TRANH CHẤP TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG L/C VÀ MỘT SỐ GỢI Ý CHO CÁC DOANH NGHIỆP KHI THAM GIA GIAO DỊCH

PGS.TS. NGUYỄN THỊ QUY -  Đại học Ngoại thương; Trọng tài viên VIAC

Bên cạnh những thuận lợi, cơ hội mà quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mang lại, các doanh nghiệp Việt Nam cũng thường xuyên đang phải đối mặt với các khó khăn, thách thức không nhỏ. Một trong những thách thức lớn hiện nay là phải giảm thiểu các rủi ro, tranh chấp phát sinh trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (Documentary credit) hay còn được gọi là thanh toán bằng thư tín dụng ( Letter of Credit – L/C) – một phương thức thanh toán quốc tế (TTQT) phổ biến được nhiều các doanh nghiệp lựa chọn. Bài viết này nhằm mục đích tổng hợp các dạng tranh chấp thường phát sinh trong TTQT bằng thư tín dụng (L/C) dước góc độ các doanh nghiệp có kinh doanh xuất nhập khẩu, phân tích các nguyên nhân dẫn đến tranh chấp và gợi ý một số biện pháp nhằm giúp các doanh nghiệp giảm thiểu các rủi ro cũng như giải quyết tranh chấp một cách hiệu quả.

1. Các dạng tranh chấp thường phát sinh

Trước hết, có thể khẳng định, tranh chấp bắt nguồn từ rủi ro. Trong thương mại quốc tế nói chung và hoạt động TTQT nói riêng, các bên trong hợp đồng thường ở các quốc gia có vị trí địa lý cách xa nhau, thiếu các thông tin cần thiết khi tìm hiểu về đối tác, việc am hiểu luật lệ, tập quán buôn bán của mỗi nước lại hạn chế. Do vậy, các rủi ro xảy ra là điều khó tránh khỏi. Rủi ro trong TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ (TDCT) được hiểu là những bất trắc ngoài ý muốn có thể gây thiệt hại đối với các bên tham gia giao dịch bằng L/C như: Người yêu cầu mở L/C, người hưởng lợi L/C và các ngân hàng tham gia.

Các rủi ro, một khi không giải quyết được thường ảnh hưởng đến quyền lợi, gây tổn thất đối với các bên và kết cục là tranh chấp phát sinh, buộc các bên phải giải quyết hoặc bằng thương lượng hoặc đưa ra trung tâm trọng tài quốc tế, tòa án để giải quyết.

Các tranh chấp xảy ra trong thanh toán quốc tế bằng L/C thường rất đa dạng và bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Tuy nhiên, có hai loại tranh chấp điển hình thường gặp, đó là tranh chấp liên quan tới chứng từ do người bán tạo lập, xuất trình đòi tiền ngân hàng phát hành L/C và tranh chấp liên quan tới nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên tham gia vào giao dịch theo thư tín dụng.

1.1. Các tranh chấp liên quan tới chứng từ xuất trình

Về nguyên tắc, trong phương thức TDCT, các bên giao dịch chỉ căn cứ vào các chứng từ. Nếu người xuất khẩu lập được các chứng từ phù hợp với các quy định trong L/C thì ngân hàng sẽ thanh toán cho người xuất khẩu. Ðối với các chứng từ, ngân hàng phát hành thường yêu cầu người thụ hưởng phải thoả mãn các yêu cầu sau:

Đọc tiếp

ĐẶC TÍNH CỦA HÔN NHÂN DƯỚI GÓC NHÌN NHÂN HỌC

TS. ĐẶNG THỊ KIM OANH – Khoa Nhân học, Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Tp HCM.

TÓM TẮT

Hôn nhân là việc kết hợp tính giao giữa nam và nữ, nhưng không ở đâu, bất kỳ quốc gia nào, dù là khác nhau về chế độ chính trị xã hội, lại đng nhất hôn nhân với quan hệ tính giao. Hôn nhân mang ý nghĩa văn hóa, là tiếng nói văn hóa của con người can thiệp vào tự nhiên và mang những đặc tính xã hội - kinh tế sâu sắc. Tùy thuộc vào điều kiện xã hội và những yếu tố văn hóa tộc người mà hôn nhân diễn ra theo nhiều hình thái khác nhau, vừa phản ánh qui luật chung nhất sự phát triển của xã hội loài người qua các giai đoạn lịch sử, vừa mang những đặc thù văn hóa tộc người.

Vì vậy, hôn nhân luôn là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học thuộc lĩnh vực xã hội - nhân văn. Bài nghiên cứu này, dưới góc độ lý thuyết và các dẫn liệu Nhân học nhằm bàn thêm về những đặc tính văn hóa - xã hội - kinh tế của hôn nhân.

Trong tiếng Việt, hôn nhân được ghép bởi hai từ gốc Hán là hôn nhân: Hôn ((婚) là bố mẹ cô dâu (khác với hôn “昏” là buổi chiều, không có bộ nữ “女?”), nhân ((姻) là bố mẹ chú rể. Hôn nhân là việc cha mẹ đôi bên lấy vợ gả chồng cho con. (Đòan Văn Chúc, 2004, tr 185-186).

Hôn nhân là phương thức để xây dựng, duy trì, củng cố và phát triển gia đình, nó vừa liên quan chặt chẽ tới toàn bộ hệ thống xã hội, ảnh hưởng trực tiếp thường xuyên đến cuộc sống của mỗi cá nhân, vừa là biểu hiện sinh động sắc thái của văn hóa tộc người. Vì vậy, hôn nhân không chỉ là sự thừa nhận tính hợp pháp của quan hệ giới tính mà còn mang nhiều ý nghĩa văn hóa-xã hội khác.

1. HÔN NHÂN LÀ TIẾNG NÓI VĂN HÓA CỦA CON NGƯỜI CAN THIỆP VÀO TỰ NHIÊN

Hôn nhân đáp ứng một trong những yêu cầu cơ bản của nhân lọai là tái sản xuất con người. Khi cơ thể trưởng thành, bản năng tình dục của con người sẽ thúc dục hai giống tính khác nhau xích lại gần nhau để sinh sản, bảo tồn nòi giống và, do đó, hình thành mối giây tử hệ (filiation) mà trong đó con cháu được thừa hưởng (di truyền) di sản sinh lý của cả cha và mẹ. Không ai thay đổi được điều tự nhiên ấy. Đứng trước tử hệ những yếu tố nhân văn-xã hội của con người phải nhường ưu thế định đọat cho sinh lý tự nhiên.

Nhưng quan hệ giới tính (mating) để sinh sản ra con người theo nghĩa sinh vật thì không cần có hôn nhân cũng vẫn thực hiện được. Hôn nhân không đồng nghĩa với quan hệ giới tính ở chỗ hôn nhân đem lại ý nghĩa xã hội – văn hóa cho quan hệ giới tính. Trong hôn nhân, không phải với bất kỳ ai cũng có thể xích lại gần. Hôn nhân giới hạn và xác định những người đàn ông, đàn bà nào được phép hay không được phép lấy nhau làm vợ hay chồng. Sự giới hạn ấy hoàn toàn do yếu tố văn hóa chi phối, không phụ thuộc vào yếu tố sinh lý tự nhiên. Như vậy, hôn nhân là tiếng nói văn hóa của con người can thiệp vào tự nhiên.

Đọc tiếp

MỘT SỐ Ý KIẾN GÓP Ý ĐỐI VỚI Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 và Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

NGUYỄN NHƯ BÍCH – Nguyên Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

Theo quy định tại Điều 2 và Điều 17 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 thì Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao là văn bản quy phạm pháp luật được ban hành để hướng dẫn các Tòa án áp dụng thống nhất pháp luật. Trong những năm vừa qua Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã ban hành nhiều Nghị quyết hướng dẫn áp dụng các quy định của pháp luật trong việc giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, lao động… giúp cho Tòa án nhân dân các cấp áp dụng thống nhất pháp luật trong công tác xét xử; do đó, chất lượng xét xử của Tòa án nhân dân các cấp không ngừng được nâng cao.

Tuy nhiên, việc hướng dẫn áp dụng pháp luật của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao cũng còn có trường hợp chưa được kịp thời khi có đạo luật mới được ban hành hoặc được sửa đổi, bổ sung; hoặc có trường hợp chưa chính xác theo quy định của pháp luật.

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin nêu một số ý kiến góp ý đối với Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao.

Một là: Bộ luật dân sự năm 2005 được ban hành thay thế cho Bộ luật dân sự năm 1995 và đã có hiệu lực từ ngày 01/01/2006, nhưng cho đến nay vẫn có hai Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao về hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình được ban hành từ trước năm 2005 đang được TAND các cấp áp dụng (đó là các Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 và số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004), mặc dù tại hai Nghị quyết này các điều luật được hướng dẫn áp dụng hoặc được viện dẫn đều là các điều luật của Bộ luật dân sự năm 1995.

Sở dĩ có tình trạng này là vì nội dung hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao tại hai Nghị quyết nêu trên không trái với các quy định tương ứng của Bộ luật dân sự năm 2005 và vẫn có hiệu lực thi hành (vì Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao chưa ban hành Nghị quyết sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ hoặc bãi bỏ đối với hai Nghị quyết nêu trên và hai Nghị quyết nêu trên cũng không bị đình chỉ việc thi hành, hủy bỏ hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền – như quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008).

Tuy nhiên, việc Bộ luật dân sự năm 2005 có hiệu lực đã gần 9 năm mà Hội đồng Thẩm phán TAND vẫn chưa ban hành các Nghị quyết mới về hướng dẫn áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 để sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế cho hai Nghị quyết nêu trên là không phù hợp với các quy định tại Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật dân sự năm 2005; cụ thể là:

Đọc tiếp

MỘT SỐ Ý KIẾN TRONG VIỆC XÁC ĐỊNH QUAN HỆ TRANH CHẤP

THS. THÁI CHÍ BÌNH – Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang

Trong tố tụng dân sự, việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng pháp luật nội dung (điều chỉnh quyền và nghĩa vụ giữa các bên) trong việc giải quyết yêu cầu của đương sự. Để xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, cần phải dựa vào yêu cầu của đương sự và quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội mà đương sự tham gia. Trên thực tế, do quan hệ pháp luật đa dạng, tồn tại đan xen nhau nên việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp dựa vào yêu cầu của người khởi kiện không hề dễ dàng. Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin nêu lên vướng mắc trong việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp đối với yêu cầu thực hiện nghĩa vụ sau khi hợp đồng chấm dứt qua một số trường hợp cụ thể.

Bên cạnh hợp đồng dân sự được quy định trong Bộ luật dân sự, tùy từng lĩnh vực, các luật chuyên ngành còn quy định hợp đồng trong từng lĩnh vực cụ thể như: hợp đồng lao động trong Bộ luật lao động, hợp đồng kinh doanh thương mại trong Luật Thương mại… Theo Điều 281 Bộ luật dân sự, một trong những căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự là hợp đồng dân sự; vì vậy, khi hợp đồng dân sự  kết thúc thì các bên phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận khi chấm dứt hợp đồng. Tuy nhiên, pháp luật chuyên ngành không quy định cụ thể việc các bên trong hợp đồng phải tuân thủ nghĩa vụ sau khi thỏa thuận chấm dứt hợp đồng như trong Bộ luật dân sự. Cho nên, sau khi các bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng, một trong các bên khởi kiện yêu cầu bên kia thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận sẽ gây khó khăn cho Tòa án trong việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Chúng tôi đơn cử 02 trường hợp cụ thể sau:

Trường hợp thứ nhất: Nhân viên Công ty Cổ phần dược phẩm P (Công ty P) có thỏa thuận miệng với ông N.V.T (chủ Nhà thuốc D.T, có đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh cá thể) là Công ty P sẽ bán thuốc tân dược cho Nhà thuốc D.T theo yêu cầu của ông T. Phương thức giao nhận thuốc và thanh toán tiền theo từng đợt. Trong khoảng thời gian từ ngày 01/10/2008 đến ngày 14/7/2012, ông T đã nhận thuốc của Công ty P nhiều đợt và nợ lại một số tiền. Sau đó, ông T ngưng mua thuốc của Công ty P. Theo biên bản làm việc ngày 14/8/2012 giữa ông T với đại diện Công ty P, ông T thừa nhận còn nợ lại Công ty số tiền mua thuốc 100 triệu đồng và 02 bên thỏa thuận ông T sẽ trả cho Công ty P mỗi tháng 10 triệu đồng cho đến khi dứt nợ. Sau đó, vào ngày 26/8/2012, ông T đã trả được 10.000.000 đồng và ngưng không thanh toán tiếp mặc dù Công ty đã nhiều lần yêu cầu. Vì vậy, Công ty P khởi kiện yêu cầu ông T phải cho Công ty P số nợ còn lại là 90 triệu đồng.

Đọc tiếp

LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2013

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về chế độ sở hữu đất đai, quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý về đất đai, chế độ quản lý và sử dụng đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với đất đai thuộc lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Cơ quan nhà nước thực hiện quyền hạn và trách nhiệm đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai, thực hiện nhiệm vụ thống nhất quản lý nhà nước về đất đai.

2. Người sử dụng đất.

3. Các đối tượng khác có liên quan đến việc quản lý, sử dụng đất.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Thửa đất là phần diện tích đất được giới hạn bởi ranh giới xác định trên thực địa hoặc được mô tả trên hồ sơ.

2. Quy hoạch sử dụng đất là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế – xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định.

3. Kế hoạch sử dụng đất là việc phân chia quy hoạch sử dụng đất theo thời gian để thực hiện trong kỳ quy hoạch sử dụng đất.

4. Bản đồ địa chính là bản đồ thể hiện các thửa đất và các yếu tố địa lý có liên quan, lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận.

5. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất là bản đồ thể hiện sự phân bố các loại đất tại một thời điểm xác định, được lập theo từng đơn vị hành chính.

6. Bản đồ quy hoạch sử dụng đất là bản đồ được lập tại thời điểm đầu kỳ quy hoạch, thể hiện sự phân bổ các loại đất tại thời điểm cuối kỳ của quy hoạch đó.

7. Nhà nước giao quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà nước giao đất) là việc Nhà nước ban hành quyết định giao đất để trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất.

8. Nhà nước cho thuê quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà nước cho thuê đất) là việc Nhà nước quyết định trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất thông qua hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất.

Đọc tiếp

BÀN VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN TRÍCH LẬP VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN QUỸ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA DOANH NGHIỆP

TS. NGUYỄN VÂN ANH – Sở KH&CN Bà Rịa – Vũng Tàu

ThS LÊ VŨ TOÀN – Trường Quản lý KH&CN, Bộ KH&CN

Hiện nay tổng đầu tư cho khoa học và công nghệ (KH&CN) ở nước ta đạt mức 0,6% GDP, trong đó, chủ yếu từ ngân sách nhà nước (0,5% GDP). Mức đầu tư này hiện đang thấp hơn rất nhiều so với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới (năm 2010, Nhật Bản đầu tư cho KH&CN là 3,3% GDP, Hàn Quốc là 3%, Mỹ 2,7%, Đức 2,3%, Singapore 2,2%). Do vậy, việc gia tăng tỷ lệ đầu tư cho KH&CN, đặc biệt, việc huy động từ phía doanh nghiệp là vấn đề quan trọng đang được đặt ra. Một trong những hình thức huy động được áp dụng là khuyến khích doanh nghiệp thành lập Quỹ phát triển KH&CN để phục vụ cho việc đổi mới công nghệ tại chính doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc thành lập loại hình Quỹ này ở nước ta hiện còn gặp nhiều khó khăn, cần có những giải pháp tháo gỡ kịp thời.

Đặt vấn đề

Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp là một trong những loại hình Quỹ được đề cập đầu tiên tại nước ta trong Luật KH&CN [1] năm 2000. Điều 38.2 Luật KH&CN quy định: “Doanh nghiệp được lập Quỹ phát triển KH&CN để chủ động đầu tư phát triển KH&CN”. Luật Chuyển giao công nghệ (CGCN) (2006) [2], Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (2008) [3] tiếp tục bổ sung và đưa ra những quy định cụ thể. Trên cơ sở quy định của các Luật trên, Bộ Tài chính đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn cụ thể: Quyết định 36 [4], Thông tư 15 [5], Thông tư 105 [6]. Có thể nói, đây là các văn bản pháp lý quan trọng để Quỹ hình thành và đi vào hoạt động.

Tuy nhiên, theo Báo cáo tại Hội thảo về việc triển khai thực hiện Quỹ trên địa bàn tỉnh Bình Phước ngày 26.4.2013 [7]: “Việc hình thành Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp hiện nay đang gặp nhiều khó khăn, ít về số lượng (khoảng 15%), lại không đồng đều, như tại Bình Phước có doanh nghiệp trích 10% lợi nhuận trước thuế chỉ được khoảng 20 triệu đồng, có doanh nghiệp lại lên đến 189 tỷ đồng”.

Tại Bà Rịa – Vũng Tàu, tính đến tháng 7/2013 có 5 doanh nghiệp/hơn 8.000 doanh nghiệp thành lập Quỹ. Thành phố Hồ Chí Minh có 49 doanh nghiệp có Quỹ được hình thành. Trong đó có 26 doanh nghiệp đã trích lập quỹ với tổng cộng 346,8 tỷ đồng nhưng mới sử dụng hết 117,8 tỉ đồng (chiếm 33,9% tổng số tiền); số đơn vị chưa trích lập quỹ là 23 doanh nghiệp do mới lập Quỹ [8]. Tỷ lệ trích lập Quỹ tại 2 địa phương này từ 5 đến 10%, thời gian Quỹ được thành lập chỉ 1-3 năm trở lại đây. Qua tìm hiểu thực tế tại các doanh nghiệp và các quy định về Quỹ đã ban hành, nhận thấy có 2 vấn đề quan trọng cần phải quan tâm giải quyết. Đó là:

Đọc tiếp

NGƯỜI GỬI TIỀN, VIETINBANK, HUỲNH THỊ HUYỀN NHƯ VÀ 4.000 TỶ

LS. ĐỖ ĐĂNG KHOA

Huỳnh Thị Huyền Như kêu gọi khách hàng gửi tiền về Vietinbank, bằng hình thức ủy thác, gửi tiền trực tiếp… Sau khi khách hàng gửi tiền vào Vietinbank, Huyền Như có hai thủ đoạn chính để rút tiền. Một là, dùng chứng từ giả để rút ra, giả chữ ký của chủ tài khoản. Hai là, dùng chứng từ giả, giả chữ ký và thế chấp khoản tiền đó để vay Vietinbank, chiếm đoạt tiền vay; sau đó bị bắt, Vietinbank trích tiền gửi của khách hàng để bù đắp cho việc cho vay này, mặc dù hợp đồng thế chấp là giả. Tóm lại là người gửi tiền đã chuyển vào tài khoản hợp pháp của ngân hàng Vietinbank, sau đó Huyền Như dùng thủ đoạn gian dối để lấy tiền ra.

Vụ án phức tạp, thời gian xét xử dự kiến kéo dài từ ngày 6/1/2014 đến 25/1/2014. Trong những ngày qua trên các báo phản ánh câu chuyện phức tạp, nóng bỏng là Huyền Như chiếm đoạt tiền của ai, Vietinbank có phải đền tiền cho khách hàng hay không? Để bạn đọc tiện theo dõi và bình luận tôi xin tổng hợp các tin bài từ trang website: Cafef.vn và VnEconomy.vn, như sau.

QUAN ĐIỂM VIỆN KIỂM SÁT

Theo cáo trạng của Viện kiểm sát cho rằng trong vụ án này, Huỳnh Thị Huyền Như phạm tội lừa đảo, Vietinbank không bị thiệt hại và không phải chịu trách nhiệm về dân sự đối với các khoản tiền mà các đơn vị, cá nhân gửi vào ngân hàng. Theo đó Huỳnh Thị Huyền Như có trách nhiệm bồi thường cho khách hàng gần 4.000 tỷ đồng.

QUAN ĐIỂM BẢO VỆ VIETINBANK

Trả lời Hội đồng xét xử các câu hỏi của luật sư liên quan đến nghĩa vụ và trách nhiệm của VietinBank, ông Nguyễn Mạnh Toàn, chuyên viên phòng Pháp chế ngân hàng VietinBank đã khẳng định rằng, các bộ luật, nghị định, quyết định hoặc các văn bản dưới luật khác không có điều khoản nào quy định về trách nhiệm quản lý tài khoản tiền gửi, tài khoản của khách hàng được mở tại ngân hàng cũng như quản lý số dư trên các tài khoản này tại ngân hàng. Mấu chốt nhất trong nội dung trả lời là không có định nghĩa về “quản lý tài khoản” nên không có “trách nhiệm quản lý tài khoản”; số dư tài khoản thuộc quyền sở hữu và định đoạt của khách hàng.

Đọc tiếp

GIAO DỊCH BẢO ĐẢM CÓ ĐỐI TƯỢNG LÀ TÀI SẢN TƯƠNG LAI

THS. BÙI ĐỨC GIANG, Công ty Luật Audier and Partners Vietnam LLC

Giao dịch bảo đảm có đối tượng là tài sản tương lai thường là một phần của gói giao dịch bảo đảm dành cho các chủ nợ tài chính. Thế chấp là biện pháp bảo đảm phù hợp do thế chấp không đặt ra yêu cầu chuyển giao tài sản bảo đảm cho bên nhận thế chấp. Tuy vẫn còn một số điểm hạn chế trong quy định hiện hành song pháp luật về giao dịch bảo đảm đã đề cập các khía cạnh khác nhau của loại hình giao dịch bảo đảm này và do đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác lập, công bố giao dịch bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm.

1. Giá trị pháp lý của giao dịch bảo đảm đối với tài sản tương lai

Nguyên tắc chung – Pháp luật Việt Nam công nhận bốn loại tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản (điều 163, Bộ luật dân sự). Theo quy định của Bộ luật dân sự, đối tượng của giao dịch bảo đảm có thể có là vật hình thành trong tương lai (khoản 2 điều 320) và tài sản thế chấp có thể là tài sản được hình thành trong tương lai (khoản 1, điều 342). Thêm vào đó, khoản 1, điều 4, Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm được bổ sung, sửa đổi bởi Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 2 năm 2012 (Nghị định 163) quy định tài sản bảo đảm có thể là tài sản hình thành trong tương lai mà pháp luật không cấm giao dịch. Do đó về nguyên tắc có thể xác lập giao dịch bảo đảm đối với tài sản tương lai[2]. Tuy vậy, do cầm cố đặt ra yêu cầu phải chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm cồ (điều 326 và điều 328, Bộ luật dân sự) trong khi không có việc chuyển giao tài sản bảo đảm cho bên nhận thế chấp trong giao dịch thế chấp (khoản 1, điều 342, Bộ luật dân sự) nên tài sản tương lai chỉ có thể là đối tượng của giao dịch thế chấp[3].

Có thể thấy tài sản tương lai (future property/asset, after-acquired property/asset) là một loại tài sản đặc biệt. Thông thường để trở thành đối tượng của một giao dịch bảo đảm, tài sản phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm (khoản 1, điều 320 và khoản 1, điều 322, Bộ luật dân sự). Thế chấp tài sản hình thành trong tương lai là một ngoại lệ của nguyên tắc này.

Khái niệm tài sản tương lai Khoản 2, điều 4, Nghị định 163, tài sản hình thành trong tương lai không bao gồm quyền sử dụng đất và bao gồm (i) tài sản được hình thành từ vốn vay; (ii) tài sản đang trong giai đoạn hình thành hoặc đang được tạo lập hợp pháp tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm và (iii) tài sản đã hình thành và thuộc đối tượng phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm thì tài sản đó mới được đăng ký theo quy định của pháp luật.

Cách phân loại này khá trùng lặp và có vẻ chỉ hướng tới các tài sản hữu hình đã hoặc đang được tạo lập về mặt vật chất. Nó chưa tính đến thời điểm bên bảo đảm có quyền sở hữu tài sản – một tiêu chí quan trọng để xác định tính tương lai của tài sản bảo đảm. Hơn nữa, danh sách tài sản tương lai này không phù hợp với các tài sản vô hình[4].

Đọc tiếp

MỘT SỐ VƯỚNG MẮC TRONG VIỆC XEM XÉT, THẨM ĐỊNH TẠI CHỖ KHI GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ

LÊ THỊ HIỀN, Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa

Theo quy định tại điều 85, điều 89 Bộ luật tố tụng dân sự, xem xét, thẩm định tại chỗ là một trong những biện pháp để thu thập tài liệu, chứng cứ do Thẩm phán tiến hành khi thấy cần thiết, có thể là theo yêu cầu của đương sự hoặc do Thẩm phán chủ động tiến hành và phải được thực hiện theo trình tự do pháp luật quy định. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin đề cập đến hai vướng mắc chính trong thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về xem xét, thẩm định tại chỗ: thứ nhất là chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ; thứ hai là cách xử lý khi đương sự không hợp tác với Tòa án trong việc xem xét, thẩm định tại chỗ.

1. Về vấn đề chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ

Chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ là một trong những chi phí tố tụng. Tuy nhiên, Mục 2 chương IX Bộ luật tố tụng dân sự về các chi phí tố tụng khác (ngoài án phí, lệ phí Tòa án) chỉ quy định về chi phí giám định, định giá tài sản, chi phí cho người làm chứng, người phiên dịch, luật sư mà không có điều nào quy định về chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ và cũng không có điều luật nào quy định rằng chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ không phải một trong những chi phí tố tụng khác và không cho phép Tòa án thu tiền của đương sự để chi cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ. Vì vậy, việc các Tòa án hiện nay vẫn xác định chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ là chi phí tố tụng khác và thực hiện việc thu, chi liên quan đến hoạt động tố tụng này là không sai. Tuy nhiên, do không có quy định cụ thể về trình tự thủ tục thu, chi, xác định trách nhiệm của các bên đương sự liên quan đến loại chi phí này nên mỗi Tòa án thực hiện một cách khác nhau, trong cùng một Tòa án, mỗi thẩm phán cũng có cách thực hiện khác nhau, thậm chí cùng một Thẩm phán nhưng cũng có những vụ án thực hiện không giống nhau; nhưng nhìn chung, các Tòa án đã áp dụng các nguyên tắc chung của Bộ luật tố tụng dân sự quy định về các chi phí tố tụng khác tại Mục 2 chương IX Bộ luật này trong việc xem xét, thẩm định tại chỗ và thực tế chi phí được vận dụng một cách linh hoạt tùy thuộc vào từng vụ án cụ thể trên tinh thần tiết kiệm chi.

Thực tế những khoản chi trong việc xem xét, thẩm định tại chỗ thường bao gồm những khoản sau:

Đọc tiếp

NHÂN NGÀY 20/11: MỘT CÁCH LÝ GIẢI VỀ SỰ HỌC VÀ TÌNH THẦY TRÒ

LẠI NGUYÊN ÂN

Lâu nay trong xã hội ta, nhất là trong đời sống ở các đô thị, đề tài về sự ứng phó với giới nhà giáo không còn chỉ là chuyện của học sinh sinh viên mà đã thành mối bận tâm thường trực của các bậc cha mẹ, của toàn xã hội. Những gương giáo viên tận tụy với nghề thì vẫn có, song, những lời kêu ca từ cha mẹ học sinh về những khoản đóng góp có tên và không tên cho nhà trường và thầy cô, những tin tức về mua điểm, về chạy lớp chạy trường, v.v…lại nổi trội hơn. Lương giáo viên nhìn chung vẫn thấp nhưng không ít thầy cô đã giàu hẳn lên, nhờ những nguồn thu ngoài lương như luyện thi hoặc tham gia các vụ chạy điểm chạy trường chạy lớp…

Trong mắt người dân, nhất là dân đô thị, nghề giáo viên từ chỗ là nghề  “ốm  đói”, “lương ba cọc ba đồng”, trở nên nghề dễ kiếm tiền, và do đó trở nên nghề cao giá hơn trước, nhưng trong cư dân cũng thấy giảm dần niềm tin vào tính mô phạm, vào đức độ của giới nhà giáo; khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” thường gặp nơi khuôn viên các trường học, đang lộ ra những nét mỉa mai…

Vậy thì nên nghĩ thế nào về người thầy, về nghề giáo viên? về quan hệ thầy trò trong đời sống hiện tại?

Tôi muốn nêu lại một sự lý giải − mà theo tôi rất đặc sắc tuy không dễ nghe − về sự học và về điều vẫn được gọi là “tình thầy trò” trong xã hội.

Sự lý giải này là của Phan Khôi (1887-1959), một tác gia vốn nổi tiếng về sự thẳng thắn, “thiết diện vô tư” trong ngôn luận.

Quan hệ thầy trò nảy sinh là do ở xã hội con người nảy sinh sự học, − tức là hoạt động   tiếp nhận, đào luyện tri thức và kỹ năng; “sự học” trong ý niệm của các lớp người trước  còn mang nghĩa rộng hơn, trỏ hoạt động học thuật, tức là hoạt động nghiên cứu, phát minh, sáng chế, bổ sung và làm giàu các nguồn tri thức và kỹ năng.

Đọc tiếp

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CHO CỘNG ĐỒNG

LS. NGUYỄN HỮU DANH – ĐOÀN Luật sư TPHCM

Bài viết đã được lược bỏ các thông tin mang tính chất lễ nghi mong tác giả thông cảm.

Thời gian qua, vấn đề bồi thường thiệt hại cho hàng trăm, thậm chí hàng ngàn dân, trong các vụ ô nhiễm môi trường, an toàn thực phẩm, đã xảy ra tại nhiều địa phương như: Vụ công ty VEDAN xả chất thải gây ô nhiễm sông Thị Vải, ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng ngàn nhân dân; … Trong vụ này, hơn 1000 dân ở 3 tỉnh, thành phố (tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh) uỷ quyền cho 1 số luật sư để nộp đơn khởi kiện tại Toà án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Sau đó, những nông dân chưa nộp đơn khởi kiện thì Công ty VEDAN đã chủ động bồi thường thiệt hại theo sự kê khai của các hộ dân và thẩm định thiệt hại của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Vấn đề đòi bồi thường thiệt hại của hàng ngàn dân nói trên mang tính cộng đồng, được giải quyết theo Bộ luật dân sự như thế nào? Nói cách khác, Cộng đồng là chủ thể trong quan hệ dân sự không?

I. Về cộng đồng

Tự điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ năm 2000, nêu khái niệm cộng đồng: “Toàn thể những người cùng sống, có những điểm giống nhau, gắn bó thành một khối trong sinh hoạt xã hội; như: Cộng đồng làng xã, Cộng đồng ngôn ngữ, Cộng đồng người Việt ở nước ngoài

Cộng đồng là chủ thể nêu trong Quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng, được ban hành kèm Quyết định số 80/2005/QĐ-TTg ngày 18/04/2005 của Thủ tướng Chính phủ (gọi tắt Quy chế giám sát).

Điều 1 của Quy chế nêu: “Giám sát đầu tư của cộng đồng là hoạt động tự nguyện của dân cư sinh sống trên địa bàn xã, phường hoặc thị trấn (sau đây gọi chung là xã) theo quy định của Quy chế này và các quy định pháp luật khác có liên quan, nhằm theo dõi, đánh gía việc chấp hành các quy định về quản lý đầu tư của cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư, của chủ đầu tư, ban quản lý dự án các nhà thầu và đơn vị thi công dự án trong quá trình đầu tư; phát hiện, kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về các việc làm vi phạm các quy định về quản lý đầu tư đề kịp thời ngăn chặn và xử lý các việc làm sai quy định, gây lãng phí, thất thoát vốn và tài sản nhà nước, xâm hại lợi ích của cộng đồng.

Đọc tiếp

SỰ HÌNH THÀNH TẬP QUÁN QUỐC TẾ

LS. ĐIỀN ĐỨC THÀNH – Đoàn Luật sư TPHCM

Theo Điểm b khoản 1 Điều 38 Quy chế Tòa án quốc tế qui định những yếu tố để được công nhận là tập quán quốc tế là sự áp dụng thường xuyên của quốc gia và được thừa nhận là quy phạm pháp lý bắt buộc (opinio juris). Theo đó, nội dung của Điều 38 Tòa án quốc tế hướng dẫn tập quán quốc tế đã được thừa nhận là qui phạm pháp luật phải được các quốc gia thừa nhận và áp dụng thường xuyên, mà sự áp dụng thường xuyên này khó có thể chứng minh rõ ràng.

Tuy khó chứng minh, nhưng ở một khía cạnh nào đó, cũng có thể chứng minh được như qua các tài liệu chuẩn bị cho các thủ tục khác như phê chuẩn điều ước; đàm phán điều ước hoặc tham gia hội nghị quốc tế; xây dựng luật pháp quốc gia; những bản án của tòa án quốc gia; bầu cử trong Đại hội Đồng Liên hiệp quốc và các tổ chức quốc tế khác; những phát biểu của bộ trưởng đại diện chính phủ về ngoại giao; các văn kiện chính thức về ngoại giao, các ý kiến tư vấn hoặc bào chữa của luật sư trước Tòa án quốc gia và Tòa án quốc tế.

Những phán quyết của tòa án hoặc trọng tài quốc tế đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành về thừa nhận tập quán quốc tế. Ví dụ như quan hệ song phương về môi trường được hình thành từ phán quyết trọng tài đối với tranh chấp Trail Smelter năm 1941: ”Không quốc gia nào có quyền sử dụng hoặc cho phép sử dụng lãnh thổ của mình để phát tán khói gây thiệt hại nghiêm trọng đến lãnh thổ, tài sản và người dân của quốc gia khác” và nguyên tắc này được mở rộng bằng tuyên bố Stockholm: ”Các quốc gia có trách nhiệm bảo đảm những hoạt động chủ quyền quốc gia không gây thiệt hại đến môi trường của các quốc gia khác hoặc các khu vực vượt quá giới hạn chủ quyền quốc gia” (Môi trường và luật quốc tế về môi trường, Nhà xuất bản chính trị quốc gia 1996).

Đọc tiếp

GIAO DỊCH CÓ ĐỐI TƯỢNG QUYỀN ĐÒI NỢ

THS. BÙI ĐỨC GIANG – Cong ty Luật Audier and Partners Vietnam LLC

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam tồn tại một số khái niệm có nội hàm tương tự nhau và có thể ít nhiều khó phân biệt như quyền yêu cầu, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng, quyền đòi nợ, khoản phải thu. Việc nhận diện các quyền tài sản (tài sản vô hình) này có ý naghĩa quan trọng khi thực hiện giao dịch có đối tượng là các tài sản này. Bài viết sẽ phân tích quyền đòi nợ dưới góc nhìn của pháp luật dân sự trong tương quan với các quyền tài sản nói trên cũng như các giao dịch về quyền đòi nợ được pháp luật thừa nhận, trong đó có một số giao dịch còn chưa được khai thác thường xuyên trong hoạt động thương mại, nhất là trong việc cấp tín dụng.

1. Bản chất của quyền đòi nợ

Tính chất hỗn hợp

Quyền đòi nợ (debt claim, money claim, debt) có tính chất khá đặc biệt vì nó phản ánh việc một nghĩa vụ vừa là một mối quan hệ về mặt pháp luật, đồng thời lại là một loại tài sản.

Dưới góc độ của pháp luật về nghĩa vụ dân sự, quyền đòi nợ (khoản nợ, quyền yêu cầu thanh toán) là quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện một công việc1 quy định tại Ðiều 291 của Bộ luật dân sự (BLDS), cụ thể là phải thanh toán một khoản tiền cho bên có quyền tại một thời điểm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Thời điểm thỏa thuận này có thể là một thời điểm nhất định trong tương lai, nhưng quyền đòi nợ có thể được thanh toán khi bên có quyền yêu cầu hay khi phát sinh một sự kiện tương lai nhất định mà các bên đã thỏa thuận. Bên có quyền chỉ có thể yêu cầu việc thanh toán này từ phía bên có nghĩa vụ chứ không thể yêu cầu một bên thứ ba làm việc này bởi quyền đòi nợ chỉ thiết lập các mối quan hệ giữa bên có quyền và bên có nghĩa vụ mà thôi. Ðiều này minh họa cho tính chất tương đối của quyền đòi nợ.

Dưới góc độ của pháp luật về tài sản, quyền đòi nợ là một loại quyền tài sản (khoản 1 Ðiều 322, BLDS) và quyền tài sản lại là một trong bốn loại tài sản theo quy định hiện hành (Ðiều 163, BLDS). Như vậy, có thể hiểu quyền đòi nợ tự thân nó là một tài sản. Ðối tượng của quyền đòi nợ chính là khoản tiền sẽ được thanh toán vào một thời điểm nhất định.

Đọc tiếp

BÌNH LUẬN CHẾ ĐỊNH TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG DỰ LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH (sửa đổi)

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Chủ tịch Công ty Luật BASICO, Trọng tài viên VIAC

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật HNGĐ năm 2000 (Bản tác giả góp ý).

Dự thảo Luật HNGĐ (sửa đổi) – Bản trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 6, tháng 10/2013.

1. Các điều quy định về chế độ tài sản của vợ chồng

1.1. Vấn đề tài sản đóng vai trò ít nhất 30% vào sự ổn định và phát triển của “tế bào” gia đình trong xã hội. Quan hệ gia đình có tốt đẹp hay không, pháp luật chỉ tác động được vào tài sản, còn tình cảm thì không dựa nhiều vào luật được. Vì vậy, các điều quy định về chế độ tài sản của vợ chồng, nhất là những quy định mới được bổ sung là vô cùng cần thiết, đã giải quyết được hầu hết các vướng mắc, bất cập vô lý và nhức nhối từ ngày có Luật Hôn nhân gia đình năm 1959. Tuy nhiên, Dự thảo Luật có trên 30 điều (tăng khá nhiều so với Luật hiện hành) quy định về chế độ tài sản của vợ chồng đang được đưa chung vào một số chương (chủ yếu các điều ở Chương III về “Quan hệ giữa vợ và chồng”, một số điều ở Chương X về “Ly hôn” và một số điều ở một vài chương khác) là không hợp lý, lẫn lộn quan hệ tình cảm, nhân thân với quan hệ tài sản.

1.2. Vì vậy, đề nghị xem xét tách tất cả các điều khoản quy định liên quan đến tài sản của vợ chồng nói riêng, của gia đình nói chung để đưa vào một chương riêng về “Quan hệ tài sản trong gia đình”.

2. Về “Giao dịch liên quan đến chỗ ở của vợ chồng” (Điều 26đ):

2.1. Tên Điều này đề cập đến “chỗ ở”, tuy nhiên nội dung thì lại chỉ đề cập đến “nhà ở” khi quy định “Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch liên quan đến nhà ở là tài sản chung của vợ chồng hoặc là tài sản riêng của một bên nhưng là nơi sinh sống duy nhất của vợ chồng thì phải có sự thỏa thuận của vợ chồng.”. Như vậy là có sự không thống nhất giữa tên Điều Luật và nội dung (“chỗ ở” rộng hơn “nhà ở”).

2.2. Vì vậy đề nghị sửa tên Điều luật thành “Giao dịch liên quan đến nhà ở của vợ chồng”.

Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 648 other followers

%d bloggers like this: