SỞ HỮU TRÍ TUỆ VỚI HỘI NHẬP QUỐC TẾ

TRẦN VIỆT HÙNG – Phó cục Trưởng cục Sở hữu Trí tuệ

Trên nền tảng Luật Sở hữu trí tuệ 2005 Sở Hữu trí tuệ Việt Nam đã có những giai đoạn phát triển mới, trong đó tất cả các yếu tố của hệ thống đều được đổi mới, hoàn thiện theo hướng chất lượng, hiệu quả, phù hợp với đòi hỏi thực tiễn của đất nước và yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế. Hệ thống văn bản pháp luật, chính sách về sở hữu trí tuệ tiếp tục được hoàn thiện phù hợp với đòi hỏi nội tại của đất nước và yêu cầu hội nhập quốc tế. Hàng loạt văn bản pháp luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ 2005 đã được Cục Sở hữu trí tuệ chủ trì xây dựng và đã được ban hành (Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22.09.2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22.09.2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ). Đặc biệt, trong tiến trình đàm phán gia nhập WTO, Cục Sở hữu trí tuệ đã trực tiếp chuẩn bị nội dung, phương án và tham gia đàm phán về sở hữu trí tuệ trong các phiên đàm phán song phương và đa phương với các nước thành viên WTO, góp phần kết thúc 12 năm đàm phán gia nhập, chính thức đưa Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ thứ 150 của WTO kể từ ngày 11.01.2007. Thủ tục cần thiết để Việt Nam tham gia Nghị định thư Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu đã được hoàn thành (chính thức có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 11.07.2006). Luật pháp quốc tế (TRIPS/WTO, BTA…) về sở hữu trí tuệ tiếp tục được bảo đảm thi hành nghiêm túc. Thủ tục hành chính về sở hữu công nghiệp tiếp tục được cải cách, hiện đại hoá phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn, các loại đơn về sở hữu công nghiệp được xử lý theo thời hạn quy định. Công tác tự động hoá, ứng dụng công nghệ mới được coi trọng nhằm nâng cao năng suất, chất lượng xử lý công việc, giảm đáng kể thời gian xử lý các loại đơn về sở hữu công nghiệp. Tính đến hết ngày 31.12.2006, Cục Sở hữu trí tuệ đã tiếp nhận được 52.371 đơn các loại (tăng gần 25% so với năm 2005), trong đó có 30.944 đơn đăng ký sở hữu công nghiệp (tăng khoảng 22% so với năm 2005), đồng thời cũng đã xử lý 34.909 đơn các loại (tăng 3% so với cùng kỳ năm ngoái), trong đó cấp 14.473 văn bằng bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp. Hoạt động hợp tác quốc tế về sở hữu trí tuệ được đẩy mạnh, đa dạng về nội dung, quan hệ song phương và đa phương với các đối tác không ngừng được củng cố và phát triển. Cục Sở hữu trí tuệ đã triển khai nhiều hoạt động hợp tác đa phương về sở hữu trí tuệ, trong đó đã tổ chức thành công các sự kiện trong khuôn khổ APEC, ASEAN, EU…, gây ấn tượng tốt đẹp cho bạn bè quốc tế. Cục Sở hữu trí tuệ tiếp tục duy trì và phát triển mối quan hệ tốt đẹp với nhiều đối tác như Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO), Cơ quan Sáng chế châu âu (EPO) Cơ quan Nhãn hiệu và Kiểu dáng công nghiệp châu âu (OHIM), các cơ quan sở hữu trí tuệ của Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga… Các dự án hợp tác với nước ngoài cũng tiếp tục được triển khai có hiệu quả, như Dự án Hợp tác kỹ thuật về sử dụng thông tin sở hữu trí tuệ tại Việt Nam do Nhật Bản tài trợ, Chương trình quốc gia dành cho Việt Nam trong khuôn khổ Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ do EU tài trợ, Chương trình Hợp tác đặc biệt Việt Nam – Thuỵ Sĩ về sở hữu trí tuệ do Thụy Sỹ tài trợ, góp phần hiện đại hoá và nâng cao nâng lực cho hệ thống sở hữu trí tuệ của Việt Nam.

Đặc biệt, công tác hỗ trợ và tư vấn về sở hữu công nghiệp được Cục chú trọng và thực hiện thường xuyên, các hoạt động nhằm hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp bước đầu được triển khai trên nhiều lĩnh vực. Ngoài việc tư vấn, hướng dẫn thủ tục đăng ký sở hữu công nghiệp được thực hiện thường xuyên cho hàng trăm lượt người, các hoạt động nhằm hỗ trợ các địa phương, doanh nghiệp xây dựng và phát triển tài sản trí tuệ (đặc biệt là chỉ dẫn địa lý) cũng được tăng cường. Chương trình Hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp (được phê duyệt theo Quyết định số 68/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 04.04.2005) đã được triển khai ngay sau khi Thông tư quản lý tài chính của Chương trình được ban hành (ngày 31.10.2006) với hàng loạt hạng mục công việc có nội dung khác nhau. Đồng thời, công tác thông tin và năng lực thông tin về sở hữu công nghiệp cũng tiếp tục được hoàn thiện, phát triển. Cục Sở hữu trí tuệ tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các cơ sở dữ liệu và công cụ tra cứu thông tin về sở hữu công nghiệp (hệ thống phân loại sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu phù hợp với quốc tế, các chương trình tra cứu thông tin, số hoá tư liệu sáng chế), bổ sung hàng chục vạn tư liệu sở hữu công nghiệp và phát hành các sản phẩm thông tin nhằm nâng cao chất lượng phục vụ thông tin về sở hữu công nghiệp cũng như phục vụ đắc lực công tác xử lý đơn đăng ký sở hữu công nghiệp.

Ngoài ra, công tác thực thi và giải quyết khiếu nại tiếp tục được Cục Sở hữu trí tuệ chú trọng theo hướng hiệu quả. Ngoài việc tiếp nhận và xử lý hàng trăm đơn khiếu nại về xác lập quyền sở hữu công nghiệp, yêu cầu chấm dứt, huỷ bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ, Cục Sở hữu trí tuệ còn tham gia thẩm định, giám định pháp lý về sở hữu công nghiệp theo yêu cầu của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân, cũng như tích cực tham gia các hoạt động tư pháp, tố tụng liên quan đến giải quyết khiếu nại và tranh chấp quyền sở hữu công nghiệp tại Toà án, đặc biệt là phối hợp chặt chẽ với các cơ quan thực thi xử lý hàng trăm vụ vi phạm hành chính và xâm phạm về sở hữu công nghiệp. Nhằm khắc phục tình trạng xâm phạm, vi phạm về sở hữu trí tuệ, nạn hàng giả, hàng nhái… tiếp tục diễn ra nghiêm trọng làm cho hệ thống sở hữu trí tuệ bị coi là thiếu hiệu quả, Cục Sở hữu trí tuệ đã chủ trì nghiên cứu, tu chỉnh và trình Thủ tướng phê duyệt Đề án “Nâng cao hiệu quả thực thi quyền sở hữu trí tuệ” để triển khai thực hiện năm 2007.

SOURCE: TẠP CHÍ TIÊU CHUẨN – ĐO LƯỜNG – CHẤT LƯỢNG SỐ 1+2+3/2007

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: