Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

PHÁP ĐIỂN HÓA VÀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN: KINH NGHIỆM ITALIA

 BERNARDO GIORGIO MATTARELLA – Nghiên cứu viên Đại học Roma III

Tình trạng hiện nay của hệ thống quy phạm Italia có thể được môt tả bằng các thuật ngữ sau đây: sự lạm phát mạnh của các quy phạm, sự đánh mất tính tập trung của các bộ pháp điển truyền thống và xu hướng phi pháp điển hóa của các ngành luật trước kia được pháp điển hóa một cách đầy đủ, việc sử dụng ngẫu nhiên các văn bản duy nhất, xu hướng pháp điển hóa một phần của luật hành chính, sự thay thế bằng các pháp điển hóa tư. Trong tổng thể, chúng ta thường xử lý các vấn đề có phạm vi tổng quát, như sự dồi dào của các quy phạm et sự tăng về số lượng của các luật chuyên ngành, bằng các phương tiện phụ và chỉ áp dụng trên một phần phạm vi, như việc phê chuẩn các luật nguyên tắc và việc xây dựng các văn bản duy nhất.

Trong bài viết này[2], trước hết chúng tôi tiến hành xem xét tình hình trong các lĩnh vực chủ yếu của luật, đặc biệt trong pháp luật hành chính. Lạm phát quy phạm sẽ được mô tả trong các nguyên nhân của lạm phát và các hậu quả của lạm pháp. Sau đó chúng tôi sẽ nêu các giải pháp được thông qua cho đến nay và đánh giá các xu hướng mới hơn cả và các viễn cảnh tương lai. Tiếp theo, chúng tôi sẽ xem xét những điểm có lợi mà việc sử dụng pháp điển hóa tích cực hơn có thể mang lại, nhằm thực hiện có hiệu quả Nhà nước pháp quyền với hai khía cạnh chủ yếu: việc các cơ quan công quyền tuân thủ các quy phạm pháp luật và sự đảm bảo các quyền cá nhân. Continue reading

Advertisements

SƠ LƯỢC VỀ CHẾ ĐỊNH THẨM PHÁN CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

NGÔ CƯỜNG – Nguyên Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, TANDTC

Bài viết này giới thiệu tổng quát về chế định Thẩm phán của 11 quốc gia, bao gồm một số quốc gia/ theo truyền thống luật dân sự, như: Pháp, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, Indonesia, Thái Lan; một số quốc gia theo truyền thống thông luật, như: Mỹ, Canada, Úc; và Trung Quốc, Nga.

I. CNG HOÀ PHÁP

1. Đào to và bi dưỡng Thm phán

1.1. Đào to và bi dưỡng Thm phán cho Tòa án ngch tư pháp

1.1.1. Đào to ban đu

– Cơ quan đào to

Trường Thẩm phán quốc gia có chức năng đào tạo nghề Thẩm phán cho các đối tượng có liên quan và bồi dưỡng nghiệp vụ cho các Thẩm phán đang công tác.

Trường Thẩm phán quốc gia là đơn vị hành chính sự nghiệp thuộc Bộ Tư pháp.

Về cơ cấu tổ chức: Trường có Hiệu trưởng và Hội đồng quản trị. Chủ tịch Hội đồng quản trị là Chánh án Tòa phá án và Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị là Viện trưởng Viện Công tố bên cạnh Tòa phá án (tương tự Viện trưởng VKSNDTC ở ta). Như vậy, Trường được đặt dưới sự quản lý của hai nhân vật cao cấp nhất của hệ thống tư pháp của Pháp.

Giảng viên của Trường đều là các Thẩm phán chuyên nghiệp được biệt phái đến giảng dạy trong thời hạn 3 năm (cũng có thể được kéo dài thêm 3 năm nữa).

Continue reading

THỎA THUẬN TRỌNG TÀI HAY LÀ HỢP ĐỒNG CUNG CẤP DỊCH VỤ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP

 LÊ NGUYỄN GIA THIỆN – Đại học Kinh tế – Luật, ĐHQG TP.HCM

 LÊ NGUYÊN GIA THUẬN – Đại học Luật TP.HCM

Khái niệm Thỏa thuận trọng tài

Không phải đến giữa thế kỷ XX người ta mới nhận ra vai trò quan trọng của trọng tài, mà thực ra trọng tài đã được hình thành và phát triển trong lòng nền pháp chế La Mã. Luật XII Bảng (xuất hiện khoảng năm 450 TCN) quy định rằng một số tranh chấp đặc thù liên quan đến việc chia di sản thừa kế giữa các đồng thừa kế, ranh giới giữa các mảnh đất, nước mưa rơi xuống mảnh đất của một người nhưng lại gây ra thiệt hại cho tài sản của người khác và việc chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật đều có thể được giải quyết thông qua trọng tài.[1] Trong công cuộc pháp điển hóa của Hoàng đế Justinian I, với thành quả là Bộ Corpus Juris Civilis[2], chế định trọng tài cũng được các luật gia La Mã như Paulus, Ulpian, Gaius, Pomponius, Labeo… chú trọng và ghi chép rất kỹ lưỡng trong Quyển 4, Chương 8 của Bộ Digest. Theo quan niệm của pháp luật La Mã thì thỏa thuận trọng tài là sự tự nguyện thỏa thuận giữa các bên, theo đó các bên sẽ mang tranh chấp của mình đến nhờ một bên thứ ba giải quyết, bên thứ ba này gọi là trọng tài viên (arbiter)[3].

Trong bối cảnh pháp luật hiện đại, Luật mẫu về Trọng tài thương mại quốc tế của Ủy ban về Luật thương mại quốc tế của Liên Hiệp Quốc (Model Law of United Nations Commission on International Trade Law – Luật Mẫu UNCITRAL) vẫn giữ nguyên tinh thần của luật La Mã, nhưng quy định có phần chi tiết và chặt chẽ hơn, theo đó: “Thỏa thuận trọng tài là sự đồng thuận của các bên về việc cậy nhờ trọng tài giải quyết toàn bộ hay một phần tranh chấp đã phát sinh, hoặc có thể phát sinh từ một quan hệ pháp luật nhất định, bất kể có phải là quan hệ hợp đồng hay không. Một thỏa thuận trọng tài có thể là một điều khoản trong hợp đồng hoặc một thỏa thuận riêng biệt” [4].

Continue reading

GIÁO DỤC ĐẠI HỌC: NHỮNG VẤN ĐỀ CHƯA ĐƯỢC GIẢI QUYẾT THỎA ĐÁNG

BÙI TRỌNG LIỄU – Nguyên giáo sư đại học (Paris, Pháp)

Có những vấn đề trong giáo dục đại học tới nay chưa được giải quyết thỏa đáng, tuy nằm trong tầm tay, và không cần phương tiện tốn kém. Đó là trường hợp một số vấn đề nêu dưới đây.

I. Vấn đề nhà giáo đại học 

Vấn đề đội ngũ nhà giáo đại học là khởi thủy của nhiều vấn đề của nền giáo dục nói chung, bởi vì có thầy giỏi thì mới có trò giỏi, có một nền đại học tốt, thì mới có nền trung học tốt và nền tiểu học tốt, và trong đời sống hàng ngày của một xã hội, trong mọi guồng máy của một nước, con người hay hay dở cũng ở nhà trường mà ra. Không nên và không thể đặt vấn đề nhà giáo thấp hơn vấn đề xây cất trường sở hay vấn đề tuyển sinh. Nếu số sinh viên quá nhiều, mà số luợng nhà giáo không đủ (phải dạy quá tải) và chất lượng trình độ của nhà giáo không tương xứng (có thể nói như người xưa, là “ốc chưa mang nổi mình ốc, mà đòi mang gộc cho rêu”) thì bằng cấp chẳng còn giá trị gì nữa, dù có dán cho nó một nhãn hiệu thì nó vẫn cứ là đồ dỏm.

1. Trước tiên là một số người trong nước đã hiểu sai về vai trò của người giáo sư đại học (tôi gọi gộp trong từ “giáo sư”, cả cái gọi là phó giáo sư (PGS) mà tôi sẽ sẽ nói thêm dưới đây). Đây là một “chức vụ”, gắn liền với một cơ sở đại học, gồm nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu, hướng dẫn nghiên cứu và điều hành các công việc khoa học liên quan đến chuyên môn của một ngành, một bộ môn. Trong một xã hội trên đà phát triển, nhu cầu cần giải đáp, hoặc để dự đoán trước, các vấn đề nảy sinh, buộc phải có việc nghiên cứu và « đào tạo qua nghiên cứu ». Cũng vì thế mà người giáo sư đại học phải đồng thời là nhà nghiên cứu. Chức vụ là như vậy, nó gắn với nhu cầu của xã hội. Cho nên quan niệm giáo sư đại học như là một “hàm” hay một “danh hiệu” cao quí mà Nhà nước phong thưởng cho những cá nhân xuất sắc vì những công trình cá nhân của họ, là một quan niệm không có cơ sở khoa học, điều mà tôi đã phát biểu từ nhiều năm nay (1). Nếu tôi đề cập trước tiên đến loại nhà giáo này, là vì theo tôi, lẽ ra đây phải là đội ngũ nhà giáo cơ hữu duy nhất của đại học, cạnh đó còn có những nhà giáo khác như giảng viên, thỉnh giảng, vv. Vì giáo dục đại học mang tính đặc biệt như vậy, nên nhà giáo đại học không thể và không nên là những nhà giáo mà có người gọi là nhà giáo của “phổ thông cấp 4”. Tuy nhiên, vì thực tế đã để lại cho hiện tại một tình trạng trót như vậy rồi, nếu tiến hành cải tổ ngay từ bây giờ, thì cũng phải mấy chục năm nữa mới hoàn tất; nếu để chậm thì không biết đến bao giờ!

Continue reading

BẢO HỘ CHƯƠNG TRÌNH MÁY TÍNH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM: THỰC TIỄN VÀ THÁCH THỨC

TS. TRẦN KIÊN – Khoa Luật Đại học, Quốc gia Hà Nội

1. Chương trình máy tính và bảo hộ chương trình máy tính trên thế giới

1.1. Chương trình máy tính

Chương tình máy tính (computer program) hay phần mềm máy tính (software) là một tập hợp các chỉ thị hoặc các câu lệnh được viết bằng một hoặc nhiều ngôn ngữ lập trình theo một trật tự xác định ra để chỉ dẫn máy tính thực hiện một nhiệm vụ nhất định.

Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam cũng định nghĩa chương trình máy tính là tập hợp các chỉ dẫn được thể hiện dưới dạng các mã lệnh, các mã, lược đồ hoặc bất kì dạng nào khác, khi gắn vào một phương tiện mà máy tính đọc được, có khả năng làm cho máy tính thực hiện được một công việc hoặc đạt được một kết quả cụ thể.[1]

Bằng định nghĩa này, Việt Nam thuộc vào một trong số các ít nước trên thế giới có một định nghĩa chính thức về chương trình máy tính. Trung Quốc cũng có một định nghĩa chính thức về chương trình máy tính, và định nghĩa này khá giống với định nghĩa trong luật Việt Nam. [2] Qua các định nghĩa nêu trên cho thấy, dù vẫn chưa có một khái niệm phổ biến được sử dụng rộng rãi nhưng các tính chất căn bản của chương trình máy tính đã được chấp nhận cả về khía cạnh kĩ thuật và pháp lí.

Continue reading

BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

 SORAYA AMRANI MEKKIGiáo sư trường Đại học Paris Ouest – Nanterre La défense Trung tâm Pháp luật hình sự và Tội phạm học

1. Thời xưa Portalis đã khuyên nhủ chúng ta rằng « khi làm luật nên biết “run” “một chút”. Sự cẩn trọng này đặc biệt cần thiết trong bảo vệ người tiêu dùng vì lĩnh vực này được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật được ban hành với những mục đích khác nhau tùy thuộc đó là văn bản pháp luật quốc gia hay văn bản pháp luật cộng đồng châu Âu[1]. Pháp luật quốc gia hướng tới mục đích bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng vì mối tương quan lực lượng ở đây không cân bằng, người tiêu dùng là bên yếu thế nên cần phải được bảo vệ. Trái lại, trong pháp luật cộng đồng châu Âu, bảo vệ người tiêu dùng, bản thân nó, không phải là một mục đích mà chỉ là phương tiện để đạt được một mục đích khác. Trên thực tế, bảo vệ người tiêu dùng là nhằm làm cho người tiêu dùng yên tâm, tin tưởng để khuyến khích họ tiêu thụ nhiều hơn. Bảo vệ người tiêu dùng góp phần vào việc bảo vệ thị trường. Hai mục đích này dễ dàng được nhận thấy trong các hợp đồng tiêu dùng được ký kết từ xa qua mạng điện tử và thông qua hàng loạt các quy định phức tạp, khó hiểu và không phải lúc nào cũng hiệu quả.

2. Tính đặc thù của các hợp đồng ký kết từ xa qua mạng điện tử là khi ký kết hợp đồng, bên này không ký với sự có mặt của bên kia, loại hợp đồng này trước đây gọi là hợp đồng giữa các bên vắng mặt[2]. Trong loại hợp đồng này, người tiêu dùng là một bên ở vị thế đặc biệt mong manh. Họ không được tiếp xúc trực tiếp, không thể đánh giá cụ thể sản phẩm, do đó đòi hỏi phải có những quy định bảo vệ phù hợp[3]. Cần phải đảm bảo mức độ bảo vệ tương tự cho người tiêu dùng trong các giao dịch từ xa hoặc qua mạng điện tử, đây chính là mục tiêu ưu tiên mà Tham Chính viện đã đặt ra ngay từ năm 1998[4]. Mặt khác, do các hợp đồng được ký kết từ xa qua mạng điện tử thúc đẩy sự phát triển trao đổi thương mại quốc tế nên cần phải phòng ngừa nguy cơ giảm mức độ bảo hộ trong nước[5].

Continue reading

ĐỔI MỚI TỔ CHỨC HỆ THỐNG TÒA ÁN TẠI CỘNG HÒA PHÁP

 MARC MOINARD – Thẩm phán, nguyên Tổng thư ký Bộ Tư pháp,  Cộng hòa Pháp

 I. Vấn đề đổi mới bản đồ tư pháp của Cộng hòa Pháp

 Thay đổi bản đồ tư pháp là một cuộc cải cách dù khó khăn nhưng cần thiết. Trong hai thập kỉ vừa qua tại Pháp, các Bộ trưởng Bộ Tư pháp thường né tránh chủ đề này vì động tới hệ thống tổ chức tòa án hay bản đồ tư pháp tức là động tới các quyền lợi được cho là chính đáng của nhiều chủ thể khác nhau và sẽ có rất nhiều phong trào phản đối. Thật vậy, khi có quyết định xóa bỏ một Tòa án để tập trung nguồn lực vào các Tòa án có quy mô lớn hơn, thường có nhiều phản đối rất mạnh mẽ. Đầu tiên là phản ứng dữ dội của các thẩm phán vì họ sắp phải di chuyển tới một Tòa án khác (chúng tôi đã thuyên chuyển 1500 thẩm phán và trung bình một ngày họ phải đi khoảng 50 – 100 km để tới được nơi làm việc mới) và tất nhiên sẽ có những thẩm phán sẽ mất vị trí công tác trước đây của họ. Với việc thay đổi bản đồ tư pháp, cuộc sống của các thẩm phán bị xáo trộn. Tiếp đến là phản ứng của các đại biểu dân cử của các địa phương nơi có Tòa án bị xóa bỏ. Và cuối cùng là sự phản đối của các luật sư – những người phản đối quyết liệt việc thay đổi bản đồ tư pháp vì họ phải thay đổi địa bàn làm việc quen thuộc trước đây của họ.

Tuy nhiên, việc thay đổi bản đồ tư pháp vẫn phải diễn ra.

Như vậy việc làm hi sinh quyền lợi riêng vì sự nghiệp chung đã từng là một thách thức làm nản lòng phần lớn các Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Đợt cải cách gần đây nhất diễn ra cách đây 50 năm, tức là vào năm 1958 khi tướng De Gaulle trở thành Tổng thống Pháp. Trong vòng 4 tháng, tướng De Gaulle đã làm thay đổi toàn bộ hệ thống tư pháp của Pháp. Trong chương trình tranh cử của mình, Tổng thống Pháp đương nhiệm Sarkozy đã đưa việc thay đổi bản đồ tư pháp như một ưu tiên hàng đầu của Chính phủ. Việc thay đổi bản đồ tư pháp đã diễn ra một cách hết sức khó khăn trong vòng 8 tháng.

Continue reading

NGHIÊN CỨU KINH TẾ TƯ NHÂN VIỆT NAM – NĂNG SUẤT VÀ THỊNH VƯỢNG

TS. LÊ DUY BÌNH – Chuyên gia kinh tế của Economica Viet Nam

TÓM TẮT BÁO CÁO

Năm 2017, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã được ban hành, khẳng định tầm quan trọng của việc thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân trở thành một động lực của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đây là một điểm mốc quan trọng do trong quá khứ, doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam đã phải trải qua một quá trình phát triển nhiều sóng gió. Trong giai đoạn kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây tại Việt Nam, doanh nghiệp tư nhân đã không được chính thức công nhận. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian đó, kinh tế tư nhân vẫn tồn tại, lấp đầy những khoảng trống mà khu vực Nhà nước còn để lại. Năm 1986, chính sách “Đổi mới” đã được ban hành tại Đại hội Đảng lần thứ 6. Với chính sách Đổi Mới, khu vực tư nhân đã được chính thức công nhận là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và của nền kinh tế nhiều thành phần. Luật Doanh nghiệp được ban hành vào năm 1999 đã dẫn đến một sự phát triển bùng nổ của các doanh nghiệp tư nhân trong nước ở Việt Nam. Từ đó đến này, môi trường chính sách và pháp lý cho khu vực kinh tế tư nhân đã liên tục được cải thiện.

Số lượng doanh nghiệp đăng ký gia tăng mạnh mẽ, phản ánh cả quá trình chính thức hoá hộ kinh doanh cũng như sự thành lập các doanh nghiệp mới. Tuy nhiên, có một khoảng cách đang ngày càng lớn dần giữa số lượng doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh và số lượng những doanh nghiệp đang thực sự hoạt động. Bên cạnh các doanh nghiệp được đăng ký theo Luật Doanh nghiệp, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các hộ kinh doanh đã và đang trở thành một cấu phần quan trọng của khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam. Sự mở rộng của khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam song hành với sự giảm bớt về số lượng doanh nghiệp nhà nước và với sự tăng trưởng chậm chạp của khu vực hợp tác xã (kinh tế tập thể). Sự gia tăng số lượng doanh nghiệp tư nhân đã dẫn đến sự tăng trưởng mạnh mẽ về tổng vốn của các doanh nghiệp tư nhân. Khu vực kinh tế tư nhân đã đóng góp lớn vào việc hình thành tài sản cố định và đầu tư dài hạn của khu vực doanh nghiệp nói riêng và của toàn bộ nền kinh tế nói chung.

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: