LUẬT SỬA ĐỔI BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ: VÀI BƯỚC TỚI NGẮN, NHỮNG BƯỚC LUI DÀI

LS. QUÁCH TÚ MẪN – Công ty Luật Hợp danh Danh và Cộng sự

I. Tóm lược nội dung

A. Luật sửa đổi bổ sung một số điều của bộ luật tố tụng dân sự được Quốc hội thông qua ngày 29/03/2011 LTTDS2011, bãi bỏ 8 Điều luật, bổ sung 11 Điều, sửa đổi 41 điều luật cũ. Ngoài những phần chỉ sửa đổi câu chữ, sắp xếp lại câu văn và không ảnh hưởng đến trình tự tố tụng cũ, có thể thống kê được 6 phần sửa đổi, bổ sung chính như sau:

1- Mở rộng thẩm quyền toà án:

a) Thẩm quyền chung của toà án:

- Điều 25 “Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án” bổ sung 3 loại tranh chấp sau:

+ Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.

+ Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

+ Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

- Điều 26 “Những yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án” bổ sung tương ứng với Điều 25 về tranh chấp hai loại việc sau:

+ Yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.

+ Yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản; phân chia tài sản chung để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

- Điều 32a “Thẩm quyền của toà án đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức” bổ sung quyền của Toà án: khi giải quyết vụ việc dân sự, có quyền huỷ quyết định cá biệt rõ ràng trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Toà án có nhiệm vụ giải quyết.

Đọc tiếp

MỘT SỐ TRAO ĐỔI VỀ CÁCH TÍNH THỜI HIỆU KHỞI KIỆN TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ VỀ ĐÒI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG

TÁC GIẢ CHƯA XÁC ĐỊNH

Theo quy định tại Điều 159 BLTTDS được sửa đổi bổ sung năm 2011 thì thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, nếu thời hạn đó đã hết thì đương sự mất quyền khởi kiện. Đối với thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự có quan hệ pháp luật tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng quy định tại chương XXI của BLDS năm 2005 thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 02 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm. (Đ607 BLDS, tiểu mục 6, mục I Nghị quyết 03/2006/NQ – HĐTP ngày 08/7/ 2006 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao).

Theo hướng dẫn tại tiểu mục 2.2 mục IV Nghị quyết 01/2005/NQ – HĐTP ngày 31/3/2005 của Hội đồng thẩm phánToà án nhân dân tối cao thì ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm được xác định là ngày xảy ra hành vi vi phạm gây thiệt hại về  tài sản, tính mạng, sức khoẻ …

Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn một số vướng mắc về xác định thời hiệu khởi kiện khi Toà án thụ lý vụ án dân sự có quan hệ đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày xảy ra hành vi vi phạm hay tính từ thời điểm có quyết định của cơ quan có thẩm quyền đang giải quyết.

Trong vụ án hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự do không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Người bị thiệt hại khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (bồi thường về sứckhoẻ, tài sản) thì thời hiệu khởi kiện tính như thế nào? được tính từ khi quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân bị xâm phạm hay từ khi có quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Đối với những vụ án hình sự có liên quan đến tài sản, bồi thường thiệt hại nhưng không liên quan đến việc xác định cấu thành tội phạm, không ảnh hưởng đến việc xem xét tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị can, bị cáo ( theo hướng dẫn tại công văn số 121/2003/KHXX ngày 19/9/2003 về việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tài sản, bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự), thì được tách thành vụ kiện dân sự khác, như vậy khi đương sự khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện được tính như thế nào? tính từ ngày xảy ra hành vi gây thiệt hại hay tính từ khi có quyết định tách vụ án, hoặc tính từ thời điểm bản án hình sự có hiệu lực pháp luật.

Đọc tiếp

HÒA GIẢI – MỘT PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THAY THẾ

THS. DƯƠNG QUỲNH HOA – Viện Nhà nước và Pháp luật

Trong nền kinh tế thị trường, các nhà kinh doanh đều muốn xây dựng lòng tin, duy trì mối quan hệ kinh tế với các đối tác một cách lâu dài để bảo đảm cho hoạt động kinh doanh, thương mại ổn định và phát triển. Tuy vậy, đôi khi vì nhiều lý do chủ quan và khách quan, các mối quan hệ kinh tế thương mại giữa các nhà kinh doanh cũng có những bất đồng và mâu thuẫn dẫn đến các tranh chấp trong việc thực hiện các cam kết. Vì thế, cần phải có những phương thức giải quyết tranh chấp nhanh gọn, tiết kiệm và có thể duy trì được quan hệ làm ăn giữa các bên. Hòa giải là một trong những phương thức đáp ứng được những yêu cầu đó.

1. Khái niệm, đặc điểm của hòa giải

Hòa giải là một biện pháp truyền thống để giải quyết các tranh chấp trong đời sống xã hội, nhưng quan niệm về hòa giải còn nhiều vấn đề chưa thống nhất. Trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về hòa giải: Hòa giải (conciliation) là sự can thiệp, sự làm trung gian hòa giải; hành vi của người thứ ba làm trung gian giữa hai bên tranh chấp nhằm thuyết phục họ dàn xếp hoặc giải quyết tranh chấp (GQTC) giữa họ. Việc GQTC thông qua người trung gian hòa giải (bên trung lập)1; Hòa giải là một quá trình mà bên thứ ba tạo điều kiện và phối hợp để các bên thương lượng với nhau. Từ điển pháp lý của Rothenberg định nghĩa hòa giải là “hành vi thỏa hiệp giữa các bên sau khi có tranh chấp, mỗi bên nhượng bộ một ít”2. Một định nghĩa khác của hòa giải là “việc GQTC giữa hai bên thông qua sự can thiệp của bên thứ ba, hoạt động một cách trung lập và khuyến khích các bên xóa bớt sự khác biệt”3. Theo Từ điển tiếng Việt, “hòa giải là việc thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột, xích mích một cách ổn thoả”. Từ những quan niệm trên, có thể rút ra một số đặc trưng chung của hòa giải như sau:

Một là, hòa giải là một biện pháp GQTC.

Hai là, chủ thể trung tâm của hòa giải là bên trung gian giúp cho các bên tranh chấp thỏa thuận với nhau về GQTC. Điều này làm cho hòa giải có sự khác biệt với thương lượng. Người trung gian có thể là cá nhân, tổ chức luật sư, tư vấn, hoặc các tổ chức khác do các bên thỏa thuận lựa chọn. Người này phải có vị trí độc lập với các bên và hoàn toàn không có lợi ích liên quan đến tranh chấp. Bên thứ ba làm trung gian không đại diện cho quyền lợi của bất cứ bên nào và không có quyền đưa ra phán quyết.

Đọc tiếp

PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ

TS. TRẦN ANH TUẤN – Bộ môn Luật Tố tụng dân sự, Khoa Luật Dân sự – Đại học Luật Hà Nội

1. Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam trong tiến trình hội nhập nhìn từ góc độ văn hoá, lịch sử và truyền thống dân tộc

Con người vốn không hoàn hảo và loài người vốn bất toàn. Do vậy, từ xưa tới nay, dù ở Đông phương hay Tây phương thì trật tự xã hội được duy trì là nhờ vào luân lý và luật pháp. Xét theo lẽ thường thì luân lý và luật pháp quốc gia được hình thành trên nền tảng của những triết lý nhân bản, hướng tới việc duy trì trật tự xã hội và phụng sự cho cuộc sống của con người được tốt đẹp hơn. Các triết lý nhân bản này vốn bắt nguồn từ cuộc sống và là sự phản ánh của đời sống thực tại, cho nên sự thể hiện các triết lý này trong luật pháp không thể tách rời các điều kiện kinh tế – xã hội, truyền thống lịch sử và nền văn hoá của mỗi nước. Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế hiện nay thì các triết lý căn bản về tố tụng dân sự và sự thể hiện nó trong pháp luật của mỗi quốc gia cũng không nằm ngoài quy luật chung này. Hội nhập quốc tế về pháp luật tố tụng dân sự không có nghĩa là đồng nhất hoá hay lai tạp luật pháp của các quốc gia với nhau mà là sự tiếp biến và chọn lọc có điều kiện những ưu việt của nền văn minh nhân loại cho phù hợp với điều kiện của mỗi nước. Có như vậy thì hiện tượng “có mới, nới cũ”, “sính ngoại” hay “đứt gãy về truyền thống lập pháp”, làm mất đi “hồn cốt dân tộc” mới được khắc phục và loại trừ.

Để có một cái nhìn thấu đáo về pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta cần nghiên cứu và đánh giá một cách nghiêm cẩn thành tựu lập pháp của tiền nhân, trên cơ sở đó mà suy xét về những vấn đề đang được đặt ra trong giai đoạn hiện nay. Có thể nhận xét rằng những giải pháp cụ thể về hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam trong tiến trình hội nhập không thể không gắn với lịch sử lập pháp về tố tụng dân sự, điều kiện kinh tế, xã hội và truyền thống văn hoá dân tộc. Bởi vì nếu chỉ sao chép nguyên bản các định lệ về tố tụng của nước ngoài theo trào lưu hội nhập mà không xét đến gốc rễ, cội nguồn sâu xa của vấn đề trong mối liên hệ với nền văn hoá và triết lý nhân sinh của mỗi dân tộc thì e rằng các quy định được xây dựng sẽ trở nên xa lạ với đời sống và khó có thể trường tồn. Xét ở góc độ tinh thần tự tôn dân tộc thì việc tiếp nhận một cách cơ học luật pháp nước ngoài còn có thể vô tình làm cho bản sắc văn hoá pháp lý và chủ quyền dân tộc bị lu mờ trước sức xâm lấn và đồng hoá của luật pháp ngoại bang.

Đọc tiếp

THỦ TỤC XÉT XỬ NHANH TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ PHÁP VÀ DỰ THẢO BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

Bài được viết tại thời điểm Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đang được dự thảo

THS. TRẦN ANH TUẤN  – Khoa Luật Dân sự – Đại học Luật Hà nội

Trong công cuộc cải cách tư pháp và thủ tục tố tụng dân sự hiện nay, việc tham khảo pháp luật tố tụng dân sự nước ngoài nhằm rút ra những nhân tố hợp lý cho việc hoàn thiện Dự thảo Bộ luật tố tụng dân (BLTTDS) sự phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của nước ta và xu hướng hội nhập quốc tế là một nhu cầu khách quan. Trong Liên minh Châu Âu, hệ thống pháp luật tố tụng dân sự của Pháp được coi là một điển hình mẫu mực. Trên cơ sở sự kết hợp hài hoà giữa các nguyên tắc truyền thống, sự mềm dẻo, linh hoạt trong việc xây dựng thủ tục giải quyết tranh chấp, bên cạnh thủ tục tố tụng thông thường các nhà lập pháp của Pháp đã xây dựng được những thủ tục xét xử nhanh áp dụng đối với những tranh chấp mang tính đặc thù riêng. So sánh các quy định về thủ tục tố tụng nhanh trong BLTTDS Pháp 1807 và các quy định về thủ tục này trong Dự thảo BLTTDS Việt Nam cho thấy các quy định về thủ tục tố tụng trong hệ thống pháp luật của hai nước có những điểm tương đồng và những đặc thù riêng.

Theo BLTTDS Pháp 1807 thủ tục xét xử nhanh được quy định để áp dụng giải quyết đối với những tranh chấp mà việc giải quyết mang tính khẩn cấp và những loại tranh chấp đơn giản mà việc giải quyết theo thủ tục tố tụng thông thường là quá chậm chạp và tốn kém. Thủ tục tố tụng nhanh được thiết lập để áp dụng giải quyết những loại việc mang tính khẩn cấp là thủ tục xét xử cấp thẩm và thủ tục xét xử theo đơn yêu cầu. Bên cạnh đó một loại thủ tục tố tụng đặc biệt được thiết lập để áp dụng giải quyết đối với những loại tranh chấp đơn giản ,rõ ràng là thủ tục ra lệnh.

1.Thủ tục xét xử cấp thẩm và thủ tục xét xử theo đơn yêu cầu trong BLTTDS Pháp và thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Dự thảo BLTTDS Việt Nam.

Trong pháp luật tố tụng dân sự Pháp quyết định giải quyết vụ án theo thủ tục xét xử cấp thẩm và thủ tục xét xử theo đơn yêu cầu đều là những quyết định mang tính chất tạm thời và không có hiệu lực quyết tụng như một bản án xử sơ thẩm về nội dung của vụ tranh chấp. Điểm khác biệt cơ bản giữa hai thủ tục này là vấn đề có triệu tập bị đơn đến tham gia tố tụng hay không(1). Theo thủ tục xét xử theo đơn yêu cầu trong tố tụng dân sự Pháp không cần thiết phải triệu tập bị đơn đến tham gia tố tụng, ngược lại thủ tục xét xử cấp thẩm tuân theo trình tự tranh tụng, việc triệu tập bị đơn đến tham gia phiên xét xử là bắt buộc.Thủ tục xét xử theo đơn yêu cầu không đòi hỏi Thẩm phán phải triệu tập bị đơn đến tham gia tố tụng,bởi lẽ thủ tục này được áp dụng đối với các loại việc có nhiều bị đơn mà Toà án không thể triệu tập các đương sự đến tham gia tố tụng hoặc các vụ việc mà việc triệu tập bị đơn là khó khăn. Ví dụ: buộc những người đình công chiếm giữ công sở phải rời nơi họ chiếm giữ, sở hữu chủ yêu cầu trục xuất những người chiếm hữu nhà của họ một cách bất hợp pháp mà không có hợp đồng thuê nhà, lập bằng chứng về việc ngoại tình(2)

Đọc tiếp

CHẾ ĐỊNH BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

THS. TRẦN ANH TUẤN – Giảng viên Khoa Pháp luật Dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Trong công cuộc cải cách tư pháp và thủ tục tố tụng hiện nay, việc xây dựng thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bộ luật tố tụng dân sự, phải đáp ứng được hai đòi hỏi cơ bản của thực tiễn giải quyết tranh chấp là tính nhanh chóng và sự bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên đương sự trong việc bảo vệ quyền lợi của họ. Chế định về các biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được xây dựng tại Chương thứ 8 Dự thảo 11 Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam (BLTTDSVN), bao gồm 28 điều luật (từ điều 98-125). Tuy nhiên các quy định tại Dự thảo này cũng đặt ra nhiều vấn đề mà chúng ta cần giải quyết:

1. Về phạm vi áp dụng

- Điểm tiến bộ của Dự thảo 11 BLTTDS Việt Nam là đã mở rộng phạm vi áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời. Cụ thể là thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể được áp dụng trước khi khởi kiện vụ án hoặc trong quá trình giải quyết vụ án (K2 Điều 98 DTBLTTDSVN ). Tuy nhiên nếu so sánh với các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) Pháp 1807 thì có hạn chế là các quy định này chỉ áp dụng đối với những yêu cầu khẩn cấp nhằm đảm bảo việc giải quyết vụ kiện chính, ngược lại theo BLTTDS Pháp 1807 thủ tục xét xử cấp thẩm cũng có thể áp dụng một cách độc lập mà không phụ thuộc vào vụ kiện chính. Hiện nay các biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định trong DTBLTTDSVN thì hầu hết là những biện pháp nhằm đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án trong vụ kiện chính. Tuy nhiên Khoản12, Khoản13 Điều 101 Dự thảo cho phép Thẩm phán “ Cấm hoặc buộc đương sự thực hiện hành vi nhất định” và áp dụng “ Các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác mà pháp luật có quy định”. Chúng tôi cho rằng để đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn, trên cơ sở các quy định này các nhà lập pháp Việt Nam có thể phát triển, bổ sung theo hướng cho phép Thẩm phán trong trường hợp khẩn cấp có thể áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của đương sự ngay cả khi giữa các đương sự không có tranh chấp về vụ kiện chính hoặc có tranh chấp về vụ kiện chính nhưng các bên không có yêu cầu khởi kiện giải quyết tranh chấp này.

Trong thực tiễn tố tụng của Việt Nam cũng xuất hiện không ít những trường hợp để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình hoặc tránh những hậu quả xấu có thể xảy ra đương sự chỉ yêu cầu Toà án áp dụng ngay lập tức các biện pháp cần thiết mà không khởi kiện về vụ kiện chính bởi giữa họ không có tranh chấp nào khác hoặc có tranh chấp về vụ kiện chính nhưng sau khi Toà án áp dụng các biện pháp khẩn cấp các bên đã tự giải quyết được.Chẳng hạn:

Đọc tiếp

QUYỀN KHỞI KIỆN VÀ VIỆC XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH THAM GIA TỐ TỤNG

TS. TRẦN ANH TUẤN – Khoa Pháp luật dân sự, ĐH Luật Hà Nội

I. TỐ QUYỀN HAY QUYỀN ĐI KIỆN

Một số nhà nghiên cứu về tố tụng của Pháp cho rằng tố quyền là khả năng được thừa nhận đối với cá nhân được yêu cầu sự can thiệp của công lý để đạt được sự tôn trọng các quyền lợi và lợi ích chính đáng của mình[1]. Theo Từ điển thuật ngữ luật học của Pháp thì tố quyền trước công lý là khả năng được thừa nhận đối với các chủ thể được cầu viện tới công lý để đạt được sự tôn trọng các quyền lợi và lợi ích chính đáng[2].

Theo Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự mới của Pháp thì thuật ngữ «action» – « tố quyền » được dịch là quyền tham gia tố tụng, theo đó « Quyền tham gia tố tụng đối với người có yêu cầu là quyền được trình bày về nội dung yêu cầu của mình để thẩm phán quyết định xem yêu cầu như vậy là có căn cứ hay không có căn cứ ; đối với bên bị kiện quyền tham gia tố tụng là quyền được tranh luận về căn cứ của yêu cầu do bên kia đưa ra »[3]. Tuy nhiên, quan niệm này về tố quyền trong luật thực định cũng gây nên nhiều tranh luận trong giới nghiên cứu.

Theo nhà nghiên cứu Trần Thúc Linh thì «Tố quyền tức là có quyền đi kiện». Tố quyền đối vật, mục đích nhằm một vật gì, động sản hay bất động sản. Tố quyền đối nhân, nhằm vào một công việc phải làm, liên quan đến một người hay một trái vụ. Tố quyền hỗn hợp vừa có tính cách đối vật, vừa có tính cách đối nhân[4].

Khi nghiên cứu về mối liên hệ giữa luật nội dung và luật tố tụng, giáo sư N. FRICERO cho rằng “Mối liên hệ giữa tố quyền và quyền lợi (quyền chủ quan) là không thể phủ nhận : Quyền lợi (quyền chủ quan) là đối tượng của tố quyền, và học lý phân loại các tố quyền căn cứ vào đối tượng này : tố quyền động sản có đối tượng là một quyền lợi động sản, tố quyền bất động sản là một quyền lợi bất động sản ; tố quyền đối nhân dùng cho một quyền lợi đối nhân, tố quyền đối vật dùng cho một quyền lợi đối vật, tố quyền hỗn hợp liên quan tới một quyền lợi đối nhân và một quyền lợi đối vật được sinh ra từ cùng một hành vi pháp lý »[5]. Như vậy, quyền lợi gắn với quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, thương mại, lao động chính là đối tượng của quyền khởi kiện và là cơ sở của quyền này.

Đọc tiếp

THỜI HIỆU DÂN SỰ – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LỊCH SỬ VÀ SO SÁNH

TS. TRẦN ANH TUẤN – Khoa Pháp luật Dân sự – Đại học Luật Hà Nội

1. Cơ sở của việc quy định thời hiệu dân sự

Xét dưới góc độ nhân sinh, đời sống của con người vốn không phải là bất diệt. Sinh, lão, bệnh, tử dường như là con đường mà con người ta ai cũng phải trải qua trong cõi nhân gian[1]. Có lẽ do thấu hiểu rằng sự sống của con người vốn là hữu hạn nên từ cổ chí kim, khi pháp luật được hình thành thì đều có những hạn định về thời gian đối với các hành vi và quyền lợi của con người. Vấn đề thời hiệu trong đời sống dân sự có lẽ cũng có nguồn gốc sâu xa từ quy luật chung này.

Theo góc nhìn lịch sử thì dường như vấn đề thời hiệu dân sự là thành tựu của nền văn minh nhân loại, ra đời do nhu cầu tự thân của đời sống chứ không phải là phát minh riêng của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, phụ thuộc vào truyền thống, lịch sử, văn hoá và quan niệm của nhà lập pháp mỗi nước mà các quy định về vấn đề này trong nội luật của mỗi quốc gia có thể có những điểm tương đồng và khác biệt nhất định.

Về phương diện xã hội, thời hiệu là phương tiện được sử dụng nhằm ổn định tình trạng hiện hữu của các quan hệ xã hội sau một thời gian nào đó vì lợi ích của thương mại hay pháp lý. Do vậy, việc kiện tụng không thể được hành xử vô hạn định mà cần phải được thực hiện trong thời hạn được nhà lập pháp ấn định. Việc không hạn định thời gian thực hiện việc kiện có thể gây nên những xáo trộn, làm thiệt hại cho nền kinh tế xã hội. Ngoài ra, nếu người có quyền để vụ việc trôi qua quá lâu mới thực hiện việc kiện thì người có nghĩa vụ sẽ ở vị thế bất lợi và khó có thể đưa ra được chứng cứ để biện hộ cho mình.

Theo nguyên tắc tự do ý chí, thời hiệu được coi như là một sự suy đoán có tính mặc nhiên về ý chí của chủ thể đối với quyền lợi. Luật suy đoán rằng người có quyền lợi đã từ bỏ tố quyền nếu họ không hành động trong thời hạn mà họ đã có thể thực hiện nó. Như vậy, nếu trong một thời hạn nhất định, người có quyền lợi đã không khởi kiện mặc dù không có bất kỳ trở ngại nào cản trở việc thực hiện quyền này thì có thể suy đoán rằng họ đã từ bỏ quyền khởi kiện của mình. Theo góc nhìn này, người có nghĩa vụ có thể được giải thoát khỏi gánh nặng về nghĩa vụ dân sự.

Đọc tiếp

ÁN LỆ VÀ ÁN MẪU–NHỮNG KHẢ NĂNG ÁP DỤNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

CAO VIỆT THĂNG – Viện Nhà nước và Pháp luật, Trung Tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia

Trong Dự án Luật sửa đổi một số điều của Bộ luật Tố tụng Dân sự, mới đây Tòa án nhân dân tối cao đã đề xuất cho phép được xét xử theo án lệ, nhưng Ủy ban Thường vụ Quốc hội chưa tán thành1. Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh đã mở một chuyên đề nói về án lệ. Trong đó có rất nhiều quan điểm đưa ra nhằm ủng hộ hay phản đối việc áp dụng án lệ ở Việt Nam. Tuy nhiên, trong những quan điểm đó, đôi khi còn có sự hiểu không chính xác về án lệ, án mẫu. Vì vậy, trước khi cân nhắc có nên áp dụng án lệ ở Việt Nam hiện nay hay không, chúng ta cần phân biệt rõ về án lệ và án mẫu để có một phương án giải quyết hợp lý.

1. Phân biệt án lệ và án mẫu

1.1. Án lệ

Nói đến án lệ, người ta thường nói đến sự khiếm khuyết của các quy phạm pháp luật trong một hệ thống pháp luật. Thông thường án lệ chỉ xuất hiện khi có một sự kiện pháp lý mới nảy sinh mà chưa có những quy phạm pháp luật thực định điều chỉnh cụ thể về lĩnh vực đó hoặc doxung đột pháp luật mà chưa có các dẫn chiếu pháp luật rõ ràng.

Cơ sở hình thành án lệ chính là những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật. Khi có những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật, tòa án sẽ viện dẫn những căn cứ pháp luật được coi là hợp lý để đưa ra một phán quyết có tính đột phá và bản án này sẽ được tòa án tối cao công bố là án lệ để áp dụng chung cho các trường hợp tương tự do khiếm khuyết quy phạm hoặc chưa có dẫn chiếu quy phạm rõ ràng. Tuy nhiên, việc hình thành án lệ – theo các nhà kinh điển – cũng không phải là phương thức làm luật tốt. Chẳng hạn, Montesquieu cho rằng “…Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền lập pháp thì người ta sẽ độc đoán với quyền sống và quyền tự do của công dân, quan toà sẽ là người đặt ra luật”2.

Ngoài ra, việc xây dựng án lệ cũng phải tuân thủ những yêu cầu hết sức nghiêm ngặt chứ không chỉ đơn thuần là phán quyết bất kỳ của toà án tối cao đối với một vấn đề mới. Cụ thể:

Đọc tiếp

SỬA ĐỔI BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ: VIỆN KIỂM SÁT THAM GIA PHIÊN TÒA DÂN SỰ, KHÔNG CẦN THIẾT?

THANH TÙNG

Vụ việc dân sự cốt là ở hai bên đương sự tự định đoạt, nếu có VKS tham gia là vi phạm nguyên tắc lợi ích tư đang được tố tụng thế giới tôn trọng.

Ngoài chuyện xử lại án đụng trần, thời hạn kháng nghị án giám đốc thẩm thì việc VKS có tham gia phiên tòa dân sự hay không, tham gia đến mức nào vẫn đang là một đề tài tranh luận chưa có hồi kết khi lấy ý kiến sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự.

Theo bản giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật sửa đổi một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự do Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổng hợp (để trình Quốc hội thông qua), VKS phải có mặt tại tất cả các vụ án dân sự.

Tham gia tất cả và phát biểu quan điểm

Theo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định VKS chỉ tham gia phiên tòa dân sự nếu thấy cần thiết như hiện nay đã bộc lộ những hạn chế bất cập.

Trước hết, nó tạo ra tình trạng khép kín trong quá trình thu thập chứng cứ, hòa giải, xét xử của thẩm phán, nhiều vụ việc dân sự được giải quyết thiếu khách quan nhưng VKS không kịp thời phát hiện để kháng nghị dù tỉ lệ án bị hủy, sửa do có sai sót hằng năm không giảm. Chưa kể, theo kết luận 79 ngày 28-7-2010 của Bộ Chính trị về đề án đổi mới tổ chức hoạt động của tòa án, VKS, cơ quan điều tra và Nghị quyết 49 về cải cách tư pháp thì VKS tiếp tục là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.

Vì vậy, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho rằng trong khi VKS còn thực hiện chức năng giám sát các hoạt động tư pháp thì phải tạo điều kiện để họ làm nhiệm vụ có hiệu quả cao bằng cách cho tham gia tất cả các phiên tòa dân sự.

Về giới hạn phát biểu của VKS với từng cấp tòa, theo Ủy ban Thường vụ Quốc hội phải quy định khác nhau vì tính chất của mỗi giai đoạn tố tụng khác nhau: Tại phiên sơ thẩm, đại diện VKS phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng. Đến phiên phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, ngoài nhiệm vụ trên, đại diện VKS còn được phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án của tòa, đồng thời bảo vệ kháng nghị nếu viện trưởng VKSND có kháng nghị.

Nâng chất xét xử quan trọng hơn!

Tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 16-2, Phó Chánh án TAND Tối cao Từ Văn Nhũ đã phản đối khá quyết liệt nhận định nếu không cho VKS tham gia đầy đủ các phiên tòa dân sự sẽ tạo ra tình trạng tòa xử án khép kín. Theo ông, nhận định này là thiếu khách quan.

Đọc tiếp

QUY ĐỊNH VỀ “ĐÌNH CHỈ” TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

THS. TỐNG CÔNG CƯỜNG – Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Đình chỉ là một phương thức xử lý đặc biệt của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự. Trước đây, trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế hay Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động chỉ quy định một loại đình chỉ duy nhất là đình chỉ giải quyết vụ án dưới hình thức “Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án”.[1]

Hiện nay, Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) quy định nhiều loại đình chỉ khác nhau tương ứng với từng giai đoạn tố tụng và từng loại căn cứ khác nhau, theo đó Tòa án sẽ ra nhiều loại quyết định đình chỉ khác nhau: đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong thủ tục sơ thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong thủ tục phúc thẩm, đình chỉ xét xử phúc thẩm, đình chỉ xét xử yêu cầu của đương sự. Tuy nhiên, quy định trong BLTTDS về tính chất, căn cứ, hình thức quyết định của các loại đình chỉ nêu trên cũng chưa thật sự rõ ràng, cụ thể, dẫn đến có nhiều vướng mắc về mặt lý luận cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng dân sự. Bài viết này phân tích về các loại đình chỉ trong tố tụng dân sự theo quy định của BLTTDS hiện hành.

1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại thủ tục sơ thẩm

Tính chất của loại đình chỉ giải quyết vụ án dân sự này là chấm dứt hoạt động tố tụng. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong thủ tục sơ thẩm là một phương thức giải quyết vụ án dân sự. Bởi vì, một vụ án dân sự sẽ được giải quyết qua một trong ba phương thức là hòa giải thành công, đình chỉ giải quyết vụ án và mở phiên tòa xét xử.[2] Các căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án được quy định cụ thể tại Điều 192 BLTTDS bao gồm: (i) Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế; (ii) Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản mà không có cá nhân, cơ quan, tổ chức nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó; (iii) Người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được Tòa án chấp nhận hoặc người khởi kiện không có quyền khởi kiện; (iv) Cơ quan, tổ chức rút văn bản khởi kiện trong trường hợp không có nguyên đơn hoặc nguyên đơn yêu cầu không tiếp tục giải quyết vụ án; (v) Các đương sự đã tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án; (vi) Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt; (vii) Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó; (viii) Các trường hợp khác mà pháp luật có quy định.

Đọc tiếp

GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP–ĐIỂM “NGHẼN” CỦA NGÀNH TƯ PHÁP

PHÙNG HƯƠNG

Mặc dù sau 5 năm Pháp lệnh Giám định tư pháp đi vào cuộc sống, nhưng công tác giám định tư pháp vẫn đang được coi là điểm “nghẽn” của ngành tư pháp với nhiều vấn đề nổi cộm từ cơ chế, con người đến chất lượng của các kết quả giám định.

Thiếu…

Theo Báo cáo của Cơ quan điều tra, Bộ Công an và Cơ quan cảnh sát điều tra của 60 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, từ ngày 1.1.2005 đến tháng 8.2010, cơ quan điều tra trưng cầu khoảng 439.479 vụ giám định trên các lĩnh vực. Giám định pháp y được triển khai ở 3 ngành y tế, công an và quốc phòng; trong số các lĩnh vực giám định ở nước ta, hoạt động giám định pháp y chiếm số lượng vụ việc lớn nhất. Trung bình mỗi năm, các tổ chức pháp y nhận và thực hiện giám định trên 32.000 vụ việc. Giám định pháp y trong ngành công an và quốc phòng đều do các giám định viên pháp y chuyên trách đảm nhiệm.
Sau 5 năm triển khai thi hành Pháp lệnh giám định tư pháp – văn bản được đánh giá là một bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện pháp luật về giám định tư pháp, góp phần đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động tố tụng trong tiến trình cải cách tư pháp đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Đó là hệ thống tổ chức giám định tư pháp trong lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự ở Trung ương và địa phương được củng cố, kiện toàn một bước, đội ngũ giám định viên tư pháp đã được tăng cường, cơ sở vật chất, phương tiện công tác và các điều kiện cần thiết khác phục vụ cho hoạt động giám định đã bước đầu được chú trọng, hoạt động quản lý nhà nước được tăng cường và đạt được những kết quả nhất định.
Theo thống kê của Bộ Tư pháp, tính đến nay, tổng số giám định viên được bổ nhiệm và cấp thẻ là 3.115 người trên nhiều lĩnh vực khác nhau như pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự, tài chính – kế toán, văn hóa, xây dựng, tài nguyên, môi trường, giao thông vận tải, nông lâm ngư nghiệp, khoa học kỹ thuật và một số lĩnh vực khác. Trong đó có khoảng 722 giám định viên chuyên trách, chủ yếu là giám định viên kỹ thuật hình sự chiếm 582 người, giám định viên pháp y khoảng 100 người, còn lại giám định viên pháp y tâm thần. So với trước khi ban hành Pháp lệnh, đội ngũ giám định viên tư pháp có sự phát triển cả về số lượng và chất lượng, nhất là giám định viên tài chính – kế toán có tốc độ tăng nhanh nhất. Ngoài các giám định viên tư pháp được bổ nhiệm và cấp thẻ, có còn 237 người giám định tư pháp theo vụ việc đã được Bộ Tư pháp lập và công bố danh sách. Người giám định tư pháp theo vụ việc chủ yếu là các chuyên gia ở các lĩnh vực mới chưa có giám định viên tư pháp như công nghệ công tin, điện lực, thương mại…

Đọc tiếp

MỘT SỐ QUI ĐỊNH VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ VÀ NHỮNG VƯỚNG MẮC TRONG THỰC TIỄN ÁP DỤNG

LG. NGUYỄN THỊ HẰNG NGA – Chi hội luật gia Công ty luật số 5 Quốc gia

Việc xác định đúng thời hiệu khởi kiện có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động giải quyết tranh chấp của cơ quan Tòa án cũng như trong hoạt động tư vấn pháp luật của các Luật sư. Nhiều vụ việc trên thực tiễn là những bài học “đau đớn” cho các đương sự vì không nhận thức đầy đủ về ý nghĩa của thời hiệu khởi kiện. Tuy nhiên, quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự còn nhiều điểm bất cập, tạo nên nhiều cách hiểu khác nhau, gây khó khăn cho thực tiễn áp dụng, ảnh hưởng không ít đến quyền lợi của đương sự.

Bài viết này chúng tôi trao đổi một số vấn đề về các quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện, cách tính thời hiệu, những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng (chủ yếu tiếp cận đối với việc giải quyết tranh chấp kinh doanh- thương mại)[1].

Điều 159 BLTTDS quy định thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện yêu cầu tòa giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Như vậy, thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà đương sự được quyền yêu cầu cơ quan tòa án giải quyết vụ việc nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Quy định về thời hiệu khởi kiện buộc các đương sự phải ý thức được việc bảo vệ quyền lợi của mình và sớm có yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết, tránh tình trạng khởi kiện tuỳ hứng.

Trong trường hợp pháp luật không có quy định khác về thời hiệu khởi kiện, thì thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm. Như vậy, để xác định đúng thời hiệu khởi kiện, phải xác định được quan hệ tranh chấp đó có được văn bản pháp luật nào khác quy định về thời hiệu khởi kiện hay không. Điều quan trọng thứ hai là phải xác định đúng ngày nào được coi là ngày có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm để bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện.

Đọc tiếp

HOÀN THIỆN CÁC QUI ĐỊNH VỀ CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI, QUYẾT ĐỊNH CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI

CWC LogoĐẶNG HOÀNG OANH – Vụ hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

Nguyên tắc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài là những quy định có tính chất nền tảng, làm cơ sở cho việc các nước công nhận và thi hành lẫn nhau các bản án, quyết định dân sự của Tòa án, Trọng tài. Tuy nhiên, để các quy định này được thực hiện có hiệu lực, hiệu quả, cần cân nhắc và xem xét chúng dưới mọi khía cạnh, đảm bảo cả tính khoa học và thực tiễn, tránh gây những bất cập như đã xảy ra trong thời gian vừa qua.

1. Nguyên tắc “có đi có lại” trong việc công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài và quyết định của Trọng tài nước ngoài

Khoản 3 Điều 343 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2005 (BLTTDS) có quy định mở rộng hơn phạm vi các bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài (TANN), quyết định của Trọng tài nước ngoài (TTNN) bằng cách khẳng định việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong việc xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam. Đây là một nguyên tắc quan trọng, thường được áp dụng phổ biến trong công pháp và tư pháp quốc tế. Tuy nhiên, nguyên tắc này bản thân nó cũng còn nhiều vấn đề hạn chế. Việc áp dụng điều khoản này, trên thực tế ngày càng giảm đi đáng kể. Đã có nhiều ý kiến chỉ trích việc áp dụng điều khoản “có đi có lại” và đề nghị quy định này cần được xem xét lại. Trong nhiều trường hợp, nếu áp dụng một cách cứng nhắc, nó sẽ hạn chế và ảnh hưởng ngay chính đến quyền lợi chính đáng của công dân nước áp dụng nguyên tắc này.

Ở Đức, phán quyết của TTNN được thi hành theo thể thức chung về thi hành tài quyết của Đức mà không cần tính đến yếu tố có đi có lại[1]. Điều 1044 Điều lệ Tố tụng dân sự Đức quy định rằng, tài quyết của nước ngoài không được công nhận và thi hành nếu như nó vi phạm một số nguyên tắc cơ bản như vi phạm trật tự công cộng, một trong các bên không được đại diện đúng quy cách, không thể tham dự việc xét xử, nếu tài quyết không có giá trị theo pháp luật của nước mà nó phải tuân theo. Nguyên tắc có đi có lại không được quy định như một điều kiện cần thiết để công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của TANN tại Cộng hòa Liên bang Đức. Pháp luật của Anh hay Italia cũng có những quy định tương tự[2].

Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 662 other followers

%d bloggers like this: