NGƯỜI GỬI TIỀN, VIETINBANK, HUỲNH THỊ HUYỀN NHƯ VÀ 4.000 TỶ

LS. ĐỖ ĐĂNG KHOA

Huỳnh Thị Huyền Như kêu gọi khách hàng gửi tiền về Vietinbank, bằng hình thức ủy thác, gửi tiền trực tiếp… Sau khi khách hàng gửi tiền vào Vietinbank, Huyền Như có hai thủ đoạn chính để rút tiền. Một là, dùng chứng từ giả để rút ra, giả chữ ký của chủ tài khoản. Hai là, dùng chứng từ giả, giả chữ ký và thế chấp khoản tiền đó để vay Vietinbank, chiếm đoạt tiền vay; sau đó bị bắt, Vietinbank trích tiền gửi của khách hàng để bù đắp cho việc cho vay này, mặc dù hợp đồng thế chấp là giả. Tóm lại là người gửi tiền đã chuyển vào tài khoản hợp pháp của ngân hàng Vietinbank, sau đó Huyền Như dùng thủ đoạn gian dối để lấy tiền ra.

Vụ án phức tạp, thời gian xét xử dự kiến kéo dài từ ngày 6/1/2014 đến 25/1/2014. Trong những ngày qua trên các báo phản ánh câu chuyện phức tạp, nóng bỏng là Huyền Như chiếm đoạt tiền của ai, Vietinbank có phải đền tiền cho khách hàng hay không? Để bạn đọc tiện theo dõi và bình luận tôi xin tổng hợp các tin bài từ trang website: Cafef.vn và VnEconomy.vn, như sau.

QUAN ĐIỂM VIỆN KIỂM SÁT

Theo cáo trạng của Viện kiểm sát cho rằng trong vụ án này, Huỳnh Thị Huyền Như phạm tội lừa đảo, Vietinbank không bị thiệt hại và không phải chịu trách nhiệm về dân sự đối với các khoản tiền mà các đơn vị, cá nhân gửi vào ngân hàng. Theo đó Huỳnh Thị Huyền Như có trách nhiệm bồi thường cho khách hàng gần 4.000 tỷ đồng.

QUAN ĐIỂM BẢO VỆ VIETINBANK

Trả lời Hội đồng xét xử các câu hỏi của luật sư liên quan đến nghĩa vụ và trách nhiệm của VietinBank, ông Nguyễn Mạnh Toàn, chuyên viên phòng Pháp chế ngân hàng VietinBank đã khẳng định rằng, các bộ luật, nghị định, quyết định hoặc các văn bản dưới luật khác không có điều khoản nào quy định về trách nhiệm quản lý tài khoản tiền gửi, tài khoản của khách hàng được mở tại ngân hàng cũng như quản lý số dư trên các tài khoản này tại ngân hàng. Mấu chốt nhất trong nội dung trả lời là không có định nghĩa về “quản lý tài khoản” nên không có “trách nhiệm quản lý tài khoản”; số dư tài khoản thuộc quyền sở hữu và định đoạt của khách hàng.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 277/LĐLSVN NGÀY 25/10/2011 CỦA LIÊN ĐOÀN LUẬT SƯ: KINH NGẠC VÀ THẤT VỌNG

LS. QUÁCH TÚ MẪN – Công ty luật hợp danh Danh và cộng sự

Ngày 25/10/2011, Liên đoàn luật sư Việt Nam ban hành công văn số 227/LĐLSVN (công văn số 227) về việc luật sư mặc trang phục thống nhất khi tham gia phiên toà, gây kinh ngạc và thất vọng cho các luật sư thành viên.

Kinh ngạc vì công văn này chứa nhiều nội dung trái pháp luật. Dựa trên Nghị quyết của Hội đồng luật sư toàn quốc, công văn số 227 yêu cầu Toà án nhân dân tối cao “chỉ đạo Toà án nhân dân các cấp nhắc nhở, giám sát các luật sư; chỉ chấp thuận các luật sư tham gia phiên toà khi luật sư có mang trang phục thống nhất theo quy định Liên đoàn luật sư Việt Nam”.

Nội dung trên trái với quy định Luật luật sư (1), đi ngược lại những nguyên tắc cơ bản pháp luật tố tụng (2), vi phạm hiến pháp (3), ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp người dân và luật sư. Không cơ quan nào, chỉ dựa vào quy định nội bộ Liên đoàn luật sư, có thể hạn chế quyền hành nghề của luật sư, tước đoạt quyền hiến định của người dân, được có luật sư bảo vệ quyền lợi.

Từ xưa đến nay, toà án chưa bao giờ có thẩm quyền nhắc nhở, giám sát đối với luật sư về trang phục nội bộ. Yêu cầu trên hạ thấp vị trí, vai trò cả luật sư lẫn hội đồng xét xử, biến luật sư thành chủ thể lệ thuộc, phải có người nhắc nhở, giám sát việc ăn mặc và hội đồng xét xử thành “đội trực cờ đỏ” xét áo quần, cà vạt, phù hiệu luật sư. Nếu Liên đoàn luật sư Việt Nam, không được can ngăn, tiếp tục cái đà nhờ toà án giải quyết việc nội bộ, ắt sẽ có ngày hội đồng xét xử làm luôn nhiệm vụ xét biên lai đoàn phí luật sư trước khi xét xử!

Thất vọng vì công văn số 227 thể hiện rõ khả năng của Liên đoàn Luật sư Việt Nam trong việc quản lý thành viên theo nguyên tắc tự quản. Mặc dù việc mặc trang phục thống nhất tham gia phiên toà được hầu hết luật sư ủng hộ, Liên đoàn Luật sư Việt Nam vẫn không tìm được một biện pháp nội bộ, tự quản để việc thực hiện chủ trương trên có hiệu quả, phải nhờ đến toà án can thiệp. Đáng buồn hơn, Toà án Nhân dân Tối cao thay vì từ chối yêu cầu, chỉ rõ vấn đề không thuộc thẩm quyền của toà án, lại phụ hoạ cái sai, ban hành công văn số 116/TA-TKTH yêu cầu các hội đồng xét xử “lưu ý, nhắc nhở các luật sư mặc đúng trang phục”.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐÊ CẦN BÀN VỀ TRƯỜNG HỢP ỦY QUYỀN THAM GIA TỐ TỤNG TRONG CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ

PHAN VŨ LINH – TÒA ÁN NHÂN DÂN CẦN THƠ

Khi tham gia tố tụng trong các vụ án dân sự thì các đương sự có thể tự mình trực tiếp tham gia hoặc vì một lý do nào đó mà đương sự trong vụ kiện có thể ủy quyền cho người khác. Việc ủy quyền tham gia tố tụng trong các vụ án dân sự được quy định tại các Điều 73, 74, 75, 76, 77 và 78 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011) và các Điều 581 đến 589 của Bộ luật Dân sự năm 2006. Tuy nhiên, qua công tác áp dụng và giải quyết các vụ án dân sự có ủy quyền trên thực tế đã tồn tại một số vướng mắc nhất định, trong phạm vi bài viết này tác giả xin đưa ra một số vướng mắc, bất cập về nội dung ủy quyền, những trường hợp chấm dứt ủy quyền và thời hạn ủy quyền:

1/ Nội dung ủy quyền

Theo quy định tại khoản 3 Điều 73 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011) thì người đại diện theo ủy quyền trong Bộ luật Dân sự là người đại diện ủy quyền trong tố tụng dân sự, tuy nhiên khi đối chiếu với Mục 12 (quy định về Hợp đồng ủy quyền) của Bộ luật Dân sự thì trong mục này không có quy định về nội dung ủy quyền cụ thể là những nội dung gì? Mà theo Điều 581 quy định “Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền…”, nhưng cụ thể gồm những công việc gì? Giới hạn cụ thể ra sao thì chưa có quy định cụ thể?

Ví dụ: Ông T khởi kiện bà V về việc chia di sản của cha mẹ để lại là cụ H và M (cụ H chết năm 1989 và cụ M chết năm 2001, giữa cụ H và M có với nhau 08 người con), trong 08 người con của cụ H và M thì có bà H và ông Th đang định cư sinh sống tại nước ngoài. Để đảm bảo quyền lợi của các bên đương sự Tòa án đã yêu cầu bà H và ông Th có ý kiến của mình về nội dung vụ kiện. Sau khi nhận được văn bản của Tòa bà H và ông Th có văn bản ủy quyền cho Luật sư K nhân danh mình đến Tòa án tham gia tố tụng trong vụ kiện trên, theo văn bản ủy quyền đó thì bà H và ông Th ủy quyền cho Luật sư K có nội dung “…ông K được nhân danh bà H và ông Th đến Tòa án tham gia tố tụng trong vụ kiện và toàn quyền quyết định, định đoạt mọi vấn đề trong vụ kiện trên; đồng thời yêu cầu Tòa án chia thừa kế theo pháp luật Việt Nam…”.

Từ ví dụ trên đã có hai quan điểm khác nhau về nội dung ủy quyền của bà H và ông Th cho Luật sư K:

Continue reading

QUYỀN KHỞI KIỆN VÀ VIỆC XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH THAM GIA TỐ TỤNG

TS. TRẦN ANH TUẤN – Khoa Pháp luật dân sự, ĐH Luật Hà Nội

I. TỐ QUYỀN HAY QUYỀN ĐI KIỆN

Một số nhà nghiên cứu về tố tụng của Pháp cho rằng tố quyền là khả năng được thừa nhận đối với cá nhân được yêu cầu sự can thiệp của công lý để đạt được sự tôn trọng các quyền lợi và lợi ích chính đáng của mình[1]. Theo Từ điển thuật ngữ luật học của Pháp thì tố quyền trước công lý là khả năng được thừa nhận đối với các chủ thể được cầu viện tới công lý để đạt được sự tôn trọng các quyền lợi và lợi ích chính đáng[2].

Theo Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự mới của Pháp thì thuật ngữ «action» – « tố quyền » được dịch là quyền tham gia tố tụng, theo đó « Quyền tham gia tố tụng đối với người có yêu cầu là quyền được trình bày về nội dung yêu cầu của mình để thẩm phán quyết định xem yêu cầu như vậy là có căn cứ hay không có căn cứ ; đối với bên bị kiện quyền tham gia tố tụng là quyền được tranh luận về căn cứ của yêu cầu do bên kia đưa ra »[3]. Tuy nhiên, quan niệm này về tố quyền trong luật thực định cũng gây nên nhiều tranh luận trong giới nghiên cứu.

Theo nhà nghiên cứu Trần Thúc Linh thì «Tố quyền tức là có quyền đi kiện». Tố quyền đối vật, mục đích nhằm một vật gì, động sản hay bất động sản. Tố quyền đối nhân, nhằm vào một công việc phải làm, liên quan đến một người hay một trái vụ. Tố quyền hỗn hợp vừa có tính cách đối vật, vừa có tính cách đối nhân[4].

Khi nghiên cứu về mối liên hệ giữa luật nội dung và luật tố tụng, giáo sư N. FRICERO cho rằng “Mối liên hệ giữa tố quyền và quyền lợi (quyền chủ quan) là không thể phủ nhận : Quyền lợi (quyền chủ quan) là đối tượng của tố quyền, và học lý phân loại các tố quyền căn cứ vào đối tượng này : tố quyền động sản có đối tượng là một quyền lợi động sản, tố quyền bất động sản là một quyền lợi bất động sản ; tố quyền đối nhân dùng cho một quyền lợi đối nhân, tố quyền đối vật dùng cho một quyền lợi đối vật, tố quyền hỗn hợp liên quan tới một quyền lợi đối nhân và một quyền lợi đối vật được sinh ra từ cùng một hành vi pháp lý »[5]. Như vậy, quyền lợi gắn với quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, thương mại, lao động chính là đối tượng của quyền khởi kiện và là cơ sở của quyền này.

Continue reading

VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG

THS. LS. NGUYỄN HỮU THẾ TRẠCH – Đoàn Luật sư Thành phố HCM

Xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước luôn là nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu trong việc đổi mới hệ thống chính trị của nhà nước ta trong suốt thời gian qua.

Dưới sự chỉ  đạo sáng suốt của Đảng cộng sản Việt Nam, nhiều nghị quyết quan trọng về hoàn thiện bộ máy nhà nước đã được thực hiện không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động của nhà nước, đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới. Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII tại Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng cũng xác định nhiệm vụ chiến lược là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng là nhiệm vụ chiến lược với phương châm Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức và mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật.

Song song với việc cải cách bộ máy nhà nước và cải cách nền hành chính, trong nhiều nghị quyết của Đảng đã đề ra cải cách tư pháp. Cải cách tư pháp luôn được coi là một bộ phận quan trọng gắn liền với nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt nam. Mục tiêu của cải cách tư pháp là xây dựng một hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh có phương thức tổ chức, hoạt động khoa học, hiện đại góp phần quan trọng vào việc giữ gìn trật tự kỷ cương phép nước. Nội dung chủ yếu của cải cách tư pháp là củng cố, kiện toàn bộ máy các cơ quan tư pháp, phân định lại thẩm quyền của Toà án, đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án và cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp, trong đó có tổ chức luật sư.

Trong hoạt động tư pháp, hoạt động xét xử  được coi là khâu trọng tâm vì  ở đây biểu hiện sự tập trung và thể hiện đầy đủ quyền tư pháp, là hoạt động trên cơ sở kết quả điều tra, truy tố và bào chữa, Tòa án nhân danh Nhà nước đưa ra phán xét một người là có tội hay không có tội. Tính chính xác, khách quan, hợp pháp của sự phán xét, cũng như sự bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân phụ thuộc rất nhiều vào quá trình điều tra, truy tố và xét xử từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng. Bên cạnh đó, hoạt động tích cực của luật sư với vai trò là người bào chữa cho bị can, bị cáo cũng góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ công lý. Hoạt động của luật sư tuy không phải là hoạt động tư pháp, nhưng lại có mối liên hệ gắn chặt với hoạt động tư pháp, hỗ trợ cho hoạt động tư pháp. Hoạt động của luật sư có thể xem như một công cụ hữu hiệu để giúp cho các cá nhân, tổ chức bảo vệ được các quyền và lợi ích chính đáng của mình. Như vậy, có thể nói tranh tụng là một mắt xích quan trọng trong cải cách tư pháp. Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành của nước ta khi thể chế hóa chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết của Bộ chính trị số 08- NQ/TW tại các quy định khác nhau đã khẳng định các nguyên tắc như: “…bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác; Việc phán quyết của tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để luật sư tham gia vào quá trình tố tụng...”. Qua nhiều năm thực hiện đường lối của Đảng cũng như áp dụng các quy định pháp luật, bên cạnh những kết quả đạt được, chất lượng hoạt động điều tra, truy tố và xét xử phần nào đó chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp. Trước tình hình đó, để khắc phục những bất cập tồn tại, Ban chấp hành trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết 49- NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020  và tiếp tục khẳng định: Một trong những nhiệm vụ cụ thể của cải cách tư pháp là“… xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”. Điều này cho thấy các nghị quyết của Bộ chính trị đã xác định việc nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa là hoạt động có tính cấp thiết và mang tính quyết định đối với việc đổi mới hoạt động tư pháp.

Continue reading

XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH THAM GIA TỐ TỤNG KHÔNG ĐÚNG LUẬT

PHẠM THÁI

Theo quy định tại Điều 311 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) thì Tòa án phải áp dụng các quy định tại Chương VI để xác định tư cách người tham gia tố tụng cũng như các quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ. Tuy nhiên, các quy định tại Chương VI chưa bao quát được những vấn đề cần thiết, nên việc xác định tư cách những người tham gia tố tụng khi giải quyết việc dân sự vẫn còn sự nhận thức mơ hồ về mặt pháp lý.

Trong thời gian qua, khi giải quyết các việc dân sự như: yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế (viết gộp là mất hoặc hạn chế) năng lực hành vi dân sự, yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, yêu cầu tuyên bố một người mất tích, tuyên bố một người là đã chết, đã có nhiều Tòa án xác định người tham gia tố tụng gồm người yêu cầu và người bị yêu cầu; hoặc biến tướng thành một bên là… với một bên là… Với cách ghi như vậy, vô hình trung các Tòa án đã xác định những người bị yêu cầu tuyên bố mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự, người vắng mặt nơi cư trú, người mất tích… là đương sự tham gia tố tụng, tương tự như một bị đơn. Ngoài ra, có Tòa án lại xác định những người này là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Theo đó, một khi đã xác định họ là đương sự thì họ phải được thực hiện các quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng. Ví dụ, tại bản Thông báo kết quả giám đốc án số 01/GĐKT ngày 16.5.2007 của TAND tỉnh Q. cho rằng “Quyết định giải quyết việc dân sự số 01/2007 ngày 1.2.2007 về việc thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú của TAND huyện QT không tuyên quyền kháng cáo của người bị yêu cầu là thiếu sót”. Vậy, cách xác định và nhận định như trên liệu có đúng hay không?

Từ các quy định của BLTTDS thấy rằng, trong giải quyết việc dân sự, do không có tranh chấp nên không có nguyên đơnbị đơnnhư trong vụ án dân sự mà chỉ có người yêu cầu. Đương sự chỉ yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý như: sự kiện một người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự, sự kiện một người vắng mặt nơi cư trú, sự kiện một người mất tích hoặc đã chết… Do đó, việc một số Tòa án xác định người mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự, người vắng mặt nơi cư trú, người mất tích… như là một bị đơn là không đúng. Vậy, họ có phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan? Như đã phân tích, theo các quy định của BLTTDS về thủ tục giải quyết việc dân sự thì không có người tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn hoặc người bị yêu cầu mà chỉ có người yêu cầu và người có liên quan (các Điều 312 đến 316 BLTTDS). Tòa án chỉ giải quyết việc dân sự khi có yêu cầu, nên người yêu cầu luôn luôn phải có, còn người có liên quan thì chỉ có trong một số trường hợp nhất định. Người có liên quan ở đây không phải là bản thân người bị yêu cầu tuyên bố mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự, người vắng mặt nơi cư trú, người mất tích… mà là những người có liên quan với những người này về quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống (quyền thừa kế), quan hệ tài sản hoặc các quan hệ dân sự khác, mà khi giải quyết việc dân sự sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của họ.

Continue reading

THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ VIỆT NAM THỜI HẬU KHỦNG HOẢNG

DƯƠNG THỊ NGÂN – Investconsult

Tới cuối năm 2008 cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu diễn ra đã tạo ra những hệ lụy sâu rộng đến rất nhiều lĩnh vực … Tác động của khủng hoảng kinh tế lên thị trường dịch vụ pháp lý của Việt Nam như thế nào, cơ hội ra sao trong thời kỳ hậu khủng hoảng là một vấn đề được nhiều nhà tư vấn pháp lý quan tâm.

Khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 bắt đầu từ lĩnh vực tài chính khi một số ngân hàng của nền kinh tế lớn nhất thế giới – Hoa Kỳ tuyên bố không còn khả năng thanh toán và phải cần đến sự hỗ trợ từ phía ngân sách nhà nước và quỹ dự trữ quốc gia. Nói đến khủng hoảng kinh tế người ta thường nghĩ ngay tới sự mất cân bằng trong nền kinh tế, tỷ lệ lạm phát cao, hay sự đóng băng trong nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
Nhưng thực tế tác động của cuộc khủng hoảng này như thế nào lên ngành nghề tư vấn pháp lý không thể chỉ xem xét trong xu hướng chung. Để có được những nhận định sát với thực tế đang diễn ra, chúng ta cần xem xét thực trạng, tiềm năng của đội ngũ chuyên gia ( tổ chức và cá nhân) trong lĩnh vực tư vấn pháp lý
Tính đến thời điểm hiện nay, trong cả nước đã thành lập 62 Đoàn luật sư, với hơn 5.300 luật sư có thẻ hành nghề chính thức, hơn 2000 luật sư tập sự hoạt động trong gần 1.500 tổ chức hành nghề luật sư.
Theo số liệu thống kê trong 4 năm (2005-2008), các luật sư đã tham gia tố tụng 30.000 vụ việc về dân sự, gần 2.000 vụ việc về kinh tế, 800 vụ việc về lao động, 1.000 vụ việc về hành chính; gần 90.000 vụ việc về tư vấn pháp luật; 25.000 vụ việc về dịch vụ pháp lý khác. Năm 2008, 46,3% doanh nghiệp được hỏi có bộ phận phụ trách về pháp lý, trong đó chủ yếu là các tập đoàn kinh tế lớn; khoảng 47,27% doanh nghiệp từng thuê luật sư. Dự kiến đến năm 2010, nhu cầu sử dụng dịch vụ luật sư của các doanh nghiệp sẽ tăng lên 67,5% (tăng 1,43 lần so với năm 2008), năm 2015, tỷ lệ này là 85% và năm 2020 là 94%. Những nỗ lực cho sự phát triển và sự khẳng định vị thế của các nhà tư vấn pháp lý Việt Nam đã phần nào có kết quả khi Luật Luật sư 2006 ra đời tạo ra một khung pháp lý khá đầy đủ, thông thoáng, tạo sự an tâm về môi trường đầu tư cho các nhà cung ứng dịch vụ pháp lý nước ngoài khi bước chân vào thị trường Việt Nam. Người ta dự báo trong tương lai xu hướng sử dụng dịch vụ tư vấn pháp lý có sự gia tăng đáng kể.

Continue reading

TỪNG BƯỚC HOÀN THIỆN CÁC QUI ĐỊNH PHÁP LÝ LIÊN QUAN ĐẾN CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM NGHỀ NGHIỆP LUẬT SƯ

TS.LS. PHAN TRUNG HOÀI – Đoàn Luật sư TPHCM

I/- Khuôn khổ pháp lý và sự cần thiết về việc bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp luật sư Một trong những nguyên tắc hành nghề luật sư được quy định trong khoản 5 điều 5 Luật Luật sư năm 2006 là luật sư phải “chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động nghề nghiệp luật sư”.

Các thành viên của tổ chức hành nghề luật sư phải chịu trách nhiệm liên đới bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi nghĩa vụ của tổ chức hành nghề luật sư. Khoản 5 và 6 điều 40 Luật Luật sư quy định, một trong những nghĩa vụ của tổ chức hành nghề luật sư là phải bồi thường thiệt hại do lỗi mà luật sư của tổ chức mình gây ra cho khách hàng trong khi thực hiện tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng, dịch vụ pháp lý khác và phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho luật sư của tổ chức mình theo quy định của pháp luật. Liên quan việc hành nghề tư vấn pháp luật của tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam, điều 38 và 39 Nghị định số 87/2003/NĐ-CP ngày 22-7-2003 của Chính phủ quy định tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại vật chất do lỗi của luật sư của tổ chức mình gây ra cho khách hàng và có nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho luật sư của mình hành nghề tại Việt Nam.
Nhìn từ khía cạnh kinh doanh bảo hiểm, đó là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Sự kiện bảo hiểm được hiểu là sự kiện khách quan do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định mà khi sự kiện đó xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm. Việt Nam đã ban hành Luật kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực từ 1-4-2001, nhưng chưa có các quy định pháp lý điều chỉnh đối với loại hình nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp luật sư. Continue reading

BỒI HOÀN PHÍ LUẬT SƯ, ĐƯỢC KHÔNG?

HOÀNG YẾN

Thực tiễn xét xử, các tòa thường bác yêu cầu đòi bồi hoàn chi phí cho việc theo kiện của đương sự như tiền thuê luật sư, photocopy giấy tờ…

Vì vậy việc mới đây, TAND tỉnh Tiền Giang buộc bị đơn phải trả hơn 150 triệu đồng phí luật sư của nguyên đơn đã gợi nhiều băn khoăn…

Năm 2007, Cục Sở hữu trí tuệ cấp bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp với sản phẩm bánh tráng hiệu K. kèm ảnh cho Công ty TP. Một năm sau, Cục cấp tiếp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa cho Công ty TP. Sau đó, Công ty TP tiếp tục đăng ký sản phẩm bánh K. tại Mỹ và đã được bảo hộ nhãn hiệu cùng kiểu dáng công nghiệp.

Thua kiện vì “nhái” nhãn hiệu

Tháng 11-2009, Công ty TP phát hiện một số siêu thị ở Mỹ có bày bán mặt hàng bánh tráng hiệu K’có màu sắc tương tự, khó phân biệt và gây nhầm lẫn với nhãn hiệu bánh K. của công ty được bảo hộ. Lần theo, công ty biết Công ty TG đã sản xuất bánh tráng hiệu K’ trên. Qua đối chất, Công ty TG thừa nhận vào ngày 8-9-2009 có xuất bánh tráng K’sang Mỹ. Nhãn hiệu này do khách hàng bên Mỹ đặt gắn lên bao bì sản phẩm.

Tháng 12-2009, Công ty TP đã nhờ luật sư tại Mỹ gửi công văn khuyến cáo Công ty TG về hành vi xâm phạm nhãn hiệu. Tháng 2-2010, Công ty TP đã kiện Công ty TG ra TAND tỉnh Tiền Giang, yêu cầu chấm dứt hành vi sản xuất và xuất khẩu loại bánh K’, thu hồi toàn bộ lượng bánh đã xuất khẩu, bán trên thị trường Mỹ. Công ty TP còn yêu cầu Công ty TG phải thanh toán hơn 153 triệu đồng cho luật sư, gồm 5.000 USD phí luật sư ở Mỹ và 60 triệu đồng phí luật sư tại Việt Nam…

Tháng 5-2010, TAND tỉnh Tiền Giang xử sơ thẩm, nhận định việc Công ty TG sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu của Công ty TP, vốn đã được cấp giấy chứng nhận bảo hộ về nhãn hiệu trên cùng một loại hàng hóa là vi phạm Luật Sở hữu trí tuệ. Việc Công ty TG nại rằng thực hiện theo hợp đồng với khách nước ngoài nên lỗi vi phạm này thuộc bên thứ ba là không có cơ sở.

Continue reading

BIẾT – HIỂU VÀ VẬN DỤNG LUẬT

image LS. NGUYỄN NGỌC BÍCH – Đoàn Luật sư TPHCM

Tôi viết bài này cho các bạn đang tập sự (Luật sư tập sự – Civillawinfor), để bạn biết mình đang ở mức độ nào trong nghề nghiệp của mình và biết phải trau dồi thêm về mặt nào trong 18 tháng “vác củi” này. Công việc của luật sư là vận dụng luật để tư vấn hay bào chữa; nhưng để làm được việc đó bạn phải đi qua hai bước là biết và hiểu luật. Vậy ta sẽ đi từ đầu.

I. Biết điều “bí mật” của luật pháp

Mục đích chính của luật pháp là duy trì trật tự xã hội theo một đường lối chính trị nào đó (thể chế chính trị) để cho mọi người sống an tâm. Trong tâm lý của mình, con người cần sự an tâm để sống và làm việc cho ngày hôm nay; lo toan cho ngày mai và tạo dựng tài sản để sử dụng cho mình bây giờ và cho con cái sau này. Các nhu cầu ấy của họ phải được bảo vệ. Và luật pháp làm việc đó. Để làm, nó có một cách làm hay có một kỹ thuật, và kỹ thuật này được các nhà soạn thảo luật sử dụng khi soạn luật.

Kỹ thuật kia, đối với một số bạn, nó là còn là một bí mật; vì nó có đấy nhưng các bạn chưa để ý! Còn các vị đàn anh của các bạn thì họ biết nó rõ như biết bàn tay của mình (không phải là biết vân tay đâu!)

Khi đọc một văn bản quy phạm pháp luật, ta thấy chúng thường bắt đầu bằng phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng. Phạm vi là các vấn đề, sự việc, công việc… mà luật điều chỉnh; còn đối tượng là người thực hiện các công việc đó và luật cũng chi phối họ luôn. Đó là hai kỹ thuật mà luật sử dụng. Biết chúng bạn sẽ hành nghề dễ dàng. Và đó là “biết luật”.  Ta đi vào từng cái.

A. Ấn định trách nhiệm

Khi sống thì con người, chậu hoa, con chó hay cái xe… đều có thể gây thiệt hại cho người khác. Vì thế, luật pháp phải ấn định trách nhiệm cho mỗi thứ ấy. Trách nhiệm sẽ buộc anh A phải đền cho anh B, khi làm B bị thiệt hại, và mục đích của đòi hỏi ấy là lập lại trật tự đã bị vi phạm.

Continue reading

“VẬN DỤNG” LUẬT PHÁP – SOS!

LS. TRẦN THỊ PHỤNG

Luật sư Nguyễn Ngọc Bích (Công ty Luật Hợp danh DC) dẫn lời bài viết “ Biết – hiểu – và vận dụng luật” (Bản Tin Luật Sư số tân niên ngày 13.3.2010) rằng ông viết bài này nhằm chỉ “cho các bạn đang tập sự, để bạn biết mình đang ở mức độ nào trong nghề nghiệp của mình và biết phải trau dồi thêm về mặt nào trong 18 tháng vác củi”.

Tôi không nghĩ như vậy khi đọc xong bài viết của ông, bởi những nội dung mà ông thể hiện trong bài viết có thể cũng là “bí mật” mà nhiều người chưa biết (không chỉ có người tập sự luật sư ) ví như điều “bí mật” của luật pháp mà ông đã đề cập đến. Tôi đặt vấn đề này không nhằm “dám” trao đổi “song phương” với bậc đại thụ về những nguyên tắc “bất di, bất dịch” của luật pháp, lại càng không phải muốn tranh luận hay phản biện với những tâm huyết thật bình dị mà sâu sắc của tác giả đã muốn gởi gắm trong bài viết của mình. Vậy nên, tôi chỉ cảm thấy muốn được chia sẻ nhiều hơn những cái bất cập từ thực tế của luật pháp, và tin chắc rằng những trăn trở ấy không chỉ riêng tôi.

Có chăng “bí mật” ngoài luật pháp?

“Luật là thực tế!” Vâng. Cũng biết rằng mục đích chính của luật pháp là duy trì trật tự xã hội, tạo sự an tâm của mọi người hôm nay và mai sau, vì thế các nhà làm luật luôn mong muốn sử dụng một kỹ thuật hoàn hảo để có thể dễ dàng ứng dụng nó vào trong cuộc sống, nhằm bảo vệ nhu cầu chính đáng của xã hội. Người biết luật là người biết cả những kỹ thuật mà luật sử dụng. Đọc một văn bản quy phạm pháp luật, biết văn bản đó điều chỉnh những vấn đề nào, các quan hệ nào, đối tượng nào …điều đó giúp chúng ta tiếp cận vấn đề dễ dàng hơn. Thế nhưng, đôi khi nếu chỉ dựa vào phạm vi điều chỉnh, đối tượng điều chỉnh mà luật đã ban hành dường như chưa thuyết phục lắm, bởi sự chồng chéo, mâu thuẫn của “luật trước” với “luật sau”, luật “trong” với luật “ngoài” (quốc tế) cả việc xác định cái “tư cách” pháp lý hay “địa vị” pháp lý nào đó thì luật pháp dường như cũng bó tay trước những diễn biến và tác động của cuộc sống thực tế vẫn diễn ra mỗi ngày. Cứ thế, luật pháp chạy theo đến mỏi chân mà không thấy tới. Trong khi đó những người đi cùng luật pháp vẫn vừa chạy nhưng lại vừa cố tìm cách nào đễ “chạy” nhanh nhất.

Continue reading

BẢN CHẤT CỦA TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA

PGS-TS. TRẦN VĂN ĐỘ -  Tòa án Quân sự Trung ương

1. Trong toàn bộ quá trình tố tụng, xét xử đóng vai trò trung tâm, thể hiện đầy đủ nhất bản chất của hệ thống tư pháp của mỗi nhà nước, là giai đoạn quyết định tính đúng đắn, khách quan của việc giải quyết vụ án, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.

Trong xét xử, phiên tòa là giai đoạn có vai trò đặc biệt quan trọng và mang tính quyết định trong giải quyết vụ án, thực hiện các nhiệm vụ, mục đích tố tụng đặt ra. Vai trò quyết định đó của phiên tòa thể hiện ở những điểm sau đây:

- Thứ nhất, phiên tòa là nơi tòa án bằng thủ tục công khai, toàn diện thực hiện cuộc điều tra chính thức để xác định sự thật khách quan của vụ án. Tòa án ra bản án, quyết định trên cơ sở các chứng cứ được thu thập và kiểm tra công khai tại phiên tòa. Việc chứng minh (bao gồm cả quá trình thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ) được các chủ thể có quyền và lợi ích khác nhau (bên buộc tội, bên bào chữa, nguyên đơn, bị đơn) thực hiện một cách bình đẳng, dân chủ tại phiên tòa khi xét hỏi cũng như tranh luận. Việc chứng minh và từ đó xác định sự thật của vụ án được tòa án thực hiện trên cơ sở chứng cứ được thu thập, thẩm tra tại phiên tòa và cân nhắc, đánh giá của các bên tham gia tố tụng khác nhau;

- Thứ hai, phiên tòa đảm bảo sự tham gia của những người tham gia tố tụng. Hơn ở đâu hết, tại phiên tòa quyền và nghĩa vụ tố tụng của những người tham gia tố tụng được quy định và được đảm bảo thực hiện đầy đủ nhất bằng thủ tục tố tụng trực tiếp, công khai. Tại phiên tòa khó có thể xảy ra các trường hợp vi phạm pháp luật nghiêm trọng như bức cung, ép cung, dùng nhục hình v.v…;

- Thứ ba, phiên tòa là nơi có điều kiện tốt nhất để thực hiện việc áp dụng đúng đắn pháp luật. Qua phân tích nội dung các đề xuất của các bên tham gia tố tụng về áp dụng pháp luật, Tòa án lựa chọn cho mình phương án áp dụng pháp luật chính xác nhất để giải quyết đúng đắn vụ án;

Continue reading

ĐƯƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ

THS. NGUYỄN VIỆT CƯỜNG  -  Thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao

Kế thừa và phát triển các quy định của các Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, kinh tế, lao động trước đây (gọi chung là các pháp lệnh tố tụng), Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) có 7 điều (từ Điều 56 đến Điều 62) quy định đương sự trong vụ án dân sự. Bài viết này nhằm nghiên cứu làm rõ khái niệm này.

1. Khái niệm Đương sự trong vụ án dân sự

Điều 56 Bộ luật TTDS quy định: “ Đương sự trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”.

So với các pháp lệnh tố tụng thì khái niệm “đương sự” trong BLTTDS mở rộng hơn. Pháp lệnh tố tụng dân sự quy định: Các đương sự là công dân, pháp nhân. Pháp lệnh tố tụng kinh tế quy định đương sự là cá nhân, pháp nhân. Với quy định này, các tổ chức không có tư cách pháp nhân như tổ hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp hợp danh… không phải là đương sự. Rõ ràng quy định như trên không bao quát được tất cả các chủ thể tham gia quan hệ dân sự đã được quy định trong Bộ luật dân sự. Với quy định trong điều 56 BLTTDS đã khắc phục được những thiếu sót trong các pháp lệnh tố tụng và đã bao quát được tất cả các chủ thể tham gia quan hệ dân sự đã được quy định trong BLDS.

- Đương sự là cá nhân bao gồm công dân Việt Nam, người có quốc tịch nước ngoài, người không có quốc tịch. Điều 57 BLTTDS đã đưa ra khái niệm năng lực pháp luật Tố tụng dân sự vào lực hành vi tố tụng dân sự của công dân Việt Nam mà các pháp lệnh tố tụng trước đây chưa nêu

Bộ luật quy định: đương sự là người từ đủ 18 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, trừ người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Đương sự là người chưa đủ sáu tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự thì không có năng lực hành vi tố tụng, họ không thể tự mình tham gia tố tụng dân sự, việc bảo vệ quyền và lợi ích của những người này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện.

Continue reading

LUẬT SƯ NỘI BỘ – MỘT NGHỀ TRIỂN VỌNG

XUÂN HỢP

Nếu hiểu rõ, nắm bắt kịp thời và tỉnh táo trong các vấn đề liên quan luật kinh tế, thương mại, dân sự, sở hữu trí tuệ…, doanh nghiệp sẽ không chỉ tránh được những tình huống xấu bất ngờ mà có thêm lợi thế cạnh tranh. Hiểu được như thế, nhiều doanh nghiệp đang tìm kiếm và xây dựng cho mình một hoặc nhiều cố vấn pháp luật. Một số doanh nghiệp xây dựng cả một phòng luật sư nội bộ (phòng pháp chế) để giải quyết mọi các vấn đề  liên quan văn bản, hợp đồng, luật, cố vấn tranh tụng, dự báo và xử lí khủng hoảng.

“Luật sư nội bộ” – từ gốc tiếng Anh là “In House Counsel”. Khái niệm này còn có thể hiểu là “luật sư riêng”, “luật sư công ty”, “luật sư gia đình”, “cố vấn pháp luật”… Theo định nghĩa của Association of Corporate Counsel, luật sư công ty là nhân viên được tuyển dụng vào công ty để làm công việc luật sư. Theo luật một số bang của Mỹ, luật sư công ty bị hạn chế một số nghiệp vụ, trong đó có việc tranh tụng trước toà với tư cách đại diện công ty mình. Theo Luật luật sư của Việt Nam (có hiệu lực từ năm 2007), luật sư chỉ được hành nghề trên các hình thức Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh và công ty luật TNHH. Do đó luật sư nội bộ tại Việt Nam phần lớn mới ở dạng tư vấn pháp luật, xử lí hợp đồng…

Trên thế giới, đặc biệt ở Mỹ, các doanh nghiệp lớn đều có luật sư riêng. Những luật sư này có vị trí cao trong công ty và thường ở dạng cố vấn cao cấp cho chủ doanh nghiệp. Trong những nền kinh tế phát triển cao, luật sư là một nghề sáng giá. Nhiều chính khách vốn hoặc đồng thời là luật sư (như Đimitơrôp, Phiđen Caxtrô, Milôsêvích, Bin Clintơn, Nguyễn Hữu Thọ…). Những luật sư nội bộ cũng được hình tượng hóa qua các tiểu thuyết nổi tiếng thế giới (như Jenifer Packer trong “Thiên thần nổi giận” của Shedney Sheldon, Tom Haghen trong “Bố Già” của Mario Puzo…) Trong những cuốn sách đó, các luật sư nội bộ đều ở vị trí cao chỉ sau ông chủ và là nhân vật cực kỳ quan trọng đối với công ty, gia đình và cả đối thủ của họ.

Để làm tốt vai trò này, ngoài việc am hiểu rộng pháp luật dân sự, thương mại, đầu tư, sở hữu trí tuệ…, luật sư nội bộ phải có nhiều yếu tố khác:

Continue reading

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 640 other followers

%d bloggers like this: