HÒA GIẢI – MỘT PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THAY THẾ

THS. DƯƠNG QUỲNH HOA – Viện Nhà nước và Pháp luật

Trong nền kinh tế thị trường, các nhà kinh doanh đều muốn xây dựng lòng tin, duy trì mối quan hệ kinh tế với các đối tác một cách lâu dài để bảo đảm cho hoạt động kinh doanh, thương mại ổn định và phát triển. Tuy vậy, đôi khi vì nhiều lý do chủ quan và khách quan, các mối quan hệ kinh tế thương mại giữa các nhà kinh doanh cũng có những bất đồng và mâu thuẫn dẫn đến các tranh chấp trong việc thực hiện các cam kết. Vì thế, cần phải có những phương thức giải quyết tranh chấp nhanh gọn, tiết kiệm và có thể duy trì được quan hệ làm ăn giữa các bên. Hòa giải là một trong những phương thức đáp ứng được những yêu cầu đó.

1. Khái niệm, đặc điểm của hòa giải

Hòa giải là một biện pháp truyền thống để giải quyết các tranh chấp trong đời sống xã hội, nhưng quan niệm về hòa giải còn nhiều vấn đề chưa thống nhất. Trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về hòa giải: Hòa giải (conciliation) là sự can thiệp, sự làm trung gian hòa giải; hành vi của người thứ ba làm trung gian giữa hai bên tranh chấp nhằm thuyết phục họ dàn xếp hoặc giải quyết tranh chấp (GQTC) giữa họ. Việc GQTC thông qua người trung gian hòa giải (bên trung lập)1; Hòa giải là một quá trình mà bên thứ ba tạo điều kiện và phối hợp để các bên thương lượng với nhau. Từ điển pháp lý của Rothenberg định nghĩa hòa giải là “hành vi thỏa hiệp giữa các bên sau khi có tranh chấp, mỗi bên nhượng bộ một ít”2. Một định nghĩa khác của hòa giải là “việc GQTC giữa hai bên thông qua sự can thiệp của bên thứ ba, hoạt động một cách trung lập và khuyến khích các bên xóa bớt sự khác biệt”3. Theo Từ điển tiếng Việt, “hòa giải là việc thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột, xích mích một cách ổn thoả”. Từ những quan niệm trên, có thể rút ra một số đặc trưng chung của hòa giải như sau:

Một là, hòa giải là một biện pháp GQTC.

Hai là, chủ thể trung tâm của hòa giải là bên trung gian giúp cho các bên tranh chấp thỏa thuận với nhau về GQTC. Điều này làm cho hòa giải có sự khác biệt với thương lượng. Người trung gian có thể là cá nhân, tổ chức luật sư, tư vấn, hoặc các tổ chức khác do các bên thỏa thuận lựa chọn. Người này phải có vị trí độc lập với các bên và hoàn toàn không có lợi ích liên quan đến tranh chấp. Bên thứ ba làm trung gian không đại diện cho quyền lợi của bất cứ bên nào và không có quyền đưa ra phán quyết.

Continue reading

HÒA GIẢI TRONG THƯƠNG MẠI VÀ PHÁT TRIỂN PHƯƠNG THỨC HÒA GIẢI TRONG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

THS. LƯU HƯƠNG LY – Giảng viên Khoa Pháp luật quốc tế, Đại học Luật Hà Nội

Hoà giải thương mại hay trung gian thương mại1 (Commercial Mediation) là một phương thức giải quyết tranh chấp rất phổ biến trên thế giới, đặc biệt tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Cùng với thương lượng và trọng tài, hoà giải được coi là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp thay thế (ADR) và rất được các doanh nhân ưa chuộng do những ưu điểm vượt trội của các phương thức này so với tố tụng tòa án. Với mong muốn thúc đẩy sự phát triển của các phương thức giải quyết tranh chấp thay thế nói chung và phương thức hòa giải nói riêng tại Việt Nam, bài viết giới thiệu những đặc điểm cơ bản nhất của phương thức hòa giải và phân tích một số điểm còn khiếm khuyết của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành của Việt Nam liên quan đến phương thức hòa giải trên cơ sở đối chiếu và so sánh với kinh nghiệm của một số nước.

1. Bản chất và sự phát triển của phương thức hòa giải ở một số nước

Bản chất của phương thức hòa giải

Hoà giải là quá trình các bên đàm phán với nhau về việc giải quyết tranh chấp với sự trợ giúp của một bên thứ ba độc lập (hoà giải viên)2. Hòa giải khác với phương thức thương lượng ở sự có mặt của bên thứ ba (hòa giải viên) và cũng khác với phương thức trọng tài ở chỗ, hòa giải viên không có quyền xét xử và ra phán quyết như trọng tài viên. Vai trò của hòa giải viên trong quá trình hòa giải chỉ dừng lại ở việc khuyến khích và trợ giúp các bên tìm ra một giải pháp mang tính thực tế mà tất cả các bên liên quan đều có thể chấp nhận sau khi xem xét, nghiên cứu những lợi ích và nhu cầu của họ. Tùy thuộc nội dung, tính chất của vụ tranh chấp và sự thỏa thuận của các bên, số lượng hòa giải viên có thể là một hoặc nhiều. Theo thông lệ quốc tế, căn cứ vào tổ chức đứng ra thực hiện việc hòa giải, hòa giải được chia thành hai hình thức là hòa giải công (public mediation) và hòa giải tư (private mediation). Hòa giải công do các cơ quan nhà nước, chủ yếu là các Tòa án, đứng ra thực hiện (gọi là court-based mediation). Hòa giải tư thường do các tổ chức trọng tài thương mại3 hoặc các tổ chức hòa giải thương mại chuyên nghiệp tiến hành4. Ngoài ra, các bên cũng có thể yêu cầu các cá nhân (thường là chuyên gia về hòa giải hoặc về lĩnh vực đang có tranh chấp) đứng ra hòa giải.

Sự phát triển của phương thức hòa giải trên thế giới

Hiện nay, hầu hết các tổ chức trọng tài thương mại lớn trên thế giới đều có quy tắc hòa giải và tổ chức việc hòa giải nhằm giúp các tổ chức, cá nhân kinh doanh giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng và hiệu quả5. Hoạt động hòa giải cũng bắt đầu diễn ra nhộn nhịp tại các nước trong khu vực với sự xuất hiện của nhiều trung tâm hòa giải như Trung tâm hòa giải của CIETAC (Trung Quốc), Trung tâm hòa giải Delhi (Ấn Độ), Trung tâm hòa giải Hồng Kông, Trung tâm hòa giải Indonesia, Trung tâm hòa giải Malaysia, Trung tâm hòa giải Philippine, Trung tâm hòa giải Singapore, Trung tâm hòa giải Thái Lan6… và đã thể hiện được những ưu điểm rõ rệt về thời gian, chi phí và hiệu quả, thu hút được sự chú ý của đông đảo giới luật sư và doanh nghiệp. Chẳng hạn, tại Singapore, theo số liệu thống kê của Trung tâm hòa giải Singapore (SMC), tính tới tháng 4/2009, đã có 1.400 vụ tranh chấp được đưa tới trung tâm này để hòa giải, trong đó tỷ lệ hòa giải thành công chiếm khoảng 75%. Trong số các vụ tranh chấp được hòa giải thành, trên 90% được giải quyết chỉ trong vòng một ngày làm việc. Các tranh chấp được đưa ra hòa giải tại đây rất đa dạng từ các tranh chấp trong lĩnh vực ngân hàng, xây dựng, hợp đồng, công ty, bảo hiểm, hàng hải cho tới các loại tranh chấp trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, lao động, công nghệ thông tin, bồi thường thiệt hại… Ngay cả những vụ tranh chấp có giá trị lớn (trên 90 triệu đô la Singapore) cũng đã được tiến hành hòa giải tại SMC. Về mặt chi phí, các bên tranh chấp rõ ràng cũng đã tiết kiệm được một khoản chi phí rất lớn nếu so với tố tụng tại Tòa án. Ví dụ, đối với một vụ tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa trung thẩm (High Court), nếu các bên chọn con đường hòa giải tại SMC, các bên có thể tiết kiệm được tới 80.000 đô la Singapore. Trong một cuộc khảo sát được thực hiện vào cuối năm 2008 với 18.884 bên tranh chấp và 1.563 luật sư đại diện cho các bên tranh chấp khi tham gia hòa giải tại SMC, trên 80% đối tượng được hỏi đã khẳng định tiết kiệm được chi phí và thời gian khi sử dụng phương thức này và trên 94% cho biết sẽ giới thiệu phương thức này cho các tổ chức cá nhân khác khi có tranh chấp tương tự7.

Continue reading

GIẢI QUYẾT BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI ADHOC Ở VIỆT NAM–THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

THS. PHAN THÔNG ANH – Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, NCS Đại học Luật TP Hồ Chí Minh

Tuy phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại bằng trọng tài có nhiều ưu điểm và được doanh nghiệp các nước áp dụng phổ biến, nhưng các doanh nghiệp Việt Nam thì còn ít dùng đến phương thức này bởi nhiều lý do. Còn đối với phương thức trọng tài vụ việc (ad hoc), hầu như các doanh nghiệp nước ta bị thụ động khi phía doanh nghiệp nước ngoài ép phải lựa chọn, và vì muốn thực hiện được hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ nên phía Việt Nam phải chấp nhận thỏa thuận điều khoản trọng tài vụ việc1. Thông qua một vụ kiện trọng tài vụ việc (ad hoc) đầu tiên, bài viết tìm hiểu những giới hạn, khiếm khuyết của pháp luật trọng tài đối với trọng tài vụ việc (ad hoc).

1. Nội dung tranh chấp của vụ kiện

Ngày 08/10/2007, Công ty A (A) và Công ty B (B) ký hợp đồng số 888/GLC về việc giao nhận thầu xây dựng hồ bơi thuộc dự án Khách sạn 5 sao Việt Nam tại tỉnh Q. Theo hợp đồng, A có trách nhiệm thực hiện xây dựng hồ bơi và trên thực tế, nhà thầu đã hoàn thành mọi công việc của mình theo quy định của hợp đồng giao nhận thầu số 888/GLC và tiến hành bàn giao đưa công trình vào sử dụng ngày 26/4/2008.

Các bên cũng thống nhất rằng, A là đơn vị chịu trách nhiệm bảo hành công trình theo hợp đồng, thời gian bảo hành sẽ bắt đầu từ ngày 27/04/2008, kéo dài trong 365 ngày tiếp theo.

Trong suốt thời gian bảo hành, A đã nhiều lần tiến hành sửa chữa, khắc phục các sai sót của công trình theo đúng yêu cầu, với giải pháp kỹ thuật được thống nhất giữa các bên và được các kỹ sư của B chứng nhận là đã hoàn thành công việc theo yêu cầu.

Thời gian bảo hành kết thúc, theo đúng thỏa thuận của các bên về điều khoản bảo hành, A đã nhiều lần gửi thư yêu cầu thanh toán chi phí bảo hành với số tiền là 200.000.000 đồng. Dù vậy, với nhiều lý do khác nhau, qua nhiều lần đàm phán, B vẫn từ chối thanh toán dứt điểm số tiền này.

Yêu cầu của nguyên đơn:

- Buộc B thanh toán dứt điểm cho A số tiền bảo hành là 200.000.000 đồng.

- Buộc B thanh toán cho A khoản tiền lãi do chậm thanh toán kể từ ngày 29/4/2009 trở về sau.

Quan điểm của bị đơn:

Theo “Bài bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp” ngày 10/8/2010 gửi cho Hội đồng Trọng tài, B trình bày quan điểm của mình như sau:

Continue reading

BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA – Khoa Luật & Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright – Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh.

Khái niệm biện pháp khẩn cấp tạm thời (KCTT)

Trong pháp luật Việt Nam, Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) 2004 có một chương riêng với 28 điều quy định về biện pháp KCTT (Chương VIII, các Điều từ 99 đến 126). Về bản chất, các quy định mới của các Điều từ 48 đến 53 Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 (LTT 2010) là luật riêng so với các quy định chung của BLTTDS 2004. Nói cách khác, trong tố tụng trọng tài phải áp dụng trước tiên các quy định của LTT 2010, nếu các quy định đó thiếu, chưa rõ hoặc chưa cụ thể thì cần áp dụng các nguyên tắc chung về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự.

Biện pháp KCTT (Interim injunctive relief, Vorläufiger Rechtsschutz) được hiểu là một công đoạn tố tụng rút ngắn và giản đơn nhằm giúp cơ quan tài phán can thiệp nhanh chóng, kịp thời nhằm bảo vệ chứng cứ, tài sản tranh chấp hoặc các đảm bảo khác thiết yếu cho thi hành các nghĩa vụ, trong khi phiên tranh tụng chính chưa kết thúc. Tuy rằng mục đích hướng tới là các biện pháp cụ thể, ví dụ kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, cấm định đoạt tài sản, song Chương VII LTT 2010 các Điều từ 48 đến 53 về biện pháp KCTT là một quy trình, quy định quyền yêu cầu, thẩm quyền xem xét và ban hành các quyết định tố tụng, các đảm bảo, quyền khiếu nại và yêu cầu đền bù thiệt hại nếu có.

Quy trình tố tụng này là một phần phụ, phái sinh, có tính chất chuẩn bị, bổ trợ cho một thủ tục tố tụng chính đang được cơ quan tài phán thụ lý. Đây là một chế định của luật tố tụng dân sự, thường có các đặc trưng sau:

- Thứ nhất, các biện pháp này phải do một bên yêu cầu, thường là nguyên đơn, còn cơ quan tòa án thường không có quyền tự mình ra các quyết định nhằm bảo tồn tài sản tranh chấp hoặc chứng cứ; trừ những trường hợp hết sức hãn hữu tòa án mới tự mình (ex officio) ra các lệnh tòa, ví dụ được nêu tại Điều 119, Điều 102 1-5 BLTTDS 2004;

- Thứ hai, phải có những điều kiện nhất định kèm theo các yêu cầu cho áp dụng biện pháp này, ví dụ phải có chứng cứ đủ tin rằng quyền lợi của bên yêu cầu sẽ không được đảm bảo nếu không áp dụng ngay các biện pháp ví dụ như phong tỏa tài khoản hay kê biên tài sản;

Continue reading

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN “TRỌNG TÀI” TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP

THÔNG TIN PHÁP LUẬT BỘ CÔNG THƯƠNG - “Trọng tài” là một phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tòa án, trong đó, các bên tham gia tranh chấp thống nhất tranh chấp phát sinh nếu có sẽ do một hoặc một số người (“trọng tài viên”, “Ủy ban trọng tài”) giải quyết, và quyết định của một hoặc một số người đó (“phán quyết”) có tính chất bắt buộc thực hiện. Có thể hiểu “trọng tài” một cách đơn giản là một biện pháp giải quyết tranh chấp mang tính pháp lý, giống như việc kiện tụng ở tòa án và hoàn toàn khác biệt với nhóm các biện pháp không mang tính bắt buộc về mặt pháp lý như đàm phán, trung gian, thẩm tra và hòa giải.

Người ta không biết chính xác phương thức trọng tài bắt đầu xuất hiện từ khi nào, nhưng có thể khẳng định đây chính là hình thức tiền thân của việc hình thành các tòa án sau này. Tòa Trọng tài là một trong những phương thức cổ xưa nhất để giải quyết bất hòa giữa người với người, giữa quốc gia với quốc gia. Người Hy Lạp và La Mã cổ đại đã biết sử dụng phương thức này để giải quyết tranh chấp. Quy định sơ khai về trọng tài trong luật mua bán hàng hóa cho phép các lái buôn được tự phân xử bất hòa của mình không cần có sự can thiệp của Nhà nước. Về sau Luật La Mã cho phép mở rộng phạm vi tranh chấp, không chỉ trong biên giới lãnh thổ, mà còn ở những nước La Mã có trao đổi hàng hóa, có nghĩa là trải rộng trên hầu khắp lục địa Châu Âu.

Trong hệ thống luật của Anh, văn bản pháp luật đầu tiên về trọng tài phải kể đến Luật Trọng tài 1697, nhưng vào thời điểm luật được thông qua, đây đã là một phương thức rất phổ biến (phán quyết đầu tiên của trọng tài ởAnh được đưa ra vào năm 1610). Tuy nhiên các quy định sơ khai về trọng tài trong hệ thống luật common law thể hiện một hạn chế cơ bản là bất cứ bên tham gia tranh chấp nào cũng có thể khước từ việc thực hiện phán quyết của trọng tài nếu thấy phán quyết đó bất lợi cho mình. Hạn chế này đã được khắc phục trong Luật năm 1697.

Trong Hiệp ước Jay năm 1794, Anh và Mỹ đã thống nhất đưa các vấn đề còn đang tranh chấp liên quan đến các khoản nợ và biên giới ra giải quyết ở trọng tài. Việc giải quyết tranh chấp này kéo dài 7 năm, và được coi là kết thúc thành công.

Continue reading

VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

THS. PHẠM TUẤN ANH – Chánh Tòa Kinh tế Tòa án nhân dân TP Hà Nội

Trong nền kinh tế thị trường, các tranh chấp về kinh doanh đang diễn ra với chiều hướng gia tăng, nội dung tranh chấp phức tạp, mức độ tranh chấp gay gắt đòi hỏi phải được giải quyết kịp thời, nhằm bảo vệ quyền lợi cho các đương sự; đồng thời đây cũng là trách nhiệm của cơ quan nhà nước, các cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại. Hiện nay ở VN có hai cơ quan tài phán để giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại đó là: hệ thống Tòa án nhân dân và hệ thống Trọng tài thương mại.

Toà án, Trọng tài thương mại là các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bổ sung lẫn nhau. Thực tế hoạt động của các Trung tâm Trọng tài thương mại cần có sự phối hợp của Toà án. Pháp lệnh Trọng tài Thương mại năm 2003 là văn bản pháp luật đầu tiên ghi nhận vai trò của Toà án đối với các hoạt động của các Trung tâm trọng tài thương mại về bốn vấn đề sau:

- Chỉ định Trọng tài viên;

- Thay đổi Trọng tài viên;

- Áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời;

- Huỷ phán quyết trọng tài.

Tuy nhiên, Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 đã có những hạn chế nhất định. Chính vì vậy, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (Luật TTTM) đã ra đời để khắc phục những mặt hạn chế của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 nhằm đảm bảo cơ sở pháp lý cho sự hoạt động của Toà án trong việc hỗ trợ các Trung tâm Trọng tài thương mại.

Theo Luật TTTM thì vai trò hỗ trợ của Toà án đối với Trọng tài thương mại được xác lập toàn diện và đây đủ hơn, thể hiện ở những vấn đề sau:

Continue reading

DOANH NGHIỆP VÀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

NGUYÊN THẢO

Luật Trọng tài thương mại đã được Quốc Hội thông qua tại kỳ họp tháng 6/2010. Đối với nhiều doanh nghiệp, luật này còn khá xa lạ. Theo thống kê của Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam ở nước ta khi xảy ra tranh chấp thương mại 89% trường hợp các bên đưa nhau ra toà án để giải quyết.

Trong khi đó, theo thống kê quốc tế, 90% các doanh nghiệp quốc tế chọn con đường trọng tài để giải quyết tranh chấp thương mại và chỉ có 10% số vụ việc là qua toà án. Vì sao đại đa số các doanh nnghiệp quốc tế lại chọn giải pháp trọng tài? Phân tích vấn đề này, các chuyên gia đưa ra những nguyên nhân sau.

Giải quyết tranh chấp thương mại bằng con đường trọng tài có những ưu điểm nổi bật nên nhiều doanh nghiệp quốc tế lựa chọn biện pháp này. Đó là:

- Nhanh chóng: Theo thủ tục tố trụng trọng tài, thời gian thụ lý giải quyết tranh chấp chỉ thu gọn trong vài tháng. Ở đây không có quá trình điều tra, xác minh mà tự các bên liên quan phải cung cấp đầy đủ căn cứ, tài liệu theo luật định cho Trung tâm trọng tài. Hội đồng trọng tài sẽ dựa trên những chứng cứ đó và các bộ luật để phân tích, đánh giá, phán quyết. Khi cần yêu cầu bổ sung thêm tài liệu, hồ sơ, Trung tâm trọng tài sẽ thông báo cụ thể đến bên liên quan và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các bên thực hiện nhiệm vụ và bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.

- Sâu về chuyên môn: Các trọng tài viên của một Trung tâm trọng tài bao gồm hai nhóm: nhóm chuyên gia và nhóm luật sư. Nhóm đầu là những chuyên gia đầu ngành của nhiều lĩnh vực được Trung tâm mời làm trọng tài viên tham gia xử các vụ việc có liên quan đến chuyên ngành mà chuyên gia đang làm việc và có nhiều kinh nghiệm. Vì vậy, cùng với các luật sư trong hội đồng trọng tài, các khía cạnh chuyên môn được mổ xẻ, phân tích một cách khoa học, khách quan và nhanh chóng. Đây là một trong các ưu điểm nổi trội của phương pháp trọng tài.

Continue reading

KHUYNH HƯỚNG HIỆN NAY CỦA PHÁP LUẬT TRỌNG TÀI CỦA CỘNG HÒA PHÁP VÀ QUỐC TẾ

JEAN – PIERRE ANCEL – Chánh tòa danh dự Tòa án Tư pháp tối cao Cộng hòa Pháp

Tôi xin giới thiệu tổng quát về pháp luật của Pháp về trọng tài quốc tế, bắt đầu bằng hai nhận xét chính. Tôi sử dụng cụm từ “pháp luật của Pháp về trọng tài quốc tế” do Pháp không có Luật Trọng tài (điều này khác với nhiều nước từ 15 năm trở lại đây đã thông qua Luật Trọng tài). Ở Pháp, trọng tài được coi là lĩnh vực của tố tụng dân sự, được điều chỉnh bởi nghị định, không phải bởi luật. Vậy nên một nghị định cơ bản được ban hành vào năm 1981 (cho đến nay chưa hề bị sửa đổi). Điều này dẫn tới nhận xét thứ hai của tôi là: trong pháp luật của Pháp, hầu hết các quy định, thậm chí các quy định cơ bản nhất về trọng tài, đều bắt nguồn từ thực tiễn xét xử. Tòa án đã đưa ra hầu hết các quy định quan trọng về trọng tài, đặc biệt về trọng tài quốc tế.

Trong pháp luật của Pháp, có 3 nguyên tắc lớn mang tính chủ đạo điều chỉnh lĩnh vực trọng tài quốc tế. Nguyên tắc thứ nhất là tính độc lập và tính có hiệu lực của điều khoản trọng tài quốc tế. Nguyên tắc thứ hai là đảm bảo phiên họp giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được tiến hành công bằng và sự can thiệp của Tòa án phải rất hạn chế. Nguyên tắc thứ ba là quy chế pháp lý đặc biệt của phán quyết trọng tài quốc tế phải được chấp nhận. Trong đó, nguyên tắc thứ nhất mang tính truyền thống, hai nguyên tắc còn lại mới mẻ hơn trong luật so sánh.

Về nguyên tắc thứ nhất (tính độc lập và tính có hiệu lực của điều khoản trọng tài quốc tế), nguyên tắc này ngày nay đã được hầu hết các nước trên thế giới thừa nhận. Dự Luật của Việt Nam dĩ nhiên là giữ lại nguyên tắc này. Ở Pháp, nguyên tắc này được thiết lập từ một quyết định của Tòa Phá án (Tòa án Tư pháp tối cao) năm 1963. Tại quyết định này, Tòa Phá án tuyên bố nguyên tắc theo đó điều khoản trọng tài quốc tế có tính độc lập so với hợp đồng chính. Từ nguyên tắc đó, vào năm 1999, Tòa Phá án đã suy ra nguyên tắc về tính hiệu lực điều khoản trọng tài, theo đó điều khoản hợp đồng có một chế độ pháp lý riêng, đặc thù và được suy đoán trước là có hiệu lực. Giải pháp táo bạo này đã bị chỉ trích rất nhiều do có những ý kiến cho rằng thỏa thuận hợp đồng không thể tồn tại mà không có luật điều chỉnh. Hiệu lực của hợp đồng luôn phải phù hợp với quy định của một đạo luật hoặc một văn bản quy phạm pháp luật khác như nghị định. Theo giáo sư Fouchard, đây không phải là trường hợp hợp đồng có xung đột pháp luật vì người ta không tìm được luật áp dụng đối với thỏa thuận này. Theo tôi, luật áp dụng đối với điều khoản trọng tài đơn giản chỉ là thỏa thuận giữa các bên – kể từ khi các bên đã quyết định về thỏa thuận trọng tài, quyết định này có hiệu lực bắt buộc và trở thành luật của các bên.

Continue reading

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM

NGUYỄN VĂN LỘC

Hiện nay, khi soạn thảo các điều khoản về giải quyết tranh chấp trong Hợp đồng thương mại, các bên trong quan hệ giao dịch thường quy định việc giải quyết tranh chấp bằng phương thức Trọng tài thương mại, đặc biệt là khi quan hệ giao dịch này có yếu tố nước ngoài.

Từ khi Chính phủ nỗ lực hoàn chỉnh khung pháp lý cho hoạt động Trọng tài bằng việc ban hành Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại đã thực sự chuyển biến và mang lại các dấu hiệu tích cực, từ việc mở rộng phạm vi hoạt động và quyền hạn của các Trung tâm Trọng tài (sau đây gọi tắt là TTTT) đến sự quan tâm thực sự từ các cá nhân và tổ chức kinh doanh trong mọi lĩnh vực.

Trong phạm vi bài viết này, tác giả muốn trình bày các quy định của pháp luật, các góc nhìn thực tế và quan điểm mang tính định hướng về Trọng tài thương mại tại Việt Nam hiện nay qua 3 phần của bài viết:

(i) Thẩm quyền trọng tài bắt đầu từ thỏa thuận.
(ii) Kỹ thuật nhận biết hạn chế và giải pháp.
(iii) Lựa chọn Trung tâm Trọng tài tại Việt Nam.

PHẦN I: THẨM QUYỀN TRỌNG TÀI BẮT ĐẦU TỪ THỎA THUẬN CỦA CÁC BÊN

Theo quy định tại Pháp lệnh cũng như từ kết luận thực tế, Trọng tài chỉ có thẩm quyền xét xử nếu giữa các bên tồn tại một thỏa thuận chọn Trọng tài để giải quyết tranh chấp, phải một thỏa thuận trọng tài cụ thể, rõ ràng và theo đúng quy định của Pháp luật và Quy tắc tố tụng Trọng tài của TTTT.

1. Về vấn đề thẩm quyền của Trọng tài thương mại tại Việt Nam

Để giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng, tổ chức và cá nhân kinh doanh phải có thỏa thuận với nhau một điều khoản về chọn Trọng tài, chọn TTTT hoặc Trọng tài viên của TTTT để giải quyết.

Continue reading

KỶ YẾU HỘI THẢO VỀ DỰ THẢO LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

Nhà Pháp luật Việt-Pháp tổ chức tại Hà Nội các ngày 24, 25/09/2009

(Kỷ yếu này chỉ ghi lại những nội dung trao đổi chính tại Hội thảo)

Thuyết trình viên :

- Ông Jean-Pierre Ancel, Chánh tòa danh dự Tòa án Tư pháp tối cao Cộng hòa Pháp

- Bà Corinne Montineri, Chủ nhiệm Ban Thư ký Ủy ban của Liên hợp quốc về pháp luật thương mại quốc tế (UNCITRAL)

- TS. Nguyễn Minh Chí, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài quốc tế bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

PHẦN I

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ PHÁP LUẬT TRỌNG TÀI CỦA CỘNG HÒA PHÁP VÀ QUỐC TẾ

I. KHUYNH HƯỚNG HIỆN NAY CỦA PHÁP LUẬT TRỌNG TÀI CỦA CỘNG HÒA PHÁP VÀ QUỐC TẾ (Ông Jean-Pierre Ancel, Chánh tòa danh dự Tòa án Tư pháp tối cao Cộng hòa Pháp)

Tôi xin giới thiệu tổng quát về pháp luật của Pháp về trọng tài quốc tế, bắt đầu bằng hai nhận xét chính. Tôi sử dụng cụm từ “pháp luật của Pháp về trọng tài quốc tế” do Pháp không có Luật Trọng tài (điều này khác với nhiều nước từ 15 năm trở lại đây đã thông qua Luật Trọng tài). Ở Pháp, trọng tài được coi là lĩnh vực của tố tụng dân sự, được điều chỉnh bởi nghị định, không phải bởi luật. Vậy nên một nghị định cơ bản được ban hành vào năm 1981 (cho đến nay chưa hề bị sửa đổi). Điều này dẫn tới nhận xét thứ hai của tôi là: trong pháp luật của Pháp, hầu hết các quy định, thậm chí các quy định cơ bản nhất về trọng tài, đều bắt nguồn từ thực tiễn xét xử. Tòa án đã đưa ra hầu hết các quy định quan trọng về trọng tài, đặc biệt về trọng tài quốc tế.

Trong pháp luật của Pháp, có 3 nguyên tắc lớn mang tính chủ đạo điều chỉnh lĩnh vực trọng tài quốc tế. Nguyên tắc thứ nhất là tính độc lập và tính có hiệu lực của điều khoản trọng tài quốc tế. Nguyên tắc thứ hai là đảm bảo phiên họp giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được tiến hành công bằng và sự can thiệp của Tòa án phải rất hạn chế. Nguyên tắc thứ ba là quy chế pháp lý đặc biệt của phán quyết trọng tài quốc tế phải được chấp nhận. Trong đó, nguyên tắc thứ nhất mang tính truyền thống, hai nguyên tắc còn lại mới mẻ hơn trong luật so sánh.

Continue reading

NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI VÀ ÁP DỤNG XÂY DỰNG LUẬT TRỌNG TÀI Ở VIỆT NAM

THS. ĐÀO NGỌC BÁU – Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

Trong một hình thái kinh tế – xã hội, pháp luật là yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng, do vậy pháp luật phải xuất phát từ thực tế và phải dựa trên những quy luật khách quan của các quan hệ xã hội mà chúng hướng đến điều chỉnh. Thực tiễn pháp luật Việt Nam đã cho thấy, nhiều quy định của pháp luật sau khi ban hành đã không được thực hiện do pháp luật không phù hợp với thực tế cuộc sống. Pháp luật trọng tài thương mại ở Việt Nam sẽ chỉ phát huy hiệu quả cao nhất nếu được ban hành phù hợp với những nguyên lý cơ bản của cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Việc sửa đổi Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 đòi hỏi chúng ta phải cùng nhìn nhận và phân tích những nguyên lý cơ bản của cơ chế giải quyết tranh chấp này.

1. Nguyên lý về tính chất tư trong hoạt động xét xử của trọng tài

Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là phương thức theo đó các bên thỏa thuận lựa chọn một chủ thể không phải là tòa án giúp mình giải quyết tranh chấp đã phát sinh. Chủ thể được lựa chọn gọi là trọng tài và sẽ ra phán quyết về tranh chấp giữa các bên có liên quan. Có hai loại trọng tài là trọng tài vụ việc (ad-hoc) và trọng tài thường trực. Điểm khác biệt cơ bản giữa hai mô hình này là ở chỗ, trọng tài vụ việc chỉ được thành lập khi phát sinh tranh chấp và sẽ tự giải thể khi tranh chấp được giải quyết xong. Trong khi đó, trọng tài thường trực – như chính tên gọi của nó – tồn tại có tính chất ổn định, có trọng tài viên riêng, có điều lệ và quy tắc tố tụng riêng. Trọng tài thường trực là một thực thể pháp lý độc lập với đầy đủ các dấu hiệu của một pháp nhân, trong đó dấu hiệu quan trọng nhất là có tài sản riêng và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của chính mình. Việc lựa chọn hình thức trọng tài nào để giải quyết tranh chấp hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của các bên. Tuy nhiên, dù là trọng tài thường trực hay trọng tài vụ việc thì đều không phải là cơ quan thuộc bộ máy nhà nước, do vậy trong hoạt động xét xử, trọng tài không được sử dụng quyền lực công như tòa án. Chính vì hoạt động xét xử của trọng tài không gắn với quyền lực công nên trọng tài được coi là cơ quan tài phán tư.

Continue reading

TẠO CƠ SỞ PHÁP LÝ ĐỂ DOANH NGHIỆP GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI

PHƯƠNG NGÂN

Sáng nay 21.11.2009, các đại biểu quốc hội khóa XII thảo luận và cho ý kiến ở tổ về Dự án Luật Trọng tài thương mại . Đây là lần đầu tiên các quan hệ về giải quyết các tranh chấp giữa các chủ thể kinh doanh, các thể nhân và pháp nhân được xây dựng thành luật và được nhiều người kỳ vọng từ việc tạo cơ sở pháp lý đầy đủ sẽ là động lực để các doanh nghiệp tìm đến trọng tài khi có các tranh chấp xảy ra…

Cơ chế giải quyết tranh chấp phổ biến

Theo Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam, Phạm Quốc Anh cho biết, trên thế giới, phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế thông qua trọng tài thương mại rất phổ biến, nhất là ở những nước có nền kinh tế phát triển. Bởi xuất phát từ những lợi thế, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài hầu hết là những tranh chấp dân sự. Trong khi, một trong những nguyên tắc kinh điển của tranh chấp dân sự là sự thoả thuận giữa hai bên. Và do sự thoả thuận của đôi bên nên sử dụng biện pháp giải quyết tranh chấp bằng trọng tài rất nhanh chóng, không như toà án là phải qua các thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm. Cùng với đó, thoả thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có hiệu lực ngay. Nếu lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thì cả hai bên đều giữ được bí mật và vẫn giữ được uy tín của các doanh nghiệp.

Ở Việt Nam, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 204/TTg ngày 28.4.1993 của Thủ tướng, là tổ chức trọng tài có tuổi đời lâu nhất và lớn nhất tại Việt Nam. VIAC hiện có 123 trọng tài viên, trong đó 117 trọng tài viên là người Việt Nam, 6 trọng tài viên nước ngoài. Chủ tịch VIAC Nguyễn Minh Chí cho rằng, trong sân chơi hội nhập,  đội ngũ trọng tài của VIAC sẽ phát huy tốt những lợi thế của mình, bởi phương thức giải quyết bằng trọng tài sẽ được quốc tế công nhận.

“Thông qua một loạt các công ước quốc tế và đặc biệt là Công ước New York năm 1958 về Công nhận và thi hành các quyết định trọng tài nước ngoài thì các quyết định trọng tài hiện được 142 quốc gia, lãnh thổ trên thế giới công nhận và thi hành. Đây là một ưu thế quan trọng đối với việc giải quyết các tranh chấp có yếu tố nước ngoài.” ông Chí khẳng định.

Continue reading

DỰ THẢO LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI CÓ Ý KIẾN BÌNH LUẬN CỦA CHUYÊN GIA NƯỚC NGOÀI

Dự thảo Luật này đã được một số chuyên gia Pháp và Liên Hợp quốc đóng góp ý kiến trong khuôn khổ các cuộc hội thảo do Nhà Pháp luật Việt-Pháp tổ chức ngày 4-5/06/2009 và 24-25/09/2009. Đó là các chuyên gia sau đây:

1. Bà Laurence Kiffer, Luật sư Văn phòng luật sư Teynier, Pic & Associés, Đoàn luật sư Paris, Cộng hòa Pháp

2. Ông Eric Teynier, Luật sư Văn phòng luật sư Teynier, Pic & Associés, Đoàn luật sư Paris, Cộng hòa Pháp

3. Bà Corinne Montineri, Ủy ban Liên Hợp quốc về pháp luật thương mại quốc tế (UNCITRAL)

4. Ông Jean-Pierre Ancel, Chánh tòa danh dự Tòa thương mại, Tòa án tư pháp tối cao Cộng hòa Pháp.

LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

Về tiêu đề của Luật:

Chuyên gia Pháp đề xuất bỏ từ “thương mại” để mở rộng phạm vi thẩm quyền của trọng tài.

Chuyên gia Ủy ban Liên Hợp quốc về pháp luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) cho rằng nếu giữ lại từ “thương mại” thì phải xét xem liệu khái niệm “thương mại” trong luật Việt Nam có được hiểu theo nghĩa rộng không. Về vấn đề này, Luật trọng tài mẫu của UNCITRAL nêu rõ “thuật ngữ thương mại phải được giải thích theo nghĩa rộng, nhằm bao hàm những vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ thương mại, hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng”.

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;

Quốc hội ban hành Luật Trọng tài thương mại.

Continue reading

DỰ ÁN LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ SỰ TIẾP CẬN CÁC CHUẨN MỰC QUỐC TẾ

THS. VŨ ÁNH DƯƠNG – Phó Tổng thư ký Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam

Theo dự kiến, tại Kỳ họp thứ 7 diễn ra đầu năm 2010, Quốc hội Khóa XII sẽ xem xét, thông qua Dự án Luật trọng tài thương mại. Đây là dự án Luật có ý nghĩa rất lớn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay của nước ta. Để góp phần vào việc nghiên cứu, hoàn thiện dự án Luật, bài viết đề cập đến quá trình hình thành, thực trạng pháp luật về trọng tài thương mại ở Việt Nam, những hạn chế, nguyên nhân và yêu cầu, định hướng hoàn thiện nhằm tiếp cận các chuẩn mực trọng tài thương mại quốc tế.

1. Pháp luật trọng tài thương mại Việt Nam

1.1. Trước khi có Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003

Trước khi có Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 (Pháp lệnh TTTM 2003), ở Việt Nam tồn tại hai loại hình trọng tài, đó là trọng tài kinh tế nhà nước và trọng tài phi chính phủ. Trọng tài kinh tế nhà nước là mô hình trọng tài do Nhà nước thành lập ra, có chức năng giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng kinh tế giữa các doanh nghiệp nhà nước. Như vậy, thực chất, trọng tài kinh tế nhà nước là cơ quan của Nhà nước, vừa thực hiện chức năng quản lý kinh tế, vừa thực hiện chức năng giải quyết các tranh chấp kinh tế giữa các tổ chức kinh tế nhà nước (1). Mô hình này được hình thành đầu tiên bằng Nghị định số 20/TTg ngày 14/4/1960. Sau đó, được nâng lên bằng Pháp lệnh Trọng tài kinh tế nhà nước năm 1990, theo đó, trọng tài được tổ chức ở ba cấp, đó là Trọng tài kinh tế nhà nước, Trọng tài kinh tế tỉnh và Trọng tài kinh tế huyện. Mô hình này tồn tại đến năm 1993 và bị thay thế bởi hệ thống tòa án kinh tế theo Luật sửa đổi một số điều của Luật Tổ chức tòa án năm 1993. Bắt đầu từ thời điểm này, các tòa án kinh tế sẽ giải quyết các tranh chấp kinh tế.

Đối với trọng tài phi Chính phủ, tồn tại hai mô hình khác nhau. Mô hình thứ nhất ra đời từ năm 1963 bằng Nghị định số 59/CP ngày 30/4/1963 của Hội đồng Chính phủ về việc thành lập Hội đồng Trọng tài ngoại thương. Tiếp sau đó, ngày 5/10/1964, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 153/CP về việc thành lập Hội đồng Trọng tài hàng hải. Đến ngày 28/4/1993, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 204/TTg về việc thành lập Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, trên cơ sở hợp nhất Hội đồng Trọng tài ngoại thương và Hội đồng Trọng tài thương mại hàng hải. Mô hình trọng tài thứ hai là các trung tâm trọng tài kinh tế được thành lập theo Nghị định số 116/CP ngày 05/09/1994 của Chính phủ. Có 05 trung tâm trọng tài được thành lập theo Nghị định này (02 Trung tâm tại thành phố Hà Nội, 01 Trung tâm tại thành phố Hồ Chí Minh, 01 Trung tâm tại Cần Thơ và 01 Trung tâm tại Bắc Giang).

Continue reading

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 638 other followers

%d bloggers like this: