MỘT SỐ Ý KIẾN TRONG VIỆC XÁC ĐỊNH QUAN HỆ TRANH CHẤP

THS. THÁI CHÍ BÌNH – Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang

Trong tố tụng dân sự, việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng pháp luật nội dung (điều chỉnh quyền và nghĩa vụ giữa các bên) trong việc giải quyết yêu cầu của đương sự. Để xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, cần phải dựa vào yêu cầu của đương sự và quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội mà đương sự tham gia. Trên thực tế, do quan hệ pháp luật đa dạng, tồn tại đan xen nhau nên việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp dựa vào yêu cầu của người khởi kiện không hề dễ dàng. Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin nêu lên vướng mắc trong việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp đối với yêu cầu thực hiện nghĩa vụ sau khi hợp đồng chấm dứt qua một số trường hợp cụ thể.

Bên cạnh hợp đồng dân sự được quy định trong Bộ luật dân sự, tùy từng lĩnh vực, các luật chuyên ngành còn quy định hợp đồng trong từng lĩnh vực cụ thể như: hợp đồng lao động trong Bộ luật lao động, hợp đồng kinh doanh thương mại trong Luật Thương mại… Theo Điều 281 Bộ luật dân sự, một trong những căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự là hợp đồng dân sự; vì vậy, khi hợp đồng dân sự  kết thúc thì các bên phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận khi chấm dứt hợp đồng. Tuy nhiên, pháp luật chuyên ngành không quy định cụ thể việc các bên trong hợp đồng phải tuân thủ nghĩa vụ sau khi thỏa thuận chấm dứt hợp đồng như trong Bộ luật dân sự. Cho nên, sau khi các bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng, một trong các bên khởi kiện yêu cầu bên kia thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận sẽ gây khó khăn cho Tòa án trong việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Chúng tôi đơn cử 02 trường hợp cụ thể sau:

Trường hợp thứ nhất: Nhân viên Công ty Cổ phần dược phẩm P (Công ty P) có thỏa thuận miệng với ông N.V.T (chủ Nhà thuốc D.T, có đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh cá thể) là Công ty P sẽ bán thuốc tân dược cho Nhà thuốc D.T theo yêu cầu của ông T. Phương thức giao nhận thuốc và thanh toán tiền theo từng đợt. Trong khoảng thời gian từ ngày 01/10/2008 đến ngày 14/7/2012, ông T đã nhận thuốc của Công ty P nhiều đợt và nợ lại một số tiền. Sau đó, ông T ngưng mua thuốc của Công ty P. Theo biên bản làm việc ngày 14/8/2012 giữa ông T với đại diện Công ty P, ông T thừa nhận còn nợ lại Công ty số tiền mua thuốc 100 triệu đồng và 02 bên thỏa thuận ông T sẽ trả cho Công ty P mỗi tháng 10 triệu đồng cho đến khi dứt nợ. Sau đó, vào ngày 26/8/2012, ông T đã trả được 10.000.000 đồng và ngưng không thanh toán tiếp mặc dù Công ty đã nhiều lần yêu cầu. Vì vậy, Công ty P khởi kiện yêu cầu ông T phải cho Công ty P số nợ còn lại là 90 triệu đồng.

Continue reading

TÒA ÁN ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN CÓ PHÙ HỢP QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT?

THS. THÁI CHÍ BÌNH – Tòa án nhân dân Thị xã Châu Đốc, An Giang

Ông N.V.T. và bà L.T.C đang xây nhà tại số 10, đường Nguyễn Hữu Cảnh, khóm A, phường L, thị xã T, tỉnh B (theo Giấy phép xây dựng số 322/2012/GPXD ngày 30/7/2012 do Ủy ban nhân dân thị xã T cấp) nhưng bị phần mái hiên, máng xối, rèm cửa của nhà ông T.H.A tại số 12, đường Nguyễn Hữu Cảnh (cạnh nhà ông T., bà C.) lấn sang phần đất thuộc quyền sử dụng của ông T., bà C. nên ảnh hưởng đến việc xây nhà của ông T., bà C. Mặc dù, đã được ông T., bà C. yêu cầu khắc phục nhiều lần nhưng ông A. không thực hiện. Phần đất mà ông T., bà C. được cấp phép xây dựng đã được Ủy ban nhân dân thị xã T. cấp quyền sử dụng cho ông T., bà C. vào năm 2006. Do đó, vào ngày 10/11/2012, ông T., bà C. khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã T buộc ông A phải cắt bớt phần máng xối, mái hiên, rèm cửa lấn sang phần đất thuộc quyền sử dụng của ông T., bà C.

Ông A. không chấp nhận yêu cầu của ông T., bà C. vì cho rằng giữa nhà của ông T., bà C. với nhà ông A có 01 con hẻm sử dụng chung với chiều ngang 0,6m, chiều dài chạy dọc theo phần đất thuộc quyền sử dụng của 02 nhà (mỗi nhà sử dụng chiều ngang 0,3m). Khi ông T., bà C. làm thủ cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2012 đã xin cấp quyền sử dụng đối với phần con hẻm chung này. Nhà của ông A đã cất trước thời điểm ông T., bà C. được cấp quyền sử dụng và khi ông T., bà C. làm thủ tục cấp quyền sử dụng đất ông A. không biết, không ký tứ cận cho ông T., bà C. cho nên ông A. không chấp nhận yêu cầu kiện của ông T., bà C.

Trong quá trình giải quyết vụ án, do ông A. yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân thị xã T cấp cho ông T., bà C. vào năm 2006 nên Tòa án đã ra Thông báo yêu cầu Ủy ban nhân dân thị xã T tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 32a Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong thời gian Tòa án thụ lý giải quyết, do đã thuê nhân công và không thể chờ Tòa án giải quyết nên ông T., bà C. đã xây dựng hoàn thành căn nhà của mình. Sau khi xây dựng nhà xong, ông T., bà C. đến Tòa án rút lại đơn khởi kiện vì ông A. không còn cản trở việc ông T., bà C. xây dựng nhà.

Do ông A không có yêu cầu phản tố nên Tòa án đã áp dụng điểm c khoản 1 Điều 192, khoản 3 Điều 193, Điều 194 và khoản 2 Điều 245 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án mà không đề cập gì đến yêu cầu của ông A. đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho ông T., bà C.

Continue reading

BÀN VỀ ĐIỀU 92 BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN

TÁC GIẢ CHƯA XÁC ĐỊNH

Nghiên cứu Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) đã được Quốc hội sửa đổi, bổ sung (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011), chúng tôi nhận thấy một số điểm mới được nhà làm luật sửa đổi, bổ sung vào Điều 92 cũng như một số vấn đề còn vướng mắc cần trao đổi, giải quyết như sau:

A. Về một số điểm mới đã được sửa đổi, bổ sung:

Thứ nhất: Bổ sung vào khoản 1 Điều 92 nội dung “Các bên có quyền tự thoả thuận về việc xác định giá tài sản, lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản”. Một trong những nguyên tắc tôn trọng tự định đoạt của các đương sự mà Bộ luật tố tụng dân sự đã ghi nhận tại Điều 5 [1], đã được nhà làm luật bổ sung vào khoản 1 của Điều 92 của BLTTDS. Theo đó, khi có tranh chấp về giá trị tài sản, nếu các bên tự quyết định về giá trị khối tài sản đang tranh chấp hoặc thuê tổ chức dịch vụ có chức năng thẩm định giá tài sản, để thẩm định giá tài sản, thì Tòa án tôn trọng sự quyết định của các đương sự trong việc định giá tài sản.

Thứ hai: Trước đây luật không quy định Chủ tịch hội đồng định giá tài sản là người đại diện của cơ quan tài chính, nên việc sửa đổi, bổ sung lần này, nhà làm luật đã quy định cụ thể Chủ tịch hội đồng định giá tài sản là người đại diện của cơ quan tài chính, điều này là hoàn toàn phù hợp với cả lý luận và thực tiễn trong việc định giá tài sản. Thực tế trước đây, mặc dù pháp luật không ghi cụ thể Chủ tịch hội đồng định giá tài sản là thuộc cơ quan nào, song trong thực tế các Tòa án khi ban hành quyết định định giá tài sản đều ghi Chủ tịch hội đồng định giá tài sản là đại diện của cơ quan tài chính [2].

Thứ ba: Để bảo đảm sự vô tư, khách quan của các thành viên trong quá trình định giá tài sản, nhà làm luật đã bổ sung các trường hợp thành viên Hội đồng định giá tài sản phải từ chối tham gia thành viên Hội đồng định giá nếu họ đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó và trường hợp quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 46 [3] Bộ luật TTDS, mà trước đây chưa quy định.

Thứ tư: Bổ sung vấn đề chế tài đối với “Cơ quan tài chính và các cơ quan chuyên môn có liên quan có trách nhiệm cử người tham gia Hội đồng định giá và tạo điều kiện để họ làm nhiệm vụ. Người được cử làm thành viên Hội đồng định giá có trách nhiệm tham gia đầy đủ vào việc định giá. Trường hợp cơ quan tài chính, các cơ quan chuyên môn không cử người tham gia Hội đồng định giá; người được cử tham gia Hội đồng định giá không tham gia mà không có lý do chính đáng thì tuỳ theo mức độ vi phạm bị xử lý theo quy định của pháp luật”. Việc quy định này là hết sức cần thiết, nhằm đảm bảo sự phối hợp và tôn trọng Tòa án trong việc giải quyết nhanh vụ án, tránh trường hợp các cơ quan này từ chối cử người tham gia Hội đồng định giá tài sản cũng như cá nhân người được cử làm thành viên Hội đồng định giá tài sản nhưng không tham gia, gây khó khăn, tốn kém tiền bạc cũng như thời gian của các đương sự và Tòa án mà trước đây không có bất cứ một chế tài nào đối với cơ quan, cá nhân đó [4].

Continue reading

MỘT VÀI TRAO ĐỔI XUNG QUANH BÀI VIẾT “TẠI PHIÊN TÒA PHÚC THẨM, KIỂM SÁT VIÊN CÓ ĐƯỢC PHÁT BIỂU QUAN ĐIỂM GIẢI QUYẾT VỀ NỘI DUNG VỤ ÁN HAY KHÔNG”

CHU HIỀN – TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Trong bài viết “Tại phiên toà phúc thẩm, Kiểm sát viên có được phát biểu quan điểm giải quyết về nội dung vụ án hay không?”, tác giả Vũ Thắng có nêu hai quan điểm về giới hạn nội dung phát biểu của kiểm sát viên tại phiên toà phúc thẩm, cụ thể:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Kiểm sát viên tham gia phiên toà phúc thẩm chỉ được phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

Quan điểm thứ hai cho rằng: Theo quy định tại Điều 273a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011 thì kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm. Do không quy định rõ như ở giai đoạn sơ thẩm là kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án nên tại phiên toà phúc thẩm, kiểm sát viên không chỉ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án mà còn phát biểu ý kiến về đường lối giải quyết vụ án, tức là phát biểu cả về phần nội dung vụ án.

Tại bài viết của mình, tác giả Vũ Thắng đồng tình với quan điểm thứ nhất,  với lập luận: Mặc dù Điều 273a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011 quy định kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm, nhưng căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011 thì “Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật”. Điều này được hiểu là Viện kiểm sát nhân dân chỉ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự mà thôi.

Theo quan điểm của cá nhân tôi, quan điểm thứ hai là có cơ sở. Nghĩa là, tại phiên toà phúc thẩm, kiểm sát viên không chỉ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án mà còn phát biểu ý kiến về đường lối giải quyết vụ án, tức là phát biểu cả về phần nội dung vụ án, với những lý do sau:

Continue reading

TẠI PHIÊN TÒA PHÚC THẨM, KIỂM SÁT VIÊN CÓ ĐƯỢC PHÁT BIỂU QUAN ĐIỂM GIẢI QUYẾT VỀ NỘI DUNG VỤ ÁN HAY KHÔNG?

VŨ THẮNG – Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Đà Nẵng

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2012.Kể từ khi có hiệu lực pháp luật, thực tế việc xét xử các loại vụ án theo thủ tục tố tụng dân sự ở cấp phúc thẩmnảy sinh nhiều quan điểm chưa thống nhất liên quan đến giới hạn phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm.

Ở giai đoạn xét xử sơ thẩm, khoản 1 Điều 234 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm2011 quy định: “Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án”. Như vậy nội dung bài phát biểu của Kiểm sát viên chỉ tập trung vào việc tuân theo pháp luậttố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

Tuy nhiên, ở giai đoạn xét xử phúc thẩm, Điều 273a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sựnăm 2011 quy định việc phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà phúc thẩm như sau:“Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm”.

Với quy định như vậy, nội dung phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà phúc thẩm chưa rõ ràng, cụ thểnhư tại phiên toà sơ thẩm. Điều này dẫn đến các quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Kiểm sát viên tham gia phiên toà phúc thẩm chỉ được phát biểu ý kiến về việc tuântheo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Tác giả bài viết này đồng ý với quan điểm này, bởi lẽ: Mặcdù Điều 273a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011 quy định: Kiểm sát viênphát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạnphúc thẩm, nhưng căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tốtụng dân sự năm 2011 thì: “Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật”. Điều này được hiểu là Viện kiểm sát nhân dân chỉ kiểm sát việc tuân theopháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự.

Continue reading

QUAN ĐIỂM CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM CÓ ĐƯỢC GHI VÀO TRONG BẢN ÁN KHÔNG?

PHAN VŨ LINH – Tòa án nhân dân TP. Cần Thơ

Tại khoản 2 Điều 21 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011 quy định: Viện kiểm sát nhân dân tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; các phiên toà sơ thẩm đối với những vụ án do Toà án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có một bên đương sự là người chưa thành niên, người  có nhược điểm về thể chất, tâm thần.

Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát mà cụ thể là của Kiểm sát viên tại phiên toà sơ thẩm được thể hiện tại bài phát biểu sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong. Nội dung bài phát biểu của Kiểm sát viên phải tập trung vào việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án (Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự).

Như vậy, pháp luật đã xác định rất rõ ràng nội dung phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà sơ thẩm. Nếu như Kiểm sát viên tham gia phiên toà cho rằng Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử vi phạm tố tụng, chẳng hạn còn thiếu người tham gia tố tụng, cần xác minh thu thập thêm chứng cứ,v.v…thì có quyền đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên toà để khắc phục những thiếu sót đó. Ví dụ: Ngày 01 tháng 01 năm 2008, ông A cho ông B vay số tiền là 100.000.000đ với lãi suất là 1%/tháng để kinh doanh với thời hạn vay là một năm. Đến thời hạn trả nợ, ông B vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên vào năm 2010, ông A khởi kiện ông B đòi số tiền nợ gốc và lãi trên. Sau khi hoà giải không thành, Tòa án đưa vụ án ra xét xử. Tuy nhiên, tại phiên toà sơ thẩm, Kiểm sát viên tham gia phiên toà cho rằng Hội đồng xét xử cần phải đưa vợ của ông B là bà C vào tham gia tố tụng mới đảm bảo quyền lợi cho các bên đương sự và đúng quy định pháp luật. Do đó, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên toà để khắc phục thiếu sót này.

Vấn đề đặt ra là ý kiến phát biểu trên của Kiểm sát viên có được ghi nhận vào trong bản án hay không? Đối với vấn đề này trên hiện nay có hai luồng ý kiến khác nhau và có cách làm chưa thống nhất.

Continue reading

BẢO ĐẢM NGUYÊN TẮC KHI XÉT XỬ THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM NHÂN DÂN ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT

TRẦN VĂN KIỂM – Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Nam Định

Hoạt động xét xử của Tòa án là hoạt động nhân danh quyền lực của Nhà nước để tuyên một bản án kết tội hay không kết tội bị cáo. Phán quyết của Tòa án ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước, tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Do đó, yêu cầu tối cao và cũng là cái mốc để đánh giá hiệu quả của công tác xét xử là phải khách quan, toàn diện, đầy đủ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, không xử oan người vô tội. Muốn vậy, khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Đây là một nguyên tắc hiến định được ghi nhận trong Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 được sửa đổi bổ sung năm 2001 và Điều 16 Bộ luật Tố tụng hình sự (Bộ luật TTHS) năm 2003. Tuy nhiên trên thực tế, không phải khi nào nguyên tắc này cũng được hiểu đúng, đầy đủ và thực hiện triệt để. Bài viết phân tích và trình bày những nội dung cơ bản của nguyên tắc và những giải pháp bảo đảm để nguyên tắc được thực thi có hiệu quả.

1. Một số vấn đề cơ bản về nguyên tắc độc lập xét xử

Theo Từ điển tiếng Việt: “Độc lập là đứng một mình, không dựa vào ai, không nhờ cậy ai, không bị ai kiềm chế”1. Nguyên tắc “khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” được hiểu dưới hai khía cạnh là độc lập với các yếu tố bên ngoài và độc lập với các yếu tố bên trong.

Độc lập với các yếu tố bên ngoài là khi nghiên cứu hồ sơ cũng như khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân không bị phụ thuộc vào kết luận điều tra của cơ quan điều tra, không bị lệ thuộc vào cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Quá trình nghiên cứu hồ sơ và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phải xem xét, thẩm tra đánh giá chứng cứ và các tình tiết khác của vụ án một cách thận trọng, tỉ mỉ, khoa học, toàn diện, kể cả chứng cứ có trong hồ sơ và chứng cứ tại phiên tòa. Bản án của Tòa án chỉ được căn cứ vào những chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa. Khoản 3 Điều 222 Bọ luật TTHS quy định “khi nghị án chỉ được căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa”.

Nguyên tắc độc lập xét xử còn đòi hỏi sự độc lập của hội đồng xét xử với các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và các cá nhân. “Cấp trên của quan tòa là luật pháp” (Các Mác) có nghĩa là, khi xét xử, Tòa án không có cấp trên, cấp trên của Hội đồng xét xử chính là pháp luật. Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân không bị ràng buộc, không bị chi phối bởi bất kỳ ý kiến của ai. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân không được can thiệp hoặc tác động vào các thành viên của Hội đồng xét xử để ép họ phải xét xử vụ án theo ý chủ quan của mình. Mọi hành động can thiệp dưới bất kỳ hình thức nào đều làm ảnh hưởng tới tính khách quan của vụ án và đều bị coi là bất hợp pháp. Tuy nhiên trong hoạt động xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân có thể tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn, của bất kỳ ai và phải nắm bắt dư luận xã hội, nhưng khi quyết định, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải thể hiện bản lĩnh nghề nghiệp của mình, xem xét mọi vấn đề một cách độc lập, không được để cho ý kiến bên ngoài làm ảnh hưởng tới tính khách quan của vụ án.

Continue reading

BÀN VỀ VAI TRÒ CỦA CHẾ ĐỊNH HỘI THẨM NHÂN DÂN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY[1]

THS. CAO VIỆT THĂNG – Phó trưởng phòng Lý luận và Lịch sử nhà nước và pháp luật – Viện Nhà nước và Pháp luật

Trong hệ thống pháp luật tố tụng hiện nay ở nước ta, chế định hội thẩm nhân dân là một trong những chế định bắt buộc, có tính quyết định đến các bản án sơ thẩm trong hoạt động tư pháp. Bởi vì, hầu hết bản án sơ thẩm đều yêu cầu phải có sự tham gia của số lượng tối thiểu 2/3 thành viên của Hội đồng xét xử là các hội thẩm nhân dân. Cùng với số lượng đó là tính quyết định của hội thẩm nhân dân trong Hội đồng xét xử đối với bản án sơ thẩm.

Thực tế hiệu quả hoạt động của các hội thẩm ở nước ta hiện nay là chưa đạt yêu cầu về mặt pháp lý cũng như về mặt xã hội. Điều này xuất phát từ rất nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chủ yếu là 2 vấn đề lớn đó là: nhận thức về vai trò của hội thẩm trong Hội đồng xét xử các vụ án sơ thẩm và trách nhiệm của hội thẩm trong các phiên toà sơ thẩm.

1. Nhận thức về vai trò của hội thẩm nhân dân trong Hội đồng xét xử

1.1. Một số vấn đề lý luận về sự tham gia của hội thẩm nhân dân trong phiên toà xét xử sơ thẩm

Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 [2], Bộ luật tố Hình sự [3] và Bộ luật Tố tụng Dân sự[4], việc tham gia của hội thẩm nhân dân là một trong những yêu cầu bắt buộc trong quá trình xét xử sơ thẩm các vụ án. Từ quy định như vậy, có thể thấy vai trò của hội thẩm nhân dân là hết sức quan trọng trong việc xét xử sơ thẩm các vụ án ở nước ta.

Và để đi tìm lời giải cho câu hỏi là: Vì sao phải sử dụng tới 2 hội thẩm nhân dân mà chỉ cần 1 thẩm phán trong phiên toà sơ thẩm(?), tác giả đã tìm hiểu và so sánh chế định này trong hệ thống pháp luật của nhiều nước khác nhau và thấy rằng việc đưa hội thẩm nhân dân (có nơi tổ chức theo mô hình bồi thẩm đoàn) vào Hội đồng xét xử sơ thẩm chính là việc đưa tiếng nói từ phía xã hội vào trong quá trình xét xử. Họ lập luận rằng, pháp luật chỉ là những khuôn mẫu chung khá cứng nhắc được xây dựng trên sự đồng thuận theo tỷ lệ mà xã hội chấp nhận được chứ đó không phải là đồng thuận tuyệt đối, cho nên pháp luật cũng không phải là một giá trị tuyệt đối đúng để có thể áp dụng chung cho mọi trường hợp. Thứ hai, pháp luật cũng chỉ là một loại quy phạm xã hội có giá trị áp dụng cao nhất chứ không phải là toàn bộ các quy phạm xã hội và có thể thay thế các quy phạm xã hội khác trong đời sống hàng ngày. Do đó, cần có những tiếng nói từ thực tiễn xã hội trong việc đưa ra các phán quyết có tính quyết định đối với một quan hệ xã hội nào đó.

Continue reading

TIẾP TỤC BÀN VỀ SỰ ĐỘC LẬP CỦA THẨM PHÁN

THS. ĐINH THẾ HƯNG – Viện Nhà nước và Pháp luật

Ngay từ thời cổ Hy Lạp, Arixtốt, Platon đã từng mơ ước đến một hình mẫu toà án độc lập, không thiên vị. Arixtốt quan niệm rằng: Trong bất kỳ nhà nước nào cũng cần phải có những yếu tố bắt buộc: Cơ quan làm ra luật có trách nhiệm trông coi việc nước, các cơ quan thực thi pháp luật và các tòa án, từ đó ông chia hoạt động nhà nước thành ba thành tố: nghị luận, chấp hành và xét xử[1]. Trải qua quá trình đấu tranh lâu dài và gian khổ cho đến nay, độc lập xét xử của Toà án đã trở thành nguyên tắc pháp luật của bất kỳ nhà nước dân chủ, văn minh nào.

Tuy nhiên, trong thực tế ở đâu đó vẫn còn tình trạng Thẩm phán bị chi phối bởi các yếu tố chủ quan lẫn khách quan làm cho phán quyết của họ bị thiên lệch. Điều đó cho thấy việc đảm bảo cho Thẩm phán nói riêng và Toà án nói chung được độc lập xét xử chỉ tuân theo pháp luật luôn là khát vọng và cũng là nỗi ưu tư của nhân loại ngàn đời nay. Chúng ta đang tiến hành Chiến lược cải cách tư pháp trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân với trọng tâm là cải cải cách hệ thống toà án thì có lẽ bàn về nguyên tắc Thẩm phán độc lập xét xử vẫn là vấn đề xưa nhưng không hề cũ.

Hiện nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu nguyên tắc độc lập xét xử dưới các góc độ khác nhau ở mọi cấp độ. Nhưng chủ yếu là xem xét sự độc lập của Thẩm phán trong mối quan hệ với các yếu tố khách quan- Sự can thiệp đến công việc xét xử của Thẩm phán từ bên ngoài. Đó có thể là sự tác động từ các cơ quan khác như hành pháp, lập pháp thậm chí có ý kiến đề cập đến sự can thiệp của một số cấp ủy địa phương đến hoạt động xét xử của thẩm phán. Trong bài viết này, chúng tôi tiếp cận vấn đề độc lập xét xử của thẩm phán dưới góc độ những yếu tố chủ quan tác động đến tính độc lập xét xử của thẩm phán. Tức là những yếu tố nằm bên trong ngành toà án và trong mỗi thẩm phán làm cho thẩm phán không độc lập xét xử.

1. Thẩm phán có muốn độc lập không?

Trước hết công việc xét xử bao giờ cũng do con người – thẩm phán đảm nhiệm và thật viễn tưởng khi người ta lập trình hoạt động xét xử và giao cho máy móc đảm nhiệm. Những năm 70 của thế kỷ trước, Giáo sư X.X A-lec- xây- ép đã bàn đến vấn đề “Quan toà điện tử” khi ông đặt câu hỏi: Phải chăng có thể thay thế vị quan toà bằng những máy tính hiện đại có khả năng nắm bắt được cái tinh tế của pháp luật và ngay từ đầu đã cung cấp những quyết định theo yêu cầu của chúng ta ?”[2] . Sau khi lập luận một cách chắc chắn rằng: Sự vô tư, tính lôgic, trình độ chính xác, tính độc lập của các quyết định luôn lệ thuộc vào các tính cách cá nhân thẩm phán với tính tình ông ta; nếu ngồi ghế bị cáo thì bất cứ ai cũng muốn vị quan toà thay cho người máy quyết định số phận của họ, Giáo sư A- lếch- xây – ép kết luận: Quan hệ giữa con người với nhau phải được con người hiểu chứ không phải do máy móc phán xét. Các thẩm phán trong những tình huống phức tạp của mối quan hệ giữa con người với nhau, họ có thể hiểu được cái mà không máy tính nào hiểu được.[3] Vấn đề quan toà điện tử chỉ là viễn tưởng và trái với đạo lý của chúng ta.

Continue reading

PHẢN HỒI BÀI VIÊT: HỘI THẨM NHÂN DÂN PHẢI TƯƠNG TẦM VỚI TRỌNG TRÁCH ĐƯỢC GIAO

THS. CAO VIỆT THĂNG

Chế định Hội thẩm nhân dân là một trong những chế định rất quan trọng trong hoạt động xét xử ở nước ta . Tuy nhiên, để hiểu rõ về vai trò của Hội thẩm nhân dân đã có rất nhiều tranh luận và cách hiểu khác nhau xung quanh chế định này. Chẳng hạn, đọc bài viết của tác giả Cao Xuân Thu Vân tại địa chỉ: http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2010/01/08/4317/, tôi cho rằng cách hiểu của tác giả về chế định này có lẽ là chưa chính xác. Dưới đây là một số quan điểm của tác giả về chế định Hội thẩm nhân dân để tác giả Thu Vân và các độc giả cùng tham khảo.

Về nội dung của việc quy định về thành phần của Hội thẩm nhân dân phải đảm bảo đa số thành viên trong Hội đồng xét xử sơ thẩm các vụ án thì có rất nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng: Việc tham gia của Hội thẩm nhân dân là đảm bảo tính làm chủ của nhân dân trong quá trình xét xử. Hay ngay như trong Hiến pháp, ở Chương I – Về Chế độ chính trị có quy định: Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân .  Nên việc quy định thành phần của Hội đồng xét xử đảm bảo sự đa số của số lượng Hội thẩm nhân dân là phù hợp…
Tuy nhiên, về mặt thực tiễn, chúng ta thấy nguồn của Hội thẩm nhân dân chủ yếu là các công, viên chức nhà nước thuộc nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau do Mặt trận tổ quốc giới thiệu  chứ không phải là những người dân thường không nằm trong biên chế của các cơ quan nhà nước. Do đó, có thể thấy rằng đó không phải là quy định nhằm bảo đảm tính “nhân dân” trong Hội đồng xét xử.

Về chuyên môn, nghiệp vụ có thể thấy rằng: việc quy định các Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán khi xét xử, rõ ràng Hội thẩm có đủ thẩm quyền quyết định mọi vấn đề trong quá trình xét xử, nghĩa là họ có quyền phán quyết kể cả những vấn đề hóc búa như định tội danh trong vụ án hình sự. Tuy nhiên, chỉ với tiêu chuẩn của Hội thẩm là: Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có kiến thức pháp lý, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, kiên quyết đấu tranh bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao thì có thể được bầu hoặc cử làm Hội thẩm, thì khi gặp những bị cáo là những người có trình độ pháp luật, bị cáo có người giám hộ, người đại diện là các chuyên gia pháp luật, là một hay nhiều luật sư chuyên nghiệp trợ giúp thì chắc chắn với các tiêu chuẩn về Hội thẩm như trên sẽ không đủ năng lực và trình độ pháp lý để đấu lại họ và không thể phán xử được. Ở phương diện này, chắc chắn các nhà làm luật cũng đã biết được điều này. Và nếu họ thấy bất cập chắc hẳn phải đặt ra vấn đề sử dụng toàn bộ thành viên Hội đồng xét xử phải là các Thẩm phán chuyên nghiệp chứ sẽ không quy định việc tham gia của Hội thẩm vào thành phần của Hội đồng xét xử.

Continue reading

GIẢI QUYÊT TRƯỜNG HỢP THAY ĐỔI ĐỊA VỊ TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM

TS. LÊ THU HÀ – Học viện Tư pháp

1. Quy định của pháp luật

Một trong những quy định mới của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) là vấn đề thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự tại phiên tòa sơ thẩm. Điều 219 quy định:

“1. Trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình, thì bị đơn trở thành nguyên đơn và nguyên đơn trở thành bị đơn.

2. Trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của mình thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người có nghĩa vụ đối với yêu cầu độc lập trở thành bị đơn”.

1.1. Nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố

Theo Khoản 1 Điều 175 BLTTDS, trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, người được thông báo phải nộp cho tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu có… Cùng với việc đó, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn (Khoản 1 Điều 176). Thủ tục yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập được thực hiện theo quy định của Bộ luật này về thủ tục khởi kiện của nguyên đơn.

Như vậy, việc phản tố của bị đơn phải được tiến hành theo các quy định về thủ tục từ trước khi mở phiên tòa. Và Khoản 1, Điều 219 BLTTDS được hiểu đúng là áp dụng cho trường hợp bị đơn đã có yêu cầu phản tố và đã thực hiện xong những quy định về quyền phản tố từ trước khi mở phiên tòa theo quy định của pháp luật. Điều này có nghĩa, Khoản 1 Điều 219 không áp dụng cho trường hợp tại phiên tòa mà có yêu cầu phản tố của bị đơn.

Continue reading

GIẢM TÍNH HÌNH THỨC TRONG VIỆC THAM GIA XÉT XỬ CỦA HỘI THẨM NHÂN DÂN

PHẠM THÁI

Trong thời gian qua, Báo ĐBND đăng một số bài trao đổi về việc quản lý và nâng cao chất lượng xét xử của Hội thẩm nhân dân (HTND). Xét thấy, cần phải có sự đánh giá toàn diện, nhiều chiều về thực tiễn tham gia hoạt động xét xử của HTND, nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật cũng như việc thực thi vai trò, trọng trách của HTND, tôi thấy cần trao đổi để cung cấp thêm thông tin và quan điểm của mình về vấn đề này.

Việc xét xử của Tòa án có HTND tham gia đã được Hiến pháp và pháp luật quy định, đó là một trong những nguyên tắc thể hiện rõ tư tưởng “Nhà nước của dân, do dân và vì dân” và chế độ dân chủ XHCN. Ghi nhận vai trò của HTND trong công tác xét xử của Ngành Tòa án trong những năm qua. Tuy nhiên, cũng cần thẳng thắn nhìn nhận rằng một số nơi, việc tham gia xét xử của HTND vẫn mang nặng tính hình thức. Thực tế nhiều HTND chưa phát huy được hết vai trò, trách nhiệm mà pháp luật quy định, cũng như sự kỳ vọng của nhân dân.

Mục đích của chế định xét xử có HTND tham gia không đơn thuần là cùng Thẩm phán xét xử cho xong vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng. Quan trọng hơn, pháp luật giao trọng trách cho HTND thay mặt nhân dân tham gia xét xử, giám sát, chế ước, hạn chế tiêu cực trong hoạt động của Tòa án, bảo vệ công lý, bảo vệ pháp chế XHCN. Thực tế thời gian qua cho thấy, chất lượng xét xử các loại án chưa cao, tình trạng tiêu cực của một số cán bộ Tòa án đã bị phát hiện ảnh hưởng uy tín của Ngành Tòa án. Để xảy ra tình trạng đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân mang tính nội tại của Ngành Tòa án, có một phần trách nhiệm của các HTND. Do kiến thức pháp luật và bản lĩnh còn hạn chế nên hầu hết các HTND chưa thực hiện tốt nguyên tắc “Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán” và nguyên tắc “độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Việc HTND chưa phát huy hết được vai trò, trách nhiệm có lẽ xuất phát từ cả quy định của pháp luật và việc thực thi.

Continue reading

HỘI THẨM NHÂN DÂN PHẢI TƯƠNG TẦM VỚI TRỌNG TRÁCH ĐƯỢC GIAO

CAO XUÂN THU VÂN

Đọc bài “Ai quản lý, điều hành Hội thẩm nhân dân?” của tác giả Phạm Dân, đăng trên báo ĐBND ngày 6.12.2009 và một số bài viết trước đó về chủ đề Hội thẩm nhân dân (HTND), tôi rất đồng cảm với những băn khoăn của các tác giả. Tuy nhiên, đối chiếu với quy định của pháp luật và thực tế hoạt động ở địa phương, tôi thấy cần trao đổi thêm một số vấn đề sau.

Theo quy định của Pháp lệnh Thẩm phán và HTND năm 2002 thì Chánh án Tòa án nơi HTND được bầu là người quản lý và điều hành HTND: HTND làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chánh án và Chánh án có trách nhiệm quản lý HTND theo quy chế về tổ chức và hoạt động của HTND. Rõ ràng HTND do HĐND bầu chọn trên cơ sở giới thiệu của UBMTTQ cùng cấp, nhưng việc quản lý, điều hành HTND là thuộc trách nhiệm của Chánh án Tòa án nơi Hội thẩm được bầu. Vì vậy, bảo đảm chất lượng cũng như thành phần của HTND là trách nhiệm của nhiều cơ quan, người có thẩm quyền và cá nhân từng vị Hội thẩm. Thực tiễn hoạt động ở địa phương cho thấy, ngay từ khâu chọn lựa, giới thiệu nhân sự, UBMTTQ tỉnh và huyện, thị xã đã kết hợåp chặt chẽ với Chánh án Tòa án nhân dân cùng cấp và Thủ trưởng đơn vị (nơi có ứng củ viên được chọn giới thiệu) để lựa chọn, giới thiệu bầu HTND đúng tiêu chuẩn, thành phần, có thể tham gia tốt hoạt động xét xử của Tòa án. Và, việc bầu HTND phải có số dư để đại biểu HĐND chọn lựa.

Như vậy, ngay từ khi lựa chọn ứng cử viên, vai trò của Chánh án và Thủ trưởng đơn vị- nơi có ứng cử viên tham gia HTND đã thể hiện rất rõ, tránh được tình trạng UBMTTQ giới thiệu người tham gia HTND không đủ khả năng hoặc không có thời gian thực hiện nhiệm vụ của của HTND theo quy định. Phương châm của địa phương là không nhất thiết giới thiệu người có chức vụ của các cơ quan, ngành, lĩnh vực tham gia, mà quan trọng là lựa chọn người có khả năng và kiến thức pháp luật (Cử nhân hoặc Trung cấp, nhất là chuyên ngành Luật), có quỹ thời gian dành cho hoạt động Hội thẩm. Khi được HĐND bầu chọn thì nhiệm vụ của Chánh án Tòa án nơi Hội thẩm được bầu phải chủ động thực hiện đầy đủ các chính sách đối với HTND (trang bị trang phục, công khai các quyền, nghĩa vụ, chế độ…) Chánh án không chỉ giao nhiệm vụ cho HTND trong hoạt động xét xử mà còn có trách nhiệm tổ chức các hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ, kiến thức pháp lý, kỹ năng xét xử; xét thi đua đề nghị cơ quan có thẩm quyền hoặc chính mình khen thưởng đối với HTND trong thực hiện nhiệm vụ xét xử; đề nghị HĐND miễm nhiệm, bãi nhiệm HTND theo quy định của pháp luật. Như vậy, trách nhiệm quản lý, điều hành HTND đã rõ. Tác giả  bài báo đề xuất lịch xét xử của Tòa án gửi cho Thường trực HĐND và Thường trực HĐND phân công HTND tham gia xét xử, theo dõi đánh giá hoạt động của HĐND… là thiếu cơ sở pháp lý và chưa phù hợp với thực tế hoạt động của HTND. Bởi, Thường trực HĐND không có quyền hạn và trách nhiệm này; hoạt động của HTND gắn liền với hoạt động xét xử và người có trách nhiệm đánh giá hiệu quả hoạt động của Hội thẩm là Chánh án- thông qua việc xem xét tiêu chí, xem xét chất lượng của các bản án, quyết định mà Hội thẩm tham gia xét xử, giải quyết”.

Continue reading

AI QUẢN LÝ, ĐIỀU HÀNH HỘI THẨM NHÂN DÂN?

PHẠM DÂN

Hội thẩm Nhân dân (HTND) được tham gia quá trình tố tụng, tuy nhiên hoạt động còn rất hình thức. Mặt khác, do chưa có cơ chế quản lý, điều hành nên sự phân công nhiệm vụ cho HTND chưa được chú trọng. Chính những bất cập này đã làm giảm chất lượng xét xử và gây bị động, lúng túng cho các cấp Tòa án.

Ở địa phương, theo giới thiệu của MTTQVN, mỗi nhiệm kỳ, HĐND huyện đều tiến hành bầu 18-20 HTND để tham gia xét xử với Tòa án nhân theo quy định của pháp luật. Số HTND được bầu hầu hết là những cán bộ đương chức đang công tác tại các cơ quan nhà nước, ở các tổ chức chính trị-xã hội như: Liên đoàn Lao động, Hội LHPN, Hội Chữ thập đỏ…; một số là giáo viên, cán bộ Đoàn để bảo đảm cơ cấu khi trong hội đồng xét xử có bị cáo là người chưa thành niên. Điều đáng quan tâm là, trong nhiều nhiệm kỳ của HĐND, đa số HTND là cán bộ đương chức ít tham gia xét xử. Cá biệt, có những HTND trong suốt một nhiệm kỳ 5 năm không tham gia (hoặc không được tham gia) xét xử vụ án nào. Lý do, HTND đương chức bận công tác, hoặc HTND không có kiến thức về chuyên môn nên tự ti, mặc cảm từ  chối lời mời của Toà án. Thực tế, mỗi nhiệm kỳ thường thấy có ít nhất “một cặp” HTND là cán bộ hưu trí khá tích cực với việc tham gia xét xử. Không dưới 2/3 số bản án đã được xét xử trong một nhiệm kỳ do các HTND là cán bộ hưu trí tham gia. Trung bình mỗi tháng, lịch xét xử được bố trí từ giữa tháng đến cuối tháng, từ hình sự đến dân sự, hành chính, kinh tế, lao động. Nếu vì một lý do nào đó các vị HTND này không thể tham gia xét xử được thì các thẩm phán rơi vào thế bị động. Để xử lý tình huống này, Thư ký Tòa án thường gọi điện “tìm”và khó khăn lắm mới có thể mời được một HTND còn đương chức tham gia. Nhiều trường hợp, trước lúc mở phiên tòa, tất cả những người tham gia tố tụng đều đã có mặt thì HTND vì những lý do đột xuất không tham dự được, Tòa án lại phải gọi điện nhờ HTND khác “chữa cháy”. Tất nhiên, không có thời gian để nghiên cứu hồ sơ nên trước khi khai mạc phiên tòa, các vị HTND được Thẩm phán (chủ tọa phiên tòa) nêu“đại khái” một số tình tiết, nội dung giúp HTND nắm sơ bộ để có thể yên tâm ngồi vào vị trí xét xử cho đủ thành phần theo luật định. Những trường hợp này, phiên tòa khai mạc rất muộn và thường kéo dài. Nếu không có vị HTND nào tham gia thì đương nhiên phiên tòa bị hoãn lại, gây phiền toái cho người dân, ảnh hưởng đến sự tôn nghiêm của pháp đình. Quá trình tố tụng, do hạn chế về kiến thức pháp luật và không nắm rõ tình tiết vụ án nên có những HTND thẩm vấn nhiều câu hỏi không có trọng tâm, gây cười cho những người tham dự phiên Tòa.

Continue reading

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 638 other followers

%d bloggers like this: