Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHÚC MẮC VỀ PHÁP LUẬT THỪA KẾ

 NGUYỄN QUANG LỘC – Nguyên Thẩm phán TANDTC

Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 đã dành phần thứ tư để quy định về thừa kế, theo đó phần thứ tư bao gồm 04 chương và 54 điều (từ Điều 609- đến Điều 662). Tuy nhiên, nghiên cứu kỹ các quy định của BLDS về thừa kế, chúng tôi cũng còn băn khoăn về một số quy định, xin nêu để các bạn tham khảo.

Bộ luật Dân sự năm 2015 đã dành phần thứ tư để quy định về thừa kế, theo đó phần thứ tư bao gồm 04 chương và 54 điều (từ Điều 609- đến Điều 662). BLDS không đưa quy định và khái niệm thừa kế.

Thừa kế là sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người khác, việc chuyển dịch tài sản này có thể bằng di chúc hoặc theo trình tự mà pháp luật dân sự quy định.

Quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân. Khoản 2 Điều 32 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa thế được pháp luật bảo hộ”. Bảo hộ quyền thừa kế tức là bảo hộ quyền sở hữu tư nhân hay chỉ khi có quyền sở hữu tư nhân thì mới có quyền thừa kế.

Về cơ bản các quy định trong 04 chương (những quy định chung, thừa kế theo di chúc, thừa kế theo pháp luật, thanh toán và phân chia tài sản) của BLDS là tương đối rõ ràng, đầy đủ và đã khắc phục được một số vướng mắc, hạn chế của BLDS năm 2005. Tuy nhiên, nghiên cứu kỹ các quy định của BLDS về thừa kế, chúng tôi cũng còn băn khoăn về một số quy định.

1. Về quy định tại khoản 3 Điều 615 thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại

Người được hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.Trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Continue reading

Advertisements

TRẢ LẠI TIỀN, TÀI SẢN, GIẤY TỜ CHO PHẠM NHÂN – MỘT SỐ BẤT CẬP TỪ THỰC TIỄN THI HÀNH

THS. HOÀNG THỊ THANH HOAChi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội

THS. ĐINH DUY BẰNGVăn phòng Luật sư Trường Thành, tỉnh Bình Dương

Thủ tục trả lại tiền, tài sản, giấy tờ cho người được thi hành án đang chấp hành hình phạt tù tại trại giam, trại tạm giam được quy định cụ thể tại Điều 126 và Điều 129 Luật Thi hành án dân sự năm 2011, được sửa đổi bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự) và Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BTP-BCA-BTC ngày 06/02/2013 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an và Bộ Tài chính hướng dẫn trình tự, thủ tục thu, nộp, quản lý tiền, giấy tờ của người phải thi hành án dân sự và trả tiền, giấy tờ cho người được thi hành án dân sự là phạm nhân (Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BTP-BCA-BTC). Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật, việc trả lại tiền, tài sản, giấy tờ cho người được thi hành án là phạm nhân vẫn còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.

Thứ nhất, về việc xác định trại giam của đương sự

Theo quy định tại khoản 1 Điều 129 Luật Thi hành án dân sự thì chấp hành viên gửi thông báo, quyết định về việc nhận lại tiền, tài sản cho người được thi hành án đang chấp hành hình phạt tù thông qua giám thị trại giam, trại tạm giam. Tuy nhiên, việc xác định trại giam, trại tạm giam của đương sự là phạm nhân không phải lúc nào cũng được thực hiện một cách dễ dàng và thuận lợi. Khi chấp hành viên giải quyết việc thi hành án, ngoài các thông tin trong bản án và khai thác từ gia đình, chính quyền địa phương thì không có nguồn thông tin nào cho biết được địa chỉ trại giam của đương sự nếu như cơ quan thi hành án dân sự không nhận được thông báo của trại giam nơi phạm nhân thụ hình.

Continue reading

TÌNH HUỐNG THỰC TẾ: TRANH CHẤP DI SẢN THỪA KẾ LIÊN QUAN ĐẾN ĐẤT KHÔNG CÓ GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG?

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 29/9/2014 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là bà Đào Thị Đ, ông Đào Xuân H, bà Đào Thị H, ông Đào Xuân T (ông T còn là người đại diện theo ủy quyền cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Trung D và anh Hoàng Kim S) trình bày:

Cụ Đào Văn Đ, sinh năm 1917, chết ngày 28/9/1987 và cụ Lê Thị B, sinh năm 1921, chết ngày 14/9/2013. Cụ B và cụ Đ chết không để lại di chúc. Cụ Đ và cụ B sinh được 08 người con gồm: Đào Xuân T1; Đào Thị Đ; Đào Xuân T; Đào Thị L; Đào Thị N; Đào Xuân H; Đào Mạnh H; Đào Thị H. Bà Đào Thị L chết ngày 29/8/2003 có chồng là ông Hoàng Trọng D, chết ngày 23/8/1999 và ba con là: Hoàng Thị H, chết ngày 25/5/2008; Hoàng Trung D; Hoàng Kim S.

Về nguồn gốc đất tranh chấp: Khoảng năm 1965 cụ Đ và cụ B có mua của ông Nguyễn Văn M 01 thửa đất ở tại thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Hưng Yên, diện tích khoảng 1.500 m2, có chiều dài phía đông dài khoảng 20m; phía tây dài khoảng 20m, phía nam dài khoảng 80m; phía bắc dài khoảng 80 m. Thửa đất này được thể hiện tại thửa 96, bản đồ số 6, bản đồ 299 năm 1987.

Năm 1987, cụ Đ chết, cụ B tiếp tục quản lý toàn bộ thửa đất đó. Bà N không đi lấy chồng nên ở với cụ B. Khoảng năm 2000, cụ B và bà N phá nhà cũ của cụ Đ và cụ B đi và xây hai gian nhà mới để hai mẹ con ở.

Năm 2004, cụ B cho vợ chồng ông T một phần đất ở. Đến năm 2006 vợ chồng ông T đã xây nhà và năm 2009 xây tường bao. Hiện nay vợ chồng ông T vẫn đang quản lý, sử dụng phần diện tích đất cụ B đã cho. Ngoài việc cho vợ chồng ông T đất ở, cụ B còn cho ông H (K) một phần đất giáp đất nhà ông T, không nói rõ diện tích bao nhiêu. Khi ông H (K) đổ đất thì ông T1 không đồng ý nên anh em từ đó phát sinh mâu thuẫn.

Continue reading

ĐIỀU KHOẢN CHUYỂN TIẾP (ĐIỀU 688) THI HÀNH BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

 CHU XUÂN MINH – Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

1.Quy định chuyển tiếp và thực tiễn vướng mắc

Trong văn bản quy phạm pháp luật, ở phần cuối của văn bản thường có quy định về Điều khoản thi hành. Điều khoản thi hành thường có Điều khoản chuyển tiếp và Điều khoản về hiệu lực thi hành. Điều khoản chuyển tiếp là quy định về trường hợp phải áp dụng pháp luật cũ hay những quan hệ pháp luật được xác lập trước thời điểm pháp luật mới có hiệu lực thì khi nào áp dụng pháp luật cũ, khi nào áp dụng pháp luật mới hay còn gọi là quy định hồi tố. Việc áp dụng pháp luật chuyển tiếp phải được quy định và thực hiện thống nhất vì áp dụng pháp luật khác nhau sẽ dẫn đến những quyết định rất khác nhau. Tình trạng vướng mắc này đang xảy ra khá nhiều trong hoàn cảnh Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS) mới có hiệu lực (01/01/2017).

Ví dụ 1: Ông A bán nhà cho ông B vào năm 2013, chỉ có hợp đồng viết tay, không có công chứng, chứng thực. Hai bên thỏa thuận giá 01 tỷ đồng và ông B đã trả được 800 triệu đồng vào năm 2017. Năm 2018 mới xảy ra tranh chấp. Theo pháp luật ở thời điểm giao dịch năm 2013 (BLDS năm 2005 và Luật Nhà ở 2005) thì hợp đồng mua bán nhà ở vô hiệu do vi phạm về hình thức; Tòa án đã ấn định thời hạn để các bên hoàn thiện về hình thức mà vẫn không thực hiện thì Tòa án vẫn phải tuyên bố hợp đồng vô hiệu và giải quyết hậu quả tuyên bố vô hiệu. Vậy Tòa án có thể áp dụng quy định mới tại BLDS năm 2015 để công nhận hợp đồng có hiệu lực do một bên đã thực hiện được trên 2/3 nghĩa vụ (800 triệu/ 01 tỷ đồng) theo quy định tại Điều 129 hay không?

Ví dụ 2: Bà M cho bà N vay 500 triệu đồng từ năm 01/5/2015 với thỏa thuận lãi suất 1,5% tháng. Năm 2018, bà M kiện đòi trả nợ. Mức lãi suất 1,5%/tháng là quá cao ở thời điểm vay (18%/năm). Việc điều chỉnh lại lãi suất nếu áp dụng theo quy định của BLDS năm 2005 thì không quá 13,5%/năm (Điều 476) nhưng nếu theo quy định của BLDS năm 2015 thì còn được tới 20%/năm (Điều 468).

Continue reading

HƯỚNG DẪN BỔ SUNG CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ NGHIỆP VỤ TRIẺN KHAI THÍ ĐIỂM VỀ ĐỔI MỚI, TĂNG CƯỜNG HÒA GIẢI, ĐỐI THOẠI TRONG GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP DÂN SỰ, KHIẾU KIỆN HÀNH CHÍNH TẠI VĂN BẢN SỐ 59/TANDTC-PC NGÀY 29 THÁNG 3 NĂM 2019

Kính gửi: Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Cần Thơ, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Nam, Khánh Hòa, Đồng Nai, Bình Dương, Long An, Thái Bình và các Tòa án nhân dân cấp huyện được lựa chọn thí điểm

Trong thời gian vừa qua, Tòa án nhân dân tối cao nhận được phản ánh của một số Tòa án nhân dân thực hiện thí điểm về những vướng mắc trong quá trình thực hiện thí điểm, Tòa án nhân dân tối cao thống nhất hướng dẫn bổ sung một số trường hợp sau đây:

1. Trường hợp người khởi kiện nộp đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời kèm theo đơn khởi kiện; hoặc đơn khởi kiện đã được Trung tâm hòa giải, đối thoại tại Tòa án thụ lý và lên lịch hòa giải, đối thoại mà người khởi kiện có đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì xử lý như thế nào?

Trường hợp người khởi kiện nộp đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện, để đảm bảo thực hiện các quyền của đương sự về bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng tài sản hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án thì Tòa án phải xem xét thụ lý vụ án và giải quyết yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của đương sự mà không chuyển vụ việc cho Trung tâm hoà giải, đối thoại tại Tòa án.

Trường hợp đơn khởi kiện đã được Trung tâm hòa giải, đối thoại tại Tòa án thụ lý và lên lịch hòa giải, đối thoại mà người khởi kiện có đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Trung tâm hòa giải, đối thoại tại Tòa án phải chuyển ngay vụ việc cho Tòa án để xem xét thụ lý vụ án và giải quyết yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của đương sự.

Continue reading

BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG THEO ĐẠO LUẬT TIÊU CHUẨN LAO ĐỘNG ĐÀI LOAN

GENG-SHENQ LIN – Học viện Pháp luật, Đại học Đông Hải, Đài Loan

Tóm tắt:

Đạo luật Tiêu chuẩn Lao động Đài Loan (LSA), được ban hành ngày 30 tháng 7 năm 1984, là luật quan trọng nhất bảo vệ người lao động tại Đài Loan. Và chỉ sau khi LSA được thông qua thì các nghiên cứu có hệ thống về luật lao động mới thực sự bắt đầu.

LSA là một đạo luật tương đối mới với nhiều quan niệm không được chắc chắn, do đó, bằng cách thực thi đạo luật này, chúng phải đối mặt với nhiều khó khăn. Đối với điều này, cơ quan tư pháp đóng vai trò quyết định. Tuy nhiên, theo thông lệ, thẩm phán thường trích dẫn các ý kiến của các học giả để ủng hộ quyết định của mình.

Trong bài này, tác giả sẽ giải thích cách thức cơ quan tư pháp đang hợp tác với các học giả để đưa ra những câu trả lời tốt hơn, đặc biệt là bảo vệ người lao động, thông qua việc xác định “người lao động”, “người sử dụng lao động”, đối với các vấn đề liên quan đến tiền lương, giờ làm việc và việc sa thải.

Nhìn chung, chúng tôi đồng ý với một học giả người Đức nổi tiếng Gallmmilscheg đã nói “Richterrecht bleibt unserer schicksal” (“Tư pháp vẫn là số phận của chúng ta”) và các học giả cũng sẽ đóng góp cho điều này. Từ khóa: LSA, người lao động, người sử dụng lao động, lương.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM CỦA CHỦ VẬT NUÔI TRONG TRƯỜNG HỢP VẬT NUÔI GÂY THIỆT HẠI CHO NGƯỜI KHÁC

TS. NGUYỄN VĂN QUÂN – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Vụ việc bé trai 07 tuổi bị đàn chó 07 con cắn chết tại tỉnh Hưng Yên vào ngày 04/3/2019 đã khiến nhiều người bàng hoàng. Vậy, pháp luật Việt Nam quy định như thế nào về trách nhiệm của chủ nuôi chó và các vật nuôi khác khi để chúng gây thiệt hại cho tài sản, sức khoẻ, tính mạng của người khác?.

Trách nhiệm đối với những thiệt hại do vật nuôi (súc vật) gây ra đã được quy định đầy đủ tại Điều 603 Bộ luật Dân sự năm 2015 (Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra). Theo đó, chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác; người chiếm hữu, sử dụng súc vật phải bồi thường thiệt hại trong thời gian chiếm hữu. Đây là trách nhiệm bồi thường dân sự cho những thiệt hại về vật chất hoặc sức khoẻ do súc vật gây ra.

Còn trong trường hợp súc vật gây ra những thiệt hại về sức khoẻ, tính mạng cho người khác thì chủ sở hữu súc vật có thể phải chịu trách nhiệm hình sự, tuỳ theo mức độ thiệt hại. Có hai trường hợp:

Trường hợp thứ nhất: Nếu súc vật gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% thì áp dụng Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về tội “Vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”.

Trường hợp thứ hai: Nếu súc vật làm chết người thì áp dụng Điều 128, Bộ luật hình sự năm 2015 về tội “Vô ý làm chết người”. Theo đó, (1) người nào vô ý làm chết người, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm; (2) phạm tội làm chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

Continue reading

GIẢI ĐÁP MỘT SỐ VƯỚNG MẮC VỀ HÌNH SỰ, DÂN SỰ VÀ TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI VĂN BẢN SỐ 64/TANDTC-PC NGÀY 3 THÁNG 4 NĂM 2019 (Trích dẫn)

Kính gửi: – Các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự;

– Các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao.

Ngày 09-01-2019, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã tổ chức buổi giải đáp trực tuyến toàn quốc về một số vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, dân sự và hành chính. Trên cơ sở các ý kiến phản ánh vướng mắc và giải đáp của Hội đồng Thẩm phán, Tòa án nhân dân tối cao thông báo kết quả giải đáp vướng mắc như sau:

VỀ DÂN SỰ

1. Trường hợp giao dịch chuyển nhượng nhà đất bị vô hiệu nhưng bên nhận chuyển nhượng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất và đã thế chấp nhà, quyền sử dụng đất đó cho Ngân hàng theo đúng quy định của pháp luật. Vậy giao dịch thế chấp đó có bị vô hiệu không?

Tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự quy định:

“…2. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.

Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa. …”

Theo Bản thuyết minh Dự án Bộ luật Dân sự năm 2015 của Ban soạn thảo thì quy định tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự là nhằm: …Bảo đảm công bằng, hợp lý đối với người thiện chí, ngay tình và bảo đảm sự ổn định trong các quan hệ dân sự (các Bộ luật dân sự trên thế giới đều ghi nhận việc bảo vệ người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự)…”. Cho nên, cụm từ chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác” tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự phải được áp dụng theo nghĩa rộng. Có nghĩa là: Không chỉ có những giao dịch nhằm chuyển giao quyền sở hữu như: Hợp đồng mua bán, tặng cho, đổi, góp vốn nhà ở; chuyển nhượng, chuyển đổi, góp vốn bằng quyền sử dụng đất… mà cả những giao dịch nhằm chuyển giao những quyền về sở hữu đối với tài sản hoặc quyền về sử dụng đối với thửa đất.

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: