Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

HÀNH VI, SỰ KIỆN GÂY THIỆT HẠI VÀ QUAN HỆ NHÂN QUẢ

GS. PIERRE DELVOLVE – Đại học Panthéon-Assas,Paris, Cộng hòa Pháp

Xác định hành vi, sự kiện gây thiệt hại và quan hệ nhân quả là một chủ đề vừa dễ lại vừa khó trình bày. Nếu chỉ dừng lại ở các nguyên tắc thì dễ, còn khó là vì trên thực tế, vấn đề này chỉ có thể được giải quyết theo từng trường hợp cụ thể, tùy theo những tình tiết mà Tòa án có được. Trong quá trình xác định hành vi, sự kiện gây thiệt hại và quan hệ nhân quả, có thể sẽ có những do dự, thậm chí e ngại, song dù sao, Tòa án cũng vẫn phải giải quyết.

Hành vi, sự kiện gây thiệt hại

Như nhiều đại biểu đã nhấn mạnh, hoạt động của các cơ quan công quyền mà trước hết là của Nhà nước trung ương luôn luôn thông qua hoạt động của các cá nhân là cán bộ, công chức nhà nước; tuy nhiên, không phải lúc nào người ta cũng xác định được trong một cơ quan nhà nước thì cán bộ, công chức nào là người đã thực hiện hành vi gây thiệt hại; không phải lúc nào hành vi gây thiệt hại cũng có thể quy cho một người cụ thể, mà chính cơ quan nhà nước nói chung là chủ thể gây thiệt hại. Vì vậy, hành vi gây thiệt hại có thể là một hành vi, sự kiện không xác định rõ danh tính chủ thể.

Hành vi, sự kiện gây thiệt hại có thể xuất phát từ nhiều loại quy định và xử sự khác nhau. Ở đây, tôi xin nêu ra hai trường hợp có thể truy cứu trách nhiệm bồi thường nhà nước, theo đó, trong một số vụ việc, Nhà nước có thể bị truy cứu trách nhiệm bồi thường do văn bản pháp luật, còn trong một số vụ việc khác, trách nhiệm bồi thường nhà nước lại phát sinh từ hành vi xử sự (có thể là hành động hoặc không hành động).

Continue reading

Advertisements

KHÁI QUÁT VỀ CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT CỦA CỘNG HÒA ITALIA VÀ VƯƠNG QUỐC HÀ LAN TRONG LĨNH VỰC LAO ĐỘNG – VIỆC LÀM, HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH, BÌNH ĐẲNG GIỚI

1. CỘNG HÒA ITALIA

Cải cách thị trường lao động

Thị trường lao động của Italia đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức do tác động của khủng hoảng kinh tế và vấn đề nợ công. Số lượng doanh nghiệp vừa nhỏ chiếm tỷ lệ cao, tính linh hoạt của loại hình doanh nghiệp này đã bị hạn chế do sự thay đổi chậm chạp của các chính sách quản lý vĩ mô dẫn đến nhiều hệ lụy như: Cơ hội việc làm suy giảm; tính ổn định và an toàn của việc làm bị ảnh hưởng mạnh; khả năng tiếp cận thị trường và việc làm của người lao động ngày một khó khăn hơn…

Italia đang đẩy mạnh quá trình cải cách chính sách về lao động, thị trường lao động và an sinh xã hội. Việc cải cách tập trung nhiều đến các vấn đề về tuổi nghỉ hưu và tính bền vững tài chính Quỹ hưu trí bởi tác động của tỷ lệ già hóa tăng nhanh, tỷ lệ đóng hưởng bảo hiểm hưu trí chưa hợp lý, tỷ lệ thất nghiệp cao (khoảng 9%), tỷ lệ lao động trẻ khá lớn (chiếm 40%)… và đời sống xã hội biến động do khủng hoảng kinh tế trầm trọng[1].

Quá trình cải cách tập trung vào sửa đổi pháp luật lao động, trong đó chú trọng hợp đồng lao động dài hạn linh hoạt, đa dạng các chế độ an sinh xã hội nhằm mục tiêu xây dựng thị trường lao động ổn định và bảo vệ người lao động tốt hơn. Nội dung cốt lõi của cải cách nhằm hướng tới bảo đảm an sinh xã hội và nhấn mạnh bảo hiểm thất nghiệp.

Đối với bảo hiểm thất nghiệp, Chính phủ đã đưa ra các loại hình đa dạng hơn (bảo hiểm thất nghiệp thông thường, bất thường, khi bị sa thải và ngoại lệ) kèm theo là những điều kiện, yêu cầu cụ thể ràng buộc chặt chẽ về loại hình doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp, ngành nghề … thay đổi tùy thuộc vào điều kiện thực tế từng năm. Mục tiêu của chế độ này là tăng cường khả năng cung cấp dịch vụ và tiếp cận dịch vụ, hỗ trợ đào tạo lại, trong đó quan tâm đến lao động nữ.

Continue reading

NHỮNG TỪ KHÓA THỜI THƯỢNG

 PIERRE DARRIULAT (Phạm Ngọc Điệp dịch)

Khoảng hai mươi năm trước, người ta thường nhắc đến bền vững; mọi thứ phải sao cho bền vững. Năm ngoái, ta thường nghe Cách mạng 4.0 và Internet of things (Vạn vật kết nối Internet). Năm nay chúng ta cũng có nhiều từ khóa mới: sáng tạo, đổi mới, và khởi nghiệp… Thói quen sử dụng những ngôn từ có tính thời thượng dĩ nhiên là mốt thôi chứ chúng chẳng có tác động gì đến ý nghĩa sâu xa của từ ngữ, thậm chí thuần túy là cơ hội cho một vài người nào đó làm kinh doanh.

Với đổi mới và sáng tạo cũng vậy. Chẳng phải đến bây giờ chúng ta mới đổi mới và sáng tạo, loài người vốn không ngừng đổi mới và sáng tạo một cách ngoạn mục từ hàng triệu năm nay đấy thôi.

Thế mà gần đây ở các đại học, cả công và tư, người ta tạo ra nhiều chương trình học mới: trước đây là những chương trình thạc sĩ về quản lý và tiếp thị, ngày nay lại đang nở rộ thạc sĩ về đổi mới và sáng tạo trong quản lý. Chúng ta thừa hiểu những phẩm chất của một người lãnh đạo tốt không phải là những thứ có thể học được ở trường lớp; đó là năng lực và sự chính trực trong nhân cách và hành xử, ở mức độ khiến những người mà bạn quản lý hoặc lãnh đạo nể phục và kính trọng. Điều ấy có được vì sự công tâm, phẩm chất đạo đức và tri thức, tính nhân văn và tinh thần cống hiến của bạn cho sự nghiệp mà bạn đang phụng sự, chứ không phải bởi bạn đã từng tham gia khóa học thạc sĩ về quản lý, lãnh đạo, sáng tạo và đổi mới nào đó. Trước đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh hay đại tướng Võ Nguyên Giáp đâu cần phải tham gia những khóa học kiểu như vậy. Nhưng ngày nay, khoa học chính trị cũng không tránh khỏi chạy theo xu hướng thời thượng, với một số tài liệu1 mới xuất bản gần đây như Hồ Chí Minh: sáng tạo, đổi mới do Bùi Đình Phong hoặc Tư tưởng Hồ Chí Minh về “lãnh đạo thông minh” do Nguyễn Hữu Đông xuất bản.

Continue reading

NHẬN DẠNG LỢI ÍCH GẮN LIỀN VỚI NGHĨA VỤ TRONG QUAN HỆ KẾT ƯỚC – KINH NGHIỆM CỦA ANH VÀ PHÁP

PGS.TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN – Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh

1. Dẫn nhập

Trong tư thế bình đẳng và với ý thức tự nguyện, bên giao kết hợp đồng tham gia vào quan hệ kết ước trong khuôn khổ tìm kiếm một hoặc nhiều lợi ích nào đó. Việc nhận dạng, xác định bản chất của lợi ích mà bên kết ước theo đuổi được người làm luật coi là một trong những căn cứ để đánh giá chất lượng của quan hệ kết ước được xác lập, từ đó, có thái độ phù hợp trong việc điều chỉnh quan hệ ấy bằng luật. Một hợp đồng được giao kết nhằm tìm kiếm các lợi ích trái pháp luật, phi đạo đức không xứng đáng được hưởng sự bảo đảm thi hành bằng sức mạnh của luật pháp, công lực.

Tuy nhiên, tìm hiểu ý chí nội tâm của bên kết ước, xem họ mong muốn gì khi xác lập một giao kèo, là việc không đơn giản, nếu không muốn nói là rất khó. Vào thời La Mã cổ đại, người làm luật cũng như thẩm phán không quan tâm đến chuyện tìm hiểu căn cơ đích thực của nghĩa vụ, đặc biệt là nghĩa vụ có nguồn gốc từ hợp đồng1: chỉ cần được xác lập phù hợp với các quy định của pháp luật, thì hợp đồng có hiệu lực ràng buộc; người ta không cần biết vì lý do gì hợp đồng được giao kết.

Đến thời Trung Cổ, luật giáo hội mới bắt đầu cân nhắc việc sàng lọc, phân loại các cam kết dựa theo ý chí của bên kết ước. Trong điều kiện việc xác định ý chí nội tâm gặp khó khăn, người làm luật chủ trương tìm kiếm các yếu tố được cho là sự bộc lộ, là biểu hiện bề ngoài của ý chí đó. Có hai yếu tố chính được ghi nhận: tính liên kết giữa các nghĩa vụ và động cơ xác lập nghĩa vụ. Tư tưởng chủ đạo là một mặt, một bên không phải giữ lời hứa của mình nếu bên kia không giữ lời hứa của họ; mặt khác, mục tiêu của việc xác lập quan hệ kết ước phải phù hợp với đạo đức. Nhiều quy tắc đã được xây dựng từ tư tưởng đó, cho phép vô hiệu hoá các hợp đồng bất bình đẳng hoặc được giao kết nhằm mục đích bất chính, phi đạo đức, như hợp đồng để giết người, cướp của, lừa lọc, mua bán đồ cấm,…

Continue reading

ĐIỀU KHOẢN LẠM DỤNG TRONG PHÁP LUẬT VỀ TIÊU DÙNG Ở CỘNG HÒA PHÁP VÀ CHÂU ÂU

ALEXANDRE DAVID – Thẩm phán, Ban Pháp luật tố tụng và pháp luật lao động, Vụ Dân sự và Ấn tín, Bộ Tư pháp, Cộng hòa Pháp[1]

Điều khoản lạm dụng là một quy định đặc thù trong pháp luật về tiêu dùng ở  Pháp và châu Âu. Trong khoảng một thập kỷ, từ năm 1970, ở Pháp, châu Âu và nhiều nước khác trên thế giới, người ta bắt đầu xem xét lại những quy định chung về hiệu lực hợp đồng và nhận thấy rằng những quy định đó không đủ để bảo vệ người tiêu dùng khỏi bị các tổ chức, cá nhân kinh doanh lợi dụng.

Trong hợp đồng, có một số quy định bất lợi cho người tiêu dùng nhưng ngay chính bản thân họ lại không nhận thức được điều đó. Nhà làm luật cảm thấy phải quan tâm đặc biệt hơn nữa đến các điều khoản lạm dụng để có thể thiết lập một mối quan hệ bình đẳng giữa bên mua và bên bán. Với mục đích đó, đã có rất nhiều hợp đồng theo mẫu được soạn thảo và rất nhiều nước lựa chọn áp dụng các hợp đồng này như Mỹ, Thụy Điển, Anh, Đan Mạch, Đức và Pháp (năm 1978)…

Cách tiếp cận của Pháp đặc biệt ở chỗ dành nhiều ưu tiên cho việc phòng ngừa thiệt hại hơn là các giải pháp nhằm bồi thường thiệt hại. Chính vì thế, giải quyết bằng biện pháp hành chính được ưu tiên hơn là giải quyết qua con đường tài phán. Các nhà làm luật lo ngại nhiều nguy cơ phát sinh từ các giải pháp khác nhau mà tòa án có thể đưa ra cho cùng một vấn đề.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 68/2018/NĐ-CP NGÀY 15 THÁNG 5 NĂM 2018 QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU VÀ BIỆN PHÁP THI HÀNH LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi Điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết một số Điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sau đây gọi là Luật) về thiệt hại được bồi thường, thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường, trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ gây thiệt hại và một số biện pháp tổ chức thi hành Luật.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với cơ quan giải quyết bồi thường, cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước, người bị thiệt hại, người yêu cầu bồi thường, người giải quyết bồi thường, người thi hành công vụ gây thiệt hại và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến công tác bồi thường nhà nước.

Chương II

THIỆT HẠI ĐƯỢC BỒI THƯỜNG

Điều 3. Xác định thiệt hại do tài sản bị xâm phạm quy định tại Điều 23 của Luật

1. Giá thị trường của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật, tác dụng và chất lượng trên thị trường quy định tại Khoản 1 Điều 23 của Luật là giá giao dịch phổ biến trung bình trên thị trường của 03 tài sản đó do 03 cơ sở kinh doanh khác nhau trên thị trường cung cấp.

2. Thị trường quy định tại Khoản 1 Điều 23 của Luật là thị trường trong phạm vi huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi là thị trường cấp huyện) nơi phát sinh thiệt hại thực tế.

Continue reading

VỀ ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

TS. NGUYỄN THỊ THU THỦY – Viện Nhà nước và Pháp luật. Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam

THS. LÊ HẢI AN – Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Công Thương Trung ương, Bộ Công Thương

1. Khái quát về điều kiện áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự*

Về bản chất, biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT) là một công cụ mà các bên tranh chấp được sử dụng để bảo vệ các quyền và lợi ích của mình một cách tạm thời cho đến khi vụ án được giải quyết xong. BPKCTT có thể được áp dụng để hạn chế hoặc buộc các bên tranh chấp hoặc bên thứ ba thực hiện một hành vi nhất định với mục đích giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, thu thập chứng cứ kịp thời, giữ nguyên hiện trạng nhằm tránh những thiệt hại không thể khắc phục hoặc bảo đảm khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ trong tranh chấp. Với chức năng đó, mặc dù mang tính chất tạm thời, việc áp dụng BPKCTT vẫn tiềm ẩn khả năng gây ra thiệt hại đối với bên bị áp dụng hoặc bên thứ ba. Do vậy, bên cạnh việc xác định quyền yêu cầu của các chủ thể, pháp luật tố tụng dân sự đặt ra các điều kiện áp dụng BPKCTT nhằm cân bằng quyền lợi của các bên trong tranh chấp.

Xác định các điều kiện cụ thể và rõ ràng đối với yêu cầu áp dụng BPKCTT không chỉ cho phép các bên có thể chủ động trong việc cung cấp chứng cứ cho yêu cầu của mình, tự đánh giá được khả năng thành công đối với yêu cầu đã đề xuất, mà còn bảo vệ lợi ích các chủ thể liên quan khác. Cùng với sự xem xét, đánh giá và ra quyết định của cơ quan tài phán, các điều kiện áp dụng BPKCTT tạo ra hàng rào pháp lý ngăn ngừa khả năng lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT gây thiệt hại cho bên bị yêu cầu hoặc bên thứ ba.

Hàng rào pháp lý này càng cụ thể và cân bằng thì sự bảo vệ đó càng hiệu quả: Các điều kiện phải rõ ràng, dễ dàng xác định; cân bằng trong bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM DO LỖI VÀ TRÁCH NHIỆM KHÔNG CÓ YẾU TỐ LỖI

TERRY OLSON – Thẩm phán Tham Chính Viện, Cộng hòa Pháp

Ở Pháp, nguyên tắc về trách nhiệm bồi thường của các cơ quan nhà nước có hai đặc điểm đáng chú ý:

– Nguyên tắc này được khẳng định trong pháp luật Pháp sớm hơn nhiều so với các nước khác;

– Nguyên tắc này không xuất phát từ ý chí của nhà lập pháp, mà hình thành từ thực tiễn xét xử của tòa án.

1. Tình hình trước năm 1873

Tại một số Quốc gia Châu Âu, trách nhiệm bồi thường nhà nước chỉ được thừa nhận trong thế kỷ thứ XX chứ không sớm hơn. Ví dụ như ở Anh Quốc, phải đến năm 1947 thì trách nhiệm bồi thường nhà nước mới được quy định trong luật.

Nước Pháp đã thực hiện bước đi đó ngay từ năm 1873. Như vậy, có thể khẳng định rằng trách nhiệm bồi thường nhà nước đã được ghi nhận tương đối sớm trong hệ thống pháp luật Pháp.

Cho đến tận giai đoạn đầu của nền Đệ tam Cộng hòa (1875 – 1940), ý tưởng buộc các cơ quan nhà nước phải bồi thường những thiệt hại do hành động sai trái của họ gây ra vẫn chưa được khẳng định rõ nét. Các cơ quan nhà nước chỉ phải chịu trách nhiệm về hành động của họ trong hai trường hợp:

Trách nhiệm dân sự trong hợp đồng;

Khi luật quy định rõ trường hợp cơ quan nhà nước phải bồi thường. Trong thực tế, chỉ có một trường hợp được quy định rõ trong luật, đó là trường hợp cơ quan nhà nước thực hiện các công trình công mà gây ra thiệt hại (Luật ngày 28 tháng Mưa, năm thứ VIII, lịch Cộng hòa).

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: