VIỆC THI HÀNH ÁN – THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT

HOÀNG THẾ ANH – Cục Thi hành án dân sự

Thi hành án nói chung, thi hành án dân sự nói riêng là một trong những hoạt động quan trọng, nhằm khôi phục và bảo vệ các quan hệ xã hội bị xâm hại. Do đó, thi hành dứt điểm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay trên thực tế có một ý nghĩa đặc biệt trong việc đảm bảo trật tự, an toàn xã hội.

Để đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định, trong những năm qua Đảng, Nhà nước đã quan tâm ban hành nhiều chủ trương, chính sách và pháp luật, cũng như hỗ trợ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho công tác thi hành án dân sự; các cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan Thi hành án dân sự và toàn thể cán bộ, công chức ngành thi hành án đã nỗ lực phấn đấu để nâng cao kết quả và hiệu quả của công tác thi hành án dân sự. Nhờ có sự quan tâm và cố gắng trên, nhiều bản án, quyết định của Toà án đã được thi hành dứt điểm (Biểu số 1), bảo đảm được quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước, của cơ quan, tổ chức và các cá nhân công dân góp phần vào việc ổn định tình hình an ninh, chính trị của đất nước, tạo tiền đề cho sự phát triển của kinh tế – xã hội.

(Biểu số 1)

Số TT

Năm

Số việc giải quyết xong ở thời điểm báo cáo

Số việc thi hành xong hoàn toàn ở thời điểm báo cáo

Tỷ lệ giải quyết xong/tổng số phải thi hành

Tỷ lệ thi hành xong/số có điều kiện

1

2003

189.542

150740

35%

47%

2

2004

209.747

168022

39%

50%

3

2005

233.522

145468

42%

42%

4

2006

270.967

213218

45%

56%

5

2007

336.823

261197

52%

69%

 

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đã đạt được, thì vẫn còn không ít những bản án, quyết định có hiệu lực thi hành chưa được tổ chức thi hành dứt điểm, khiến cho quyền, lợi ích hợp pháp của một bộ phận quần chúng nhân dân không được đảm bảo, gây bức xúc trong xã hội. Theo số liệu thống kê hàng năm, thì số lượng các bản án, quyết định bị tồn lại chưa được thi hành dứt điểm vào các kỳ báo cáo hàng năm (năm báo cáo được tính từ ngày 1/10 năm trước và kết thúc vào 30/9 năm sau) mặc dù tỷ lệ có giảm, nhưng vẫn còn cao (Biểu số 2).

(Biểu số 2)

Số TT

Năm

Tổng số việc phải thi hành của năm báo cáo

Số lượng án chưa được giải quyết vào thời điểm báo cáo hàng năm

Tỷ lệ

1

2003

546.346

356.804

65.30%

2

2004

537.405

323.773

60.24%

3

2005

561.180

327.658

58.38%

4

2006

602.059

331.092

54.99%

5

2007

648.266

311.443

48.04%

          Qua phân tích số lượng các vụ việc còn tồn chuyển sang năm sau tiếp tục tổ chức thi hành (gọi tắt là việc tồn) trong 5 năm trở lại đây (Biểu số 2) cho thấy, mặc dù số lượng việc tồn đọng chuyển kỳ sau có lúc tăng, lúc giảm. Nhưng thực tế số lượng việc tồn cần phải giải quyết tính đến ngày 31/10/2007 vẫn còn một số lượng lớn (311.443). Số lượng những việc tồn này là số việc tồn của những năm trước cộng dồn sang. Một điều đáng chú ý là trong số tồn này có những việc tồn đã được thụ lý từ năm măm 1993 (thời điểm chuyển giao công tác thi hành án từ Toà án sang cho các cơ quan thuộc Chính phủ quản lý) đến nay vẫn chưa được giải quyết dứt điểm, thậm chí, còn cả một số việc từ những năm trước đó còn tồn lại (thời kỳ Toà án nhân dân quản lý công tác thi hành án dân sự).

          Trong cơ cấu của án tồn chuyển sang kỳ sau, theo quy định của Chế độ thống kê thi hành án dân sự được ban hành kèm theo Quyết định số 02/2006/QĐ-BTP ngày 14/4/2007 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định về Chế độ báo cáo thống kê thi hành án dân sự bao gồm: Án thi hành dở dang, án chưa thi hành được, án hoãn, tạm đình chỉ, lý do khác. Trong đó:

Điều đáng chú ý là số vụ việc dở dang và số án chưa thi hành được còn tồn khối lượng lớn (31% số việc tồn chuyển kỳ sau) chưa được thi hành dứt điểm . Đây là những vụ việc có điều kiện về tài sản, cơ quan Thi hành việc có thể tổ chức thi hành xong trên thực tế số việc này, nhưng chưa được các cơ quan thi hành án tổ chức thi hành.

Nguyên nhân:

          Chủ quan

Một bộ phận cán bộ, công chức làm công tác thi hành án dân sự trình độ chuyên môn chưa đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ trong tình hình mới.

Trong những năm vừa qua, được sự quan tâm của Lãnh đạo Bộ Tư pháp, sự phối hợp chặt chẽ của Học Viện tư pháp, Sở Tư pháp, Thi hành án dân sự địa phương, Đội ngũ Chấp hành viên của ngành thi hành án dân sự đã được đào tạo một cách cơ bản. Các Chấp hành viên mới được bổ nhiệm, hầu hết đều phải qua lớp đào nghề Chấp hành viên mới được bổ nhiệm. Bên cạnh đó, để nâng cao trình độ cho số Chấp hành viên cũ và các cán bộ, công chức làm công tác thi hành án dân sự khác, Cục Thi hành án dân sự cũng thường xuyên phối hợp với các đơn vị hữu quan tổ chức các lớp bồi dưỡng về nghiệp vụ để cập nhật những văn bản, kiến thức mới cho đội ngũ này. Chính vì vậy, trong những năm vừa qua đội ngũ Chấp hành viên, cán bộ, công chức làm công tác thi hành án dân sự không chỉ tăng lên về số lượng mà chất lượng cũng được tăng lên đáng kể. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số Chấp hành viên, cán bộ, công chức làm công tác thi hành án dân sự do thiếu rèn luyện, tu dưỡng và học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đã không theo kịp sự phát triển của ngành, năng lực làm việc chưa đáp ứng được các yêu cầu của nhiệm vụ đặt ra. Chính vì vậy, kết quả tổ chức thi hành án không cao, dẫn tới những việc được giao thi hành phải chuyển sang năm sau nhiều.

        Nhiều trường hợp Chấp hành viên chưa thực sự tích cực, quyết liệt đối với những vụ việc phức tạp, khó khăn; ngại khó, ngại va chạm

Tại Điều 14 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 đã quy định “Chấp hành viên có trách nhiệm thi hành đúng nội dung bản án, quyết định dân sự, áp dụng đúng đắn các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thi hành án bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước và đương sự…”. Đồng thời, Pháp lệnh Thi hành án dân sự cũng quy định cho Chấp hành viên nhiều quyền năng để tổ chức thi hành án, kể cả việc cưỡng chế Thi hành án. Nhưng trên thực tế, vẫn còn hiện tượng Chấp hành viên chưa tích cực tổ chức thi hành án; ngại va chạm, nên không sử dụng các biện pháp mạnh để tổ chức thi hành dứt điểm bản án.

Mặt khác, theo quy định của pháp luật về thi hành án hiện hành, thì phần lớn các việc trong thi hành án dân sự đều có biện pháp giải quyết. Ví dụ đối với những việc có tài sản thì Chấp hành viên được quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế để thi hành dứt điểm bản án. Còn đối với những việc không có điều kiện về tài sản, thì tuỳ từng trường hợp, Chấp hành viên sẽ áp dụng các biện pháp thích hợp để giải quyết như: trả đơn yêu cầu thi hành án (trường hợp thi hành án theo đơn); đình chỉ thi hành án (nếu đủ điều kiện đình chỉ thi hành án); hoãn thi hành án, miễn, giảm thi hành án án (trường hợp thi hành các khoản nộp ngân sách nhà nước…). Tuy nhiên, do chưa tích cực rà soát, phân loại án để xử lý theo các biện pháp nêu trên, nên số lượng việc được loại khỏi sổ thụ lý của cơ quan thi hành án dân sự ít, dẫn tới lượng việc tồn chuyển sang kỳ tiếp theo lớn.

Một số trường hợp vi phạm pháp luật nhưng chậm được khắc phục, vẫn còn hiện tượng gây sách nhiễu, gây cản trở hoạt động thi hành án.

Theo quy định tại Điều Điều 59, 60 thì đương sự được quyền khiếu nại, tố cáo đối với những hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự và Chấp hành viên. Đồng thời, Điều 67 Pháp lệnh thi hành án dân sự, nếu Chấp hành viên, cơ quan thi hành án vi phạm pháp luật trong tổ chức thi hành án, thì tuỳ theo mức độ vi phạm phải bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường. Nhưng trên thực tế, trong thời gian vừa qua, có nhiều trường hợp khiếu nại của đương sự đúng đã không được xử lý dứt điểm, khiến cho việc thi hành án bị dây dưa, kéo dài qua nhiều năm, thậm chí có việc hàng chục năm vẫn chưa giải quyết xong.

Trình độ quản lý, điều hành của Lãnh đạo cơ quan quản lý thi hành án, cơ quan Thi hành án dân sự chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra.

Theo quy định tại Điều 16 của Pháp lệnh thi hành án dân sự, Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự có trách nhiệm ra các quyết định thi hành án, phân công Chấp hành viên thi hành vụ việc; quản lý và đôn đốc, hướng dẫn nghiệp vụ đối với việc thi hành án; kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền để có biện pháp thi hành án hiệu quả. Nếu xét thấy Chấp hành viên không thể hoàn thành nhiệm vụ, thì Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự có quyền sử dụng các biện pháp về hành chính, tổ chức, tài chính để thúc đẩy việc thực hiện nhiệm vụ của Chấp hành viên của của các đơn vị thi hành án thuộc quyền quản lý của mình. Để làm được điều này, đòi hỏi Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan Thi hành án dân sự phải nắm chắc được khối lượng việc và trạng thái thực hiện công việc của các Chấp hành viên và cơ quan Thi hành án dân sự thuộc quyền quản lý của mình, từ đó đề ra chủ trương, biện pháp để nâng cao kết quả thi hành án. Nhưng trên thực tế cho thấy, hiện tại vẫn còn nhiều nơi, Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan Thi hành án dân sự chưa thực sự nắm vững được khối luợng công việc, trạng thái công việc của Chấp hành viên và các đơn vị thuộc quyền quản lý, nên sự chỉ đạo điều hành chưa kịp thời và hiệu quả chưa cao, dẫn tới kết quả thi hành án không cao.

         Khách quan

Là những nguyên nhân nằm ngoài sự kiểm soát của cơ quan Thi hành án. Những nguyên nhân này xuất phát từ đặc thù của thi hành án dân sự; từ pháp luật và từ phía các cơ quan hữu quan.

        Pháp luật và cơ chế về thi hành án dân sự còn nhiều điểm bất cập nhưng chậm được bổ sung, sửa đổi.

Pháp lệnh năm 2004 mặc dù đã được sửa đổi nhiều, nhưng vẫn chưa đáp ứng được các yêu cầu đặt ra. Nhiều quy định còn chưa phù hợp với thực tiễn hoặc có nhiều tình huống phát sinh trên thực tiễn nhưng chưa được điều chỉnh như: Ví dụ như việc ra quyết định thi hành án trong trường hợp Toà án chấp nhận đơn kháng cáo quá hạn; vấn đề miễn, giảm đối với các khoản tiền phải thi hành án là án phí, tiền phạt, kê biên, định giá, bán đấu giá tài sản…;

Vị trí và quyền năng pháp lý của cơ quan thi hành án chưa tương ứng với yêu cầu của nhiệm vụ;

Việc ủy quyền cho Giám đốc Sở Tư pháp thực hiện một số công việc về tổ chức cán bộ đã làm ảnh hưởng tới công tác chỉ đạo, điều hành của Trưởng thi hành án dân sự, nhất là việc điều động Chấp hành viên, cán bộ công chức làm công tác thi hành án nhằm mục đích xử lý các điểm nóng về việc tồn đọng;

Chế độ đối với Chấp hành viên, cán bộ, công chức làm công tác thi hành án dân sự chưa hợp lý, nên việc thu hút người có trình độ vào làm việc cho cơ quan Thi hành án dân sự gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, việc quy định Chấp hành viên huyện, Chấp hành viên tỉnh là chưa hợp lý, gây khó khăn cho việc giải quyết chế độ khi điều động Chấp hành viên từ tỉnh xuống hỗ trợ cho cấp huyện.

             Người phải thi hành án chây ỳ, chống đổi, cản trở việc thi hành án.

Qua thực tiễn tổ chức thi hành án dân sự trong hơn 14 năm qua cho thấy, trong quá trình thi hành án quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đương sự và những người có quyền, lợi ích liên quan đã trực tiếp bị ảnh hưởng, nhất là đối với người phải thi hành án. Lúc này các quyền về nhân thân (thi hành án buộc làm hoặc không được là một công việc), quyền về tài sản và tài sản (thi hành nghĩa vụ về tài sản) của người phải thi hành án đã trực tiếp bị tác động, nếu họ không tự nguyện, thì Chấp hành viên sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế để buộc họ phải thực hiện theo đúng nội dung bản án, quyết định của Toà án vì lợi ích của người được thi hành án. Do đó, trong giai đoạn này, người phải thi hành án thường tìm mọi cách để trì hoãn, trốn tránh việc thi hành án, làm cho việc thi hành án trở lên khó khăn phức tạp, nhất là những trường hợp người phải thi hành án chưa thoả mãn với kết quả giải quyết của Toà án và các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp.

           Các hoạt động Thanh tra, Kiểm sát thi hành án chưa thực sự phát huy được vai trò của mình trong việc thúc đẩy nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về thi hành án dân sự của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc thi hành án dân sự.

Điều 10 Pháp lệnh thi hành án dân sự quy định “trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của đương sự, cơ quan thi hành án, Chấp hành viên, cơ quan nhà nước khác, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội,tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và cá nhân có liên quan đến việc thi hành án, nhằm bảo đảm việc thi hành án kịp thời, đầy đủ, đúng pháp luật”. Tuy nhiên, trong thời gian qua, hoạt động kiểm sát thi hành án phần lớn chỉ hướng vào hoạt động của cơ quan thi hành án, của Chấp hành viên, mà ít hướng hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến hoạt động thi hành án dân sự. Do đó, tác động của hoạt động kiểm sát thi hành án chưa cao, chưa thực sự có tác động đến ý thức chấp hành pháp luật về thi hành án của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến thi hành án dân sự.

Bên cạnh đó, theo quy định của Luật thanh tra và các văn bản hướng dẫn thi hành, thì Thanh tra tư pháp thực hiện chức năng thành tra hành chính và thanh tra chuyên ngành. Mặc dù vậy, cũng như hoạt động kiểm sát, hoạt động thanh tra ít thực hiện thành tra chuyên ngành, nhằm hỗ trợ cho cơ quan Thi hành án dân sự trong việc tác động đến ý thức chấp hành pháp luật thi hành án của các cơ quan, tổ chức.

Một số trường hợp Toà án nhân dân tuyên án không rõ.

          Một số bản án, quyết định của toà án có nội dung không rõ, không đúng với thực tế, có sai sót; một số phán quyết của toà án mà cơ chế, trình tự, thủ tục tổ chức thi hành chưa được quy định cụ thể (ví dụ như: thủ tục thi hành án hành chính, lao động, phá sản, bản án, quyết định của toà án, trọng tài nước ngoài được công nhận và thi hành tại Việt Nam…) gây rất nhiều khó khăn cho cơ quan thi hành án, dẫn đến tình trạng thi hành án kéo dài.

Sự phối hợp giữa Toà án và cơ quan Thi hành án trong việc chuyển giao bản án chưa chặt chẽ, kịp thời.

          Trong thực tế, có nhiều trường hợp, sau khi bản án, quyết định được tuyên, Toà án chậm hoặc không chuyển giao cho cơ quan Thi hành án để thi hành, hoặc chuyển giao bản án, nhưng không chuyển giao tang vật, tài sản kèm theo, gây khó khăn cho việc thi hành án. Đồng thời, có nhiều trường hợp, để hoàn thành nhiệm vụ, trong dịp cuối năm Toà án mới chuyển giao một số lượng lớn án cho cơ quan Thi hành án để tổ chức thi hành. Lúc này đã vào thời điểm báo cáo, nếu cơ quan Thi hành án không ra quyết định và thụ lý để tổ chức thi hành thì vi phạm pháp luật, còn nếu ra quyết định và thụ lý để thi hành, thì số chưa thể thi hành kịp trước khi lập báo cáo. Do đó, số này lại là số tồn và chuyển sang kỳ sau.

Người phải thi hành án không có khả năng để thi hành án.

          Người phải thi hành án không có tài sản, thu nhập hợp pháp để thi hành án hoặc không xác định được nơi cư trú của đương sự; đặc biệt đối với trường hợp người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù, không có tài sản; người phải thi hành án có tài sản nhưng giá trị nhỏ không đáng kể để thi hành án, hoặc chỉ có tài sản đã kê biên, phát mãi nhưng không bán được, mà người được thi hành án không đồng ý nhận để trừ vào số tiền được thi hành án và người phải thi hành án không còn tài sản nào khác. Người phải thi hành nghĩa vụ giao vật đặc định mà vật đó đã bị mất, hư hỏng mà hai bên không thoả thuận được về phương thức thanh toán, cơ quan thi hành án đã hướng dẫn các đương sự khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết việc bồi thường, nhưng chưa có quyết định giải quyết của Toà án….

           Giải pháp

Giải quyết triệt để số lượng án thụ lý trong năm báo cáo, không để tồn chuyển sang kỳ sau luôn là một bài toán lớn đối với cơ quan quản lý Thi hành án, cơ quan Thi hành án, đồng thời cũng là mong mỏi của toàn xã hội. Chúng tôi nxin nêu một số giải pháp để khắc phục một số nguyên nhân, chủ quan và khách quan nhằm nầng cao kết quả thi hành án và giảm lượng án tồn đọng trong thời gian tới như sau:

Khẩn trương xây dựng, hoàn thiện Dự thảo Luật thi hành án dân sự.

Phấn đấu thực hiện đúng chương trình, kế hoạch đã được đề ra, đảm bảo trình các cơ quan thẩm định đúng thời hạn để Luật thi hành án dân sự có thể trình Quốc hội xem xét và thông qua vào cuối năm 2008; cố gắng khắc phục tối đa những bất cập trong Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 và những vấn đề khác qua hoạt động thực tiễn thời gian qua;

        Tiếp tục mở các đợt cao điểm về giải quyết án tồn chưa được giải quyết.

Tính đến thời điểm 30/9/2007, trên địa bàn toàn quốc còn tồn chuyển sang năm 2008 là 311.443 việc với tổng số tiền là 14.586.510.244.000 đồng. Trong số tồn này, có 97.225 việc là việc có điều kiện, nhưng cơ quan Thi hành án chưa tổ chức thi hành (chiếm 25,51% số án có điều kiện của năm 2007). Đây là số án có thể giải quyết được ngay trong năm các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương tập trung vào giải quyết loại án này để nâng cao kết quả về việc và giá trị trong thi hành án dân sự. Đối với các loại việc khác, tiếp tục phân loại, và có biện pháp xử lý thích hợp.

      Dừng việc chuyển giao án có gái trị đến 500.000 đồng cho UBND xã, phường, thị trấn trực tiếp đôn đốc thi hành và nghiên cứu cơ chế mới để áp dụng.

Rà soát, đánh giá lại việc chuyển giao án có giá trị đến 500.000 đồng cho UBND xã, phường, thị trấn trực tiếp đôn đốc thi hành, đồng thời đề xuất các biện pháp về việc phối hợp giữa cơ quan thi hành án phạt tù với cơ quan Thi hành án dân sự trong việc thi hành án. Đối với những vụ việc có giá trị nhỏ, thi hành án phí hoặc tiền phạt, có thể giao hoặc cho phép cơ quan Thi hành án ủy quyền cho các trại giam, trại tù tổ chức đôn đốc thi hành;

         Nghiên cứu, đề xuất sửa đổi một số điểm của Thông tư số 02/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA-BTC ngày 17/6/2005 của Bộ Tư pháp, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tài chính hướng dẫn việc miễn, giảm án phí, tiền phạt cho phù hợp thực tiễn.

Để hỗ trợ cho việc giải quyết án tồn khi người phải thi hành án không có điều kiện tài sản để thi hành án, ngày 17/6/2005 Bộ Tư pháp, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tài chính đã phối hợp ban hành Thông tư số 02/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA-BTC hướng dẫn việc miễn, giảm án phí, tiền phạt cho người phải thi hành án. Tuy nhiên việc thực hiện thông tư này còn có nhiều bất cập cần sửa đổi theo hướng cho phép cơ quan Thi hành án dân sự sau khi xác minh thấy đương sự không có tài sản, mà đủ điều kiện về thời gian, thì làm thủ tục miễn, giảm và đình chỉ việc thi hành án mà không yêu cầu người phải thi hành án có đơn xin miễn giảm; mở rộng phạm vi miễn giảm; thu ngắn thời gian được xét miễn giảm…

         Tăng cường hoạt động kiểm tra công tác thi hành án dân sự.

Các cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan Thi hành án dân sự cần tăng cường kiểm tra hoạt động thi hành án dân sự, nhất là kiểm tra kết quả thi hành án dân sự một cách thường xuyên, nhằm phát hiện và khắc phục kịp thời các sai phạm. Đồng thời qua đó phân loại án để có kế hoạch thi hành án cụ thể phù hợp với từng địa phương, từng giai đoạn phù hợp với tình trạng nhiệm vụ phải thực hiện.

          Đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm về việc thực hiện Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về ủy quyền cho Giám đốc Sở Tư pháp thực hiện một số công việc về tổ chức thi hành án dân sự.

Tiến hành tổng kết, đánh giá việc áp dụng Quyết định về việc ủy quyền cho Giám đốc Sở Tư pháp thực hiện một số công việc về tổ chức, nếu thấy cần thiết, có thể kiến nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp giao cho Trưởng Thi hành án dân sự thực hiện công tác tổ chức theo ủy quyền của Bộ trưởng, nhằm tạo điều kiện cho Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự có thể chủ động trong việc luôn chuyển, điều động Chấp hành viên, cán bộ, công chức thi hành án để thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của địa phương, phù hợp với từng địa bản, từng thời điểm, để nâng cao kết quả thi hành án.

        Thi hành án dân sự địa phương cần rà soát, phân loại án chính xác trên cơ sở các tiêu chí thống kê, từ đó áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định để giải quyết từng loại án.

Đối với việc đang giải quyết (thi hành dở dang và chưa thi hành được), đây là những vụ việc đương sự có điều kiện thi hành, nhưng cơ quan thi hành án chưa tổ chức thi hành được phần nào hoặc đang tổ chức thi hành. Cơ quan Thi hành án dân sự cần đôn đốc Chấp hành viên phụ trách hồ sơ tích cực, chủ động trong việc giáo dục, thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án. Trường hợp giáo dục, thuyết phục không có kết quả, thì cương quyết áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết để thi hành dứt điểm vụ việc;

Đối với Những trường hợp hoãn thi hành án (những trường hợp cơ quan Thi hành án chủ động thi hành án), cần phải thường xuyên theo dõi sát sao điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, nếu có điều kiện, thì ra quyết định tiếp tục thi hành án và tổ chức thi hành ngay theo quy định của pháp luật. Đối với những trường hợp hoãn kéo dài mà người phải thi hành án vẫn không có điều kiện thi hành án, nếu xét thấy đủ các điều kiện để miễn, giảm thi hành án thì thực hiện các thủ tục miễn, giảm theo quy định của pháp luật;

Đối với những trường hợp tạm đình chỉ thi hành án, hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền xem xét lại bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, cơ quan Thi hành án dân sự cần phối hợp chặt chẽ với Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, để khi có quyết định mới thì tiếp tục đưa bản án ra thi hành hoặc ra quyết về thi hành án phù hợp để giải quyết dứt điểm vụ việc;

Những trường hợp bản án tuyên không rõ, thì kịp thời có văn bản đề nghị Toà án đã ra bản án, quyết định đó giải thích, đính chính, làm cơ sở cho việc thi hành bản án, quyết định đó. Trường hợp không được giải thích kịp thời, thì báo cáo cơ quan Thi hành án và Toà án cấp trên trực tiếp để có biện pháp chỉ đạo giải quyết.

Đối với những trường hợp chưa thống nhất ý kiến. Đây là những việc thi hành án có điều kiện thi hành án, nhưng do có nhiều quan điểm khác nhau về việc thi hành án, nên bản án, quyết định chưa thi hành được. Những việc này, cơ quan Thi hành án cần chỉ đạo Chấp hành viên tích cực rà soát, đề xuất với Lãnh đạo Thi hành án hoặc cơ quan Thi hành án cấp trên trực tiếp để phối hợp với các cơ quan hữu quan bàn bạc, thống nhất biện pháp giải quyết, tránh tình trạng kéo dài việc thi hành án, nâng cao kết quả thi hành án trong kỳ báo cáo;

Đối với tài sản kê biên hoặc phải giao chưa xử lý được. Những việc này trách nhiệm chủ yếu thuộc về Chấp hành viên phụ trách hồ sơ, Lãnh đạo các cơ quan Thi hành án cần kiểm tra, đôn đốc Chấp hành viên kịp thời xử lý. Trường hợp có vướng mắc, báo cáo Lãnh đạo cơ quan để phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền giải quyết, tháo gỡ những vướng mắc đó;

Đối với những việc tạm ngưng do giải quyết khiếu nại, Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự cần giao cho những cán bộ, Chấp hành viên có kinh nghiệm, trình độ chuyên môn giỏi rà soát, nghiên cứu hồ sơ để giải quyết khiếu nại của đương sự trong thời hạn quy định của pháp luật. Sau đó tiến hành áp dụng các biện pháp cần thiết để thi hành dứt điểm bản án, quyết định. Những trường hợp khó khăn, phức tạp, cần báo cáo Ban chỉ đạo thi hành án để chỉ đạo phối hợp các cơ quan hữu quan giải quyết dứt điểm.

Đối với trường hợp người phải thi hành án không có tài sản, thu nhập hợp pháp để thi hành án, có tài sản nhưng giá trị nhỏ không đáng kể để thi hành án. Trước hết cơ quan thi hành án cần thông qua chính quyền địa phương, cơ quan chức năng, người được thi hành án để xác định chính xác điều kiện tài sản, thu nhập của người phải thi hành án. Cơ quan thi hành án cũng cần xác định tài sản như thế nào gọi là có giá trị nhỏ (không đủ để chi phí cưỡng chế thi hành án, là đồ dùng thiết yếu…); Đối với trường hợp thi hành theo đơn yêu cầu, cơ quan thi hành án trả đơn yêu cầu thi hành án; còn đối với trường hợp chủ động thi hành án, cơ quan thi hành án cần phải lập sổ theo dõi riêng và thường xuyên xác minh điều kiện thu nhập, tài sản của người phải thi hành án.

Trường hợp người phải thi hành án có tài sản nhưng không tài sản thuộc diện không được kê biên hoặc chưa được xử lý theo quy định của pháp luật. Cơ quan thi hành án cần căn cứ pháp luật hiện hành để xác định cụ thể những tài sản nào không được kê biên và áp dụng vào từng trường hợp cụ thể. Cần có quy định về giải quyết nơi ở tối thiểu cho người phải thi hành án và gia đình (như để lại diện tích tối thiểu khi kê biên, bán đấu giá hay để lại khoản tiền nhất định khi bán nhà để họ tạo lập nơi ở trong thời gian nhất định…);

Quy định thời hạn trả lời kiến nghị của cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan Thi hành án dân sự cấp trên đối với thỉnh thị của cấp dưới.

          Quy định cụ thể về trách nhiệm của cơ quan thi hành án cấp trên, cơ quan quản lý công các thi hành án, Viện Kiểm sát nhân dân trong việc cho ý kiến chỉ đạo nghiệp vụ thi hành án, trong đó quy định cụ thể về thời hạn trả lời, xem xét giải quyết vướng mắc. Cơ quan quản lý công tác thi hành án, cơ quan thi hành án cấp trên, Viện Kiểm sát nhân dân phải chịu trách nhiệm, kể cả việc bồi thường thiệt hại trong việc chậm trễ giải quyết, giải quyết không đúng pháp luật gây thiệt hại cho các bên đương sự.

Rà soát đối tượng phải thi hành án hoạt động bằng kinh phí Nhà nước cấp.

          Tiến hành rà soát các khoản chưa thi hành mà đối tượng phải thi hành án là cơ quan nhà nước hoạt động bằng kình phí cấp từ Ngân sách hoặc một phần từ ngân sách để kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét hỗ trợ về tài chính để thi hành án.

Rà soát, lập danh sách đối tượng phải thi hành án là doanh nghiệp

          Rà soát, lập danh sách các đối tượng phải thi hành án là các cơ quan, tổ chức kinh tế không tự nguyện thi hành án, cố tình lẩn tránh trách nhiệm xin ý kiến Bộ trưởng Bộ Tư pháp cho phép công bố công khai trên trang Thông tin thi hành án dân sự.

Tiếp tục triển khai việc tin học hóa hoạt động quản lý, điều hành thi hành án dân sự.

          Tiếp tục triển khai bước 2 của việc tin học hoá hoạt động thi hành án dân sự, triển khai hộp thư điện tử, đào tạo sử dụng, khai thác các cơ sở dữ liệu Thi hành án dân sự nói riêng và khái thác dữ liệu trên Internet nói chung cho thi hành án dân sự địa phương (hiện tại, thực hiện kế hoạch triển khai tin học hóa thi hành án dân sự hầu hết các cơ quan Thi hành án dân sự đã nối mạng Internet); triển khai việc gửi báo cáo, văn bản…bằng thư điện tử theo đúng tinh thần Chỉ thị số 27/2007/CT-TTg ngày 29/11/2007 của Thủ trrướng Chính phủ về trấn chỉnh công tác văn bản trong các cơ quan hành chính Nhà nước. Tiếp tục khảo sát, xây dựng, hoàn thiện phần mềm thống kê kết quả thi hành án dân sự để giảm bớt khối lượng công việc cho Chấp hành viên và cập nhật dữ liệu hàng ngày về Cục Thi hành án dân sự theo chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Tư pháp;

Nghiên cứu, triển khai đề án Thừa phát lại.

          Nghiên cứu và triển khai thí điểm đề án Thừa phát lại tại thành phố Hồ Chí Minh.

          Về cơ chế quản lý, tổ chức bộ máy

Cần tiếp tục xác định rõ hơn trách nhiệm quản lý toàn diện, tập trung thống nhất công tác tổ chức, hoạt động thi hành án từ trung ương đến địa phương của Bộ Tư pháp. Đồng thời tăng cường vai trò của các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương, các cơ quan, ban ngành liên quan trong việc hỗ trợ để cơ quan thi hành án hoàn thành nhiệm vụ.

Bộ máy cơ quan thi hành án, cần hoàn thiện tổ chức cơ quan thi hành án theo hướng đảm bảo tính độc lập trong hoạt động, nâng cao vai trò của cơ quan thi hành án, tương xứng với vị trí của các cơ quan tố tụng ở địa phương như Toà án, Kiểm sát, Công an…

Thực hiện tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ cơ quan thi hành án; xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên về chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác thi hành án, đảm bảo các chấp hành viên trước khi bổ nhiệm phải qua đào tạo nghề. Sớm ban hành chế độ chính sách đãi ngộ với chấp hành viên và cán bộ thi hành án, trước mắt là chế độ bồi dưỡng đối với cán bộ thi hành án như với thư ký toà án (hiện mới chỉ có chế độ bồi dưỡng đối với Chấp hành viên).

           Đáp ứng đầy đủ và kịp thời kinh phí hoạt động cho cơ quan thi hành án

Tiếp tục tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động, đặc biệt là xây dựng trụ sở, hệ thống kho tang tài vật của các cơ quan thi hành án. Phấn đấu đến năm 2008 xây dựng xong trụ sở cho số cơ quan thi hành án chưa có trụ sở và trang bị đầy đủ phương tiện làm việc cho các cơ quan thi hành án. từng bước nghiên cứu và triển khai việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thi hành án, nhằm hiện đại hoá và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan thi hành án và cơ quan quản lý công tác thi hành án.

         Tăng cường công tác giải thích pháp luật

Thường xuyên tổ chức việc tuyên truyền, giáo dục thuyết phục đương sự tự nguyện chấp hành; chỉ tiến hành cưỡng chế trong trường hợp bất đắc dĩ; phối hợp chặt chẽ với cơ quan công an và các cơ quan hữu quan khác bảo đảm tốt cho công tác thi hành án có hiệu lực, hiệu quả. Tăng cường sự giám sát của nhân dân, thực hiện xã hội hoá một số nội dung trong hoạt động thi hành án.

———————

người phải thi hành án ốm nặng hoặc chưa xác định được nơi cư trú hoặc vì lý do chính đáng khác không thể thực hiện được nghĩa vụ, mà theo bản án, quyết định người đó phải tự mình thực hiện; người được thi hành án đồng ý cho người phải thi hành án hoãn việc thi hành; người phải thi hành các khoản nộp ngân sách nhà nước không có tài sản hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản đó không đủ chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc có tài sản nhưng tài sản thuộc loại không được kê biên; có tranh chấp về tài sản kê biên theo quy định tại Khoản 5 Điều 41 của Pháp lệnh này mà đang được Toà án thụ lý, giải quyết; người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của Toà án có quyền yêu cầu hoãn thi hành án để xem xét việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Có quyết định thụ lý đơn yêu cầu phá sản doanh nghiệp; có kháng nghị của người có thẩm quyền.

Số lý do khác bao gồm các trường hợp bản án, quyết định tuyên không rõ ràng, chưa có sự thống nhất ý kiến giữa các ngành về việc giải quyết vụ việc; tài sản đã kê biên hoặc phải giao theo bản án, quyết định nhưng chưa xử lý được; tạm ngưng thi hành án để giải quyết khiếu nại.

SOURCE: MOJ.GOV.VN

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: