CÔNG NHẬN VÀ BẢO HỘ QUYỀN DÂN SỰ: KHỔ VÌ MUA NHÀ CỦA NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁN

PHAP LUATTP.VN

Nhiều chuyên gia đã cho rằng cơ quan chức năng cần phải có hướng dẫn khác để bảo vệ được quyền lợi chính đáng của người mua tài sản ngay tình.

Số trước chúng tôi đã phản ánh thực tế xảy ra nhiều trường hợp mua nhà đất, sang tên đổi chủ rồi thì người mua lại gặp rắc rối, nhà đất bị kê biên vì chủ cũ đang có nghĩa vụ thi hành án. Nguyên nhân là các cơ quan thi hành án áp dụng hướng dẫn trong Thông tư liên tịch 12/2001 của Bộ Tư pháp – VKSND Tối cao…

  • Tháng 8-2009, anh Nguyễn Chiến Thắng mua của anh H. một căn nhà ba tầng ở TP Bắc Ninh. Căn nhà đang được thế chấp tại một ngân hàng. Anh Thắng đã cùng anh H. đến ngân hàng thanh toán nợ, được ngân hàng thanh lý hợp đồng, trả giấy tờ nhà đất. Sau đó, anh Thắng mang giấy tờ đến văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất để xin xóa thế chấp và đã được xác nhận. Cùng ngày, hai bên ra phường làm thủ tục mua bán và được phường xác nhận… Gần một năm sau, Chi cục Thi hành án TP Bắc Ninh đã ra quyết định kê biên căn nhà của anh Thắng với lý do để bảo đảm việc thi hành án của anh H., chủ cũ.
  • Tháng 7-2008, bà Phạm Thị Hải Hường ngụ quận 10 (TP.HCM) làm đầy đủ thủ tục mua căn nhà của bà C. tại TP Vũng Tàu và đã được cấp chủ quyền. Gần một năm sau, bà Hường nhận được thông báo của Chi cục Thi hành án dân sự TP Vũng Tàu là sẽ kê biên căn nhà để đảm bảo thi hành án. Khiếu nại, bà Hường biết bà C. là người phải thi hành án trong một bản án. Bà Hường khiếu nại tiếp thì được Tổng cục Thi hành án dân sự (Bộ Tư pháp) trả lời là Chi cục Thi hành án TP Vũng Tàu đã làm đúng quy định. Theo đó, Thông tư liên tịch 12 hướng dẫn đối với các trường hợp sau khi có bản án, quyết định của tòa, người phải thi hành án chuyển nhượng các tài sản thuộc quyền sở hữu của mình thì chấp hành viên có quyền kê biên tài sản và có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ giao dịch đó. Người được thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hoặc khởi kiện yêu cầu tòa hủy bỏ giao dịch…
  • Tháng 1-2007, bà Đào Thị Kim Chi mua một căn nhà của bà Nh. ở quận Gò Vấp (TP.HCM). Việc mua bán được làm hợp đồng, có công chứng. Sau đó, bà Chi đã thực hiện hết nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất và đóng lệ phí trước bạ. Vì căn nhà mới chỉ có giấy trắng nên bà đến UBND quận Gò Vấp nộp đơn đề nghị cấp giấy hồng. Một thời gian sau, bà tá hỏa khi được UBND quận cho biết căn nhà đã bị cơ quan thi hành án quận ngăn chặn chuyển nhượng, mua bán từ 10 năm trước. Tìm hiểu, bà Chi mới biết căn nhà trước đây thuộc quyền sở hữu của anh trai bà Nh. (đã mất), vốn là người phải thi hành án trong một vụ án khác. Không hiểu sao văn bản ngăn chặn của cơ quan thi hành án lại không được phòng công chứng biết nên vẫn cho bà mua nhà của bà Nh.

Rất thiệt thòi cho người mua!

Trong công việc, chúng tôi từng gặp một số trường hợp tương tự như vụ mà Pháp Luật TP.HCM phản ánh nhưng chúng tôi không có cách xử lý khác. Về cá nhân, tôi thấy tình trạng này rõ ràng đã gây nhiều thiệt thòi cho những người mua tài sản ngay tình vì tài sản của họ được pháp luật bảo hộ. Thông tư liên tịch 12 cho họ quyền khởi kiện người bán tài sản để yêu cầu hủy bỏ giao dịch nhưng làm vậy lại càng phát sinh những mối quan hệ rắc rối thêm cho các cơ quan tố tụng.

Continue reading

AI BẢO VỆ QUYỀN LỢI CHO NGƯỜI NHẬN CHUYỂN NHƯỢNG TÀI SẢN HỢP PHÁP KHI TÀI SẢN NÀY BỊ KÊ BIÊN XỬ LÝ THI HÀNH NGHĨA VỤ THI HÀNH ÁN CỦA NGƯỜI CHUYỂN NHƯỢNG

CHÂU VŨ – Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Ngày 26/7/2010, Bộ Tư pháp, Toà án nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao ban hành Thông tư liên tịch số 14/2001/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC (gọi tắt là Thông tư) về việc hướng dẫn một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự, Thông tư sẽ có hiệu lực kể từ ngày 15/9/2010. Tại Điều 6 của Thông tư có quy đinh như sau:

“…Kể từ thời điểm có bản án, quyết định sơ thẩm mà người phải thi hành án bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, cầm cố tài sản của mình cho người khác, không thừa nhận tài sản là của mình mà không sử dụng khoản tiền thu được để thi hành án thì tài sản đó vẫn bị kê biên để thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Nếu có tranh chấp thì Chấp hành viên hướng dẫn đương sự thực hiện việc khởi kiện tại Toà án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo mà không có người khởi kiện thì cơ quan thi hành án xử lý tài sản để thi hành án…”(Điều 6 của Thông tư liên tich).

Xét thấy việc Thông tư quy định như trên là không bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba (người nhận chuyển nhượng tài sản), bởi người nhận chuyển nhượng tài sản là người ngay tình, họ không hề biết người chuyển nhượng tài sản cho họ là đối tượng phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án. Hai bên tiến hành thủ tục chuyển nhượng tài sản một cách hợp pháp, tuân thủ các quy định của pháp luật về chuyển nhượng tài sản và không bị bất kỳ một cơ quan có thẩm quyền (như Toà án, cơ quan Thi hành án, cơ quan quản lý tài sản có đăng ký quyền sở hữu ở địa phương…) ngăn chặn nên việc chuyển nhượng đã hoàn thành, người nhận chuyển nhượng đã hoàn tất các thủ tục để thực hiện quyền sở hữu tài sản của mình theo quy định của pháp luật Dân sự nên tài sản này là tài sản hợp pháp của họ được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Kể từ thời điểm có bản án, quyết định sơ thẩm, tài sản của người phải thi hành án không bị bất kỳ cơ quan có thẩm quyền ngăn chặn tức là vẫn cho phép tài sản được giao dịch và không bị hạn chế phạm vi giao dịch. Pháp luật Dân sự không buộc người thứ 3 phải biết đó là tài sản cần để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thi hành án của người chuyển nhượng tài sản cho mình. Người thứ 3 thiết lập giao dịch nhận chuyển nhượng tài sản một cách hợp pháp, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật và không bị các cơ quan chức năng nghiêm cấm thì không thể kê biên tài sản đó để thực hiện nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành án là người chuyển nhượng tài sản.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KÊ BIÊN PHẦN VỐN GÓP THEO ĐIỀU 92 LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2008

HỒ QUÂN CHÍNH – Chi cục thi hành án dân sự quận Thủ Đức

1. Sự hình thành phần vốn góp:

Theo giải thích tại khoản 4 Điều 4 luật doanh nghiệp năm 2005 (gọi tắt là LDN) thì “Góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty. Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty”. Như vậy, tài sản để tham gia vào việc góp vốn là rất đa dạng. Tuy nhiên, để tài sản góp vốn trở thành phần vốn góp, thì những tài sản trên phải được định giá. Cụ thể, tại khoản 1 Điều 30 LDN quy định “Tài sản góp vốn không phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng phải được các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá”. Từ những quy định trên cho thấy có sự phân biệt rõ ràng giữa phần vốn góptài sản góp vốn.

Tại khoản 5 Điều 4 LDN giải thích về phần vốn góp như sau: “Phần vốn góp là tỷ lệ vốn mà chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu chung của công ty góp vào vốn điều lệ”. Theo các quy định của pháp luật, chủ sở hữu phần vốn góp (người góp vốn) có các quyền sau:

- Quyền tài chính: được phân chia lợi nhuận của doanh nghiệp tương ứng với tỷ lệ giá trị phần vốn góp; gánh chịu phần lỗ tương ứng với tỷ lệ giá trị phần vốn góp nếu doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, khi đang hoạt động cũng như khi doanh nghiệp kết thúc hoạt động; nhận phần tài sản còn lại tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp sau khi đã thanh toán hết các nghĩa vụ của doanh nghiệp khi doanh nghiệp bị giải thể, phá sản.

- Quyền phi tài chính như quyền biểu quyết, quyền thông tin.

Ngoài ra, phần vốn góp với tư cách là một tài sản có giá trị tiền tệ nên chủ sở hữu được tự do chuyển giao trong giao dịch dân sự. Tuy nhiên, việc chuyển giao này bị hạn chế bởi một số quy định theo LDN nhằm bảo đảm sự hoạt động lành mạnh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế.

Continue reading

VƯỚNG MẮC TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

HẢI TOÀN

Theo báo cáo của Bộ Tư pháp, hiện nay, số vụ việc thi hành án dân sự tồn đọng hiện nay là 298.622 việc với hơn 21.000 tỷ đồng, trong đó có điều kiện thi hành 124.835 việc, chưa có điều kiện thi hành 173.787 việc.

Thống kê cho thấy, số lượng việc hoãn thi hành chiếm một số lượng lớn (82.300 việc) trong đó hoãn do người phải thi hành án ốm nặng, hoặc chưa xác định được nơi cư trú hoặc vì lý do chính đáng khác không thể hiện thực hiện được nghĩa vụ là 24.754 việc; hoãn do người được thi hành án đồng ý cho người phải thi hành án hoãn việc thi hành là 3.191 việc… Bên cạnh đó còn có các nguyên nhân như tạm đình chỉ thi hành án; tòa án tuyên không rõ, khó thi hành; tạm ngưng thi hành án để giải quyết khiếu nại… Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án Dân sự, Bộ Tư pháp Nguyễn Văn Luyện cho rằng, nguyên nhân chủ quan dẫn đến việc tồn đọng là việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ thi hành án dân sự ở nhiều địa phương đối với nhiều vụ việc còn chưa tốt, đặc biệt là những vụ việc có điều kiện thi hành nhưng chưa được tổ chức thi hành hoặc tổ chức thi hành nhưng chưa có kết quả.

Ngoài những nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan cũng đóng một vai trò không nhỏ dẫn đến số lượng án tồn đọng hàng năm. Vì rằng, khác với nhiều lĩnh vực, thi hành án dân sự liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực, ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của nhiều đối tượng, trong đó phải kể đến ý thức chấp hành pháp luật của người phải thi hành án còn thấp, nhiều trường hợp người phải thi hành án chây ý, chống đối, cản trở việc thi hành án. Đặc biệt việc Tòa án tuyên không rõ, có sai sót, không có tính khả thi, cơ quan thi hành án đã đề nghị giải thích, đính chính hay xem xét lại bản án theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm nhưng chậm được đáp ứng dẫn tới bản án, quyết định bị chậm thi hành hoặc không thể thi hành được. Ngoài ra, sự phối hợp giữa Tòa án và Cơ quan thi hành án trong việc chuyển giao bản án, quyết định hoặc các tài liệu có liên quan đến sử lý tang vật, tài sản chưa chặt chẽ, kịp thời nên có đến 76.476 việc chưa tổ chức thi hành được.

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ: NGHI TẨU TÁN TÀI SẢN NHƯNG KHÓ XỬ LÝ

NGUYỄN TIẾN HIỂU

Đương sự đã chuyển giao tài sản cho người thứ ba một cách… hợp pháp. Người được thi hành án chỉ biết khóc ròng vì bên phải thi hành án không còn tài sản.

Hiện nay, có một số bản án của tòa chưa kịp thi hành thì người phải thi hành án lại tiếp tục có những khoản nợ lớn khác. Hai bên lại ra tòa, thỏa thuận sẽ cấn tài sản để trả nợ… Người được thi hành án ở bản án trước nghi ngờ có sự giả tạo để tẩu tán tài sản nhưng cũng không làm gì được.

Vay người này, nhận nợ người khác

Tháng 5-2007, vợ chồng bà T. (Buôn Ma Thuột, Dăk Lăk) vay của ngân hàng 750 triệu đồng. Đến thời kỳ trả nợ nhưng không có tiền, bà T. đã phải vay của bà H. hơn 800 triệu đồng với lãi suất hơn 4 triệu đồng/ngày. Theo thỏa thuận, bà T. sẽ vay lại ngân hàng để trả lại tiền cho bà H. sau khi đã thanh toán khoản vay trước.

Sau một thời gian dài, bà T. vẫn không trả nợ. Biết vợ chồng bà T. có tài sản (nhà đất và xe ôtô) nên bà H. khởi kiện ra tòa. Nhưng cũng lúc này bà H. hay tin bà T. đã nợ một người khác gần 2 tỉ đồng rồi giao tài sản trên để cấn nợ. Giao dịch này cũng đã được tòa công nhận trong một quyết định hòa giải thành.

Thành thử khoản nợ mà bà H. cho bà T. vay đã trở nên khó đòi vì bà T. không còn có tài sản nào đáng giá.

Tương tự, bà M. ở quận 2 (TP.HCM) cũng khóc ròng vì chủ nợ thay vì bán nhà trả nợ cho mình lại đưa nhà đi cấn nợ cho người khác khiến bà không thể đòi được nợ.

Trước đó, TAND quận này đã tuyên buộc bà L. phải trả cho bà M. trên 700 triệu đồng. Hai bên đang làm thủ tục thi hành án thì bà L. đã viết giấy mượn nợ của một người thân rồi cấn căn nhà của mình cho chủ nợ sau. Bà M. chưa kịp làm thủ tục yêu cầu phong tỏa tài sản nên đành phải làm người… đến sau. Nhiều lần bà khiếu nại cho rằng đây là một vụ giả nhận nợ để tẩu tán tài sản nhưng không được chấp nhận vì không có chứng cứ.

Ly hôn rồi nhường hết tài sản

Tháng 4-2006, ông S. (tỉnh Kiên Giang) bán cho bà T. bảy lô đất nông nghiệp với giá hơn 300 triệu đồng. Hai bên đã làm hợp đồng mua bán, giao nhận tiền đầy đủ. Tuy nhiên, sau đó việc mua bán không thành nên đã kéo nhau ra tòa.

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ: THIẾU HƯỚNG DẪN, THI HÀNH ÁN LÚNG TÚNG

NGUYỄN TIẾN HIỂU

Tòa không chịu thụ lý việc xác định tài sản chung, riêng dù luật thi hành án có quy định.

Theo Luật Thi hành án dân sự (LTHADS), trong việc cưỡng chế liên quan tài sản chung, nếu chủ sở hữu chung không khởi kiện xác định phần sở hữu của họ thì người được thi hành án (THA) hoặc chấp hành viên có quyền yêu cầu tòa án xác định phần sở hữu của người phải THA trong khối tài sản chung để đảm bảo THA.

Được quyền kiện nhưng tòa không thụ lý

Mặc dù quy định đã rõ ràng như vậy nhưng cuối cùng THA cũng vướng khi phía tòa không chịu thụ lý việc xác định đâu là tài sản riêng trong khối tài sản chung của các đương sự.

Cụ thể như vụ của ông Nguyễn Văn H. ở quận Bình Thạnh (TP.HCM). Năm 2007, ông yêu cầu ông T. phải thi hành bản án trả nợ. Sau đó, ông phát hiện ông T. có một căn nhà ở quận 10 nên yêu cầu THA cưỡng chế, phát mại. Trớ trêu thay căn nhà trên là tài sản chung của ông T. với người chị. Cơ quan THA đã mời các bên liên quan đến để thỏa thuận phân chia tài sản nhưng chị ông T. không đến. Hai chủ sở hữu chung này cũng không thèm khởi kiện ra tòa để xác định phần tài sản riêng của mình.

Thấy bên kia không hợp tác, căn theo LTHADS, ông H. đã khởi kiện ra tòa yêu cầu xác định phần nhà riêng của ông T. Tuy nhiên, tòa án đã trả lại đơn vì cho rằng không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa.

Tòa lý giải, theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó. Ông H. hay cơ quan THA khởi kiện là không được vì không phải đương sự trong vụ án mà chỉ là… người ngoài.

Trước tình hình đó, cơ quan THA đành phải xếp hồ sơ, báo cáo khó khăn, chờ hướng dẫn.

Continue reading

NHỮNG BẤT CẬP TRONG THỰC THI LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

DƯƠNG VĂN THỊNH – Viện KSND huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

Sau 1 năm đi vào cuộc sống Luật thi hành án dân sự năm 2009 (Luật THADS năm 2009) đã góp phần không nhỏ trong công tác thi hành án dân sự. Tuy nhiên, từ thực tiễn của công tác này đã nảy sinh những bất cập cần có văn bản hướng dẫn cụ thể.

Kéo dài thời gian, chậm thi hành vì thiếu hướng dẫn

Điều 38 Luật THADS năm 2009 quy định: các quyết định về thi hành án phải được gửi cho Viện kiểm sát (VKS) cùng cấp để thực hiện việc kiểm sát. Tuy nhiên, điều luật lại không quy định rõ trong thời hạn bao nhiêu ngày, kể từ khi ra các quyết định về thi hành án thì cơ quan thi hành án (Cục; Chi cục Thi hành án) phải gửi các quyết định đó cho VKS. Do vậy, có trường hợp sau một thời gian dài kể từ khi ra quyết định (hoặc đến khi giao được quyết định cho đương sự) thì cơ quan thi hành án mới gửi quyết định cho VKS để thụ lý và kiểm sát việc thi hành. Từ đó dẫn tới việc cập nhật của VKS không kịp thời, số liệu thống kê giữa các ngành không được chính xác (ví dụ ra quyết định tháng 10 nhưng đến tháng 12 mới gửi cho VKS do đó VKS phải báo cáo vào số liệu tháng 12 – thuộc năm thống kê khác). Hơn nữa, việc không quy định rõ thời gian gửi các quyết định dẫn đến tình trạng VKS cũng không có căn cứ để kiến nghị hoặc kháng nghị các quyết định về thi hành án của cơ quan thi hành án.

Ngoài ra, tại các Điều 30, 31 Luật THADS năm 2009, quy định về việc thi hành án theo đơn của người được thi hành án (hoặc người phải thi hành án) thì phải làm đơn yêu cầu cơ quan có thẩm quyền ra quyết định thi hành, đồng thời phải cung cấp thông tin về tài sản của người phải thi hành án cho cơ quan thi hành án. Tuy nhiên, do hiện nay chưa có mẫu đơn áp dụng thống nhất, nên mỗi nơi có một loại mẫu đơn khác nhau, hoặc người có yêu cầu tự viết tay và nộp cho cơ quan thi hành án. Trong cả 2 trường hợp này, việc hướng dẫn người được thi hành án viết đơn mất rất nhiều thời gian do điền không đúng, không đủ thông tin cần thiết hoặc không đạt yêu cầu về pháp lý. Do đó người được thi hành án phải làm đi làm lại nhiều lần, gây phiền hà, bức xúc dẫn đến khiếu kiện và hậu quả tất yếu là vụ việc chậm được xử lý, tồn đọng.

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ: KHÓ ĐẢM BẢO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA NGƯỜI THẮNG KIỆN

PHẠM DÂN

Những năm gần đây, tình trạng tranh chấp đất trong nội bộ nhân dân gia tăng. Ở một địa phương, theo thống kê chưa đầy đủ, trong tổng số vụ hòa giải không thành, các bên đương sự phải khởi kiện ra tòa án vì tranh chấp đất đai chiếm hơn 50% tổng số vụ tranh chấp dân sự. Điều đáng quan tâm là những vụ tranh chấp này thường diễn ra khá gay gắt từ phiên sơ thẩm, kháng cáo rồi đến phúc thẩm; án đã có hiệu lực pháp luật nhưng người bị tòa án bác yêu cầu vẫn không chịu thi hành, tiếp tục gửi đơn đề nghị xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm; hoặc quay trở lại khởi kiện theo thủ tục hành chính, làm cho tình hình trở nên phức tạp.

Khi giải quyết tranh chấp, tòa án chấp nhận yêu cầu đồng nghĩa với việc ghi nhận tính pháp lý về quyền sử dụng đất cho người thắng kiện và ngược lại. Thế nhưng, khi đất đã được giao, người thắng kiện không dễ gì thực hiện được các quyền của người sử dụng đất. Cụ thể là, khi tiến hành sửa chữa nhà cửa hoặc xây dựng công trình cơ bản thường gặp phải sự chống đối quyết liệt của người vừa thua kiện. Mặc dù vụ việc đã được tòa án xét xử bằng một bản án có hiệu lực pháp luật, nhưng khi bên thua kiện có hành vi cản trở thì người thắng kiện phải khởi kiện một vụ án dân sự khác, với nội dung “yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật”. Tất nhiên, việc điều tra, xét xử vụ kiện này cũng dựa trên kết quả bản án, quyết định mà Tòa án đã xét xử trước đó, buộc đối tượng phải chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất. Những bản án này thường mang hình thức: điều tra, xét xử để đưa ra một bản án, nhưng thực chất chỉ để khẳng định lại một lần nữa tính hợp pháp của người có quyền sử dụng thửa đất đó. Bản án xét xử tranh chấp quyền sử dụng đất bác yêu cầu của bên nào thì bản án sau cũng sẽ buộc bên đó “chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất”.

Tổ chức thi hành, cưỡng chế buộc “chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất” thực chất là áp dụng điều 119 luật Thi hành án dân sự về “cưỡng chế thi hành nghĩa vụ không được thực hiện công việc nhất định”. Tuy nhiên, gặp phải các trường hợp này, cơ quan thi hành án rất lúng túng, không biết tổ chức thi hành theo phương thức nào. Bản án tuyên “buộc chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất”, nhưng khi nào buộc và buộc một người khi nào phải chấm dứthành vi cản trở? Những thuật ngữ pháp lý này khó xác định nội hàm, do đó đã làm nảy sinh một số vướng mắc, dễ bị lạm dụng hoặc thực hiện một cách tùy tiện.

Continue reading

MỘT DẠNG VI PHẠM PHỔ BIẾN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

PHẠM DÂN

Theo quy định tại Điều 4 và 5 Luật Thi hành án dân sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong phạm vi trách nhiệm của mình phải chấp hành nghiêm chỉnh các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; trong quá trình tổ chức thi hành án, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được tôn trọng và pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên trong thực tế, các quy định này không phải lúc nào cũng được thực hiện nghiêm túc.

Khi thụ lý, giải quyết các đơn khởi kiện tranh chấp về quan hệ vay mượn, mua bán, tặng cho tài sản (tiền, vàng hoặc lợi ích vật chất khác), Tòa án thường phải tiến hành hòa giải rất nhiều lần, chủ yếu thuyết phục, động viên các bên thống nhất với nhau về cách thức, phương pháp và thời gian trả nợ nhằm giảm bớt sự hao tốn về thời gian và công sức. Trong các buổi hòa giải, nguyên đơn bao giờ cũng đưa ra yêu cầu trả nhanh và phải trả một lần; ngược lại bị đơn thường cố “kèo nài” được trả chậm, trả nhiều lần, làm cho không khí hòa giải diễn ra căng thẳng. Tuy nhiên, nếu các bên đều thể hiện thiện chí của mình thì cách thức, phương pháp trả nợ cũng có thể được thống nhất một cách nhanh chóng. Việc thỏa thuận này được pháp luật tôn trọng, dựa trên nguyên tắc “tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận” theo quy định của Bộ luật Dân sự và không trái với đạo đức xã hội. Tuy nhiên, thỏa thuận trả như thế nào, bao nhiêu lần, mỗi lần bao nhiêu… thì Tòa án phải ban hành quyết định (có giá trị như một bản án), trên cơ sở nội dung các bên đã thống nhất trong biên bản hòa giải. Khi yêu cầu của mỗi bên không được đáp ứng thì Tòa án mới quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Bản án Tòa tuyên trong trường hợp này với tinh thần buộc bị đơn phải trả nợ một lần; các quyết định công nhận có ghi rõ thời gian, số tiền phải trả kèm theo các điều kiện khác theo thoả thuận. Luật Dân sự còn quy định, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì ngoài việc có nghĩa vụ trả nợ gốc còn phải chịu lãi suất ngân hàng theo từng thời điểm, tương ứng với thời gian chậm thanh toán.

Continue reading

CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ CÓ ĐƯỢC TRAO ĐỔI VẬT CHỨNG VỤ ÁN HAY KHÔNG?

L.T.N

Nội dung vụ việc như sau: Tại Bản án số 45/2007/HSST ngày 28/11/2007 của TAND huyện Phổ Yên tỉnh T.Ng xét xử đối với Trần Anh Minh về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 202, Bộ luật hình sự (BLHS) đã tuyên xử như sau:

“… Tuyên phạt bị cáo Trần Anh Minh 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng kể từ ngày tuyên án.

Về hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 5 Điều 202, BLHS cấm bị cáo lái xe ô tô trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.

Về vật chứng: áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) tạm giữ giấy phép lái xe (GPLX) ô tô hạng B2 số Z641341 do Sở Giao thông vận tải thành phố Hà Nội cấp ngày 26/6/2006 mang tên Trần Anh Minh (theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Công an và Cơ quan thi hành án dân sự (CQTHADS) huyện Phổ Yên ngày 19/10/2007)…”.

Bản án không có kháng cáo, kháng nghị và ngày 28/12/2007, Bản án có hiệu lực pháp luật thi hành.

Hồ sơ thi hành án tại CQTHADS huyện Phổ Yên thể hiện như sau: tại biên bản giao nhận vật chứng vụ án giữa Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) và CQTHADS huyện Phổ Yên ngày 19/10/2007 thể hiện việc VKSND đã chuyển đầy đủ vật chứng vụ án, trong đó có GPLX ô tô hạng B2 số Z641341 mang tên Trần Anh Minh cho CQTHADS bảo quản theo đúng quy định.

Tuy nhiên, khi kiểm tra vật chứng vụ án trên tại Kho vật chứng của CQTHADS thì không có GPLX ô tô số Z641341. Qua tìm hiểu, được biết vì GPLX ô tô số Z641341 bị Cơ quan Điều tra thu giữ và TAND huyện Phổ Yên đã tuyên tạm giữ đến ngày 30/6/2009 là hết hạn sử dụng. Tháng 6/2009, CQTHADS huyện Phổ Yên đã cho đương sự Trần Anh Minh mượn GPLX trên để Trần Anh Minh đổi GPLX mới và yêu cầu Trần Anh Minh mang GPLX ô tô hạng B2 có số AK 832395 mang tên Trần Anh Minh đã đổi đến nộp cho CQTHADS huyện Phổ Yên để tạm giữ theo quyết định của Bản án.

Đối với vụ việc như trên thì có 2 quan điểm xử lý như sau:

Continue reading

THI HÀNH ÁN ĐỐI VỚI BẤT ĐỘNG SẢN: VƯỚNG VỀ TRÌNH TỰ THỦ TỤC

NGUYÊN NHUNG

Trong buổi tọa đàm về Quy trình, thủ tục thi hành các bản án có tài sản là bất động sản và các giải pháp bảo đảm tính thống nhất cho quy trình này, do Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp tổ chức, những vướng mắc về trình tự thủ tục thi hành án đối với tài sản là bất động sản theo quy định của Luật Thi hành án dân sự (THADS) được đặc biệt quan tâm.

Về thời hạn ra quyết định thi hành án, theo quy định tại Khoản 2 Điều 36, luật THADS 2008, thủ trưởng cơ quan THADS phải ra quyết định THA trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu thi hành án. Tuy nhiên, Khoản 2 Điều 44 của Luật lại quy định: “Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày chủ động ra quyết định thi hành án hoặc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu xác minh của người được thi hành án, Chấp hành viên phải tiến hành việc xác minh; trường hợp thi hành án quyết định biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải xác minh ngay”. Quá trình THADS cho thấy, người được THA thường yêu cầu cơ quan THA xác minh điều kiện THA của người phải THA, yêu cầu này cũng được xác lập từ thời điểm nộp đơn yêu cầu THA.

Như vậy, thời hạn ra quyết định THA thông thường sẽ sớm hơn thời hạn thực hiện việc xác minh, dẫn đến tình trạng đã có quyết định THADS mới có kết quả xác minh là chưa đủ điều kiện THA, lúc này cơ quan THADS ra quyết định trả lại đơn yêu cầu THADS là không hợp lý. Vì vậy, cần kéo dài thời hạn để ra quyết định THADS hơn thời hạn xác minh yêu cầu THA. Sau khi có kết quả xác minh điều kiện THADS, cơ quan THADS ra quyết định trả lại đơn yêu cầu THA hoặc quyết định THA, tùy theo kết quả xác minh. Như vậy sẽ hợp lý hơn và giảm được án tồn đọng chưa có điều kiện thi hành, khi nào đương sự chứng minh hoặc yêu cầu cơ quan THADS xác minh lại… cơ quan THADS lại thụ lý giải quyết. Mặt khác, quá trình xác minh điều kiện THA có liên quan đến bất động sản được tiến hành ở nhiều cơ quan, tổ chức như: xác minh trực tiếp đối với bất động sản, xác minh tại UBND xã/phường, cơ quan quản lý đất đai, cơ quan quản lý quy hoạch, kiến trúc, cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm… mất nhiều thời gian của chấp hành viên, nếu không có sự nhiệt tình hỗ trợ của các cơ quan chức năng liên quan. Vì vậy, quy định thời hạn 10 ngày chấp hành viên phải xác minh là quá ngắn, không đủ thời gian để thu thập thông tin cần thiết và chính xác về bất động sản – tài sản bảo đảm thi hành.

Continue reading

CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ CÓ ĐƯỢC TRAO ĐỔI VẬT CHỨNG VỤ ÁN HAY KHÔNG?

L.T.N

Nội dung vụ việc như sau: Tại Bản án số 45/2007/HSST ngày 28/11/2007 của TAND huyện Phổ Yên tỉnh T.Ng xét xử đối với Trần Anh Minh về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 202, Bộ luật hình sự (BLHS) đã tuyên xử như sau:

“… Tuyên phạt bị cáo Trần Anh Minh 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng kể từ ngày tuyên án.

Về hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 5 Điều 202, BLHS cấm bị cáo lái xe ô tô trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.

Về vật chứng: áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) tạm giữ giấy phép lái xe (GPLX) ô tô hạng B2 số Z641341 do Sở Giao thông vận tải thành phố Hà Nội cấp ngày 26/6/2006 mang tên Trần Anh Minh (theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Công an và Cơ quan thi hành án dân sự (CQTHADS) huyện Phổ Yên ngày 19/10/2007)…”.

Bản án không có kháng cáo, kháng nghị và ngày 28/12/2007, Bản án có hiệu lực pháp luật thi hành.

Hồ sơ thi hành án tại CQTHADS huyện Phổ Yên thể hiện như sau: tại biên bản giao nhận vật chứng vụ án giữa Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) và CQTHADS huyện Phổ Yên ngày 19/10/2007 thể hiện việc VKSND đã chuyển đầy đủ vật chứng vụ án, trong đó có GPLX ô tô hạng B2 số Z641341 mang tên Trần Anh Minh cho CQTHADS bảo quản theo đúng quy định.

Tuy nhiên, khi kiểm tra vật chứng vụ án trên tại Kho vật chứng của CQTHADS thì không có GPLX ô tô số Z641341. Qua tìm hiểu, được biết vì GPLX ô tô số Z641341 bị Cơ quan Điều tra thu giữ và TAND huyện Phổ Yên đã tuyên tạm giữ đến ngày 30/6/2009 là hết hạn sử dụng. Tháng 6/2009, CQTHADS huyện Phổ Yên đã cho đương sự Trần Anh Minh mượn GPLX trên để Trần Anh Minh đổi GPLX mới và yêu cầu Trần Anh Minh mang GPLX ô tô hạng B2 có số AK 832395 mang tên Trần Anh Minh đã đổi đến nộp cho CQTHADS huyện Phổ Yên để tạm giữ theo quyết định của Bản án.

Đối với vụ việc như trên thì có 2 quan điểm xử lý như sau:

Continue reading

MÔ HÌNH TỔ CHỨC THI HÀNH ÁN MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

THS. NGUYỄN VĂN NGHĨA

Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Tư tưởng nổi bật của Nghị quyết là phải tiến hành cải cách và đổi mới mạnh mẽ công tác thi hành án ở Việt Nam. Điều này được thể hiện thông qua bốn nội dung cơ bản, bao gồm: một là, xây dựng Bộ luật Thi hành án điều chỉnh tất cả các lĩnh vực về thi hành án; hai là, xác định Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ quản lý nhà nước thống nhất công tác thi hành án; ba là, chuẩn bị các điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để thực hiện việc chuyển giao tổ chức và công tác thi hành án từ Bộ Công an sang Bộ Tư pháp; bốn là, từng bước xã hội hoá các hoạt động thi hành án.

Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là những nội dung đổi mới này được xây dựng và thực hiện dựa trên một mô hình tổ chức thi hành án như thế nào, hệ thống các cơ quan quản lý thi hành án của Việt Nam được sắp xếp và tổ chức lại như thế nào để đáp ứng yêu cầu của các nội dung cải cách đó, kinh nghiệm về mô hình tổ chức thi hành án của các nước trong khu vực và trên thế giới ra sao,…? Có thể nói, về mặt thực tiễn, đây là những vấn đề còn khá mới mẻ ở Việt Nam nên việc nghiên cứu, khảo cứu kinh nghiệm pháp luật, thực tiễn thi hành án của các nước trên thế giới, đặc biệt về các mô hình thi hành án là rất cần thiết hiện nay. Từ đó tổng kết, đúc rút ra những bài học kinh nghiệm quốc tế quý báu để lựa chọn cho Việt Nam một mô hình tổ chức thi hành án thích hợp, qua đó từng bước nâng cao hiệu quả công tác thi hành án trong thời gian tới. Phạm vi bài viết này đề cập đến mô hình tổ chức thi hành án của một số nước trên thế giới:

1. Tại Cộng hoà Pháp

Cả thi hành án dân sự và thi hành án hình sự đều tập trung ở Bộ Tư pháp, do Bộ Tư pháp thống nhất quản lý.

Thi hành các bản án, quyết định về dân sự do các văn phòng hoặc công ty Thừa phát lại thực hiện mà trực tiếp là các Thừa phát lại. Các văn phòng, công ty Thừa phát lại được tổ chức và hoạt động theo mô hình của các công ty thương mại. Tư cách Thừa phát lại rất linh hoạt, họ vừa là viên chức tư pháp, viên chức công quyền, bổ trợ viên tư pháp vừa là một nghề tự do, có tư cách hoạt động độc lập. Điều đáng lưu ý là họ hoạt động bằng nguồn kinh phí, thù lao do các bên yêu cầu thi hành án trả mà Nhà nước không phải mất một khoản tài chính nào chi trả lương cho họ, thậm chí nhờ hoạt động của các văn phòng, công ty Thừa phát lại mà nhà nước thu được một khoản tài chính thông qua việc đánh thuế. Điều đáng lưu ý nữa là Thừa phát lại là lực lượng duy nhất ở Pháp có quyền yêu cầu hỗ trợ của các lực lượng vũ trang công quyền trong trường hợp cần thiết.

Continue reading

LỰA CHỌN MÔ HÌNH TỔ CHỨC THI HÀNH ÁN PHÙ HỢP VỚI ĐIỀU KIỆN CỦA MỖI QUỐC GIA

GS. CLAUDE BRENNER – Trường Đại học tổng hợp Panthéon-Assas, Cộng hòa Pháp

1. Đặt vấn đề

Theo quan điểm của pháp luật Cộng hoà Pháp, xây dựng một bộ luật chung về THA dân sự và THA hình sự là một dự án đầy tham vọng. Bởi lẽ, giữa hai lĩnh vực THA này vẫn chưa có sự thống nhất rõ ràng về mặt logic, mỗi lĩnh vực đều dựa trên những căn cứ riêng và mang tính đặc thù. Ví dụ, giữa thủ tục THA phạt tù và thủ tục cưỡng chế thu hồi nợ đều có yếu tố cưỡng chế và sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang công quyền. Nhưng về cơ bản thì đó là hai thủ tục khác nhau, nhằm những mục đích khác nhau: trong trường hợp THA dân sự, thì sự tham gia của lực lượng vũ trang công quyền là nhằm bảo vệ lợi ích của cá nhân, còn trường hợp THA hình sự, thì sự tham gia của lực lượng vũ trang công quyền lại nhằm bảo vệ lợi ích chung của xã hội.

Tuy nhiên, chúng ta cũng nhận thấy giữa THA dân sự và THA hình sự có những điểm tương đồng không thể phủ nhận. Trong cả hai trường hợp, mục tiêu theo đuổi đều là nhằm thi hành một văn bản tư pháp, mà trước hết là bản án, quyết định của tòa án – cơ quan tài phán nhà nước. Bởi vì, nếu cho rằng thủ tục cưỡng chế thi hành trong lĩnh vực dân sự có thể được sử dụng nhằm thi hành các văn bản ngoài tư pháp, thì theo quy định và thực tiễn pháp luật Cộng hòa Pháp, việc thi hành đó chỉ được coi là phần nối tiếp, là sự mở rộng có chủ đích riêng của việc thi hành các quyết định của cơ quan tài phán nhà nước. ở Pháp, các biện pháp cưỡng chế thi hành, kê biên có thể được sử dụng trong việc thi hành các phán quyết trọng tài (những quyết định của cơ quan tài phán tư). Tuy nhiên trước đó, phán quyết trọng tài bắt buộc phải được một cơ quan tài phán nhà nước công nhận và cho thi hành. Tương tự, trong một số điều kiện nhất định, hợp đồng và văn bản pháp lý thuộc phạm vi điều chỉnh của luật tư có thể được cưỡng chế thi hành mà không cần qua kiểm tra trước của tòa án. Điều kiện ở đây là văn bản đó phải là văn bản công chứng, tức là văn bản được lập bởi công chứng viên với tư cách là viên chức công quyền (trước kia là bổ trợ tư pháp) – người được ủy quyền thực hiện một phần quyền lực nhà nước. Như vậy, trọng tâm của hoạt động cưỡng chế THA, theo quy định của Cộng hoà Pháp và của phần lớn các hệ thống pháp luật khác, là thi hành bản án, quyết định của cơ quan tài phán nhà nước, còn việc đó là án dân sự, hành chính hay hình sự thì thực ra không quan trọng.

Continue reading

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 620 other followers

%d bloggers like this: