HỢP ĐỒNG KÌ HẠN (FORWARD)

Hợp đồng kì hạn là một thoả thuận giữa hai bên về việc mua hay bán một tài sản nào đó vào một thời điểm định trước trong tương lai. Do vậy, trong loại hợp đồng này, ngày kí kết và ngày giao hàng là hoàn toàn tách biệt nhau. Khác với hợp đồng quyền chọn, trong đó người giữ hợp đồng có quyền thực hiện hoặc không thực hiện quyền của mình, thì ở hợp đồng kì hạn, 2 bên chịu sự ràng buộc pháp lý chặt chẽ hải thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, trừ khi cả hai bên thoả thuận huỷ hợp đồng.

Hợp đồng kì hạn được sử dụng để phòng ngừa rủi ro, ví dụ như rủi ro mất giá tiền tệ (hợp đồng kì hạn đối với USD hoặc EUR) hay rủi ro biến động giá một loại hàng hoá nào đó (hợp đồng kì hạn với dầu mỏ).

Trong hợp đồng kì hạn, một bên đồng ý mua, còn bên kia đồng ý bán, với một mức giá kì hạn được thống nhất trước, nhưng không có việc thanh toán tiền thật sự ngay thời điểm kí kết. Ngược lại với giá kì hạn là giá giao ngay (spot price), giá bán của tài sản được giao vào ngày giao ngay (spot date), thường là trong vòng 2 ngày kể từ ngày kí. Chênh lệch giữa giá kì hạn và giá giao ngay gọi là khoản thặng dư(forward premium) nếu giá kì hạn cao hơn,  hoặc khoản khấu trừ(forward discount) nếu giá kì hạn thấp hơn.

Hợp đồng kì hạn được tiêu chuẩn hoá, giao dịch trên các thị trường tập trung gọi là hợp đồng tương lai (futures contract). Hợp đồng tương lai cũng là một loại hợp đồng kì hạn nhưng nó có những đặc trưng rât riêng.

Hãy nghiên cứu ví dụ sau để hiểu rõ hơn về đặc điểm của một hợp đồng kì hạn:

Giả sử Mr. X muốn mua một ngôi nhà trong vòng 1 năm tới, đồng thời Mr. Y sở hữu một căn nhà và anh ta muốn bán trong cùng thời gian đó. Y thoả thuận bán ngôi nhà của Y cho X sau 1 năm nữa với giá là $104,000, hợp đồng này là một hợp đồng kì hạn. Vì X là người mua nên X mong muốn giá sẽ tăng trong tương lai, ngược lại, Y muốn giá giảm. Cuối năm, giả sử giá thị trường của ngôi nhà lúc đó là $110,000, trong khi Y có nghĩa vụ phải bán nhà cho X với giá $104,000 theo như cam kết trong hợp đồng nên có thể coi như Y đã lỗ $6000, còn X lãi $6000 (vì X có thể mua nhà của Y với giá $104,000 và bán ngay trên thị trường với giá $110,000).

Nhìn chung nếu không tính đến các nhân tố khác thì giá kì hạn bao giờ cũng lớn hơn giá giao ngay, vì nó bao gồm cả lãi suất.

Tiếp tục ví dụ trên, giả sử giá bán hiện nay của ngôi nhà là $100,000, thì Y có thể bán ngay để đem gửi ngân hàng để hưởng lãi suất 4%/năm. Sau 1 năm Y sẽ có số tiền $104,000 mà không phải chịu chút rủi ro nào. Trong khi đó nếu X muốn mua ngay ngôi nhà anh ta sẽ đến vay ngân hàng số tiền $100,000, và cũng phải trả lãi 4%/năm. Còn ngược lại nếu kí hợp đồng mua kì hạn anh ta sẽ không phải trả lãi nên X cũng sẵn sàng bỏ ra $104,000 để mua ngôi nhà trong vòng 1 năm nữa. Đó là lý do vì sao giá kì hạn được thống nhất ở $104,000 chứ không phải là $100,000.

SOURCE: WIKIPEDIA

Trích dẫn từ: http://saga.vn/dictview.aspx?id=1657

THÔNG TƯ SỐ 03/2009/TT-BNG NGÀY 9 THÁNG 7 NĂM 2009 CỦA BỘ NGOẠI GIAO HƯỚNG DẪN DỊCH QUỐC HIỆU, TÊN CÁC CƠ QUAN, ĐƠN VỊ VÀ CHỨC DANH LÃNH ĐẠO, CÁN BỘ CÔNG CHỨC TRONG HỆ THỐNG HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC SANG TIẾNG ANH ĐỂ GIAO DỊCH ĐỐI NGOẠI

Căn cứ Nghị định số 178/2007/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ;
Căn cứ Nghị định số 15/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Ngoại giao;
Sau khi thống nhất ý kiến với Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao hướng dẫn dịch Quốc hiệu, tên các cơ quan, đơn vị và chức danh lãnh đạo, cán bộ công chức trong hệ thống hành chính nhà nước sang tiếng Anh để giao dịch đối ngoại.

Điều 1. Phạm vi và nội dung dịch sang tiếng Anh

1. Trong Thông tư này Quốc hiệu, tên cơ quan và chức danh trong hệ thống hành chính nhà nước cấp trung ương được dịch đầy đủ sang tiếng Anh; tên của các đơn vị thuộc cơ quan và Ủy ban nhân dân các cấp được dịch phần danh từ chung.

2. Ban hành kèm theo Thông tư này “Phụ lục dịch Quốc hiệu, tên các cơ quan, đơn vị và chức danh lãnh đạo, cán bộ công chức trong hệ thống hành chính nhà nước sang tiếng Anh để giao dịch đối ngoại”.

3. Tên viết tắt theo chữ cái tiếng Anh của các Bộ (ví dụ: Bộ Ngoại giao là MOFA, Bộ Kế hoạch và Đầu tư là MPI), cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ được dịch trên cơ sở thực tế các cơ quan đã sử dụng trong các văn bản đối ngoại.

4. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương dịch tên đầy đủ của các đơn vị, tổ chức trực thuộc, các chức danh chưa được dịch trong phụ lục Thông tư này sang tiếng Anh và lập thành văn bản để sử dụng đối ngoại.

Đọc tiếp

BÀN VỀ KHÁI NIỆM XÃ HỘI HÓA

GS. NGÔ THÀNH DƯƠNG

Gần đây trên báo chí và phát thanh truyền hình trong nước một số bài viết và nói đã sử dụng khái niệm "xã hội hóa". Các tác giả nói về chủ trương của Đảng và Nhà nước xã hội hóa giáo dục và văn hóa. Có bài chỉ nói thoáng qua, nhưng có bài lại phân tích lý luận về xã hội hóa. Ở đây tôi muốn trao đổi về mặt lý luận để chúng ta sử dụng khái niệm đó như thế nào cho chính xác.

Lượm lặt qua các báo tôi tóm tắt một số ý kiến nói về "xã hội hóa" như sau:

"Tăng nguồn lực đầu tư của Nhà nước để phát triển các lĩnh vực xã hội và thực hiện các mục tiêu xã hội, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa – coi đây là một biện pháp rất cơ bản nhằm huy động mọi nguồn lực, trí tuệ của các thành phần kinh tế, của các tổ chức xã hội, của mọi người".

"Thực hiện xã hội hóa giáo dục, huy động nguồn vật chất và trí tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục".

"Chuyển một số trường đại học, cao đẳng bán công sang loại hình tư thục. Thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục của Đảng và Nhà nước…

"Huy động mọi nguồn lực xã hội cho phát triển văn hóa, xã hội hóa các hoạt động văn hóa".

Người ta dẫn chứng việc thực hiện chủ trương xã hội hóa đó như là cho phép thành lập một số công ty làm phim tư nhân, vận động xã hội hóa việc tu sửa giữ lại dáng hình xưa của các phố cổ v.v…

Theo cách nói trên, người ta hiểu khái niệm xã hội hóa như sau:

Đọc tiếp

CHÍNH SÁCH CÔNG

PGS.TS LÊ CHI MAI

Thuật ngữ "chính sách" được sử dụng rộng răi trên sách báo, trên các phương tiện thông tin đại chúng và trong đời sống xă hội. Hiểu một cách giản đơn, chính sách là chương tŕnh hành động do các nhà lănh đạo hay nhà quản lư đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của ḿnh.

Theo James Anderson: "Chính sách là một quá tŕnh hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm".

Các chính sách có thể được đề ra và thực hiện ở những tầng nấc khác nhau: Chính sách của Liên hiệp quốc, chính sách của một đảng, chính sách của Chính phủ, chính sách của chính quyền địa phương, chính sách của một bộ, chính sách của một tổ chức, đoàn thể, hiệp hội, chính sách của một doanh nghiệp…

Các tổ chức, các doanh nghiệp, các hiệp hội, đoàn thể… có thể đề ra những chính sách riêng biệt để áp dụng trong phạm vị một tổ chức, doanh nghiệp, hiệp hội hay đoàn thể đó. Các chính sách này nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra cho mỗi tổ chức, chúng chỉ có hiệu lực thi hành trong tổ chức đó, v́ vậy, chúng mang tính chất riêng biệt và được coi là những "chính sách tư", tuy trên thực tế khái niệm "chính sách tư" hầu như không được sử dụng.

Những chính sách do các cơ quan hay các cấp chính quyền trong bộ máy nhà nước ban hành nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng được gọi là chính sách công. Khoa học chính sách nghiên cứu các chính sách nói chung, nhưng tập trung chủ yếu vào việc nghiên cứu các chính sách công nhằm mục tiêu nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lư của Nhà nước.

Đọc tiếp

DỊCH VỤ CÔNG

PGS.TS. LÊ CHI MAI

Theo từ điển Le Petit Larousse: "Dịch vụ công là hoạt động v́ lợi ích chung, do một cơ quan nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm". Định nghĩa này đưa ra cách hiểu chung về dịch vụ công, song ở đây không có sự phân biệt giữa Nhà nước và tư nhân trong việc cung ứng dịch vụ công, do đó không làm rơ được tính chất "công" của dịch vụ này.

Jean-Philippe Brouant và Jacque Ziller: "Một dịch vụ công thường được định nghĩa như một hoạt động do ngành tài chính đảm nhiệm để thỏa măn một nhu cầu về lợi ích chung". Các tác giả này phân tích rằng, ban đầu chỉ có ngành hành chính đảm trách các dịch vụ công. Nhưng các nhiệm vụ về lợi ích chung ngày càng nhiều gấp nội đă dẫn tới việc một số tư nhân cũng tham gia vào việc cung ứng các dịch vụ này. Yếu tố về tổ chức (người trực tiếp cung ứng dịch vụ công) không c̣n là yếu tố quyết định để biết xem một dịch vụ có phải là dịch vụ công hay không. Từ thực tế đó, vấn đế đặt ra không phải ai là người trực tiếp cung ứng một dịch vụ phục vụ lợi ích chung, mà là ở chỗ ai chịu trách nhiệm cuối cùng về việc cung ứng dịch vụ này cho xă hội. Từ đó, các tác giả cho rằng, "một hoạt động lợi ích chung được một pháp nhân công quyền đảm nhiệm được coi là một dịch vụ công" – "đảm nhiệm" ở đây được hiểu như trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm cung ứng dịch vụ công. Như vậy, một hoạt động v́ lợi ích chung do một tư nhân đảm trách không được xem là một dịch vụ công, trừ phi có sự tác động của Nhà nước đến việc cung ứng dịch vụ đó.

Trong trường hợp này, ngành hành chính luôn giữ quyền cũng như nghĩa vụ kiểm tra và theo dơi. Trên thực tế, không có các tiêu chí pháp lư cố định để xác định trong số các hoạt động v́ lợi ích chung, hoạt động nào có tính chất dịch vụ công. Theo các tác giả, có thể đưa ra các tiêu chí như sau:

Đọc tiếp

MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI

SAGA - Như chúng ta đã biết, nhượng quyền thương mại là một hình thức kinh doanh đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng. Đã có nhiều khái niệm được nêu ra của nhiều trường phái khác nhau nhằm giải thích, hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện họat động kinh doanh nhượng quyền đạt hiệu quả. Tuy nhiên, do sự khác biệt về quan điểm và môi trường kinh tế, chính trị, xã hội giữa các quốc gia, nên các khái niệm này thường khác nhau.

Các khái niệm dưới đây được chọn lọc dựa trên sự khác nhau trong việc quản lý điều chỉnh các hoạt động nhượng quyền thương mại của một số nước tiêu biểu, có thể phân chia các nước trên thế giới thành bốn nhóm nước như sau:

(i)                 Nhóm các nước với hệ thống pháp luật bắt buộc (hoặc khuyến khích sự tự nguyện) công khai chi tiết nội dung của thoả thuận nhượng quyền thương mại.

(ii)                Nhóm các nước với hệ thống pháp luật khuyến khích sự tự nguyện, công bố chi tiết nội dung của thoả thuận nhượng quyền thương mại.

(iii)               Nhóm các nước có luật cụ thể, điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại.

(iv)              Nhóm các nước điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại theo luật về chuyển giao công nghệ.

Dựa trên 4 nhóm nước này, ta có một số khái niệm nhượng quyền tiêu biểu sau đây:

* Khái niệm nhượng quyền của Hiệp hội nhượng quyền kinh doanh Quốc tế (The International Franchise Association):

* Hiệp hội nhượng quyền kinh doanh Quốc tế (The International Franchise Association) là hiệp hội lớn nhất nước Mỹ và thế giới đã nêu ra Khái niệm nhượng quyền thương mại như sau:

 

Đọc tiếp

HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI

image Hợp đồng tương lai là một hợp đồng được tiêu chuẩn hoá, được giao dịch trên thị trường giao dịch hợp đồng tương lai, để mua hay bán một số loại hàng hoá nhất định, ở một mức giá nhất định, vào một ngày xác định trong tương lai. Ngày trong tương lai đó gọi là ngày giao hàng, hay ngày thanh toán cuối cùng. Giá được xác định ngay tại thời điểm kí hợp đồng được gọi là giá tương lai (futures price), còn giá của hàng hoá đó vào ngày giao hàng là giá quyết toán. Thông thường, càng dần đến ngày giao hàng thì giá quyết toán sẽ hội tụ dần về giá tương lai.

Đến ngày giao hàng, hàng sẽ được chuyển từ người bán cho người mua nếu đó là hợp đồng giao hàng, hoặc tiền sẽ được chuyển từ bên lỗ sang bên lãi nếu đó là kiểu hợp đồng bù trừ tiền. Để thoát khỏi hợp đồng trước khi đáo hạn, các bên tham gia hợp đồng có thể chuyển nhượng hợp đồng cho một bên khác theo giá thị trường, kết thúc một hợp đồng tương lai và các nghĩa vụ kèm theo của nó.

Ví dụ: công ty A bán cho công ty B 100,000 thùng dầu giao tháng 5/2007 theo một hợp đồng tương lai với giá $65/thùng. Đến tháng 5/2007, giá dầu lên $85/thùng thì hoặc là A sẽ phải giao cho B 100,000 thùng dầu với giá $65 hoặc A sẽ không phải giao dầu mà thanh toán cho B 20×100,000= 2tr USD.

Hợp đồng tương lai là một công cụ phái sinh được mua bán ở các sàn giao dịch tập trung. Trung tâm xử lý thanh toán(clearinghouse) trong sàn giao dịch đóng vai trò như là một bên trong tất cả các hợp đồng, nó đặt ra những yêu cầu nhất định về kí quĩ, bảo lãnh thực hiện hợp đồng đối với những người tham gia giao dịch…

Xét từ định nghĩa thì hợp đồng tương lai chính là một loại hợp đồng kì hạn (forward contract), song giữa hai loại hợp đồng này có một số điểm khác biệt chủ yếu sau:

  • Hợp đồng tương lai luôn được giao dịch trong các sàn giao dịch, trong khi đó các hợp đồng kì hạn luôn được giao dịch ở thị trường phi tập trung (OTC), hay chỉ đơn giản là một hợp đồng kí giữa hai bên.

  • Hợp đồng tương lai là hợp đồng được tiêu chuẩn hoá cao, hàng hoá được phân theo lô, đánh số, kí mã hiệu đầy đủ. Ngược lại hợp đồng kì hạn là hợp đồng có tính riêng biệt, mỗi hợp đồng mỗi khác.

  • Hợp đồng tương lai ít rủi ro hơn khi mà nó được giao dịch thông qua các sàn giao dịch, bên còn lại của hợp đồng là clearinghouse, luôn đảm bảo uy tín. Ngược lại trong hợp đồng kì hạn người tham gia phải đối mặt với rủi ro phía đối tác sẽ không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của hợp đồng.

  • Trong hợp đồng kì hạn, các bên đều xác định rõ đối tác của mình là ai, còn trong hợp đồng tương lai, các đối tác được xác định ngẫu nhiên

Có 2 đối tượng chính mua hay sử dụng hợp đồng tương lai, một là các nhà đầu tư muốn dự phòng rủi ro (hedger), và hai là các nhà đầu cơ trước những dự đoán về biến động giá trên thị trường.

TRÍCH DẪN TỪ: http://saga.vn/dictview.aspx?id=1658

THỊ TRƯỜNG GIAO DỊCH HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI (Futures exchange/commodites exchange)

image 1. Futures Exchanges: Là sàn giao dịch cho các giao dịch Tương lai cả về hàng hoá là công cụ Tài chính lẫn hàng hoá thông thường.

Là thị trường hàng hoá nơi mà các hợp đồng tương lai về các công cụ tài chính hoặc hàng hoá thông thường (Bột mỳ, đậu tương, cà phê,…) được mua và bán. Các thông tin về chỉ số cổ phiếu, trái phiếu và hợp đồng quyền chọn cũng được giao dịch và niêm yết trên thị trường này.

Các thị trường Giao dịch hợp đồng Tương lai trên thế giới bao gồm: Chicago Board of Trade; Chicago Mercantile Exchange/International Monetary Market(Thị trường tiền tệ Quốc tế); Commodity Exchange Inc., New York (Công ty giao dịch Chứng khoán New York); Mid-America Commodity Exchange Inc., Chicago (Công ty giao dịch Chứng khoán Trung Mỹ, Chicago); New York Futures Exchange (Thị trường giao dịch Trương lai New York); Sydney Futures Exchange, Sydney, Australia (Thị trường giao dịch Tương lai Sydney); the International Futures Exchange (Bermuda) Ltd.; Financial Futures Market, Montreal Stock Exchange, Montreal, Quebec (Thị trường giao dịch Chứng khoán Montreal); Toronto Stock Exchange Futures Market (Thị trường giao dịch Chứng khoán tương lai Toronto); Winnipeg Commodity Exchange; London International Futures Exchange (Thị trường giao dịch Tương lai Quốc tế London); London Metal Exchange; Hong Kong Commodity Exchange; the Gold Exchange of Singapore; and the Tokyo International Financial Futures Exchange (Thị trường giao dịch Tương lai Quốc tế Tokyo).

2. Futures market: Chỉ là nơi giao dịch hợp đồng Tương lai về hàng hóa thông thường.

Là thị trường giao dịch hàng hoá nơi mà các hợp đồng tương lai với mục đích cung cấp ngũ cốc, thực phẩm, và các kim loại quý hiếm được mua và bán.  Hoạt động Đầu cơ trên thị trường tương lai nhằm bảo vệ nhằm bảo vệ các bên tham gia giao dịch trong điều kiện bất lợi hoặc biến động về giá. Thị trường Tương lai của Mỹ bao gồm Trái phiếu Kho bạc, các khoản thuê mua được bảo đảm của Chính phủ, vì vậy tạo điều kiện cho đầu cơ về tỷ lệ lãi suất trong tương lai.

3. Corporation: Là tên của một loại hình công ty.

Futures exchange còn là một tập đoàn hoặc tổ chức chuyên cung cấp thị trường cho các giao dịch Phái sinh như Hợp đồng Tương lai và Hợp đồng Quyền chọn. Còn được biết đến với cái tên Commodities Exchange. Các hợp đồng được giao dịch hàng ngày đối với các sản phẩm như cổ phần, trái phiếu, lãi suất ngắn hạn, ngũ cốc, tiền tệ.

SOURCE: answer.com

Trích dẫn từ: http://saga.vn/dictview.aspx?id=1368

CÔNG TY HỢP DANH (PARTNERSHIP)

Công ty hợp danh là một loại hình công ty trong đó các thành viên chia sẻ lợi nhuận cũng như thua lỗ của công ty mà họ cùng nhau đầu tư vào.

Tại hầu hết các nước, công ty hợp danh được tạo nên từ một hợp đồng hợp tác giữa các cá nhân, những người với tinh thần hợp tác, đồng ý thành lập nên doanh nghiệp, đóng góp cho nó bằng tài sản, hiểu biết, hoạt động và cùng chia sẻ lợi nhuận. Giữa các thành viên có thể có một hợp đồng hợp tác hoặc một bản tuyên bố hợp tác và trong một số hệ thống luật pháp, những thỏa thuận như vậy có thể được đăng ký và công bố rộng rãi cho công chúng. Ở nhiều nước, công ty hợp danh có thể được coi là có tư cách pháp nhân, trong khi một số nước khác lại có quan điểm trái ngược.

Công ty hợp danh thường có lợi thế hơn so với công ty cổ phần vì nó không phải đóng thuế cổ tức, trên số lợi nhuận thu được, hay nói cách khác tránh được việc bị đánh thuế hai lần.

Hình thức  cơ bản nhất của công ty hợp danh là công ty hợp danh trách nhiệm chung (GP) trong đó mọi thành viên đều tham gia vào điều hành kinh doanh và đều chịu trách nhiệm cá nhân về các khoản nợ của công ty. Hai hình thức khác cũng khá phát triển ở hầu hết các nước là Công ty hợp danh hữu hạn (LP) và Công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn (LLP), Trong công ty hợp danh hữu hạn, ngoài các thành viên quản trị còn có các “thành viên trách nhiệm hữu hạn”, những người này từ bỏ quyền điều hành doanh nghiệp để đổi lấy “trách nhiệm hữu hạn” đối với các khoản nợ của công ty. Còn với Công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn (LLP), tất cả các thành viên đều có trách nhiệm hữu hạn trong một mức độ nhất định.

SOURCE: Wikipedia.com

Trích dẫn lại từ: saga.vn

FRANCHISE LÀ CÁI CHI CHI?

TAM HÁT – VietFranchise

Bấy lâu nay, chắc quý vị thường nghe báo chí nhắc đến mấy cụm từ: franchise, franchising, nhượng quyền thương mại, nhượng quyền kinh doanh, nhượng quyền thương hiệu… Vậy tất cả những cụm từ trên dùng để chỉ cái gì? Nhưng trước hết, tác giả xin có một đính chính nhỏ, nếu ai hay dùng cụm từ “nhượng quyền thương hiệu” để chỉ hoạt động franchise (hay franchising) là chưa chính xác, bỡi vì thương hiệu chỉ là một phần trong nội dung nhượng quyền.

Franchise, franchising, nhượng quyền thương mại hay nhượng quyền kinh doanh (gọi tắt là franchise) dùng để chỉ một phương thức kinh doanh đặc biệt, có nhiều định nghĩa về franchise trên thế giới.

Tại Hoa Kỳ, Ủy ban Thương Mại Liên Bang (FTC) đã định nghĩ rằng: “franchise là hợp đồng, thỏa thuận giữa các bên, mà trong đó một bên chủ thương hiệu cho phép bên kia được quyền kinh doanh sản phẩm, dịch vụ theo kế hoạch, hệ thống gắn liền với thương hiệu của chủ thương hiệu. Người được cấp quyền phải trả cho bên cấp quyền các khoản phí trực tiếp hay gián tiếp, gọi là phí franchise“.

Đọc tiếp

TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

 image TRUNG TÂM NCKH&ĐTCK – ỦY BAN CHỨNG KHOÁN NHÀ NƯỚC

Thị trường chứng khoán trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại, được quan niệm là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán trung và dài hạn. Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành, và ở những thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp.

Như vậy, xét về mặt hình thức, thị trường chứng khoán chỉ là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán, qua đó thay đổi chủ thể nắm giữ chứng khoán. Thị trường chứng khoán có những chức năng cơ bản sau:

1. Chức năng cơ bản của thị trường chứng khoán

- Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế

- Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng

- Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán

- Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp

- Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách vĩ mô.

Đọc tiếp

BÁN HÀNG ĐA CẤP (MULTI LEVEL MARKETING)

SAGA - Bán hàng đa cấp là phương thức kinh doanh kết hợp giữa bán hàng trực tiếp (direct marketing) và nhượng quyền thương mại (franchising). Đại diện bán hàng đa cấp (hay còn gọi  là nhà phân phối, hợp tác viên, đại lý,…nhận hoa hồng từ hiệu quả bán hàng của chính mình. Ngoài ra, khi kêu gọi được những thành viên mới tham gia hệ thống của, họ còn nhận được hoa hồng từ hiệu quả bán hàng của các thành viên mới (gọi là cấp dưới). Trong franchising, hoa hồng được trả cho cá nhân người kinh doanh franchise và người nhượng quyền franchise. Còn trong hệ thống bán hàng đa cấp, tiền hoa hồng được trả cho nhiều người (tùy theo số cấp, ít nhất là 2).

Bán hàng đa cấp xuất hiện lần đầu tại Mỹ, vào cuối thế kỷ 19. Công ty đầu tiên có hình thức bán hàng này là Avon Products,inc. Đến nay, bằng hình thức kinh doanh duy nhất là bán hàng đa cấp, Avon đã trở thành công ty dẫn đầu trong lĩnh vực bán mỹ phẩm trực tiếp với doanh thu khoảng 6,8 tỉ USD/năm và có mặt tại 114 quốc gia trên thế giới.
Bán hàng đa cấp có mặt tại Việt Nam từ năm 1998, tuy nhiên đã có nhiều công ty lợi dụng phương pháp này để thực hiện hành vi lừa đảo, gây hoang mang và bất bình trong nhân dân. (Công ty Thế giới mới, Sinh Lợi,…).

Nghị định 110/CP ban hành ngày 24/8/2005 đã thừa nhận tính hợp pháp của hoạt động bán hàng đa cấp chân chính, đồng thời tạo hành lang pháp lý để xiết chặt quản lý đối với mô hình kinh doanh này.

http://www.saga.vn

CHU KỲ KINH DOANH TRONG KINH TẾ HỌC (Business cycle in economic terms)

SAGA -  Khi nghiên cứu các mô hình kinh tế, các nhà kinh tế luôn hướng tới việc tìm hiểu cơ chế dẫn đến các trạng thái cân bằng, đặc biệt trong dài hạn. Trên thực tế, nền kinh tế luôn bị các biến động làm đi chệch khỏi cân bằng dài hạn, gọi là các sốc (shock). Các sốc này có thể tác động rất lâu dài, hoặc rất chóng vánh, có thể dự kiến được hay hoàn toàn bất ngờ. Tùy vào loại sốc, mà dưới tác động của nó nền kinh tế có thể vẫn ở nguyên vị trí cân bằng hay bị dịch chuyển sang trạng thái khác. Quá trình điều chỉnh của nền kinh tế để trở về trạng thái cân bằng có thể nhanh hoặc chậm.

Hành trình nền kinh tế khi chịu tác động của sốc, dịch chuyển trở lại vị trí cân bằng được gọi là “chu kỳ kinh doanh“, mặc dù trên thực tế, hành trình này có vẻ không giống như các loại chu kỳ chúng ta thường gặp.

Ý nghĩa của nó như sau. Cho dù nền kinh tế không ở trạng thái cân bằng khi hành trình điều chỉnh đang diễn ra, nhưng các nhà kinh tế cho rằng nền kinh tế sẽ “ứng xử” một cách tối ưu trong chu kỳ kinh doanh đó, để hướng tới trạng thái cân bằng dài hạn.

Trên thực tế, chu kỳ kinh doanh là một dãy các trạng thái nền kinh tế đi qua, được gọi là dãy các điểm cân bằng tạm thời, và người ta xem mỗi điểm cân bằng tạm thời đó là trạng thái tối ưu tại thời điểm xác định. Dãy các trạng thái này được gọi là một mô hình về cân bằng liên thời.

Khái niệm này đặc biệt quan trọng đối với các chính sách kinh tế vĩ mô hiện đại, được xử lý theo phương pháp nghiên cứu DGE, và là một phần thiết yếu của nền tảng cho các chính sách ổn định kinh tế của các chính phủ.

© Saga.vn | Vương Quân Hoàng

CHU KỲ KINH DOANH (BUSINESS CYCLE)

SAGA - Chu kỳ kinh doanh (hay còn gọi là chu kỳ kinh tế) là sự biến động của GDP thực tế. Trước đây sự biến động này diễn ra theo trình tự bốn pha lần lượt là suy thoái, khủng hoảng, phục hồi, và hưng thịnh. Tuy nhiên, trong nền kinh tế hiện đại, khủng hoảng theo nghĩa kinh tế tiêu điều, thất nghiệp lan tràn, các nhà máy đóng cửa hàng loạt,v.v… không xảy ra nữa. Vì thế toàn bộ giai đoạn GDP giảm đi, tức là giai đoạn nền kinh tế thu hẹp lại, được gọi duy nhất là suy thoái.

Suy thoái: là pha trong đó GDP thực tế giảm đi. Ở Mỹ và Nhật Bản, người ta quy định rằng, khi tốc độ tăng trưởng GDP thực tế mang giá trị âm suốt hai quý liên tiếp thì mới gọi là suy thoái.

Phục hồi: là pha trong đó GDP thực tế tăng trở lại bằng mức ngay trước khi suy thoái.

Khi GDP thực tế tiếp tục tăng và bắt đầu lớn hơn mức ngay trước lúc suy thoái, nền kinh tế đang ở pha hưng thịnh. Kết thúc pha hưng thịnh lại bắt đầu pha suy thoái mới.

Chu kỳ kinh tế khiến cho kế hoạch kinh doanh của khu vự tư nhân và kế hoạch kinh tế của nhà nước gặp khó khăn. Việc làm và lạm phát cũng thường biến động theo chu kỳ kinh tế. Vì thế, chống chu kỳ kinh tế là nhiệm vụ được nhà nước đặt ra. Tuy nhiên, vì cách lý giải nguyên nhân gây ra chu kỳ kinh tế giữa các trường phái kinh tế học vĩ mô không giống nhau, nên biện pháp đề ra cũng khác nhau.

Theo Keynes, các khoản chi tiêu cho đầu tư (cả đầu tư cố định và đầu tư vào hàng tồn kho) là yếu tố dễ thay đổi. Hiện tượng này được gọi là chu kỳ đầu tư. Tại đỉnh của chu kỳ, thu nhập không tăng thêm nữa và mức đầu tư vào năng lực sản xuất mới đã đủ để thỏa mãn nhu cầu. Điều này làm cho phần đầu tư phái sinh (tức đầu tư do sự thay đổi của thu nhập quốc dân gây ra) giảm. Tại đáy của chu kỳ, đầu tư có thể tăng lên nhờ yếu tố ngoại sinh hoặc do ảnh hưởng của nhu cầu đầu tư thay thế. Trong trường hợp đó, sự gia tăng nhu cầu đầu tư làm tăng sản lượng và nhờ tác động tích cực của nhân tử, mức đầu tư phái sinh cũng tăng lên.

Do vậy, khi nền kinh tế thu hẹp, thì sử dụng các chính sách tài chính và chính sách tiền tệ nới lỏng. Khi nền kinh tế khuếch trương thì lại chuyển hướng các chính sách đó sang thắt chặt.

saga.vn

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 656 other followers

%d bloggers like this: