CÔNG VĂN SỐ 277/LĐLSVN NGÀY 25/10/2011 CỦA LIÊN ĐOÀN LUẬT SƯ: KINH NGẠC VÀ THẤT VỌNG

LS. QUÁCH TÚ MẪN – Công ty luật hợp danh Danh và cộng sự

Ngày 25/10/2011, Liên đoàn luật sư Việt Nam ban hành công văn số 227/LĐLSVN (công văn số 227) về việc luật sư mặc trang phục thống nhất khi tham gia phiên toà, gây kinh ngạc và thất vọng cho các luật sư thành viên.

Kinh ngạc vì công văn này chứa nhiều nội dung trái pháp luật. Dựa trên Nghị quyết của Hội đồng luật sư toàn quốc, công văn số 227 yêu cầu Toà án nhân dân tối cao “chỉ đạo Toà án nhân dân các cấp nhắc nhở, giám sát các luật sư; chỉ chấp thuận các luật sư tham gia phiên toà khi luật sư có mang trang phục thống nhất theo quy định Liên đoàn luật sư Việt Nam”.

Nội dung trên trái với quy định Luật luật sư (1), đi ngược lại những nguyên tắc cơ bản pháp luật tố tụng (2), vi phạm hiến pháp (3), ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp người dân và luật sư. Không cơ quan nào, chỉ dựa vào quy định nội bộ Liên đoàn luật sư, có thể hạn chế quyền hành nghề của luật sư, tước đoạt quyền hiến định của người dân, được có luật sư bảo vệ quyền lợi.

Từ xưa đến nay, toà án chưa bao giờ có thẩm quyền nhắc nhở, giám sát đối với luật sư về trang phục nội bộ. Yêu cầu trên hạ thấp vị trí, vai trò cả luật sư lẫn hội đồng xét xử, biến luật sư thành chủ thể lệ thuộc, phải có người nhắc nhở, giám sát việc ăn mặc và hội đồng xét xử thành “đội trực cờ đỏ” xét áo quần, cà vạt, phù hiệu luật sư. Nếu Liên đoàn luật sư Việt Nam, không được can ngăn, tiếp tục cái đà nhờ toà án giải quyết việc nội bộ, ắt sẽ có ngày hội đồng xét xử làm luôn nhiệm vụ xét biên lai đoàn phí luật sư trước khi xét xử!

Thất vọng vì công văn số 227 thể hiện rõ khả năng của Liên đoàn Luật sư Việt Nam trong việc quản lý thành viên theo nguyên tắc tự quản. Mặc dù việc mặc trang phục thống nhất tham gia phiên toà được hầu hết luật sư ủng hộ, Liên đoàn Luật sư Việt Nam vẫn không tìm được một biện pháp nội bộ, tự quản để việc thực hiện chủ trương trên có hiệu quả, phải nhờ đến toà án can thiệp. Đáng buồn hơn, Toà án Nhân dân Tối cao thay vì từ chối yêu cầu, chỉ rõ vấn đề không thuộc thẩm quyền của toà án, lại phụ hoạ cái sai, ban hành công văn số 116/TA-TKTH yêu cầu các hội đồng xét xử “lưu ý, nhắc nhở các luật sư mặc đúng trang phục”.

(more…)

VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG

THS. LS. NGUYỄN HỮU THẾ TRẠCH – Đoàn Luật sư Thành phố HCM

Xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước luôn là nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu trong việc đổi mới hệ thống chính trị của nhà nước ta trong suốt thời gian qua.

Dưới sự chỉ  đạo sáng suốt của Đảng cộng sản Việt Nam, nhiều nghị quyết quan trọng về hoàn thiện bộ máy nhà nước đã được thực hiện không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động của nhà nước, đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới. Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII tại Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng cũng xác định nhiệm vụ chiến lược là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng là nhiệm vụ chiến lược với phương châm Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức và mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật.

Song song với việc cải cách bộ máy nhà nước và cải cách nền hành chính, trong nhiều nghị quyết của Đảng đã đề ra cải cách tư pháp. Cải cách tư pháp luôn được coi là một bộ phận quan trọng gắn liền với nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt nam. Mục tiêu của cải cách tư pháp là xây dựng một hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh có phương thức tổ chức, hoạt động khoa học, hiện đại góp phần quan trọng vào việc giữ gìn trật tự kỷ cương phép nước. Nội dung chủ yếu của cải cách tư pháp là củng cố, kiện toàn bộ máy các cơ quan tư pháp, phân định lại thẩm quyền của Toà án, đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án và cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp, trong đó có tổ chức luật sư.

Trong hoạt động tư pháp, hoạt động xét xử  được coi là khâu trọng tâm vì  ở đây biểu hiện sự tập trung và thể hiện đầy đủ quyền tư pháp, là hoạt động trên cơ sở kết quả điều tra, truy tố và bào chữa, Tòa án nhân danh Nhà nước đưa ra phán xét một người là có tội hay không có tội. Tính chính xác, khách quan, hợp pháp của sự phán xét, cũng như sự bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân phụ thuộc rất nhiều vào quá trình điều tra, truy tố và xét xử từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng. Bên cạnh đó, hoạt động tích cực của luật sư với vai trò là người bào chữa cho bị can, bị cáo cũng góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ công lý. Hoạt động của luật sư tuy không phải là hoạt động tư pháp, nhưng lại có mối liên hệ gắn chặt với hoạt động tư pháp, hỗ trợ cho hoạt động tư pháp. Hoạt động của luật sư có thể xem như một công cụ hữu hiệu để giúp cho các cá nhân, tổ chức bảo vệ được các quyền và lợi ích chính đáng của mình. Như vậy, có thể nói tranh tụng là một mắt xích quan trọng trong cải cách tư pháp. Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành của nước ta khi thể chế hóa chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết của Bộ chính trị số 08- NQ/TW tại các quy định khác nhau đã khẳng định các nguyên tắc như: “…bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác; Việc phán quyết của tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để luật sư tham gia vào quá trình tố tụng...”. Qua nhiều năm thực hiện đường lối của Đảng cũng như áp dụng các quy định pháp luật, bên cạnh những kết quả đạt được, chất lượng hoạt động điều tra, truy tố và xét xử phần nào đó chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp. Trước tình hình đó, để khắc phục những bất cập tồn tại, Ban chấp hành trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết 49- NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020  và tiếp tục khẳng định: Một trong những nhiệm vụ cụ thể của cải cách tư pháp là“… xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”. Điều này cho thấy các nghị quyết của Bộ chính trị đã xác định việc nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa là hoạt động có tính cấp thiết và mang tính quyết định đối với việc đổi mới hoạt động tư pháp.

(more…)

THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ VIỆT NAM THỜI HẬU KHỦNG HOẢNG

DƯƠNG THỊ NGÂN – Investconsult

Tới cuối năm 2008 cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu diễn ra đã tạo ra những hệ lụy sâu rộng đến rất nhiều lĩnh vực … Tác động của khủng hoảng kinh tế lên thị trường dịch vụ pháp lý của Việt Nam như thế nào, cơ hội ra sao trong thời kỳ hậu khủng hoảng là một vấn đề được nhiều nhà tư vấn pháp lý quan tâm.

Khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 bắt đầu từ lĩnh vực tài chính khi một số ngân hàng của nền kinh tế lớn nhất thế giới – Hoa Kỳ tuyên bố không còn khả năng thanh toán và phải cần đến sự hỗ trợ từ phía ngân sách nhà nước và quỹ dự trữ quốc gia. Nói đến khủng hoảng kinh tế người ta thường nghĩ ngay tới sự mất cân bằng trong nền kinh tế, tỷ lệ lạm phát cao, hay sự đóng băng trong nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
Nhưng thực tế tác động của cuộc khủng hoảng này như thế nào lên ngành nghề tư vấn pháp lý không thể chỉ xem xét trong xu hướng chung. Để có được những nhận định sát với thực tế đang diễn ra, chúng ta cần xem xét thực trạng, tiềm năng của đội ngũ chuyên gia ( tổ chức và cá nhân) trong lĩnh vực tư vấn pháp lý
Tính đến thời điểm hiện nay, trong cả nước đã thành lập 62 Đoàn luật sư, với hơn 5.300 luật sư có thẻ hành nghề chính thức, hơn 2000 luật sư tập sự hoạt động trong gần 1.500 tổ chức hành nghề luật sư.
Theo số liệu thống kê trong 4 năm (2005-2008), các luật sư đã tham gia tố tụng 30.000 vụ việc về dân sự, gần 2.000 vụ việc về kinh tế, 800 vụ việc về lao động, 1.000 vụ việc về hành chính; gần 90.000 vụ việc về tư vấn pháp luật; 25.000 vụ việc về dịch vụ pháp lý khác. Năm 2008, 46,3% doanh nghiệp được hỏi có bộ phận phụ trách về pháp lý, trong đó chủ yếu là các tập đoàn kinh tế lớn; khoảng 47,27% doanh nghiệp từng thuê luật sư. Dự kiến đến năm 2010, nhu cầu sử dụng dịch vụ luật sư của các doanh nghiệp sẽ tăng lên 67,5% (tăng 1,43 lần so với năm 2008), năm 2015, tỷ lệ này là 85% và năm 2020 là 94%. Những nỗ lực cho sự phát triển và sự khẳng định vị thế của các nhà tư vấn pháp lý Việt Nam đã phần nào có kết quả khi Luật Luật sư 2006 ra đời tạo ra một khung pháp lý khá đầy đủ, thông thoáng, tạo sự an tâm về môi trường đầu tư cho các nhà cung ứng dịch vụ pháp lý nước ngoài khi bước chân vào thị trường Việt Nam. Người ta dự báo trong tương lai xu hướng sử dụng dịch vụ tư vấn pháp lý có sự gia tăng đáng kể.

(more…)

TỪNG BƯỚC HOÀN THIỆN CÁC QUI ĐỊNH PHÁP LÝ LIÊN QUAN ĐẾN CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM NGHỀ NGHIỆP LUẬT SƯ

TS.LS. PHAN TRUNG HOÀI – Đoàn Luật sư TPHCM

I/- Khuôn khổ pháp lý và sự cần thiết về việc bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp luật sư Một trong những nguyên tắc hành nghề luật sư được quy định trong khoản 5 điều 5 Luật Luật sư năm 2006 là luật sư phải “chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động nghề nghiệp luật sư”.

Các thành viên của tổ chức hành nghề luật sư phải chịu trách nhiệm liên đới bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi nghĩa vụ của tổ chức hành nghề luật sư. Khoản 5 và 6 điều 40 Luật Luật sư quy định, một trong những nghĩa vụ của tổ chức hành nghề luật sư là phải bồi thường thiệt hại do lỗi mà luật sư của tổ chức mình gây ra cho khách hàng trong khi thực hiện tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng, dịch vụ pháp lý khác và phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho luật sư của tổ chức mình theo quy định của pháp luật. Liên quan việc hành nghề tư vấn pháp luật của tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam, điều 38 và 39 Nghị định số 87/2003/NĐ-CP ngày 22-7-2003 của Chính phủ quy định tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại vật chất do lỗi của luật sư của tổ chức mình gây ra cho khách hàng và có nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho luật sư của mình hành nghề tại Việt Nam.
Nhìn từ khía cạnh kinh doanh bảo hiểm, đó là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Sự kiện bảo hiểm được hiểu là sự kiện khách quan do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định mà khi sự kiện đó xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm. Việt Nam đã ban hành Luật kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực từ 1-4-2001, nhưng chưa có các quy định pháp lý điều chỉnh đối với loại hình nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp luật sư. (more…)

BỒI HOÀN PHÍ LUẬT SƯ, ĐƯỢC KHÔNG?

HOÀNG YẾN

Thực tiễn xét xử, các tòa thường bác yêu cầu đòi bồi hoàn chi phí cho việc theo kiện của đương sự như tiền thuê luật sư, photocopy giấy tờ…

Vì vậy việc mới đây, TAND tỉnh Tiền Giang buộc bị đơn phải trả hơn 150 triệu đồng phí luật sư của nguyên đơn đã gợi nhiều băn khoăn…

Năm 2007, Cục Sở hữu trí tuệ cấp bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp với sản phẩm bánh tráng hiệu K. kèm ảnh cho Công ty TP. Một năm sau, Cục cấp tiếp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa cho Công ty TP. Sau đó, Công ty TP tiếp tục đăng ký sản phẩm bánh K. tại Mỹ và đã được bảo hộ nhãn hiệu cùng kiểu dáng công nghiệp.

Thua kiện vì “nhái” nhãn hiệu

Tháng 11-2009, Công ty TP phát hiện một số siêu thị ở Mỹ có bày bán mặt hàng bánh tráng hiệu K’có màu sắc tương tự, khó phân biệt và gây nhầm lẫn với nhãn hiệu bánh K. của công ty được bảo hộ. Lần theo, công ty biết Công ty TG đã sản xuất bánh tráng hiệu K’ trên. Qua đối chất, Công ty TG thừa nhận vào ngày 8-9-2009 có xuất bánh tráng K’sang Mỹ. Nhãn hiệu này do khách hàng bên Mỹ đặt gắn lên bao bì sản phẩm.

Tháng 12-2009, Công ty TP đã nhờ luật sư tại Mỹ gửi công văn khuyến cáo Công ty TG về hành vi xâm phạm nhãn hiệu. Tháng 2-2010, Công ty TP đã kiện Công ty TG ra TAND tỉnh Tiền Giang, yêu cầu chấm dứt hành vi sản xuất và xuất khẩu loại bánh K’, thu hồi toàn bộ lượng bánh đã xuất khẩu, bán trên thị trường Mỹ. Công ty TP còn yêu cầu Công ty TG phải thanh toán hơn 153 triệu đồng cho luật sư, gồm 5.000 USD phí luật sư ở Mỹ và 60 triệu đồng phí luật sư tại Việt Nam…

Tháng 5-2010, TAND tỉnh Tiền Giang xử sơ thẩm, nhận định việc Công ty TG sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu của Công ty TP, vốn đã được cấp giấy chứng nhận bảo hộ về nhãn hiệu trên cùng một loại hàng hóa là vi phạm Luật Sở hữu trí tuệ. Việc Công ty TG nại rằng thực hiện theo hợp đồng với khách nước ngoài nên lỗi vi phạm này thuộc bên thứ ba là không có cơ sở.

(more…)

BIẾT – HIỂU VÀ VẬN DỤNG LUẬT

image LS. NGUYỄN NGỌC BÍCH – Đoàn Luật sư TPHCM

Tôi viết bài này cho các bạn đang tập sự (Luật sư tập sự – Civillawinfor), để bạn biết mình đang ở mức độ nào trong nghề nghiệp của mình và biết phải trau dồi thêm về mặt nào trong 18 tháng “vác củi” này. Công việc của luật sư là vận dụng luật để tư vấn hay bào chữa; nhưng để làm được việc đó bạn phải đi qua hai bước là biết và hiểu luật. Vậy ta sẽ đi từ đầu.

I. Biết điều “bí mật” của luật pháp

Mục đích chính của luật pháp là duy trì trật tự xã hội theo một đường lối chính trị nào đó (thể chế chính trị) để cho mọi người sống an tâm. Trong tâm lý của mình, con người cần sự an tâm để sống và làm việc cho ngày hôm nay; lo toan cho ngày mai và tạo dựng tài sản để sử dụng cho mình bây giờ và cho con cái sau này. Các nhu cầu ấy của họ phải được bảo vệ. Và luật pháp làm việc đó. Để làm, nó có một cách làm hay có một kỹ thuật, và kỹ thuật này được các nhà soạn thảo luật sử dụng khi soạn luật.

Kỹ thuật kia, đối với một số bạn, nó là còn là một bí mật; vì nó có đấy nhưng các bạn chưa để ý! Còn các vị đàn anh của các bạn thì họ biết nó rõ như biết bàn tay của mình (không phải là biết vân tay đâu!)

Khi đọc một văn bản quy phạm pháp luật, ta thấy chúng thường bắt đầu bằng phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng. Phạm vi là các vấn đề, sự việc, công việc… mà luật điều chỉnh; còn đối tượng là người thực hiện các công việc đó và luật cũng chi phối họ luôn. Đó là hai kỹ thuật mà luật sử dụng. Biết chúng bạn sẽ hành nghề dễ dàng. Và đó là “biết luật”.  Ta đi vào từng cái.

A. Ấn định trách nhiệm

Khi sống thì con người, chậu hoa, con chó hay cái xe… đều có thể gây thiệt hại cho người khác. Vì thế, luật pháp phải ấn định trách nhiệm cho mỗi thứ ấy. Trách nhiệm sẽ buộc anh A phải đền cho anh B, khi làm B bị thiệt hại, và mục đích của đòi hỏi ấy là lập lại trật tự đã bị vi phạm.

(more…)

“VẬN DỤNG” LUẬT PHÁP – SOS!

LS. TRẦN THỊ PHỤNG

Luật sư Nguyễn Ngọc Bích (Công ty Luật Hợp danh DC) dẫn lời bài viết “ Biết – hiểu – và vận dụng luật” (Bản Tin Luật Sư số tân niên ngày 13.3.2010) rằng ông viết bài này nhằm chỉ “cho các bạn đang tập sự, để bạn biết mình đang ở mức độ nào trong nghề nghiệp của mình và biết phải trau dồi thêm về mặt nào trong 18 tháng vác củi”.

Tôi không nghĩ như vậy khi đọc xong bài viết của ông, bởi những nội dung mà ông thể hiện trong bài viết có thể cũng là “bí mật” mà nhiều người chưa biết (không chỉ có người tập sự luật sư ) ví như điều “bí mật” của luật pháp mà ông đã đề cập đến. Tôi đặt vấn đề này không nhằm “dám” trao đổi “song phương” với bậc đại thụ về những nguyên tắc “bất di, bất dịch” của luật pháp, lại càng không phải muốn tranh luận hay phản biện với những tâm huyết thật bình dị mà sâu sắc của tác giả đã muốn gởi gắm trong bài viết của mình. Vậy nên, tôi chỉ cảm thấy muốn được chia sẻ nhiều hơn những cái bất cập từ thực tế của luật pháp, và tin chắc rằng những trăn trở ấy không chỉ riêng tôi.

Có chăng “bí mật” ngoài luật pháp?

“Luật là thực tế!” Vâng. Cũng biết rằng mục đích chính của luật pháp là duy trì trật tự xã hội, tạo sự an tâm của mọi người hôm nay và mai sau, vì thế các nhà làm luật luôn mong muốn sử dụng một kỹ thuật hoàn hảo để có thể dễ dàng ứng dụng nó vào trong cuộc sống, nhằm bảo vệ nhu cầu chính đáng của xã hội. Người biết luật là người biết cả những kỹ thuật mà luật sử dụng. Đọc một văn bản quy phạm pháp luật, biết văn bản đó điều chỉnh những vấn đề nào, các quan hệ nào, đối tượng nào …điều đó giúp chúng ta tiếp cận vấn đề dễ dàng hơn. Thế nhưng, đôi khi nếu chỉ dựa vào phạm vi điều chỉnh, đối tượng điều chỉnh mà luật đã ban hành dường như chưa thuyết phục lắm, bởi sự chồng chéo, mâu thuẫn của “luật trước” với “luật sau”, luật “trong” với luật “ngoài” (quốc tế) cả việc xác định cái “tư cách” pháp lý hay “địa vị” pháp lý nào đó thì luật pháp dường như cũng bó tay trước những diễn biến và tác động của cuộc sống thực tế vẫn diễn ra mỗi ngày. Cứ thế, luật pháp chạy theo đến mỏi chân mà không thấy tới. Trong khi đó những người đi cùng luật pháp vẫn vừa chạy nhưng lại vừa cố tìm cách nào đễ “chạy” nhanh nhất.

(more…)

BẢN CHẤT CỦA TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA

PGS-TS. TRẦN VĂN ĐỘ -  Tòa án Quân sự Trung ương

1. Trong toàn bộ quá trình tố tụng, xét xử đóng vai trò trung tâm, thể hiện đầy đủ nhất bản chất của hệ thống tư pháp của mỗi nhà nước, là giai đoạn quyết định tính đúng đắn, khách quan của việc giải quyết vụ án, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.

Trong xét xử, phiên tòa là giai đoạn có vai trò đặc biệt quan trọng và mang tính quyết định trong giải quyết vụ án, thực hiện các nhiệm vụ, mục đích tố tụng đặt ra. Vai trò quyết định đó của phiên tòa thể hiện ở những điểm sau đây:

- Thứ nhất, phiên tòa là nơi tòa án bằng thủ tục công khai, toàn diện thực hiện cuộc điều tra chính thức để xác định sự thật khách quan của vụ án. Tòa án ra bản án, quyết định trên cơ sở các chứng cứ được thu thập và kiểm tra công khai tại phiên tòa. Việc chứng minh (bao gồm cả quá trình thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ) được các chủ thể có quyền và lợi ích khác nhau (bên buộc tội, bên bào chữa, nguyên đơn, bị đơn) thực hiện một cách bình đẳng, dân chủ tại phiên tòa khi xét hỏi cũng như tranh luận. Việc chứng minh và từ đó xác định sự thật của vụ án được tòa án thực hiện trên cơ sở chứng cứ được thu thập, thẩm tra tại phiên tòa và cân nhắc, đánh giá của các bên tham gia tố tụng khác nhau;

- Thứ hai, phiên tòa đảm bảo sự tham gia của những người tham gia tố tụng. Hơn ở đâu hết, tại phiên tòa quyền và nghĩa vụ tố tụng của những người tham gia tố tụng được quy định và được đảm bảo thực hiện đầy đủ nhất bằng thủ tục tố tụng trực tiếp, công khai. Tại phiên tòa khó có thể xảy ra các trường hợp vi phạm pháp luật nghiêm trọng như bức cung, ép cung, dùng nhục hình v.v…;

- Thứ ba, phiên tòa là nơi có điều kiện tốt nhất để thực hiện việc áp dụng đúng đắn pháp luật. Qua phân tích nội dung các đề xuất của các bên tham gia tố tụng về áp dụng pháp luật, Tòa án lựa chọn cho mình phương án áp dụng pháp luật chính xác nhất để giải quyết đúng đắn vụ án;

(more…)

LUẬT SƯ NỘI BỘ – MỘT NGHỀ TRIỂN VỌNG

XUÂN HỢP

Nếu hiểu rõ, nắm bắt kịp thời và tỉnh táo trong các vấn đề liên quan luật kinh tế, thương mại, dân sự, sở hữu trí tuệ…, doanh nghiệp sẽ không chỉ tránh được những tình huống xấu bất ngờ mà có thêm lợi thế cạnh tranh. Hiểu được như thế, nhiều doanh nghiệp đang tìm kiếm và xây dựng cho mình một hoặc nhiều cố vấn pháp luật. Một số doanh nghiệp xây dựng cả một phòng luật sư nội bộ (phòng pháp chế) để giải quyết mọi các vấn đề  liên quan văn bản, hợp đồng, luật, cố vấn tranh tụng, dự báo và xử lí khủng hoảng.

“Luật sư nội bộ” – từ gốc tiếng Anh là “In House Counsel”. Khái niệm này còn có thể hiểu là “luật sư riêng”, “luật sư công ty”, “luật sư gia đình”, “cố vấn pháp luật”… Theo định nghĩa của Association of Corporate Counsel, luật sư công ty là nhân viên được tuyển dụng vào công ty để làm công việc luật sư. Theo luật một số bang của Mỹ, luật sư công ty bị hạn chế một số nghiệp vụ, trong đó có việc tranh tụng trước toà với tư cách đại diện công ty mình. Theo Luật luật sư của Việt Nam (có hiệu lực từ năm 2007), luật sư chỉ được hành nghề trên các hình thức Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh và công ty luật TNHH. Do đó luật sư nội bộ tại Việt Nam phần lớn mới ở dạng tư vấn pháp luật, xử lí hợp đồng…

Trên thế giới, đặc biệt ở Mỹ, các doanh nghiệp lớn đều có luật sư riêng. Những luật sư này có vị trí cao trong công ty và thường ở dạng cố vấn cao cấp cho chủ doanh nghiệp. Trong những nền kinh tế phát triển cao, luật sư là một nghề sáng giá. Nhiều chính khách vốn hoặc đồng thời là luật sư (như Đimitơrôp, Phiđen Caxtrô, Milôsêvích, Bin Clintơn, Nguyễn Hữu Thọ…). Những luật sư nội bộ cũng được hình tượng hóa qua các tiểu thuyết nổi tiếng thế giới (như Jenifer Packer trong “Thiên thần nổi giận” của Shedney Sheldon, Tom Haghen trong “Bố Già” của Mario Puzo…) Trong những cuốn sách đó, các luật sư nội bộ đều ở vị trí cao chỉ sau ông chủ và là nhân vật cực kỳ quan trọng đối với công ty, gia đình và cả đối thủ của họ.

Để làm tốt vai trò này, ngoài việc am hiểu rộng pháp luật dân sự, thương mại, đầu tư, sở hữu trí tuệ…, luật sư nội bộ phải có nhiều yếu tố khác:

(more…)

ĐÀOTẠO LUẬT SƯ Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM ĐỂ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO LUẬT SƯ Ở VIỆT NAM

TS. LÊ THU HÀ – TS. NGÔ HOÀNG OANH – TS. PHẠM TRÍ HÙNG

Tiêu chuẩn của luật sư được quy định tại Điều 9 Dự thảo Luật Luật sư: Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư. Điều 10 Dự thảo Luật Luật sư quy định điều kiện để hành nghề luật sư là phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư (Các tác giả viết bài này vào thời điểm Luật Luật sư năm 2006 đang trong quá trình xây dựng – Civillawinfor).

Tiêu chuẩn luật sư theo Điều 10 Luật Luật sư năm 2006:

Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư. (Civillawinfor trích dẫn)

Như vậy đào tạo luật sư ở Việt Nam gồm có 3 giai đoạn hay nói cách khác ở Việt Nam muốn trở thành luật sư phải trải qua 3 giai đoạn đào tạo: đào tạo ở trường đại học để có bằng cử nhân luật, đào tạo nghề luật sư để được cấp Chứng chỉ đào tạo kỹ năng hành nghề luật sư và đào tạo trong thời gian tập sự hành nghề luật sư.

Bài viết này đề cập tới việc đào tạo luật sư các nước đại diện cho dòng họ pháp luật Common Law (Anh, Mỹ) và Civil Law (Pháp, Đức) và cũng là những nước có truyền thống, thành tựu nhất định trong đào tạo luật sư để rút ra những kinh nghiệm nhằm hoàn thiện công tác đào tạo luật sư ở Việt Nam.

1. Đào tạo luật sư ở Pháp

Điều kiện bắt buộc để hành nghề luật sư ở Pháp là phải là thành viên của Đoàn luật sư địa phương (barreau) với điều kiện gia nhập là phải có bằng Maitrise về luật[1], phải có Chứng chỉ về khả năng hành nghề luật sư (Certificat d’aptitude à la profession d’advocat), sau đó làm luật sư thực tập trong 2 năm.

(more…)

NGÀY XUÂN SUY NGẪM VỀ NGHỀ LUẬT SƯ

LS. TRẦN CÔNG LY TAO – Phó chủ nhiệm Đoàn Luật sư TPHCM

Lẽ thường, xuân về Tết đến sẽ mang điều lành đến với mọi người, mọi nhà. Với những bài báo đầu năm 2010, cũng là khởi đầu Báo Pháp Luật TP.HCM “lột xác” thì giới luật sư được đưa lên “bàn mổ” với những điều dị nghị mang đậm sự phản cảm của dư luận.

Bốn số liền (từ ngày 01 đến ngày 04/01/2010) tờ báo phê phán một số luật sư là những “con sâu làm rầu nồi canh” trong hoạt động nghề nghiệp luật sư. Với tiêu đề: Tiền thầy bỏ túi, bài báo khái quát: “… không ít luật sư còn làm bậy, thiếu trách nhiệm, vi phạm đạo đức nghề nghiệp khiến cho hình ảnh của giới luật sư bị ảnh hưởng trong mắt người dân”. Phải chăng Báo Pháp Luật muốn tạo ra biệt lệ?

Là người trong giới luật sư, tôi thấm thía và đau đớn vô ngần. Đành rằng, không có nghề xấu, chỉ có người xấu vì “mía sâu có đốt, nhà dột có nơi”. Điều đáng buồn ở chỗ: từ xa xưa nghề luật sư được xã hội đề cao, coi trọng như là thiên chức. Nay lại có những con sâu làm tổn thương uy tín, hoen ố thanh danh những “hiệp sĩ” mà các bậc tiền bối đã dày công gầy dựng, vun đắp.

Chúng ta cần nghiêm khắc với bản thân: “tiên trách kỷ”. Trong lúc những đồng nghiệp chân chính, chấp nhận “thà cạp đất mà ăn” chứ không cam tâm làm điều xấu, thì đó đây có những “thầy cải” sẵn sàng “bán mình cho quỷ dữ”, nhắm mắt chạy theo tiền tài, vật chất!

Nhà thơ Trần Tế  Xương đã từng cảnh báo:

Văn minh Đông Á trời thu sạch,
Này lúc cương thường đảo ngược ru!

(more…)

THỰC TIỄN HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ: ÔI . . . THÂN CHỦ!

THANH TÙNG Ghi

Không ít lần các luật sư đã gặp phải những thân chủ “trời ơi”, những tình huống hài hước đến mức… cười ra nước mắt. Sau một lúc lâu chờ được gặp, vị khách hàng trịnh trọng yêu cầu luật sư chỉ giúp… một bác sĩ Đông y giỏi để trị bệnh đau lưng.

Khách hàng tìm luật sư cậy nhờ về pháp lý là chuyện thường tình. Nhưng trong đời hành nghề, không ít lần các luật sư đã gặp phải những thân chủ “trời ơi”, những tình huống ngược đời hài hước đến mức… cười ra nước mắt như những câu chuyện mà luật sư TNQ (Đoàn Luật sư TP.HCM) chia sẻ dưới đây.

Nhờ luật sư chỉ giùm bác sĩ

Một ngày đẹp trời nọ, một khách hàng đã luống tuổi, vẻ mặt còn khá minh mẫn, ăn mặc lịch sự bước vào văn phòng của luật sư Q. Cô tiếp tân báo rằng luật sư đang tiếp khách, mong ông cụ vui lòng chờ. Ông cụ gật gù cười tươi rói: “Năm phút chứ 50 phút tui cũng chờ để gặp luật sư bằng được, cô ơi!”.

Rồi cũng đến lúc gặp luật sư, ông cụ trịnh trọng vào đề: “Thưa luật sư, có chuyện này rất quan trọng, luật sư đi nhiều, quan hệ rộng, mong giúp tôi nhé!”. “Dạ, cụ cứ nói đi!” – luật sư cởi mở. “Vâng, chả là cái lưng của tui dạo này đau quá thể, luật sư chỉ giùm tôi một bác sĩ Đông y giỏi để tui đến khám, hốt thuốc nghen!”…

Quá bất ngờ, luật sư Q. định phá lên cười nhưng nhìn ông cụ đầy vẻ thành thật, ông lại ráng nhịn vì sợ “phạm thượng”. Cuối cùng luật sư phải “tua” lại trí nhớ xem gia đình, họ hàng mình có ai bị đau lưng, đã từng đi trị Đông y để chỉ giùm “cụ già dễ thương” này. Vui vẻ chào luật sư ra về, ông cụ còn giải thích thêm: “Nhiều người cũng chỉ tui nhưng tui thấy không chắc, cứ phải hỏi luật sư thì mới yên tâm. Già này thiệt tình cảm ơn luật sư nhé!”.

(more…)

ĐẠO ĐỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ: LUẬT SƯ GIỮ BÍ MẬT CHO THÂN CHỦ ĐẾN ĐÂU?

HỒNG TÚ

Luật sư không được câu kết với cán bộ tố tụng, không được giúp đỡ khách hàng giải quyết công việc bằng những thủ đoạn, hành vi bất hợp pháp.

Đạo đức hành nghề của luật sư được các đại biểu tham gia hội thảo “Quản lý nghề luật sư: Kinh nghiệm của Việt Nam và Nhật Bản” rất quan tâm, nhất là khi sắp tới, nội dung này sẽ được Liên đoàn Luật sư Việt Nam ban hành thành quy tắc. Vấn đề đầu tiên trong đạo đức hành nghề luật sư là mối quan hệ giữa luật sư và khách hàng.

Tố giác hay im lặng?

Theo luật sư Nguyễn Huy Thiệp (Đoàn Luật sư TP Hà Nội), việc luật sư giữ bí mật cho khách hàng là nguyên tắc cơ bản hàng đầu. Ông phân tích: “Nếu luật sư thực hiện tốt nguyên tắc này thì khách hàng mới có niềm tin vào luật sư. Khi đó họ sẽ cung cấp toàn bộ, đầy đủ thông tin liên quan đến sự việc, kể cả những vấn đề tế nhị. Đó chính là điều kiện thuận lợi cho hoạt động nghề nghiệp của luật sư”.

Nhiều đại biểu tán đồng ý kiến này. Tuy nhiên, luật sư Trương Xuân Tám (Đoàn Luật sư tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu) tỏ ra băn khoăn khi đặt giả thuyết: Nếu khách hàng tiết lộ cho luật sư biết họ đã thực hiện một hành vi phạm tội thì luật sư phải làm thế nào? Đi báo cơ quan chức năng hay im lặng che giấu tội phạm?

Luật sư Toriyama Hanroku (Đoàn Luật sư Osaka) nêu kinh nghiệm của Nhật Bản để các đại biểu tham khảo. Theo ông, luật sư Nhật Bản không được phép tiết lộ thông tin của khách hàng. Tuy nhiên, nếu biết được khách hành của mình đang chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng, luật sư được phép báo cho cơ quan chức năng sau khi đã làm hết các biện pháp khác nhưng không ngăn cản khách hàng được. Còn lại, tất cả các trường hợp khác luật sư đều không được tố cáo, đó là nguyên tắc nghề nghiệp.

(more…)

QUYẾT ĐỊNH SỐ 123/QĐ-TTg NGÀY 18 THÁNG 1 NĂM 2010 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN “PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ LUẬT SƯ PHỤC VỤ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2020”

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001;
Căn cứ Luật Luật sư năm 2006;
Căn cứ Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP ngày 27 tháng 02 năm 2007 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Phê duyệt Đề án “Phát triển đội ngũ luật sư phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế từ năm 2010 đến năm 2020” với các nội dung cơ bản như sau:

I. MỤC TIÊU

1. Mục tiêu tổng quát

Xây dựng đội ngũ luật sư giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, am hiểu luật pháp và tập quán thương mại quốc tế, thông thạo tiếng Anh, thành thạo về kỹ năng hành nghề luật sư quốc tế, có đủ khả năng tư vấn các vấn đề liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế cho các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong xã hội, trong đó có các cơ quan của Chính phủ, Ủy ban nhân dân một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các tập đoàn kinh tế của Nhà nước.

Xây dựng các tổ chức hành nghề luật sư chuyên sâu trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài, có khả năng cạnh tranh với các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài.

2. Mục tiêu cụ thể

2.1. Xây dựng và phát triển đủ số lượng luật sư chuyên sâu trong lĩnh vực thương mại, đầu tư để đáp ứng nhu cầu tư vấn và tham gia tranh tụng các vấn đề liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế của các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong xã hội, trong đó có cơ quan Chính phủ, các tập đoàn kinh tế của Nhà nước.

(more…)

LUẬT SƯ LÀM RẦU THÂN CHỦ

NHÓM PV BÁO PLTPHCM

Mỗi khi đụng việc liên quan đến pháp luật, người dân thường cậy nhờ luật sư giúp đỡ, bảo vệ pháp lý. Bên cạnh rất nhiều luật sư tận tâm, có trách nhiệm với khách hàng cũng có không ít luật sư bắt chẹt, tìm mọi cách rút tiền thân chủ…

1. Tiền thầy bỏ túi

Số lượng luật sư đã không nhiều, năng lực của một số luật sư chưa cao, chưa thể đáp ứng được nhu cầu thực tiễn. Ðã vậy, không ít luật sư còn làm bậy, thiếu trách nhiệm, vi phạm đạo đức nghề nghiệp khiến cho hình ảnh của giới luật sư bị ảnh hưởng trong mắt người dân.

Mỗi khi đụng việc liên quan đến pháp luật, người dân thường cậy nhờ luật sư giúp đỡ, bảo vệ pháp lý. Bên cạnh rất nhiều luật sư tận tâm, có trách nhiệm với khách hàng cũng có không ít luật sư bắt chẹt, tìm mọi cách rút tiền thân chủ…

Ứng tiền, dzọt mất

Trên thực tế, để nhận được thù lao, luật sư phải lao tâm khổ tứ nghiên cứu hồ sơ, đi lại, quan hệ lo vụ việc của thân chủ. Những hoạt động này rất khó định tên nên có những luật sư nhận tiền ứng trước của thân chủ rồi chẳng làm gì nhưng vẫn vin vào đó để biện hộ rằng “tôi đã làm hết khả năng”.

Năm rồi, luật sư D. (Đoàn Luật sư tỉnh Q.) vào “ngồi ké” một văn phòng luật sư ở quận Gò Vấp (TP.HCM) và ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với ông L. Hai bên thỏa thuận sẽ “cưa đôi” khoản tiền gần 6 tỉ đồng nếu đòi được nợ. Đòi được đến đâu, “cưa” đến đó và ông L. đã ứng trước 30 triệu đồng cho luật sư…

(more…)

QUAN HỆ TƯƠNG TÁC GIỮA LUẬT SƯ VỚI CÁC CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG VÀ CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC KHÁC

LS. TRẦN CÔNG LY TAO – Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư TP.HCM

Nghề Luật sư được xã hội trọng vọng, tôn kính. Ngay từ thời La Mã Cổ đại, người Luật sư được xem như một hiệp sĩ, nghề luật sư được coi như một thiên chức (chức vụ thiêng liêng). Ở miền Nam Việt Nam trước ngày giải phóng 30/4/1975, ban nhạc hài hước nổi tiếng AVT đã từng cất lời ca trên đài phát thanh Sài Gòn: Luật sư đắc vợ, nhiều tiền, từ hai tay trắng làm nên nhà lầu!

Được biết, người Sài Gòn đã có thói quen tìm đến luật sư khi hữu sự, chẳng may phải “đáo tụng đình”. Vì vậy mà tổ chức luật sư ra đời tại “thánh địa” nầy ngay từ năm 1867 tính tới nay là 142 năm (chỉ gián đoạn 14 năm: từ năm 1975 đến năm 1989).

Để tạo được truyền thống danh giá tốt đẹp, giữ được sự tin cậy và trọng nể của người đời thì luật sư và tổ chức hành nghề luật sư suy nghĩ và hành động mẫu mực, thao thức với lời căn dặn được lưu truyền từ ngàn xưa: mua danh ba vạn, bán danh ba đồng; hoặc mất tiền bạc có thể làm ra tiền bạc, mất uy tín là mất tất cả.

Là luật sư, hơn các giới khác trong xã hội, chúng ta cần tuân thủ triệt để quy định pháp luật và ứng xử nhân văn trong làm việc và lối sống. Ở chừng mực nào đó, dân thường vi phạm pháp luật có thể được tha thứ hoặc châm chế do lạc hậu về kiến thức và nhận thức. Nhưng những “thầy luật” mà vi phạm pháp luật thì thật đáng chê trách. Trong số những điều tối kỵ của nghề luật sư là hành vi “chạy án”. Tại hội nghị tổng kết hàng năm của Đoàn Luật sư Tp.Hồ Chí Minh, chúng ta luôn mạnh mẽ lên tiếng: cương quyết nói “không” với chạy án.

Khái niệm “chạy án” được hiểu theo nghĩa rộng, nhưng nói theo dân gian là việc làm “đổi trắng, thay đen” trong hoạt động tố tụng làm sai lệch sự thật khách quan được thể hiện trong bản án để hưởng lợi bất chính. Là người “phụ tá công lý”, chúng ta xem công lý là kim chỉ nam, là vị thần bất khả xâm phạm. Sài Gòn, hòn ngọc Viễn Đông, nơi đất lành chim đậu, với hào khí Nam bộ không cho phép chúng ta làm ngơ trước bất công, mà phải tỏ rõ thái độ “kiến nghĩa bất vi vô dõng giả” (thấy việc nghĩa không làm thì không phải là người có dũng khí).

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 797 other followers

%d bloggers like this: