quá trình tranh luận, thẩm phán là người trọng tài “cầm cân công lý” để phân xử giữa hai bên tham gia tranh luận, duy trì trật tự phiên tòa và quá trình tranh luận giữa hai bên, hướng quá trình tranh luận vào việc giải quyết các yêu cầu của các đương sự, các căn cứ thực tiễn và pháp lý của các yêu cầu đó cũng như các tình tiết khác nhau về quan hệ pháp luật dân sự mà từ đó phát sinh tranh chấp giữa các đương sự. Như vậy, chúng tôi cho rằng cần bổ sung thêm điều luật quy định về những người có quyền tham gia tranh luận tại phiên tòa đó là: Đương sự, người đại diện của đương sự hoặc người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Trong trường hợp viện kiểm sát khởi tố, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung thì kiểm sát viên, đại diện của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội có quyền tranh luận.

· Về phạm vi tranh luận:

Khi tiến hành tranh luận thì vấn đề cơ bản là phải xác định chính xác nội dung những vấn đề các đương sự tranh luận tại phiên tòa hay nói cách khác là phải xác định phạm vi tranh luận.

Theo quy định tại điểm a và điểm c khoản 2 Điều 57 Dự thảo thì đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, được biết và ghi chép, sao chụp các chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do tòa án thu thập. Do đó đương sự người có nghĩa vụ phải trả lời các yêu cầu tự nhận thấy yêu cầu, các chứng cứ mà đương sự phía bên kia đưa ra là hoàn toàn đúng đắn, có cơ sở và họ thừa nhận những chứng cứ, những yêu cầu đó. Việc thừa nhận này sẽ giải phóng cho đương sự phía bên kia khỏi nghĩa vụ chứng minh. Tuy nhiên có những yêu cầu mà các bên hoặc một bên đương sự không chấp nhận và những thông tin, tài liệu mà các bên không đồng ý là chứng cứ hoặc một bên không đồng ý là chứng cứ. Khi phiên tòa diễn ra, sau khi các đương sự trình bày xong các yêu cầu, đề nghị và đã xuất trình đầy đủ chứng cứ thì phiên tòa chỉ tập trung vào những vấn đề các bên hoặc một bên từ chối không công nhận, còn những vấn đề các bên không từ chối thì coi như là đã được giải quyết và những chứng cứ nào các bên đã thừa nhận thì cũng không tranh luận nữa. Như vậy Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự cần bổ sung thêm điều luật quy định về phạm vi tranh luận đó là: Những người tham gia tranh luận chỉ tranh luận về những vấn đề mà các bên đương sự còn mâu thẫn và có những chứng cứ chứng minh không thống nhất.

· Về cơ sở của việc tranh luận:

Trong tố tụng dân sự đương sự có trách nhiệm chứng minh, có trách nhiệm làm sáng tỏ vấn đề, chứng tỏ cho tòa án và những người tham gia tố tụng khác thấy được sự đúng đắn trong yêu cầu, phẩn yêu cầu của mình, đồng thời chứng minh rằng đương sự phía bên kia phải có nghĩa vụ đối với yêu cầu của mình. Để thực hiện trách nhiệm chứng minh các đương sự phải tìm kiếm, thu thập mọi chứng cứ cần thiết để bảo vệ quyền lợi của mình như chứng cứ viết, đề xuất để tòa án triệu tập những người làm chứng cần thiết, các vật chứng… và cung cấp các chứng cứ đó cho tòa án và thông báo cho bên kia biết những chứng cứ đó. Đồng thời với việc xuất trình các chứng cứ cho tòa án thì các đương sự phải được tranh luận về chứng cứ, khẳng định giá trị chứng minh của chứng cứ mà mình xuất trình trước hội đồng xét xử, trình bày quan điểm, lập luận của mình về các tình tiết của vụ án, về kết luận giám định, đưa ra các căn cứ pháp lý, lý lẽ để chứng minh rằng yêu cầu của mình hoặc để phản đối yêu cầu của đối phương là có căn cứ, hợp pháp. Với việc tranh luận này của các đương sự, hội đồng xét xử sẽ nhận thức được một cách toàn diện các vấn đề của vụ án từ các yêu cầu của đương sự, quan hệ pháp luật dân sự giữa các đương sự cần giải quyết, chứng cứ, tài liệu được sử dụng để giải quyết vụ án, pháp luật áp dụng cần giải quyết vụ án, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đương sự trong vụ án theo quy định của pháp luật. Như vậy, cần bổ sung thêm điều luật quy định về cơ sở của việc tranh luận đó là: Khi tiến hành tranh luận thì đương sự, người đại diện của đương sự hoặc người bảo vệ quyền lợi của đương sự lần lượt trình bày trước hội đồng xét xử ý kiến của họ về các chứng cứ (giấy tờ, tài liệu, vật chứng, người làm chứng…), lập luận về các tình tiết của vụ án, về kết luận giám định, đưa ra các căn cứ pháp lý, lý lẽ và đề xuất hướng giải quyết vụ án. Trong trường hợp vụ án do viện kiểm sát khởi tố, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung thì kiểm sát viên, đại diện của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội trình bày quan điểm cùng các chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý.

Như vậy tranh luận tại phiên tòa trong Dự thảo cần quy định cụ thể về: những người tham gia tranh luận, phạm vi tranh luận, trình tự tranh luận, cơ sở của việc tranh luận, phát biểu của kiểm sát viên và quay trở lại việc xem xét chứng cứ.

3. Về phát biểu của kiểm sát viên

Điều 235 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Sau khi những người tham tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Chủ toạ phiên toà đề nghị kiểm sát viên phát biểu quan điểm của viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án

Theo quy định này thì kiểm sát viên vẫn là người phát biểu quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án sau cùng trước khi hội đồng xét xử tuyên bố nghỉ vào nghị án. Đây là điểm hoàn toàn khác so với phần thủ tục tranh luận tại phiên tòa hình sự. ở phiên tòa dân sự sơ thẩm, đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự không tranh luận với viện kiểm sát mà viện kiểm sát là người cuối cùng trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án để hội đồng xét xử xem xét và quyết định. Sau khi đại diện viện kiểm sát trình bày kết luận của mình thì những người tham gia tranh luận không phát biểu gì thêm. Còn ở phiên tòa hình sự theo Điều 191 Bộ luật tố tụng hình sự thì bắt đầu vào phần tranh luận, kiểm sát viên trình bày lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận về tội danh nhẹ hơn, sau đó mới đến bị cáo hoặc người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa và những người tham gia tố tụng khác phát biểu ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, những người tham gia tố tụng khác có quyền tranh luận, đối đáp với Viện kiểm sát về những điểm mình không đồng ý.

Về vấn đề này chúng tôi cho rằng trong tố tụng dân sự luôn luôn tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự, đương sự là người có quyền tự mình hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền lợi cho mình nhưng theo qui định của Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự thì viện kiểm sát là người đưa ra hướng giải quyết vụ án, mà một khi đã đưa ra hướng giải quyết vụ án thì phải đưa ra các chứng cứ, căn cứ pháp lý, lý lẽ làm cơ sở cho việc đề xuất hướng giải quyết vụ án. Những đề xuất đó có thể có lợi cho phía đương sự này hoặc phía đương sự kia và ít nhiều có tác động đến hội đồng xét xử. “Thực tiễn cũng đã cho thấy không phải kết luận nào của viện kiểm sát cũng là chân lý mà đôi khi có trường hợp vô tình làm một bên hưởng lợi không đúng luật

Do đó, cần phải để cho các đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự có quyền đáp lại ý kiến của viện kiểm sát về những vấn đề mà họ không đồng ý, có như vậy mới giúp hội đồng xét xử có được đầy đủ ý kiến tranh luận của các đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự trên cơ sở đó hội đồng xét xử ra bản án, quyết định đúng đắn và chính xác nhất. Và như vậy, Điều 235 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự cần quy định như sau: “Đại diện viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án. Trong trường hợp các đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền lợi, ích hợp pháp của đương sự không đồng ý với ý kiến của kiểm sát viên thì họ có quyền đối đáp lại“.

4. Thời gian nghị án

 

Điều 239 Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp việc nghị án đòi hỏi phải có thời gian dài, thì Hội đồng xét xử có thể quyết định thời gian nghị án, nhưng không được quá năm ngày làm việc…

Bản án là kết quả cụ thể của toàn bộ quá trình điều tra, xét xử một vụ án. Nó xác định sự thật khách quan, rút ra những kết luận về những vấn đề liên quan đến tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm, lợi ích của con người, của tập thể, của Nhà nước và những vấn đề liên quan đến toàn xã hội. Do đó thẩm phán phải mất rất nhiều thời gian để trình bày nội dung, phân tích, đánh giá các chứng cứ, các tình tiết của vụ án, việc vận dụng pháp luật làm căn cứ để xác định sự việc, chứng minh cho những kết luận, những vấn đề cần phải giải đáp trong vụ án, làm cơ sở cho việc ra phán quyết. Vì vậy, trong một thời gian ngắn thì hội đồng xét xử không thể làm được tất cả những việc đó cho nên trên thực tế hầu như đối với việc xét xử các vụ án dân sự bản án đều được viết sẵn. Về mặt lý luận, bản án được chuẩn bị trước khi nghị án là không đúng và khi bản án đã được viết trước như vậy thì quá trình tranh luận tại phiên tòa trở nên vô nghĩa, việc tham gia tố tụng của các luật sư để bảo vệ quyền lợi cho đương sự cũng bị hạn chế…bởi vì các thành viên của hội đồng xét xử đã định hình sẵn phương hướng giải quyết vụ án trước khi giai đoạn xét xử được diễn ra, việc giải quyết vụ án đã được quyết định trước bởi một tập thể thẩm phán rồi.

Vì vậy, chúng tôi cho rằng thời gian nghị án không chỉ áp dụng đối với những vụ án có nhiều tình tiết phức tạp mà thời gian nghị án này phải được áp dụng đối với tất cả các vụ án ngay cả đối với những vụ án có thể nghị án ngay được thì cũng không nên tuyên án ngay vì hội đồng xét xử cần có đủ thời gian cần thiết để bàn bạc, thảo luận về các vấn đề cần phải giải quyết trong vụ án trên cơ sở đó hội đồng xét xử ra được bản án, quyết định đúng đắn, chính xác và bảo vệ quyền lợi chính đáng của các đương sự.

Nếu chúng ta tham khảo các quy định của pháp luật nước ngoài thì thấy các nước trong Bộ luật tố tụng dân sự đều có quy định về thời hạn nghị án và thời hạn này được áp dụng cho tất cả các vụ án ví dụ như Bộ luật tố tụng dân sự Đài loan qui định “bản án phải được tuyên công khai trong vòng năm ngày sau khi kết thức thủ tục thẩm vấn, tranh luận. Bản án phải được hoàn thiện và chuyển cho thư kí trong vòng năm ngày sau ngày tuyên án(6) hoặc pháp luật tố tụng dân sự của Thái lan qui định: “Khi việc xem xét thẩm vấn đã kết thúc, Tòa án ấn định và công bố ngày tuyên án. Việc tuyên án phải được tiến hành tại phiên tòa có đầy đủ thành phần Hội đồng xét xử và công khai, có mặt tất cả các bên. Nếu tất cả các bên đều không có mặt tại ngày tuyên án thì Tòa án có thể không cần tuyên án và được coi rằng bản án đã tuyên theo pháp luật”(7)

Do đó, Điều 239 cần quy định như sau: “Sau khi kết thúc phần tranh luận, chủ tọa phiên tòa tuyên bố và quyết định thời gian nghị án nhưng không được quá năm ngày làm việc…”.


 

Xem: TS Trần Văn Trung, “Vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự”, Tài liệu toạ đàm Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự, Câu lạc bộ luật gia Việt – Đức và văn phòng Viện Konard Adenauer, 11/2003.

Xem: Nhà pháp luật Việt – Pháp (29, 30/10/2001), Tài liệu hội thảo pháp luật TTDS, tr. 3, 6.

Xem: Nguyễn Công Bình, Nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Luật học năm 1998, tr. 83.

Nghị quyết 08/NQ -TƯ của Bộ chính trị ngày 2/1/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới

Xem: Khánh Tuệ, Văn Vũ (2002), “Nâng cao chất lượng xét xử”, Báo pháp luật chủ nhật, số 83/2002.

(6) Xem: Kỷ yếu dự án VIE/95/017 – Tăng cường năng lực xét xử tại Việt Nam (2000), Về pháp luật tố tụng dân sự, NXB văn hóa dân tộc TANDTC, Hà Nội, tr.129.

(7)Xem: Kỷ yếu dự án VIE/95/017 – Tăng cường năng lực xét xử tại Việt Nam (2000), Về pháp luật tố tụng dân sự, NXB văn hóa dân tộc TANDTC, Hà Nội, tr.57.

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 646 other followers

%d bloggers like this: