MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TIẾP TỤC ĐỔI MỚI & PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

(Tài liệu họp báo thường kỳ của Chính phủ tại TP.HCM ngày 14.9.2000)

I. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ TIẾP TỤC ĐỔI MỚI VÀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

Mục tiêu tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước nhằm làm cho doanh nghiệp nhà nước hoạt động có hiệu quả và sức cạnh tranh cao, chi phối được những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, bảo đảm được các lĩnh vực công ích thiết yếu của xã hội, góp phần quan trọng ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; làm nòng cốt đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và xây dựng công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất, công nghiệp sản xuất công nghêï cao, công nghiệp quốc phòng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; xây dựng doanh nghiệp nhà nước đủ mạnh để cùng với các yếu tố khác của kinh tế nhà nước làm tốt vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần có định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nhiệm vụ trong 5 năm (2001 – 2005) phải hoàn thành cơ bản việc sắp xếp, cơ cấu lại và đổi mới hoạt động của doanh nghiệp nhà nước hiện có, giải quyết cơ bản nợ tồn đọng không có khả năng thanh toán và số lao động dôi dư; bổ sung, sửa đổi cơ chế, chính sách, hình thành khung pháp lý đồng bộ, tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng trong cơ chế thị trường làm cho mọi thành phần kinh tế, trong đó doanh nghiệïp nhà nước phát huy được đầy đủ quyền tự chủ, tự chịu tách nhiệm và tạo được động lực mạnh mẽ trong sản xuất kinh doanh; kiện toàn và nâng cao hiệu quả của các tổng công ty nhà nước; đổi mới công nghệ và quản lý theo hướng tiên tiến đối với đại bộ phận doanh nghiệp nhà nước; thực hiện xong cổ phần hóa và đa dạng hóa sở hữu đối với những doanh nghiệp mà nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn; hoàn thành việc sáp nhập, khoán, cho thuê và giao, bán, giải thể, phá sản các doanh nghiệp nhỏ, thua lỗ kéo dài mà nhà nước không cần nắm giữ; thành lập mới doanh nghiêïp nhà nước ở những lĩnh vực cần thiết và có đủ các điều kiện.

II. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TIẾP TỤC ĐỔI MỚI VÀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

1. Định hướng phát triển và phân định loại doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích và hoạt động kinh doanh

1.1. Cần thống nhất về vai trò chi phối của khu vực doanh nghiệp nhà nước trong quá trình đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước. Vai trò này không thể hiệïn ở số lượng nhiều, tỷ trọng lớn của doanh nghiệp nhà nước trong tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế, mà chủ yếu là ở hiệu quả và sức cạnh tranh cao để chi phối những lĩnh vực then chốt; khống chế, điều tiết sự phát triển của nền kinh tế theo những định hướng của nhà nước.

1.2. Doanh nghiệp nhà nứớc hoạt động công ích với hình thức nhà nước sở hữu 100% vốn, nhà nước có cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt trong các lĩnh vực công ích thiết yếu. Doanh nghiệp nhà nước công ích hoạt động không chủ yếu vì mục tiêu lợi nhuận, lấy kết quả thực hiện chính sách xã hội và nhiệm vụ được giao để đánh giá hiệu quả. Căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ mà nhà nước quyết định quy mô tổ chức của doanh nghiệp.

Những lĩnh vực công ích phục vụ đời sống mà nhân dân và các thành phần kinh tế khác làm được, làm có hiệu quả thì khuyến khích họ làm, trường hợp nào thấy cần thì nhà nước có thể tham gia cổ phần ở mức thấp. Nhà nước có chính sách ưu đãi chung đối với các sản phẩm và dịch vụ công ích, không phân biệt thành phần kinh tế.

1.3. Doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh với hình thức sở hữu 100% vốn nhà nước, nhà nước có cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt được kiện toàn và phát triển ở các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Việc phát triển sản xuất kinh doanh có vốn của nhà nước, nói chung, nên hình thành các doanh nghiệp đa sở hữu, với nhiều hình thức kinh doanh đa dạng như: công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là nhà nước (100% vốn nhà nước), công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên, công ty cổ phần mà nhà nước có cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt hoặc cổ phần ở mức thấp…đối với những lĩnh vực, những ngành, những sản phẩm và dịch vụ then chốt của nền kinh tế và quốc phòng, an ninh mà không thể để các thành phần kinh tế khác tham gia hoặc họ không thể làm được thì mới tổ chức doanh nghiệp nhà nước 100% vốn. Khuyến khích các thành phần kinh tế khác phát triển mạnh mẽ sản xuất kinh doanh trên tất cả các lĩnh vực, các ngành nghề, các sản phẩm mà pháp luật không cấm.

Để doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh có hiệu quả và có sức cạnh tranh, đại bộ phận doanh nghiệp nhà nước phải có quy mô vừa và lớn, có công nghê tiên tiến.

1.4. Việc cơ cấu lại và thành lập mới doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích và doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh phải được xem xét chặt chẽ theo hướng nêu trên.

2. Tiếp tục sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách đối với doanh nghiệp nhà nước

2.1. Đối với doanh nghiệp hoạt động công ích

Sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách đối với doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích theo hướng chuyển dần từ cơ chế quản lý doanh nghiệp hoạt động công ích sang cơ chế quản lý sản phẩm và dịch vụ công ích; chuyển từ cơ chế cấp vốn sang cơ chế đấu thầu thực hiện sản phẩm, dịch vụ công ích. Những doanh nghiệp hoạt động kinh doanh làm các sản phẩm, dịch vụ công ích sẽ được hưởng mọi ưu đãi dành cho sản phẩm và dịch vụ công ích theo quy định chung.

Nhà nước cấp đủ vốn cho các doanh nghiệp đang hoạt động để đảm bảo doanh nghiệp hoạt động ổn định, thực hiện được nhiệm vụ công ích nhà nước giao. Đối với doanh nghiệp thành lập mới, nhất thiết phải theo quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của vùng, ngành và địa phương và phải do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và được cấp đủ vốn điều lệ.

Hàng năm, trên cơ sở chỉ tiêu lao động và quỹ tiền lương được duyệt, doanh nghiệp xây dựng và thực hiện quy chế trả lương cho người lao động gắn với kết quả hoàn thành nhiệm vụ.

Cơ quan nhà nước có thẩm quyền lựa chọn những người có đủ phẩm chất, đạo đức, trình độ chuyên môn để bổ nhiệm giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng. Giám đốc có quyền và trách nhiệm bố trí các chức danh quản lý khác trên cơ sở quy định của nhà nước đảm bảo để doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Nếu sau 1 năm, doanh nghiệp không hoàn thành nhiệm vụ công ích được giao, thì giám đốc phải báo cáo, giải trình nguyên nhân và đề ra biện pháp khắc phục với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét phê duyệt. Nếu doanh nghiệp tiếp tục không hoàn thành nhiệm vụ công ích được giao 2 năm liền thì giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng sẽ bị miễn nhiệm.

Nhà nước thông qua các cơ quan chức năng, thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ để bảo đảm doanh nghiệp hoạt động công ích thực hiện đúng mục tiêu thành lập, đối tượng phục vụ và phạm vi hoạt động.

2.2. Đối với doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh

Xóa bỏ bao cấp đối với các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh. Nhà nước có chính sách ưu đãi chung đối với ngành, vùng và các sản phẩm cần ưu tiên khuyến khích, không phân biệt các thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế cạnh tranh và hợp tác bình đẳng trong khung khổ một pháp luật chung. Có quy định kiểm soát các doanh nghiệp nhà nước độc quyền và lợi nhuận do độc quyền đem lại. Doanh nghiệp nhà nước kinh doanh được nhà nước giao sản xuất những sản phẩm và dịch vụ thiết yếu cho nền kinh tế xã hội thì nhà nước có quy định chính sách cụ thể.

Chuyển tất cả các doanh nghiệp nhà nước giữ 100% vốn sang hoạt động theo cơ chế công ty trách nhiệm hữu hạn một sáng lập viên hoặc công ty cổ phần gồm các cổ đông là doanh nghiệp nhà nước.

Trên cơ sở cơ chế chính sách hiện hành, cần sửa đổi, bổ sung một số điểm cụ thể sau:

– Về vốn: đối với doanh nghiệp đang hoạt động, nhà nước có cơ chế để trong 5 năm tạo đủ vốn điều lệ cho doanh nghiệp. Đối với những tài sản do doanh nghiệp đầu tư hoàn toàn bằng vốn vay, sau khi đã trả hết nợ bằng nguồn khấu hao cơ bản và lợi nhuận do chính tài sản đó làm ra, thì người lao động trong doanh nghiệp được hưởng 50% giá trị của tài sản và lợi nhuận do phần tài sản đó tạo ra. Doanh nghiệp chủ động xây dựng cơ chế phân phối lợi ích này một cách hợp lý theo hướng khuyến khích tiếp tục phát triển sản xuất kinh doanh.

Nhà nước thực hiện phương thức đầu tư và quản lý vốn tại doanh nghiệp nhà nước thông qua công ty đầu tư tài chính nhà nước.

– Về đầu tư: trên cơ sở quy hoạch phát triển được cơ quan nhà nước có thẩm quyền duyệt trong từng kế hoạch 5 năm, nhà nước giao quyền cho các doanh nghiệp nhà nước quyết định đầu tư dự án nhóm C, chủ đầu tư hoàn toàn chịu trách nhiệm về hiệu quả của dự án và tuân thủ các quy định của luật pháp về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản.

– Về lao động, tiền lương: doanh nghiệp quyết định việc tuyển chọn lao động, bố trí việc làm căn cứ vào yêu cầu sản xuất kinh doanh. Được trích lập quỹ giải quyết việc làm, được quyết định cho người lao động thôi việc và chịu trách nhiệm giải quyết chính sách theo quy định của pháp luật. Trên cơ sở chính sách chung của nhà nước, doanh nghiệp được chủ động áp dụng hình thức trả lương và mức lương cho người lao động một cách hợp lý, gắn với kết quả sản xuất kinh doanh.

– Về cán bộ quản lý doanh nghiệp: nhà nước quy định tiêu chuẩn và quy trình để doanh nghiệp chủ động lựa chọn và bố trí cán bộ quản lý của mình theo hướng chủ yếu là thi tuyển. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định bổ nhiệm lãnh đạo chủ chốt của doanh nghiệp nhà nước. Nhà nước có cơ chế khuyến khích vật chất, tinh thần, đồng thời nâng cao trách nhiệm của cán bộ quản lý doanh nghiệp. Cán bộ đang quản lý doanh nghiệp có hiệu quả, thì không nhất thiết nghỉ hưu theo quy định. Nếu doanh nghiệp thua lỗ 1 năm, thì giám đốc phải báo cáo, giải trình nguyên nhân và đưa ra phương án khắc phục để cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét phê duyệt. Nếu doanh nghiệp tiếp tục thua lỗ 2 năm liền do chủ quan thì giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng sẽ bị miễn nhiệm và phải chịu trách nhiệm về vật chất, về pháp luật nếu như có quyết định sai trái.

– Về kiểm tra, kiểm soát: cần sửa đổi bổ sung theo hướng hàng năm doanh nghiệp phải được kiểm toán, kết quả kiểm toán là căn cứ pháp lý về tình hình tài chính của doanh nghiệp, cơ quan kiểm toán phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả kiểm toán của mình; cơ quan công an, kiểm sát, thanh tra nhà nước không đi vào kiểm tra hành chính và hoạt động thường xuyên của doanh nghiệp, trừ khi doanh nghiệp đã có dấu hiệu vi phạm pháp luật; các cơ quan tiến hành thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quản thanh tra, kiểm tra của mình.

3. Tiếp tục kiện toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động của tổng công ty nhà nước

3.1. Sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách đối với tổng công ty nhà nước

Ngoài việc thực hiện cơ chế chính sách chung đối với doanh nghiệp nhà nước, riêng đối với tổng công ty nhà nước, cần sửa đổi, bổ sung một số điểm như sau:

– Về tổ chức cán bộ:

+ Tổng công ty nhà nước cần thiết phải có hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị là cơ quan của nhà nước đại diện trực tiếp chủ sở hữu tại tổng công ty, chịu trách nhiệm về việc bảo toàn và phát triển vốn và tài sản nhà nước giao cho tổng công ty.

Chủ tịch hội đồng quản trị thay mặt hội đồng quản trị ký nhận vốn nhà nước giao cho tổng công ty.

+ Tổng giám đốc là thành viên hội đồng quản trị; là đại diện pháp nhân của tổng công ty, chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị, trước người ra quyết định bổ nhiệm và trước pháp luật về điều hành hoạt động của tổng công ty. Tổng giám đốc có quyền điều hành cao nhất trong tổng công ty.

– Về cơ chế hoạt động của tổng công ty, cần tiến hành sửa đổi bổ sung luật doanh nghiệp nhà nước, điều lệ mẫu của tổng công ty nhà nước ban hành kèm theo Nghị định 39/CP ngày 27.6.1995 của Chính phủ. Trong khi chờ sửa đổi, đề nghị cho phép thực hiện thí điểm những quy định đã nêu trên.

3.2. Đẩy mạnh sắp xếp, kiện toàn tổng công ty nhà nước và thành lập tập đoàn kinh tế

– Tổng công ty nhà nước được kiện toàn và phát triển với mục tiêu tập trung nguồn lực của nhà nước vào những ngành, lĩnh vực then chốt nhất của nền kinh tế; làm lực lượng chủ lực trong việc đảm bảo các cân đối lớn và ổn định kinh tế vĩ mô; cung ứng những sản phẩm trọng yếu cho nền kinh tế quốc dân và xuất khẩu, đóng góp lớn cho ngân sách; làm nòng cốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả.

– Tổng công ty nhà nước phải có quy mô vốn đủ lớn; có thể huy động từ nhiều nguồn, nhưng trong đó vốn nhà nước phải là chủ yếu với mức tối thiểu là 500 tỷ đồng (tương đương 40 triệu USD); có đủ số lượng thành viên cần thiết, thực hiện kinh doanh đa ngành trên cơ sở một ngành chính; có công nghệ, kỹ thuật và trình độ quản lý tiên tiến, có năng suất lao động cao, chất lượng sản phẩm tốt, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.

– Căn cứ vào những yêu cầu trên, khẩn trương sắp xếp các tổng công ty nhà nước theo hướng: ngành nào, lĩnh vực nào cần có tổng công ty nhà nước thì nhà nước tạâp trung sức kiện toàn và phát triển; những tổng công ty nào hoạt động trong các ngành không cần có tổng công ty nhà nước và không hội đủ các điều kiện về quy mô vốn, trình độ công nghệ, quản lý, sản phẩm không có khả năng cạnh tranh và không có khả năng phát triển thì sáp nhập vào các tổng công ty khác cùng ngành nghề kinh doanh hoặc giải thể sau khi đã sắp xếp các đơn vị thành viên. Phấn đấu trong 3 năm tới hoàn thành việc sắp xếp các tổng công ty hiện có.

– Kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động của tổng công ty nhà nước theo mô hình công ty mẹ – công ty con. Tổng công ty (công ty mẹ) quản lý và điều hành các doanh nghiệp thành viên (công ty con) chủ yếu bằng cơ chế tài chính theo hướng tạo mối liên kết bền vững về vốn, về đầu tư đổi mới công nghệ và sản phẩm, để vừa phát huy tính độc lập của các doanh nghiệp thành viên vừa tăng cường được sức mạnh tổng hợp của cả tổng công ty.

– Thí điểm thành lập tập đoàn kinh tế trong một số lĩnh vực then chốt nhất của nền kinh tế mà ta có điều kiện, có thế mạnh, có khả năng phát triển để cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả như: bưu chính viễn thông, dầu khí, điện lực, hàng hải…tập đoàn kinh tế phải có quy mô rất lớn về vốn (tối thiểu 10.000 tỷ đồng), hoạt động xuyên quốc gia, có trình độ công nghệ và quản lý hiện đại, có sự gắn kết trực tiếp, chặt chẽ giữa khoa học công nghệ, đào tạo, nghiên cứu triển khai với sản xuất kinh doanh; kinh doanh đa ngành, trong đó có ngành kinh doanh chính, chuyên môn hóa cao và giữ vai trò chi phối trong nền kinh tế quốc dân.

4. Đẩy mạnh cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước mà nhà nước không cần giữa 100% vốn

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị trung ương lần thứ tư (khoá VIII), cơ quan đại diện chủ sở hữu căn cứ vào lĩnh vực, mặt hàng đang sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp mà xác định mức độ cổ phần hóa cụ thể theo các loại hình: doanh nghiệp nhà nước có cổ phần chi phối, doanh nghiệp nhà nước có cổ phần đặc biệt và doanh nghiệp mà nhà nước chỉ giữ tỷ lệ cổ phần ở mức thấp. Sửa đổi, bổ sung cơ chế ưu tiên bán cổ phần cho người lao động trong doanh nghiệp để tạo động lực sản xuất kinh doanh và gắn bó người lao động với doanh nghiệp, đồng thời dành một tỷ lệ thích hợp bán ra ngoài doanh nghiệp để thu hút vốn, kinh nghiệm quản lý của các cổ đông ngoài doanh nghiệp. Không hạn chế mức mua cổ phần lần đầu của nhà đầu tư. Nhà đầu tư nước ngoài mua không quá 30% tổng số cổ phần của doanh nghiệp.

Có quy định thích hợp để khắc phục tình trạng chênh lệch về cổ phần ưu đãi cho người lao động giữa các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa; sửa đổi cơ chế xác định giá trị doanh nghiệp theo cơ chế thị trường để không làm thất thoát tài sản nhà nước, nhưng không gây chậm trễ, phiền hà, tiêu cực. Có chính sách khuyến khích doanh nghiệp cổ phần hóa sử dụng nhiều lao động và quy định cho phép để chủ nợ chuyển vốn vay thành vốn góp cổ phần. Số tiền thu được từ bán cổ phần dành để đầu tư phát triển doanh nghiệp nhà nước.

Các đơn vị thành viên của tổng công ty nhà nước sau cổ phần hóa nếu nhà nước giữ cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt, thì vẫn là thành viên của tổng công ty.

Về hình thức doanh nghiệp cổ phần hóa, cần căn cứ vào điều kiện thực tế của từng doanh nghiệp và yêu cầu trong sản xuất kinh doanh mà lựa chọn các hình thức: giữ nguyên doanh nghiệp phát hành cổ phiếu để thu hút thêm vốn; bán một phần giá trị hiện có của doanh nghiệâp cho các cổ đông; tách một bộ phận của doanh nghiệp đủ điều kiện để cổ phần hóa; nhà nước hoặc doanh nghiệp nhà nước đầu tư một phần vốn để lập doanh nghiệp cổ phần mới.

5. Khẩn trương sáp nhập, khoán kinh doanh, cho thuê, giao, bán, giải thể, phá sản các doanh nghiệp nhà nước quy mô nhỏ, thua lỗ kéo dài không cổ phần hóa được và nhà nước không cần nắm giữ để sử dụng có hiệu quả tài sản của nhà nước, đảm bảo việc làm và thu nhập của người lao động

Đối với doanh nghiệp nhà nước có số vốn nhà nước dưới 5 tỷ đồng, làm ăn thua lỗ, nhà nước không cần nắm giữ và cũng không cổ phần hóa được, tùy thực tế của từng doanh nghiệp mà cơ quan nhà nước đại diện chủ sở hữu quyết định một trong các hình thức như sáp nhập, khoán kinh doanh, cho thuê, giao, bán, giải thể, phá sản.

Các bộ, ngành chức năng, các cơ quan nhà nước ở địa phương cần hướng dẫn, chỉ đạo giải quyết tốt những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện phương án nói trên đối với từng doanh nghiệp, đặc biệt là vấn đề xử lý nợ, xác định giá trị thực tế của doanh nghiệp, bảo đảm việc làm ở các doanh nghiệp sáp nhập, giao, khoán kinh doanh, cho thuê và quyền lợi hợp pháp của người lao động ở các doanh nghiệp giải thể, phá sản. Số tiền thu được qua thực hiện phương án nói trên phải nộp vào ngân sách.

Sửa đổi, bổ sung Luật phá sản doanh nghiệp theo hưởng người quyết định thành lập doanh nghiệp có quyền đề nghị tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

6. Bổ sung chính sách đối với lao động trong sắp xếp, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước

– Các doanh nghiệp nhà nước phải tiến hành rà soát định mức, định biên lao động để xác định số lượng lao động hợp lý.Thực hiện nghiêm chỉnh quy định về hợp đồng lao đồng. Doanh nghiệp tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tuyển dụng lao động và thực hiện các chế độ đối với người lao động theo quy định của pháp luật. Sửa đổi, bổ sung chính sách về bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội phù hợp đối với người lao động tại doanh nghiệp.

– Khi thực hiện sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, cần hết sức chú ý phương án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh để có thể duy trì tối đa và thu hút thêm người lao động vào làm việc ở doanh nghiệp. Trong trường hợp cần đào tạo lại mà doanh nghiệâp thiếu kinh phí, thì nhà nước trợ giúp một phần. Trường hợp người lao động tự nguyện thôi việc thì giải quyết theo chế độ hiện hành và sử dụng quỹ hỗ trợ sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước để bổ sung. Khẩn trương thành lập quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Kết hợp việc giải quyết lao động dôi dư với thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm, đẩy mạnh xuất khẩu lao động trong đó có lao động dôi dư.

– Sửa đổi, bổ sung chính sách về bảo hiểm xã hội và an ninh xã hội phù hợp đối với người lao động tại doanh nghiệp; nhà nước, doanh nghiệp và người lao động đều có trách nhiệm tham gia giải quyết:

Nguồn kinh phí để giải quyết chính sách cho số lao động dôi dư và không có việc làm, thì ngoài quỹ hỗ trợ sắp xếp và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, còn được hỗ trợ thêm từ ngân sách và các nguồn tài chính vay ưu đãi của các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế. Dự tính tổng số tiền dành cho việc giải quyết lao động thôi việc, mất việc, dôi dư vào khoảng 5.000 tỷ đồng.

Sửa đổi, bổ sung một số quy định của Luật lao động theo hướng cho phép áp dụng chế độ mất việc đối với số lao động dôi dư tại thời điểm cho thuê, khoán kinh doanh và bán doanh nghiệp nhà nước. Trong khi chờ sửa đổi luật, cho thực hiện chính sách nói trên.

7. Xử lý nợ không thanh toán được của các doanh nghiệp nhà nước

Làm rõ trách nhiệm của hội đồng quản trị, tổng giám đốc, giám đốc doanh nghiệp nhà nước về các khoản nợ không có khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Sửa đổi cơ chế hạch toán để doanh nghiẹâp tự chịu trách nhiệm về các khoản nợ doanh nghiệp. Đối với các khoản nợ đã quá hạn từ 5 năm thì phải hạch toán vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp (các khoản lỗ) nhưng doanh nghiệp vẫn phải theo dõi và đòi nợ, khi đòi được nợ thì lại hạch toán vào lãi của doanh nghiệp. Trường hợp doanh nghiệp bị thua lỗ liên tục từ 2 năm trở lên thì được xem xét giảm vốn, khi đòi được nợ thì tăng vốn trở lại cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp không được đi vay các khoản ngắn hạn để đầu tư cho các dự án trung và dài hạn, ngân hàng phải có cơ chế kiểm tra giám sát và cùng chịu trách nhiệm nếu để xảy ra các trường hợp nói trên.

Đối với nợ ngân hàng, thì giao cho ngân hàng nhà nước chịu trách nhiệm tổng hợp và phối hợp với các ngành đề xuất các trường hợp xóa nợ, khoanh nợ, giãn nợ, tham gia vốn với doanh nghiệp. Tăng cường cơ chế giám sát của cơ quan ngân hàng, cơ quan tài chính về công nợ của doanh nghiệp nhà nước. Thông báo về khả năng thanh toán của doanh nghiệp cho các bên tham gia ký kết hợp đồng kinh tế. Các ngân hàng thương mại quốc doanh phải thẩm định kỹ và tự chịu trách nhiệm trước khi cho các doanh nghiêïp vay vốn, chỉ cho vay đối với các khoản vay có khả năng trả nợ gốc và lãi đúng hạn. Nghiên cứu lại thời hạn cho vay đầu tư trung và dài hạn phù hợp với thời gian thu hồi vốn của dự án.

Đối với các khoản nợ ngân sách (nợ thuế, tiền bán hàng theo nghị định thư và các khoản nợ khác) từ năm 1995 trở về trước, sớm kiểm tra và phân loại các khoản nợ để xử lý cụ thể cho từng doanh nghiệp. Đối với các khoản nợ ngân sách mà doanh nghiệp đã đầu tư vào tài sản thì tăng vốn cho doanh nghiệp; nếu doanh nghiêïp bị thua lỗ kéo dài, không có khả năng thanh toán thì xem xét cho xóa nợ nhưng phải có quy chế chặt chẽ, không gây thất thoát cho ngân sách nhà nước.

Đối với các khoản nợ nước ngoài mà có bảo lãnh của các bộ, ngành, địa phương thì cơ quan bảo lãnh chủ trì đàm phán với các chủ nợ để giảm số nợ đến mức thấp nhất và bố trí ngân sách để trả nợ, doanh nghiệp có trách nhiệm hoàn trả ngân sách.

Ban hành cơ chế kiểm tra giám soát tình hình nợ của doanh nghiệp nhà nước gắn với hiệu quả đầu tư nhưng vẫn đảm bảo quyền tự chủ về sản xuất kinh doanh nghiệp của doanh nghiệp.

Đối với các khoản nợ do lịch sử để lại từ lâu không có khả năng thu hồi, cần có cơ chế cho xóa nợ, nhưng phải làm rõ trách nhiêïm và xử lý nghiêm các hành vi sai trái.

8. Đổi mới và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và bồi dưỡng, đào tạo cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước

– Đổi mới và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước. Phân định rõ chức năng quản lý nhà nước và chức năng quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

+ Quản lý nhà nước tập trung vào việc xây dựng, hoàn thiện khung pháp lý và ban hành chính sách, cơ chế quản lý đối với doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích; chỉ đạo xây dựng quy hoạch và chiến lược phát triển của doanh nghiệp nhà nước trong tổng thể quy hoạch và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của ngành và địa phương; xây dựng quy hoạch và đào tạo đội ngũ cán bộ cốt cán cho doanh nghiệp nhà nước; tổ chức kiển tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật, chủ trương, chính sách, chế độ quy định của nhà nước tại doanh nghiệp.

Nhà nước tập trung chỉ đạo thúc đẩy phát triển đồng bộ các loại thị trường để tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nhà nước có chính sách khuyến khích mạnh mẽ doanh nghiệp nghiên cứu và ứng tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất kinh doanh; tạo ra sản phẩm mới, sản phẩm có chất lượng cao cạnh tranh được trên thị trường trong và ngoài nước.

Tiếp tục xóa bỏ chế độ cơ quan chủ quản và cấp hành chính chủ quản. Các cơ quan quản lý nhà nước phải căn cứ vào quy định của pháp luật và chức năng, nhiêïm vụ của mình mà ban hành đầy đủ, phù hợp hệ thống văn bản pháp quy để thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Cơ quan quản lý nhà nước không can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

+ Quản lý điều hành sản xuất kinh doanh là nhiệm vụ của doanh nghiệp. Doanh nghiệp thực hiện quản lý sản xuất kinh doanh trên cơ sở quản lý, sử dụng vốn, đất đai, tài nguyên và các nguồn lực khác do nhà nước giao để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của doanh nghiệp; chủ động tổ chức bộ máy quản lý và nhân lực phù hợp nhiệm vụ và yêu cầu phát triển. Người lãnh đạo doanh nghiêïp chịu trách nhiệm đầy đủ về mọi quyết định của mình trong sản xuất kinh doanh.

– Phân định quyền của cơ quan nhà nước với tư cách là chủ sở hữu và trách nhiệm của người sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước.

+ Chủ sở hữu có quyền: quyết định thành lập, sáp nhập, chia tách, giải thể, chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp; quyết định mục tiêu, nhiệm vụ, chiến lược phát triển và định hướng kế hoạch kinh doanh trung hạn, dài hạn của doanh nghiệp; ban hành điều lệ mẫu tổ chức hoạt động của doanh nghiệp; bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật các chức danh quản lý chủ chốt; tổ chức kiểm tra, giám sát thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ nhà nước giao và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

+ Người sử dụng vốn nhà nước có trách nhiệm: sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn nhà nước để thực hiện các mục tiêu kinh doanh và nhiệm vụ do nhà nước giao; thực hiện đúng chế độ và các quy định về quản lý vốn, tài sản, các quỹ, về hạch toán kế toán, chế độ kiểm toán và các chế độ khác do nhà nước quy định; chịu trách nhiệm về tính trung thực và hợp pháp của hoạt động tài chính, các báo cáo tài chính.

– Cán bộ quản lý doanh nghiệp không đáp ứng được yêu cầu mới về trình độ năng lực, phẩm chất đạo đức là nguyên nhân cơ bản gây ra tình trạng doanh nghiệp hoạt động yếu kém, tiêu cực. Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước hiện nay đòi hỏi phải có chương trình kế hoạch đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng với nội dung sát hợp cho từng đối tượng cụ thể.

Kiện toàn và nâng cao năng lực của các cơ sở bồi dưỡng, đào tạo cán bộ quản lý doanh nghiệp. Kết hợp bồi dưỡng đào tạo trong nước và nước ngoài. Kết hợp việc đào tạo bồi dưỡng qua trường lớp với khuyến khích dám nghĩ, dám hành động và trưởng thành qua hoạt động thực tiễn.

Có chính sách khuyến khích vật chất và tinh thần cho những người có tay nghề cao, trình độ chuyên môn giỏi, đóng góp lớn để họ gắn bó lâu dài và cống hiến ngày càng nhiều cho doanh nghiệp.

9. Nâng cao vai trò của tổ chức đảng ở doanh nghiệp nhà nước

Sự lãnh đạo của đảng đối với doanh nghiệp nhà nước là vấn đề có tính nguyên tắc. Thực tiễn cho thấy doanh nghiệp nhà nước nào có đảng bộ vững mạnh, chấp hành pháp luật, đảng viên gương mẫu, lãnh đạo doanh nghiệp và đảng ủy đoàn kéât, nhất trí, thì ở đó sản xuất kinh doanh phát triển.

Tổ chức đảng ở doanh nghiệp nhà nước tạâp trung lãnh đạo việc quán triệt và chấp hành nghị định, chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước; lãnh đạo doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đúng luật pháp và bảo đảm quyền lợi hợp pháp, phát huy dân chủ, tinh thần thi đua hoàn thành nhiệm vụ của người lao động; lãnh đạo đảm bảo việc bổ nhiệm cán bộ quản lý doanh nghiệp theo đúng tiêu chuẩn và quy trình; lãnh đạo xây dựng đạo đức, phẩm chất đội ngũ đảng viên và đấu tranh chống mọi hiện tượng tiêu cực, tham nhũng. Đảng viên trong doanh nghiệp phải gương mẫu thực hiện chủ trương, chính sách của đảng, pháp luật của nhà nước, điều lệ, quy chế của doanh nghiệp và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Tổ chức đảng tại doanh nghiệp nhà nước cần phải được kiện toàn phù hợp với đặc điểm tổ chức quản lý của doanh nghiệp trong điều kiện mới, đề nghị Bộ chính trị giao Ban tổ chức trung ương phối hợp với các cơ quan có liên quan sớm nghiên cứu để có mô hình tổ chức đảng phù hợp đối với từng loại hình doanh nghiệp ª

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: