KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG “HÌNH SỰ HÓA” CÁC TRANH CHẤP KINH TẾ VÀ PHI “HÌNH SỰ HÓA”

TRẦN MINH CHẤT –  Phó Chủ nhiệm Khoa nghiệp vụ Cảnh sát kinh tế, Học viện Cảnh sát nhân dân

Nghiên cứu để khắc phục tình trạng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế không chỉ đáp ứng yêu cầu đấu tranh chống tội phạm kinh tế trong tình hình mới, mà quan trọng hơn, là nhằm đảm bảo để pháp luật và để công việc thực thi pháp luật thực sự trở thành công cụ hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh; giúp cho các cơ quan bảo vệ pháp luật và các doanh nghiệp, những người tham gia kinh doanh có quan hệ thân thiện, gần gũi trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Đây là nội dung có ý nghĩa thiết thực đối với hoạt động của Quốc hội trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về kinh tế.

Khái niệm “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế.

Theo Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 1999 thì “ hình sự hoá” là quá trình đưa một quan hệ xã hội từ chỗ chưa được điều chỉnh bằng luật hình sự trở thành đối tượng được điều chỉnh bằng luật hình sự (tội phạm).

“Phi hình sự hoá” là việc đưa một hành vi đang bị điều chỉnh bằng pháp luật hình sự trở thành một quan hệ xã hội được điều chỉnh bằng các qui phạm pháp luật và xã hội khác.

Khoa học pháp lý cũng như thực tiễn đời sống pháp luật cho thấy, từ khi xuất hiện nhà nước, hình thành pháp luật thì hành vi “hình sự hoá” và “phi hình sự hoá” luôn luôn được các giai cấp thống trị xã hội quan tâm. Trong quá trình quản lý xã hội của mình, giai cấp thống trị thông qua nhà nước để lựa chọn những quan hệ xã hội gần gũi nhất với quyền và lợi ích của mình (kể cả tích cực và tiêu cực) rồi đưa vào bên trong các quan hệ xã hội đó ý chí mang tính cưỡng chế của mình hoặc đưa quan hệ xã hội ra khỏi sự điều chỉnh bằng hình luật. Quá trình đó chính là quá trình hình sự hoá và phi hình sự hoá.

Khái niệm “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế đã được bàn đến trong khá nhiều các cuộc hội thảo khoa học trước đây. Nhìn chung, các nhà khoa học pháp lý đều thống nhất nhận định, những hiện tượng tiêu cực trên đã và đang tồn tại trong đời sống pháp lý của nước ta. Nó không chỉ là mối quan ngại riêng của các doanh nghiệp, của những người tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, mà nó còn đặt ra cho các nhà nghiên cứu, những người hoạt động thực tiễn trong các lĩnh vực bảo vệ pháp luật nhiệm vụ nghiên cứu, làm rõ bản chất, nguyên nhân, điều kiện phát sinh, phát triển và tồn tại của hiện tượng “hình sự hoá” và “phi hình sự hoá”, từ đó tìm ra các giải pháp tối ưu nhằm loại bỏ các hiện tượng tiêu cực trên.

Bất cập trong giải quyết các tranh chấp kinh tế

Thực tiễn chỉ ra rằng, trong nền kinh tế thị trường, tranh chấp trong kinh doanh là một dạng tranh chấp kinh tế, biểu hiện những mâu thuẫn hay xung đột về quyền, nghĩa vụ giữa các nhà đầu tư, các doanh nghiệp với tư cách là chủ thể kinh doanh. Cụ thể, đó là những tranh chấp phát sinh trong các khâu từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường vì mục đích sinh lợi. Về bản chất, mỗi tranh chấp xét cho cùng đều phản ánh những xung đột lợi ích kinh tế giữa các chủ thể.

Giải quyết các tranh chấp đó là cách thức, phương pháp cũng như các hoạt động để ngăn chặn, khắc phục và loại trừ các tranh chấp đã phát sinh để bảo vệ quyền và các lợi ích hợp pháp của các bên, bảo vệ trật tự, kỷ cương xã hội.

Các hình thức giải quyết các tranh chấp kinh tế theo pháp luật Việt Nam là: thương lượng; hoà giải; giải quyết bằng trọng tài; giải quyết bằng toà án.

Bản chất của hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế chính là một hiện tượng tiêu cực phản ánh tính khốc liệt của cuộc đấu tranh chống tội phạm kinh tế trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường.

Trong thời gian qua, do rất nhiều nguyên nhân khác nhau mà các cơ quan điều tra, truy tố đã có sự “nhầm lẫn” giữa các tranh chấp kinh tế với hành vi phạm tội, dẫn đến oan sai trong hoạt động tố tụng. Sự oan sai này phản ánh thực trạng của:

– Tình trạng áp dụng sai pháp luật để giải quyết các tranh chấp kinh tế và xử lý các hành vi phạm tội về kinh tế của các cơ quan tư pháp.

– Phản ánh những hạn chế của quá trình xây dựng pháp luật hình sự, kinh tế, dân sự ở Việt Nam.

– Phản ánh những hiện tượng tiêu cực cụ thể trong quá trình giải quyết các tranh chấp kinh tế và điều tra các vụ án kinh tế.

– Phản ánh những sai lầm, những vi phạm của chính bản thân những người tham gia quan hệ kinh tế, dân sự.

Nguyên nhân:

– Nguyên nhân của hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế, trước hết xuất phát từ sự thiếu minh bạch trong hệ thống pháp luật hình sự, kinh tế, dân sự ở nước ta.

– Do những sai lầm, vi phạm của các cơ quan và cá nhân tiến hành các hoạt động tố tụng trong tổ chức điều tra các vụ án kinh tế cũng như từ những sai lầm, vi phạm của những người tham gia quan hệ kinh tế, dân sự.

– Hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế còn có nguyên nhân từ các hoạt động của các cơ quan có chức năng kiểm tra, kiểm soát các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử các vụ án kinh tế…

Hậu quả

Hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và ” phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế đã gây nên những hậu quả nghiêm trọng cả về kinh tế và xã hội.

Trước tiên về kinh tế, hiện tượng “hình sự hoá” và “phi hình sự hoá” thường gây ra những thiệt hại rất lớn về kinh tế cho các chủ thể tham gia các tranh chấp kinh tế (pháp nhân tan vỡ, các hợp đồng bị đổ bể, tài sản bị phong toả….)

Về xã hội, hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế gây ra tiền lệ xấu đối với các quan hệ hợp đồng, đặc biệt các quan hệ trong thanh toán, tín dụng như nợ, đòi nợ, xóa nợ, gán nợ……

Lớn hơn nữa, hiện tượng “hình sự hoá” và “phi hình sự hoá” làm suy giảm lòng tin của nhân dân, các nhà đầu tư vào sự nghiệp phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước. Đồng thời gây tâm lý hoang mang cho các nhà đầu tư…

Về công tác cán bộ, hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế là một nguyên nhân làm thoái hoá, biến chất một số cán bộ trong các cơ quan điều tra, các cơ quan quản lý nhà nước khác.

Tình trạng “hình sự hoá” không chỉ gây ra những hậu quả thiệt hại về vật chất, về con người mà quan trọng hơn nó gây phiền hà cho các hoạt động kinh doanh, làm giảm năng lực sáng tạo của các doanh nghiệp, làm tổn thương lòng tin của nhân dân vào lực lượng điều tra.

Giải pháp khắc phục hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế

Ngày 31 tháng 3 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ thị số 16/TTg về việc tìm kiếm và thực thi các giải pháp chống hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế, chống oan sai và bảo vệ các hoạt động kinh doanh của người dân. Ngày 4 tháng 7 năm 1998, Ban nội chính TW cũng đã có công văn số 170 báo cáo Bộ Chính trị về vấn đề này. Trong báo cáo nêu rõ “Vấn đề hình sự hoá và cả phi hình sự hoá trong giải quyết các quan hệ kinh tế dân sự của các cơ quan tố tụng hiện nay, các ngành nội chính cần có sự nghiên cứu toàn diện sâu sắc….”, “ Trong thời gian qua, số vụ việc xử lý về hình sự quá nhiều, trong khi thực tế có thể chuyển qua các toà hành chính, dân sự để giải quyết…”.

Ngày 21 tháng 3 năm 2000, Bộ Chính trị đã có chỉ thị số 53/CT-TW khẳng định quyết tâm chống oan sai trong hoạt động tố tụng. Trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành TW Đảng khoá VIII tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX ngày 19 tháng 4 năm 2001 cũng đã nêu rõ: “Cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng và hoạt động của các cơ quan tư pháp, nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cơ quan tư pháp trong công tác điều tra, bắt, giam, giữ, truy tố, xét xử thi hành án không để xẩy ra những trường hợp oan, sai”.

Một là, không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến giải quyết các tranh chấp kinh tế, dân sự.

Trong thời gian qua, các cơ quan bảo vệ pháp luật (Bộ Công an, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao) đã có nhiều văn bản hướng dẫn nhằm thực hiện các yêu cầu về nâng cao chất lượng hoạt động tố tụng với mục đích chống các hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế.

Giải quyết các tranh chấp kinh tế, dân sự phải áp dụng qui phạm pháp luật phù hợp. Bên cạnh đó cũng phải không ngừng hoàn thiện các qui phạm pháp luật khác như Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự, Luật dân sự, Luật tố tụng dân sự, Luật doanh nghiệp… Hệ thống pháp luật này trong thực tế vẫn còn rất nhiều vấn đề chồng chéo, khó xác định ranh giới, bởi vậy rất dễ bị lạm dụng để phục vụ cho những mục đích tư lợi.

Để tạo điều kiện kích thích sản xuất, kinh doanh phát triển kinh tế, ngăn chặn hiện tượng “hình sự hoá” và “phi hình sự hoá” các quan hệ kinh tế, dân sự thì hệ thống pháp luật liên quan phải được xây dựng theo hướng cụ thể hoá.

Phải phân định một cách rõ ràng giữa hành vi vi phạm pháp luật về kinh tế với tội phạm. Tăng cường hiệu lực pháp luật trong việc chấp hành các phán quyết của Toà án kinh tế, Toà dân sự và Trọng tài kinh tế đối với các tranh chấp kinh tế, dân sự.

Không ngừng sửa đổi bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật hình sự. Cụ thể, cần qui định chặt chẽ việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạm giam, đặc biệt là biện pháp bắt khẩn cấp… Các qui định để đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền tham gia tố tụng của luật sư phải được bình đẳng với điều tra viên, kiểm sát viên trong toàn bộ quá trình điều tra, xử lý các vụ án hình sự về kinh tế.

Hai là, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước trong kiểm tra, giám sát các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử nhằm chống lại hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế.

Hoàn thiện pháp luật phải trên cơ sở tăng cường hiệu lực quản lý của nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Hoàn thiện hệ thống pháp luật phải gắn liền với việc cải cách hành chính, đảm bảo phát huy một cách tốt nhất quyền giám sát kiểm tra của nhân dân cũng như các tổ chức chính trị xã hội khác đối với việc áp dụng các qui phạm pháp luật giải quyết các tranh chấp kinh tế, dân sự của các cơ quan nhà nước. Đẩy mạnh việc thi hành Chỉ thị 02/1998/CT-TTg ngày 07 tháng 1 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường giáo dục và phổ biến pháp luật, nâng cao dân trí, đảm bảo để các chủ thể tham gia các quan hệ kinh tế, dân sự phân biệt được đâu là vi phạm các qui định pháp luật về kinh tế, đâu là vi phạm các qui định pháp luật về hành chính, đâu là hành vi tranh chấp dân sự, đâu là tội phạm. Tăng cường quản lý nhà nước trong áp dụng pháp luật giải quyết các tranh chấp kinh tế, dân sự đồng thời củng cố vai trò các cơ quan kiểm tra, giám sát để đảm bảo kịp thời phát hiện và ngăn chặn, khắc phục hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế.

Ba là, tăng cường công tác đào tạo, nâng cao năng lực chuyên môn và phẩm chất chính trị của đội ngũ cán bộ trong các cơ quan điều tra, kiểm sát, toà án.

Việc đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ cán bộ điều tra, truy tố, xét xử là hết sức cần thiết. Đây là tiền đề để chống các hiện tượng oan sai trong hoạt động tố tụng.

Nâng cao nhận thức pháp lý cho đội ngũ cán bộ này còn mang tính giáo dục, phòng ngừa rất cao. Bộ Công an, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần có kế hoạch thường xuyên tổ chức bồi dưỡng, kiểm tra giám sát những hoạt động của cán bộ trong ngành mình có liên quan đến công tác điều tra, truy tố, xét xử đảm bảo để các hành vi vi phạm pháp luật về kinh tế và tội phạm kinh tế được phát hiện và xử lý đúng pháp luật, đồng thời không để hiện tượng oan sai xẩy ra.

Đấu tranh chống hiện tượng “ hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế “ phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế hiện nay ở nước ta đang là một vấn đề hết sức cần thiết. Nó là một trong những nội dung nhằm thực hiện tốt yêu cầu của Nghị quyết 08- NQ/TW về cải cách tư pháp. Đồng thời, nó có tác dụng thiết thực góp phần nâng cao năng lực, phẩm chất cán bộ trong các cơ quan điều tra, kiểm sát, toà án, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm kinh tế trong tình hình mới

SOURCE: NCLP.ORG.VN (PHIÊN BẢN CŨ CỦA TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ)

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: