Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

CUỘC CÁCH MẠNG VỀ QUYỀN RIÊNG TƯ

NGUYỄN HỒNG HẢI ĐĂNG – Đại học Melbourne, Úc

Tuy chưa hẳn là một bước ngoặt chuyển đổi lớn từ góc nhìn làm luật, Luật Bảo vệ Dữ liệu châu Âu (General Data Protection Regulation, viết tắt GDPR) vẫn là thành quả cải cách rất quan trọng trong việc bảo vệ dữ liệu cá nhân, đặc biệt là trên môi trường internet.

Lịch sử 20 năm của GDPR

GDPR không phải là nỗ lực làm luật bảo vệ dữ liệu đầu tiên của Liên minh châu Âu. Tiền thân của GDPR, Chỉ thị 95/46/EC về việc Bảo vệ Dữ liệu của Liên minh châu Âu, ra đời vào năm 1995 và là nền tảng pháp lý quan trọng cho việc thiết lập mô hình bảo vệ quyền riêng tư đi đầu xu hướng toàn cầu.

Có ba điểm đáng lưu ý về lịch sử hình thành của GDPR. Thứ nhất, việc hình thành Luật áp dụng cho toàn thể các quốc gia trong khối Liên minh châu Âu là một sự lựa chọn công cụ luật pháp mang tính đồng bộ hoá. Khác với Chỉ thị năm 1995, Luật Bảo vệ Dữ liệu châu Âu năm 2018 hạn chế tối đa tính “mềm dẻo” trong việc thi hành luật, vốn đã trở thành điểm yếu của Chỉ thị năm 1995. Do bản chất pháp lý của văn bản chỉ thị, các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu tiến hành việc xử phạt vi phạm xử lý dữ liệu một cách rời rạc: Tây Ban Nha xử lý phạt nặng và thường xuyên, trong khi Pháp hầu như không đưa ra hình thức xử lý phạt nào đáng kể. GDPR áp dụng các hình thức xử phạt vi phạm doanh nghiệp đồng bộ cho toàn thể Liên minh châu Âu, cụ thể là tối đa 2% doanh thu hoặc 10 triệu euro cho những vi phạm nhỏ, và 4% doanh thu hoặc 20 triệu euro cho những vi phạm lớn. Thứ hai, việc cập nhật cơ sở pháp lý cho công tác quản lý dữ liệu đã trở nên vô cùng cấp bách vào thời điểm GDPR được soạn thảo. Chỉ thị năm 1995, soạn thảo vào những năm đầu thập niên 90, được hình thành vào thời điểm mà internet chỉ được sử dụng bởi 1% dân số thế giới. Các khái niệm và thiết bị đã trở nên quen thuộc trong môi trường internet hiện nay như mạng xã hội, điện toán đám mây, hay máy tính bảng và điện thoại thông minh, hoàn toàn không tồn tại vào năm 1995. Thứ ba, tốc độ phát triển chóng mặt của công nghệ thông tin trong hơn 20 năm vừa qua đã làm thay đổi hoàn toàn cách con người định nghĩa và bảo vệ quyền riêng tư của mình. Quyền riêng tư là yếu tố cốt lõi của các chế độ pháp lý bảo vệ dữ liệu cá nhân: bảo vệ dữ liệu là công cụ hỗ trợ bảo vệ quyền. Cơ sở hạ tầng công nghệ của internet và các thiết bị thông minh khiến việc thu thập dữ liệu cá nhân trở nên ngày càng dễ dàng, nhanh chóng, hiệu quả, và đặc biệt là ít tốn kém. Vụ bê bối xung quanh Facebook, Cambridge Analytica, và ban vận động tranh cử của Tổng thống Mỹ Donald Trump là một ví dụ điển hình cho xu hướng này. Hơn bao giờ hết, việc soạn ra một hệ thống pháp lý nghiêm ngặt “tiêu chuẩn vàng” nhằm bảo vệ dữ liệu cá nhân là vô cùng cần thiết.

Continue reading

Advertisements

PHÁP QUYỀN TRONG PHÁP LUẬT TRUYỀN THỐNG CỦA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC CỔ (Tập tục pháp lý Đông Á truyền thống dưới ánh sáng của các chuẩn mực pháp quyền hiện đại)

GS. TẠ VĂN TÀI – Đại học Havard, Hoa Kỳ

Tham luận này vượt quá giới hạn của nhận xét rằng ở Việt Nam và Trung Quốc cổ (từ đời xưa), đã có sự chấp nhận triết học, trong các tác phẩm cổ điển của các học giả (dù là người theo chủ nghĩa hợp pháp hay là người theo đạo Khổng), về vai trò của Luật pháp trong việc cai trị xã hội loài người (như được thể hiện trong đề từ La tinh: ở đâu có xã hội, ở đó có luật pháp). Nói một cách khác, tham luận này vượt quá giới hạn của sự tranh luận và chấp nhận triết học về các quy tắc thành văn khái quát và được áp dụng phổ biến ở Việt Nam và Trung Quốc cổ.

Tham luận này sẽ thử xem lại chi tiết thủ tục pháp lý thực sự của Trung Quốc dưới triều Thanh (Thế kỷ XVII – 1911) và của Việt Nam dưới triều Nguyễn (1802 – 1884) để tìm xem liệu có một pháp quyền Châu Á tương ứng ở Trung Quốc và Việt Nam không, dưới ánh sáng của các chuẩn mực khác nhau của quan niệm phương Tây về pháp quyền.

Hai thời kỳ trên của lịch sử Trung Quốc và Việt Nam được lựa chọn để nghiên cứu vì chúng có sự giống nhau: triều Nguyễn Việt Nam đã thử áp dụng toàn bộ các thủ tục pháp lý và chính trị của Trung Quốc như giáo sư Alexander Woodside đã chỉ ra trong tác phẩm của mình Vietnam and the Chinese Model (Mô hình Việt Nam và Trung Quốc). Bộ luật triều Nguyễn là sự sao chép y hệt bộ luật của triều Thanh nếu chúng ta nhìn vào bộ luật đó (tiếng Trung Quốc: lu tiếng Việt Nam; luật); sự khác nhau chính là bộ luật triều Nguyễn bỏ nhiều lệnh (tiếng Trung Quốc là: linh, tiếng Việt Nam là: lệnh) và thêm vào một số lệnh riêng của mình.

Continue reading

PHÂN LOẠI NHÃN HIỆU THEO HÌNH THỨC CỦA NHÃN HIỆU

TS. NGUYỄN THỊ QUẾ ANH – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Việc phân loại nhãn hiệu có ý nghĩa rất lớn cả về mặt lý luận và thực tiễn. Trước hết, phân loại nhãn hiệu cho phép xác định đặc trưng của một loại nhãn hiệu – đặc trưng này không chỉ ảnh hưởng tới yếu tố cảm nhận nhãn hiệu trong người tiêu dùng, tới tính chất của việc sử dụng nhãn hiệu mà còn ảnh hưởng tới cả quá trình đăng ký nhãn hiệu đó. Ví dụ: trong quá trình đăng ký, những yêu cầu cụ thể khác nhau có thể được đưa ra đối với việc mô tả các dấu hiệu tuỳ thuộc vào hình thức của chúng. Phân loại nhãn hiệu còn ảnh hưởng tới việc xác định chế độ pháp lý đối với từng loại nhãn hiệu cũng như giúp cho việc phân biệt nhãn hiệu với các dấu hiệu dùng để phân biệt khác như kiểu dáng công nghiệp, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý…

Nhãn hiệu có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau: phân loại theo hình thức (nhãn hiệu từ ngữ; nhãn hiệu chữa cái, chữ số; nhãn hiệu hình ảnh; nhãn hiệu hình khối; nhãn hiệu kết hợp; nhãn hiệu đặc biệt như âm thanh, mùi vị, ánh sáng); phân loại theo số lượng chủ thể của nhãn hiệu (nhãn hiệu cá nhân; nhãn hiệu tập thể); phân loại theo mức độ nổi tiếng (nhãn hiệu thường và nhãn hiệu nổi tiếng); phân loại theo tính chất của nhãn hiệu (nhãn hiệu thường, nhãn hiệu chứng nhận; nhãn hiệu liên kết,…). Trong bài viết này tác giả đề cập tới việc phân tích đặc trưng của các loại nhãn hiệu khác nhau dựa trên sự khác biệt về hình thức thể hiện của chúng.

Theo hình thức thể hiện nhãn hiệu có thể ở dạng từ ngữ, chữ cái, chữ số, hình ảnh, hình khối hoặc là sự kết hợp các yếu tố này được thể hiện trên một hoặc nhiều màu sắc. Nhãn hiệu cũng có thể là những dấu hiệu đặc biệt như dấu hiệu âm thanh, mùi vị, ánh sáng.

1. Nhãn hiệu từ ngữ

Continue reading

LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TỐI CAO CỘNG HÒA PHÁP (Luật số 94-100 ngày 5 tháng 2 năm 1994)

Luật này đã được,

Hạ viện và Thượng viện thông qua, Hội đồng Bảo hiến tuyên bố phù hợp với Hiến pháp,

và Tổng thống nước Cộng hoà Pháp công bố với nội dung như sau:

Thiên 1

CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TỐI CAO

Điều 1

Các thẩm phán thành viên Ban thẩm phán xét xử của Hội đồng thẩm phán tối cao được chỉ định theo quy định dưới đây:

1. Một thẩm phán xét xử ngoại ngạch của Toà án tư pháp tối cao do Hội đồng thẩm phán xét xử ngoại ngạch của Toà án này bầu ra;

2. Một Chánh án Toà án phúc thẩm do Hội đồng Chánh án Toà án phúc thẩm bầu ra;

3. Một Chánh án Toà án sơ thẩm thẩm quyền rộng do Hội đồng Chánh án Toà án sơ thẩm thẩm quyền rộng, Toà án sơ thẩm thẩm quyền hẹp hoặc Toà án phúc thẩm của một số tỉnh và lãnh thổ hải ngoại bầu ra;

4. Hai thẩm phán xét xử và một thẩm phán công tố được bầu theo quy định tại Điều 4.

Điều 2

Các thẩm phán thành viên Ban thẩm phán công tố của Hội đồng thẩm phán tối cao được chỉ định theo quy định dưới đây:

1. Một thẩm phán công tố ngoại ngạch của Toà án tư pháp tối cao do Hội đồng thẩm phán công tố ngoại ngạch của Toà án này bầu ra;

2. Một Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Toà án phúc thẩm do Hội đồng Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Toà án phúc thẩm bầu ra;

Continue reading

LUẬT CẠNH TRANH NĂM 2018

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Quốc hội ban hành Luật Cạnh tranh

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh, tập trung kinh tế gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh đến thị trường Việt Nam; hành vi cạnh tranh không lành mạnh; tố tụng cạnh tranh; xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh; quản lý nhà nước về cạnh tranh.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Tổ chức, cá nhân kinh doanh (sau đây gọi chung là doanh nghiệp) bao gồm cả doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam.

2. Hiệp hội ngành, nghề hoạt động tại Việt Nam.

3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài có liên quan.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Hiệp hội ngành, nghề bao gồm hiệp hội ngành hàng và hiệp hội nghề nghiệp.

2. Hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh, bao gồm hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và lạm dụng vị trí độc quyền.

Continue reading

PHÁP LUẬT VỀ HÔN NHÂN – GIA ĐÌNH VÀ BỘ LUẬT DÂN SỰ PHÁP

GS. FRANCOISE DEKEUWER-DEOSEZ – Trưởng khoa Khoa Khoa học Pháp lý, Chính trị và Xã hội, Trường Đại học Lille II Cộng hòa Pháp

Tóm tắt: Bộ luật dân sự 1804, cũng như Bộ luật dân sự hiện nay, là cơ sở để bảo đảm quyền cá nhân, là cơ sở pháp luật về hôn nhân, là nền tảng pháp lý về gia đình. Sự phát triển của Bộ luật dân sự phản ánh sự phát triển của xã hội, thể hiện thông qua việc tăng cường bình đẳng về giới, việc đa dạng hóa các hình thức hôn nhân, sự phát huy vai trò của gia đình tự nhiên và những thay đổi về quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ. Mở đầu thiên niên kỷ thứ ba, nhiều cải cách pháp luật đã được tiến hành, nhưng người ta vẫn chờ đợi những cải cách mới.

Bộ luật dân sự Pháp không dành một Thiên hay một Chương riêng về hôn nhân gia đình. Quyển thứ nhất của Bộ luật có tựa đề “Về người”. Đương nhiên những quy định trong Quyển này cũng điều chỉnh vấn đề gia đình. Những người soạn thảo Bộ luật đều khẳng định vai trò quan trọng của gia đình trong xã hội. Locré, Portalis và những người đầu tiên giải thích Bộ luật đều cho rằng sự ổn định của gia đình sẽ đảm bảo sự ổn định của xã hội, và gia đình chính là vườn ươm của xã hội. Tuy nhiên, gia đình ở đây được nhìn nhận như là một tập hợp các quan hệ giữa nhiều cá nhân chứ không được nhìn nhận như một nhóm người thực sự. Điều này cũng là lô gích, bởi phạm vi của gia đình thường xuyên thay đổi: có người sinh ra, có người chết đi, hội tụ rồi chia ly.

Bộ luật dân sự 1804 có rất ít định nghĩa trong phần quy định về người và gia đình. Bộ luật đưa ra nhiều định nghĩa trong lĩnh vực tài sản và nghĩa vụ, nhưng liên quan đến hôn nhân, xác định quan hệ cha mẹ và con, năng lực pháp luật thì hoàn toàn ngược lại. Lý do được đưa ra để giải thích cho thực trạng này là các chế định đó đã được mọi người biết đến quá rõ. Nhưng lý do thực chất là: đây là những chế định nhạy cảm rất khó có thể đưa ra được một định nghĩa có thể được toàn xã hội chấp thuận.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KHÁNG NGHỊ, KIẾN NGHỊ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

THS. HOÀNG THỊ THANH HOA – Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên, Hà Nội

Khoản 1, khoản 3 Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”, “ Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa,bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.” Điểm g khoản 2 Điều 6 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 cũng quy định một trong những công tác của Viện kiểm sát nhân dân khi  thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp là kiểm sát việc thi hành án dân sự, thi hành án hành chính.

Kháng nghị, kiến nghị là một trong nhiều nhiệm vụ, quyền hạn quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung và kiểm sát hoạt động thi hành án dân sự, thi hành án hành chính nói riêng. Vấn đề kháng nghị, kiến nghị trong thi hành án dân sự được quy định tại các Điều 5, 28 và  Điều 30 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (trong lĩnh vực kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp); các Điều 12, 64 (kháng nghị quyết định của Tòa án về miễn giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước), Điều 160, 161 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự). Ngoài ra vấn đề này được hướng dẫn cụ thể tại Điều 34, 35 và Điều 36 Quy chế công tác kiểm sát thi hành án dân sự, thi hành án hành chính ban hành kèm theo Quyết định số 810/QĐ-VKSNDTC-V11 ngày 20 tháng 12 năm 2016 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Continue reading

BỘ LUẬT DÂN SỰ PHÁP VÀ PHÁP LUẬT CHÂU ÂU

clip_image002GS. CLAUDE WITZ  – Trường đại học Sarre  và Trường đại học Strasbourg, Cộng hòa Pháp, Giám đốc Trung tâm pháp luật Pháp – Đức Sarrebruck

Ý tưởng của các tác giả khi soạn thảo Bộ luật dân sự Pháp 1804 đó là Bộ luật này phải cho phép tăng cường sự thống nhất của nước Pháp về mặt chính trị. Trong bài diễn văn giới thiệu Bộ luật dân sự ngày 28 tháng Thông gió năm XII lịch Cộng hòa (tức ngày 28 tháng 02 năm 1802), Portalis nói: “Trật tự dân sự chính là xi măng gắn kết trật tự chính trị. Chúng ta không phải là người miền Prô-văng, miền Brơ-ta-nhơ hay xứ An-zát, chúng ta là người Pháp”. Bộ luật dân sự chính là một trong những “khối đá tảng” mà hoàng đế Bonaparte đã đặt trên đất Pháp để củng cố Quốc gia.

Đương nhiên, những người soạn thảo Bộ luật dân sự 1804 đã tiếp thu truyền thống pháp lý Châu Âu, một truyền thống được “tất cả các dân tộc văn minh của Châu Âu chia sẻ” (theo cách nói của Portalis). Tuy nhiên, vào thời điểm năm 1804, mục đích đặt ra là phải quốc gia hóa truyền thống của Châu Âu và tự hào dương cao pháp luật quốc gia như một quốc kỳ. Câu nói sau đây của Portalis trước Nghị viện đã thể hiện rõ mục đích đó: “Các vị sẽ tuyên bố Bộ luật dân sự của người Pháp trước toàn bộ Châu Âu“.

Hai thế kỷ đã trôi qua. Xu hướng đã hoàn toàn thay đổi theo chiều ngược lại. Ngày nay, đến lượt Châu Âu dương cao lá cờ của mình. Pháp luật Châu Âu càng ngày càng thâm nhập sâu vào hệ thống pháp luật của các quốc gia Châu Âu. Bộ luật dân sự Pháp đã phản ứng thế nào trước sự tấn công ồ ạt của pháp luật Châu Âu?.

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: