HOÀN THIỆN BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

ĐINH THỊ MAI PHƯƠNG – BỘ TƯ PHÁP

Tác giả phân tích những khuyết tật trong Bộ luật Dân sự 1995: vị trí trên, dưới trong hệ thống chưa rõ, tính chung chung, thiếu khả thi, nhiều mảng quan hệ xã hội chưa được điều chỉnh, chưa khớp với pháp luật quốc tế… và đề xuất những quan điểm, yêu cầu sửa đổi, bổ sung Bộ luật này.

I. Sự cần thiết của việc sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện Bộ luật Dân sự năm 1995

Không thể phủ nhận ý nghĩa to lớn của Bộ luật dân sự năm 1995 (BLDS), tuy nhiên, trong quá trình thi hành, BLDS đã bộc lộ những điểm còn chưa phù hợp. Để nền kinh tế có những bước phát triển mới về chất và đẩy nhanh tiến độ của quá trình hội nhập quốc tế, một yêu cầu cấp bách chúng ta phải tiến hành, theo Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX, đó là: “Đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nghiên cứu sủa đổi, bổ sung pháp luật hiện hành phù hợp với yêu cầu thực hiện chiến lược kinh tế- xã

hội và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế…”. Để bảo đảm thực hiện các yêu cầu trên đây, có thể khái quát tính cấp thiết của việc sửa đổi, bổ sung BLDS như sau:

1. Việc thực hiện các quy định của BLDS trên thực tế còn nhiều bất cập

1.1. Chưa có quy định xác định vị trí, vai trò của BLDS trong hệ thống pháp luật

Điều này đã tạo ra sự cô lập giữa các quy định của BLDS với các quy định trong các lĩnh vực pháp luật khác có liên quannhư các quy định pháp luật thuộc lĩnh vực kinh tế hoặc thương mại. Từ đó dẫn đến sự cứng nhắc trong quá trình áp dụng pháp luật dân sự, đặc biệt trong quá trình áp dụng pháp luật tại toà án. Điều này tạo ra tình trạng thiếu thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật. Một vấn đề cùng một lúc có thể được điều chỉnh bởi các quy phạm thuộc các ngành luật khác nhau, nhưng lại cho hai kết quả khác nhau . Xét về lý luận phân ngành luật ở các nước trên thế giới nói chung, BLDS được coi là đạo luật chung và chiếm vị trí cốt yếu trong hệ thống luật t điều chỉnh mối quan hệ giữa các cá nhân, các chủ thể khác trong quan hệ tài sản và nhân thân. Trong khi đó, các luật khácnhư Luật Thương mại, Luật về Sở hữu trí tuệ… là các văn bản luật chuyên ngành. Việc áp dụng các quy định của BLDS chỉ được thực hiện khi các văn bản luật chuyên ngành không quy định hoặc quy định chưa cụ thể. Khác với quan điểm này, ở nước ta, BLDS nói riêng và ngành luật dân sự nói chung độc lập và cùng tồn tại song song với các ngành luật khác như luật thương mại, luật kinh tế. Điều này đã gây nên tình trạng không có đáp số cho bài toán phân biệt về đối tợng và phạm vi điều chỉnh giữa các ngành luật. Hơn thế, nó còn tạo ra tình trạng thiếu thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật, tình trạng tranh chấp về thẩm quyền trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực pháp luật khác nhau dẫn tới tình trạng kéo dài trong hoạt động xét xử, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể không được bảo vệ một cách kịp thời.

1.2. Một số quy định của BLDS mới dừng lại ở các quy định mang tính nguyên tắc, chưa thể thi hành trên thực tế

Điều này có thể thấy rõ nhất qua một số quy định tại Phần 2 về Tài sản và Quyền sở hữu, Chương V, Phần 3 về Trách nhiệm bồi thờng thiệt hại ngoài hợp đồng, tại Phần 4 về Thừa kế, Phần 5 về Những quy định về Chuyển quyền sử dụng đất… Chẳng hạn, theo quy định tại Điều 613, 614 và 615: Tuỳ từng trường hợp, toà án quyết định buộc người xâm phạm phải bồi thờng một khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó phải gánh chịu. Tuy nhiên, việc xác định khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần khi nào được thực hiện và thực hiện nh thế nào thì không được quy định cụ thể. Chính điều này đã dẫn đến tình trạng, trong rất nhiều trường hợp trong quá trình xét xử, Toà án đã bỏ qua không xem xét tới khoản tiền bù đắp về tinh thần.Theo các quy định về thừa kế trong BLDS, một cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình và người thừa kế có thể là cá nhân còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết hoặc là cơ quan, tổ chức còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Như vậy, một cá nhân có thể để lại di sản của mình cho Nhà nước. Tuy nhiên, BLDS không quy định cụ thể cơ quan nào thay mặt Nhà nước để tiếp nhận di sản thừa kế.

Tương tự như vậy, theo quy định tại Điều 647 BLDS, trong trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhng không được quyền hởng di sản, từ chối quyền hởng di sản, thì di sản không có người nhận thừa kế thuộc Nhà nước. Tuy nhiên, pháp luật cũng không quy định cụ thể Nhà nước tiếp nhận di sản với t cách gì, cơ quan nào thực hiện và họ có phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người để lại di sản hay không?…

1.3. Một số quy định của BLDS thiếu tính khả thi

Điều này có thể thấy rõ nhất qua một số quy định trong phần chungnhư quy định về tư cách chủ thể của Hộ gia đình và Tổ hợp tác, quy định về thời hạn từ chối hưởng di sản thừa kế…Chẳng hạn, theo quy định tại Điều 116 BLDS: Hộ gia đình bao gồm các thành viên có tài sản chung để hoạt động kinh tế chung trong quan hệ sử dụng đất, trong hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và trong một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định, là chủ thể trong các quan hệ dân sự đó. Quy định chung chung này đã dẫn đến tình trạng sự tồn tại của chủ thể hộ gia đình chỉ là trên danh nghĩa; trên thực tế, tư cách của chủ thể này gần như không tồn tại trong các giao dịch dân sự. Quy định này cũng rất khó xác định thế nào là một hộ gia đình, thế nào để trở thành thành viên của hộ gia đình và chính vì vậy, trách nhiệm dân sự của chủ thể hộ gia đình không được xác định và tồn tài một cách cụ thể trên thực tế. Tương tự như vậy, sự tồn tại tư cách chủ thể của Tổ hợp tác cũng không thực sự hợp lý cũng như không bảo đảm sự an toàn cho các chủ thể khác khi tham gia vào các giao dịch dân sự với chủ thể này. Quy định tại Điều 645 BLDS về việc từ chối nhận di sản thừa kế cũng chứng tỏ điều trên. Theo quy định tại điều này, nếu sau thời hạn sáu tháng kể từ thời điểm mở thừa kế mà người thừa kế không thực hiện quyền từ chối nhận di sản thừa kế thì họ buộc phải nhận di sản. Như vậy, pháp luật đã đưa ra quy định buộc chủ thể có quyền phải thực hiện quyền của mình. Rõ ràng quy định về thời hạn này trong BLDS là chưa thực sự hợp lý. Vì vậy, trên thực tế, khoảng thời gian giữa thời điểm mở thừa kế và thời điểm xảy ra tranh chấp và yêu cầu toà án giải quyết vợt quá 6 tháng rất nhiều, nhng thông thường các toà án vẫn chấp nhận yêu cầu từ chối nhận di sản thừa kế của các đương sự…

1.4. Một số mảng quan hệ xã hội chưa được điều chỉnh bởi các quy định của BLDS

Thực trạng này có thể thấy rõ nhất qua các quy định của BLDS trong phần chủ thể quan hệ pháp luật dân sự và phần tài sản. Chẳng hạn, theo quy định tại Điều 172 BLDS: “Tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản“. Từ khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu, tài sản được phân thành hai loại cơ bản sau:

Thứ nhất, tài sản là các vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền;

Thứ hai,  Tài sản là các quyền sử dụng, chiếm hữu, định đoạt đối với loại tài sản thứ nhất. Như vậy, nếu theo quy định này, các nhà làm luật chỉ mới đề cập tới các tài sản hữu hình, các tài sản tồn tại dới hình thức vật chất nhất định mà hoàn toàn chưa đề cập tới mảng tài sản vô hình, một loại tài sản ngày càng trở nên quan trọng trong xã hội, đặc biệt khi nền kinh tế của nhân loại đang dần từng bước chuyển sang hình thái mới, hình thái kinh tế tri thức. Thực tế đã chứng minh giá trị và vai trò của loại tài sản này  trong xã hội nói chung và trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp nói riêng là

rất lớn, là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của mỗi doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đối với một doanh nghiệp, giá trị hữu hình, giá trị vật chất đối với một nhãn hiệu hàng hoá cho một sản phẩm là không lớn. Chỉ với một chi phí không lớn, người ta cũng có thể tạo ra những nhãn hiệu hàng hoá rất đẹp, rất đặc thù. Tuy nhiên, giá trị vô hình của mỗi nhãn hiệu hàng hoá được thể hiện qua sự chiếm lĩnh trên thị trường so với các hàng hoá cùng loại, lòng tin và thói quen của khách hàng đối với nhãn hiệu hàng hoá là một tài sản có giá trị rất lớn, ở một khía cạnh nào đó có thể nói nó là vô giá. Nó quyết định tới sự thành công của doanh nghiệp trên thị trường cũng như nó có thể mang lại những giá trị vật chất rất lớn cho mỗi doanh nghiệp. Chính vì vậy, trong lần sửa đổi tới, những khoảng trống trên cần khắc phục nhằm đáp ứng ngày càng  tốt hơn các yêu cầu phát sinh trong thực tiễn điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực dân sự.

2. Một số bất cập phát sinh từ yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Trước một số yêu cầu phát sinh từ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũngnhư từ quá trình toàn cầu hoá đời sống kinh tế- xã hội, ví dụ việc Việt Nam tham gia vào một số điều ước quốc tếnhư Hiệp định TRIPs, Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ, việc tiến tới gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO… đòi hỏi hệ thống pháp luật của nước ta nói chung và các quy định pháp luật dân sự nói riêng cần phải hoàn thiện tạo đà cho quá trình chủ động hội nhập. Các yêu cầu này chúng ta có thể nhìn nhận một cách chi tiết trong một số quy định của BLDS, nhưng ở giác độ tổng quan, chúng ta có thể khái quát ở một số điểm sau:

2.1. Khung pháp luật dân sự Việt Nam còn thiếu nhiều so với khung của các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia hoặc chuẩn bị tham gia

Thực trạng này có thể thấy qua các quy định pháp luật về bảo hộ đối tợng sở hữu công nghiệp. Theo quy định của BLDS, các đối tợng sở hữu công nghiệp được bảo hộ thiếu rất nhiều. Chính vì vậy, các văn bản dới luật (các Nghị định của Chính phủ) đã được ban hành nhằm đáp ứng yêu cầu điều chỉnh, ví dụ: Nghị định số 54/2000/NĐ-CP ngày 3/10/2000 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp; Nghị định số 06/2001/NĐ-CP ngày 1/2/2001 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 63/CP ngày 24/10/1996… Thực trạng này cũng tương tự đối với các quy định pháp luật trong BLDS về quyền tác giả. Để tạo sự thống nhất trong quá trình thi hành cũng như nhằm bảo đảm tính ổn định về hiệu lực của các quy phạm pháp luật, các quy phạm trong các văn bản trên cần được bổ sung vào BLDS. Hơn thế, việc ghi nhận các quy phạm trên vào BLDS còn thể hiện thái độ nghiêm chỉnh của nước ta trong việc thực hiện nguyên tắc tuân thủ điều ước quốc tế “Pacta Sunt Servanda” trong quá trình thực thi các điều ước quốc tế song phương và đa phương.

2.2. Các quy phạm xung đột trong BLDS chưa đủ và chưa đáp ứng yêu cầu dẫn chiếu của các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đang phát triển ngày càng đa dạng và phức tạp

Các quy phạm xung đột trong BLDS (từ Điều 826 tới Điều 838)như hiện nay chưa thực sự tương xứng, đặc biệt trong một số vấn đềnhư vấn đề sở hữu, vấn đề thừa kế và vấn đề hợp đồng. Thực trạng này đã dẫn tới tình trạng các toà án thiếu cơ sở pháp lý trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài. Vì vậy, việc xây dựng và bổ sung thêm các quy phạm xung đột vào BLDS là một đòi hỏi tất yếu phát sinh từ thực tiễn áp dụng pháp luật.

II. Một số quan điểm cơ bản trong quá trình sửa đổi, bổ sung các quy định của BLDS

Xuất phát từ vị trí và tầm quan trọng của BLDS trong đời sống kinh tế- xã hội nước ta, theo ý kiến cá nhân, chúng tôi cho rằng việc sửa đổi, bổ sung lần này cần quán triệt một số quan điểm cơ bản sau:

1. Cụ thể hoá Hiến pháp

Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật không chỉ thể hiện ở việc tạo ra hệ thống các quy phạm pháp luật phù hợp với sự phát triển của các quan hệ xã hội mà còn thể hiện ở tính thống nhất giữa các quy phạm trong toàn hệ thống pháp luật. Với vai trò là một đạo luật gốc trong hệ thống pháp luật, Hiến pháp là nền tảng, là cơ sở pháp lý cho sự hình thành của các ngành luật trong hệ thống pháp luật, cho hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức cũngnhư mọi công dân trong xã hội. Chính vì vậy, các quy định của BLDS phải cụ thể hoá được các quy định của Hiến pháp trong lĩnh vực dân sự. Vì vậy, trong lần sửa đổi tới, BLDS phải cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp 1992 đã được sửa đổi, bổ sung.

2. Đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống, đồng thời có tính dự báo lâu dài

Thực tế cho thấy, các quy phạm pháp luật chỉ phát sinh hiệu lực thực tế khi chúng phù hợp với các yêu cầu phát sinh từ các quan hệ xã hội tương ứng. Chính vì vậy, nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của các quy phạm pháp luật dân sự trong thực tiễn, khắc phục những hạn chế của BLDS qua hơn 5 năm thi hành, việc sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật cần bám sát các yêu cầu phát sinh từ thực tiễn cuộc sống. Hơn thế, nhằm duy trì sự ổn định của BLDS trong hệ thống pháp luật và cũng là duy trì sự phát triển ổn định của các quan hệ xã hội trong lĩnh vực dân sự, tránh những thiệt hại khách quan đối với các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ dân sự mang lại do sự thay đổi của các quy phạm pháp luật, trong quá trình sửa đổi, bổ sung, việc nghiên cứu quy luật vận động của các quan hệ dân sự ở nước ta trong thời gian sắp tới cũngnhư trong một khoảng thời gian lâu dài là vô cùng cần thiết. Việc làm này cũng nhằm khắc phục tình trạng lập pháp ở nước ta hiện nay, nhiều văn bản pháp luật mới có hiệu lực thi hành đã phải sửa đổi, bổ sung, tình trạng “hôm nay làm, ngày mai sửa“. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu một cách toàn diện hệ thống các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, chuẩn bị tham gia hoặc sẽ tham gia nhằm đánh giá tác động đối với hệ thống pháp luật nói chung và BLDS nói riêng. Việc làm này nhằm khắc phục tình trạng “sửa luật theo điều ước quốc tế” và tình trạng “nước đến chân mới nhảy” vốn xa nay vẫn thường thấy ở nước ta.

Thực trạng này gây ra hai hiện tượng:

thứ nhất, đa chúng ta vào trạng thái “bị động hội nhập” mà không phải “chủ động hội nhập“, giảm hiệu quả của các hoạt động trong lộ trình thực hiện cam kết trong điều ước quốc tế;

thứ hai, gây xáo trộn hệ thống pháp luật mỗi khi tham gia hoặc ký kết một điều ước quốc tế, điều này cũng tác động không nhỏ tới các chủ thể thuộc phạm vi, đối tợng điều chỉnh của các văn bản pháp luật tương ứng.

3. Kinh nghiệm của quá khứ và kinh nghiệm nước ngoài

Thực tiễn thi hành BLDS trong thời gian vừa qua cho thấy, những quy phạm pháp luật phản ánh được phong tục, tập quán, những truyền thống tốt đẹp của dân tộc thờng phát huy tối đa hiệu lực thực tế. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng BLDS, chắc chắn, việc nghiên cứu nhằm tiếp tục phát huy những phong tục, tập quán tốt đẹp đó chưa thể được thực hiện một cách toàn diện. Chính vì vậy, trong lần sửa đổi này, việc tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu các phong tục, tập quán tốt đẹp một cách toàn diện nhằm phản ánh chúng trong các quy phạm pháp luật của BLDS là một việc làm cần thiết. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu thực tiễn thi hành nhằm tìm ra những nhóm quy phạm đã phù hợp với thực tiễn cuộc sống, trên cơ sở đó rút ra những bài học cần thiết cho việc sửa đổi, bổ sung các quy phạm pháp luật chưa thực sự phù hợp với cuộc sống cũng đóng vai trò rất quan trọng. Lịch sử phát triển của nhân loại nói chung và của mỗi nước trên thế giới nói riêng cho thấy, sự vận động và phát triển của đời sống dân sự ở mỗi quốc gia trong cùng một thời kỳ có rất nhiều điểm tương đồng và không phụ thuộc vào chế độ chính trị. Chính vì vậy, việc nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp của một số nước phát triển trên thế giới nhằm vào ba mục tiêu cơ bản:

thứ nhất, nhằm tránh những va vấp mà những nước này đã gặp phải trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự;

thứ hai, nhằm học tập kinh nghiệm lập pháp về những vấn đề tương tự đã được kiểm nghiệm qua thực tế;

và cuối cùng, nhằm phục vụ cho quá trình chủ động hội nhập của nước ta như đã phân tích ở trên.

Tầm quan trọng của việc nghiên cứu hệ thống pháp luật của các nước tiên tiến trên thế giới được khẳng định rõ nét nhất thông qua mục tiêu thứ ba. Điều này có thể được minh chứng qua những hành động cấp bách mà nước ta đang xúc tiến để thực thi Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ. Trong các hoạt động đó, việc nghiên cứu và tìm hiểu hệ thống pháp luật Hoa Kỳ là một trong những hoạt động được ưu tiên hàng đầu.

III. Một số yêu cầu đặt ra trong quá trình sửa đổi, bổ sung BLDS

Trên cơ sở quán triệt những quan điểm phân tích ở trên, việc sửa đổi, bổ sung BLDS phải nhằm vào một số mục tiêu sau:

1. Lấy BLDS là bộ luật gốc trong lĩnh vực dân sự

Nh đã phân tích trong phần tính cấp thiết, trong lần sửa đổi này, vị trí, vai trò của BLDS trong hệ thống pháp luật phải được xác định một cách rõ ràng. Theo đó, BLDS được coi là một đạo luật chung, là bộ luật gốc để điều chỉnh các quan hệ xã hội được xác lập trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự do thoả thuận và tự chịu trách nhiệm. Khi phát sinh quan hệ trong lĩnh vực kinh tế, thương mại và hôn nhân gia đình, các đạo luật chuyên ngành sẽ được áp dụng, trong những trường hợp trong các văn bản pháp luật chuyên ngành không có quy phạm để điều chỉnh thì khi đó mới áp dụng các quy định của

BLDS.

Giải pháp trên bảo đảm tính thống nhất và rõ ràng trong quá trình áp dụng pháp luật, tránh tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn. Hơn thế, giải pháp này còn góp phần lấp những khoảng trống trong các lĩnh vực pháp luật chuyên ngành, tránh tình trạng ban hành văn bản quy phạm một cách tràn lan, tuỳ tiện và thiếu thống nhất như hiện nay.

2. Các quy định trong BLDS cần phải được cụ thể ở mức tối đa

Trong thời gian qua, thực tế đã cho thấy, nhiều quy định trong BLDS vẫn chưa thực sự phát sinh hiệu lực, chưa khẳng định vai trò của mình trong việc điều chỉnh các quan hệ dân sự. Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là các quy định đó mới dừng ở mức độ là những nguyên tắc chung, chưa thể áp dụng vào các quan hệ cụ thể, trong khi đó các cơ quan có thẩm quyền chưa kịp ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành. Điều này có thể thấy một cách rõ nét nhất trong lĩnh vực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, lĩnh vực thừa kế, lĩnh vực sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ… Chính vì vậy, trong nhiều trường hợp, khi có tranh chấp xảy ra, các cơ quan xét xử thường chờ văn bản hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc công văn hướng dẫn của toà án cấp trên. Từ đó, dẫn tới thời gian xét xử các vụ án tại các toà án kéo dài, sự thiếu thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật. Để khắc phục tình trạng này, trong lần sửa đổi, bổ sung tới cần xây dựng BLDS theo hướng cụ thể hoá ở mức độ tối đa để các quy định của BLDS có thể trực tiếp đi vào cuộc sống mà không phải chờ đợi các văn bản hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, bên cạnh việc cụ thể hoá ở mức tối đa nhằm nâng cao hiệu lực thực tế của các quy phạm pháp luật, việc sửa đổi, bổ sung vẫn phải quán triệt nguyên tắc như đã đề cập ở trên. Đó là, BLDS là một đạo luật gốc, một đạo luật chung điều chỉnh các quan hệ xã hội được xác lập trên nguyên tắc tự do, tự nguyện thoả thuận và tự chịu trách nhiệm.

3. Làm rõ mối quan hệ giữa quản lý nhà nước với giao lưu dân sự

Theo quan điểm lập pháp của Việt Nam, nhiều cơ quan trong bộ máy nhà nước có vai trò quan trọng trong giao lưu dân sự. Tuy nhiên, đối với mỗi trường hợp cần có sự hiện diện (can thiệp hoặc hỗ trợ) của Nhà nước thì vấn đề tiếp theo là cơ quan nào (cơ quan hành chính hay tư pháp, cơ quan cấp cơ sở hay cao hơn) sẽ thực hiện việc can thiệp hay hỗ trợ đó không hẳn là câu hỏi dễ trả lời. Nhất là trong điều kiện bộ máy nhà nước của chúng ta đang trong quá trình cải cách, đổi mới mạnh mẽ trong một vài năm qua. Sự thận trọng trong việc giao thẩm quyền cho một cơ quan cụ thể trong BLDS như vậy là rất cần thiết nhằm đảm bảo cho Bộ luật tương thích với quá trình cải cách, đổi mới bộ máy nhà nước. Nhưng việc trao thẩm quyền chung chung, không rõ ràng và chưa thực sự hợp lý về phạm vi thẩm quyền cũngnhư việc không quy định các chế tài bảo đảm thực hiện thẩm quyền này một cách rõ ràng hoặc trên thực tế có quy định của pháp luật song cơ quan được trao thẩm quyền đó lại chưa được thành lập hoặc có nhiều cơ quan được giao trùng thẩm quyền dẫn đến việc khó khăn khi áp dụng các quy định của BLDS. Mặt khác, các quy định này trong một chừng mực nào đó, biểu hiện”sự can thiệp quá sâu ” vào giao lưu dân sự, làm hạn chế nguyên tắc cơ bản trong giao lưu dân sự là tự do ý chí, tự nguyện, tự thoả thuận, đặc biệt trong các quan hệ hợp đồng dân sự. Thực trạng này làm giảm hiệu quả trong giao lưu dân sự nói chung. Điều này có thể chứng minh qua một số quy định như quy định về thời điểm giao kết hợp đồng (Điều 403 BLDS), về giải thích giao dịch dân sự (Điều 135 BLDS)…  Theo quy định tại Điều 403, thời điểm giao kết hợp đồng đối với những hợp đồng mà theo quy định

của pháp luật phải có chứng nhận của Công chứng Nhà nước, chứng thực, đăng ký hoặc xin phép là thời điểm hợp đồng đó được chứng nhận, chứng thực, đăng ký hoặc cho phép. Qua thực tiễn thi hành cũngnhư xét về mặt lý luận, quy định này phần nào chưa thực sự hợp lý, thể hiện sự can thiệp quá sâu của Nhà nước. Xét về bản chất, thời điểm giao kết là thời điểm các bên cam kết với nhau về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ. Chính vì vậy, Nhà nước can thiệp ngay vào giai đoạn này là không thực sự cần thiết.

Tương tự như vậy là quy định tại Điều 135 BLDS: “2. Trong trường hợp giao dịch dân sự có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, thì phải giải thích theo nghĩa phù hợp với mục đích của giao dịch, theo tập quán nơi giao dịch xác lập; nếu bên mạnh thế về kinh tế đa vào giao dịch dân sự nội dung bất lợi cho bên yếu thế về kinh tế, thì khi giải thích giao dịch dân sự phải theo hướng có lợi cho bên  yếu thế “. Theo quan điểm cá nhân, chúng tôi cho rằng, sự can thiệp của Nhà nước được thể hiện qua quy định này chưa thực sự hợp lý. Rõ ràng, một giao dịch dân sự phải được xác lập trên cơ sở tự do ý chí của các chủ thể tham gia. Như vậy, khi giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp quy định tại Khoản 2, Điều 135 thì chỉ có thể xảy ra hai trường hợp:

Thứ nhất, Nhà nước không nên can thiệp vào giao dịch này thông qua việc giải thích theo hướng có lợi cho bên yếu thế. Vì, dù sao các bên tham gia giao dịch đã hoàn toàn tự do ý chí. Sự can thiệp này rõ ràng không bảo đảm sự bình đẳng giữa các chủ thể khi tham gia giao dịch.

Thứ hai, giao dịch này nên được xếp vào giao dịch vô hiệu do điều kiện hoàn toàn tự nguyện đối với các chủ thể tham gia chưa thực sự thoả mãn (theo quy định tại Điều 131 và 136 BLDS).

Ngoài ra, khi được trao những thẩm quyền này, các cơ quan này trong hoạt động của mình kể cả về đội ngũ cán bộ, tổ chức, hoạt động… còn chưa phúc đáp được yêu cầu của thực tiễn. Đây cũng là một nguyên nhân làm giảm đáng kể hiệu lực thi hành của các quy định pháp luật dân sự nói chung và hợp đồng dân sự nói riêng. Do vậy, trong lần sửa đổi này, mối quan hệ giữa vấn đề quản lý nhà nước trong giao lưu dân sự và vấn đề tự do ý chí của các chủ thể khi tham gia vào các giao dịch dân sự cần được nghiên cứu một cách thận trọng nhằm bảo đảm sự quản lý nhà nước đối với giao lưu dân sự một cách có hiệu quả nhất./.

* Xem thêm và đối chiếu giữa: Điều 47, Luật Thương mại và Điều 421 BLDS; Điều 55, Luật Thương mại và Điều

403, BLDS; Các Điều 58, 69, 76 của Luật Thương mại và các điều 432, 433, 436 của BLDS; Điều 228 của Luật

Thương mại và Điều 378 của BLDS.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 12/2002

.

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: