NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ

THS. BÙI THỊ HUYỀN – Khoa Luật dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Quá trình giải quyết vụ án dân sự trải qua các giai đoạn tố tụng khác nhau như khởi kiện và thụ lý, hoà giải và chuẩn bị xét xử, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, thi hành án…trong đó xét xử sơ thẩm tại phiên toà là giai đoạn quan trọng nhất của tố tụng dân sự, nơi thể hiện rõ chức năng xét xử của toà án. Tại phiên toà sơ thẩm, toàn bộ các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được trong các giai đoạn trước, những yêu cầu của các đương sự được xem xét, đánh giá trực tiếp, công khai, khách quan và toàn diện với sự tham gia của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng. Trên cơ sở kết quả phiên toà, hội đồng xét xử sẽ quyết định ra bản án hoặc các quyết định về việc giải quyết vụ án, trong đó xác định các quyền và nghĩa vụ của các đương sự. Do đó, việc xét xử sơ thẩm đạt chất lượng tốt là cơ sở để toà án ra bản án, quyết định chính xác, khách quan, góp phần hạn chế kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm giải quyết được dứt điểm tranh chấp giữa các đương sự; ổn định giao lưu dân sự, từ đó quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự được bảo vệ kịp thời, ý thức pháp luật của người dân được nâng cao, pháp chế XHCN được bảo đảm.

Trong những năm gần đây, số lượng các tranh chấp dân sự ngày càng ra tăng và phức tạp. “…Tuy nhiên, trong công tác xét xử và giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình ở toà án cấp sơ thẩm còn có những thiếu sót…”[1], “… nhiều trường hợp việc điều tra, xác minh, xây dựng hồ sơ vụ án chưa đầy đủ, thiếu chặt chẽ, đặc biệt việc chấp hành các thủ tục tố tụng còn nhiều sai sót…”[2]. Bên cạnh đó, các quy định của các PLTTGQCVADS, PLTTGQCVAKT, PLTTGQCTCLĐ về phiên toà sơ thẩm còn sơ sài, chưa chặt chẽ, đặc biệt là các quy định về việc chuẩn bị cho việc mở phiên toà sơ thẩm, thủ tục triệu tập những người tham gia tố tụng đến phiên toà sơ thẩm, trình tự xét xử sơ thẩm còn nặng về xét hỏi như phiên toà hình sự v.v.. Đó chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng việc giải quyết các vụ án bị kéo dài, phiên toà sơ thẩm bị hoãn nhiều lần, số vụ án có kháng cáo, kháng nghị gia tăng, tỷ lệ cải sửa, huỷ án sơ thẩm khi xét xử phúc thẩm còn cao …

Thực hiện mục tiêu của Đảng về cải cách tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp, ngày 02/01/2002 Bộ chính trị đã ra Nghị quyết 08-NQ/TW về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, trong đó đã nhấn mạnh định hướng đổi mới trong hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung và toà án nói riêng. Đó là: “…Khi xét xử, các toà án phải bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ khách quan, Thẩm phán, Hội thẩm nhân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật qui định”. Khi nói đến vấn đề nâng cao chất lượng hoạt động, cải cách tổ chức của toà án trong lĩnh vực tố tụng dân sự trước hết phải nói đến vấn đề đổi mới hoạt động xét xử của toà án tại phiên toà sơ thẩm. Trên cơ sở đường lối đổi mới của Đảng, thực trạng pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử các vụ việc dân sự, ngày 27/5/2004 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua BLTTDS, trong đó với 45 điều từ Điều 196 đến Điều 241, các quy định về phiên toà sơ thẩm có nhiều điểm mới, đầy đủ và chặt chẽ hơn trước, bảo đảm hơn sự tham gia tố tụng của các đương sự , người bảo vệ quyền lợi của đương sự theo hướng mở rộng tranh tụng v.v..

I. Những điểm mới của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên toà sơ thẩm dân sự.

1. Những quy định chung về phiên toà sơ thẩm

Ba pháp lệnh PLTTGQCVADS năm 1989, PLTTGQCVAKT năm 1994, PLTTGQCTCLĐ năm 1996 ( sau đây gọi tắt là ba pháp lệnh thủ tục) không có những quy định chung về phiên toà sơ thẩm. BLTTDS có hẳn một mục, gồm 17 điều, từ Điều 196 đến Điều 212 quy định về những quy định chung về phiên toà sơ thẩm, trong đó chứa đựng nhiều quy định mới so với ba pháp lệnh trước kia.

1.1. Nguyên tắc tiến hành phiên toà sơ thẩm.

Để đảm bảo cho các hoạt động tiến hành phiên toà diễn ra đúng thời gian, địa điểm, công khai, khách quan thì việc tiến hành phiên toà sơ thẩm ngoài việc tuân thủ những nguyên tắc chung được quy định từ Điều 3 đến Điều 24, BLTTDS còn quy định thêm hai nguyên tắc tại các điều 196, 197. Theo quy định tại Điều 196 BLTTDS phiên toà sơ thẩm phải được tiến hành đúng thời gian, địa điểm đã được ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc giấy báo mở lại phiên toà.

Ngoài ra, BLTTDS còn quy định phiên tòa sơ thẩm dân sự phải được tiến hành theo phương thức xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục (Điều 197 BLTTDS). Theo quy định này, tòa án phải trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án bằng cách hỏi và nghe lời trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, của các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác; xem xét, kiểm tra tài liệu, chứng cứ đã thu thập được; và phát biểu tranh luận của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, của các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, nghe kiểm sát viên phát biểu ý kiến của viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án, trong trường hợp có kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Bản án chỉ được căn cứ vào kết quả tranh tụng, việc hỏi tại phiên tòa và các chứng cứ đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa. Ba pháp lệnh thủ tục trước kia không quy định về nguyên tắc này nhưng thực chất nguyên tắc “xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục” là việc kế thừa nguyên tắc “xét xử trực tiếp, bằng miệng và liên tục” đã được quy định trong “Bản hướng dẫn về trình tự xét xử sơ thẩm về dân sự kèm theo Thông tư số 96- NCPL ngày 8/2/1997 của TANDTC”. Quy định này nhằm bảo đảm cho tòa án thẩm định và xác minh được đầy đủ, chính xác các tài liệu, chứng cứ của vụ án và đánh giá chúng một cách toàn diện.

Việc xét xử ở phiên tòa phải được tiến hành liên tục, trừ thời gian nghỉ. Các thành viên của hội đồng xét xử phải xét xử vụ án từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc, trừ trường hợp không thể tham gia xét xử được phải thay đổi. Trong trường hợp đặc biệt do BLTTDS quy định thì việc xét xử có thể tạm ngừng không quá 5 ngày làm việc. Hết thời hạn tạm ngừng, việc xét xử vụ án được tiếp tục (khoản 2 Điều 197). Sở dĩ BLTTDS quy định việc xét xử bằng lời nói và phải được tiến hành liên tục là nhằm bảo đảm cho hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng dễ dàng nhớ được các tình tiết của vụ án và giải quyết được dứt điểm từng vụ. Tòa án phải xét xử xong từng vụ án một rồi mới được xét xử đến vụ án khác, không được làm thủ tục khai mạc phiên tòa chung cho nhiều vụ án, hoặc tuyên án cùng một lúc cho nhiều vụ án.

1.2. Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm và việc thay thế thành viên hội đồng xét xử trong trường hợp đặc biệt.

Theo PlTTGQCVADS thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân.Theo các PlTTGQCVAKT, PLTTGQTCLĐ thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án kinh tế và vụ án lao động gồm hai thẩm phán và một hội thẩm nhân dân. Trên cơ sở kế thừa quy định của ba pháp lệnh trước kia và xuất phát từ thực tiễn Điều 52 BLTTDS quy định thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân. Ngoài ra, BLTTDS còn quy định trong trường hợp đặc biệt thì hội đồng xét xử có thể gồm hai thẩm phán và ba hội thẩm.

Ba pháp lệnh thủ tục không quy định việc có thẩm phán, hội thẩm nhân dân dự khuyết để thay thế thành viên hội đồng xét xử trong trường hợp trong quá trình xét xử, nếu có một thành viên nào đó của hội đồng xét xử vì một lý do đặc biệt, không thể tham gia xét xử vụ án được nữa. Điều 198 BLTTDS quy định việc thay thế thành viên trong trường hợp đặc biệt này nhằm mục đích giải quyết nhanh chóng vụ án, tránh việc phải hoãn phiên toà. Việc xác định trong trường hợp nào cần có thẩm phán, hội thẩm nhân dân dự khuyết do chánh án toà án quyết định.

1.3.Những người tham gia phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự

Để đảm bảo việc xét xử trực tiếp nên tất cả những người tham gia tố tụng phải được triệu tập tham gia phiên toà. Ba pháp lệnh thủ tục quy định về những người tham gia phiên toà sơ thẩm trong một điều luật, nhưng BLTTDS quy định tại các điều, từ điều 199 đến điều 207. Theo đó, những người tham gia phiên toà sơ thẩm bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch và kiểm sát viên. Về cơ bản thành phần những người tham gia phiên toà sơ thẩm không khác trước, tuy nhiên khác với các pháp lệnh trước kia, theo quy định của BLTTDS kiểm sát viên chỉ tham gia phiên toà sơ thẩm đối với vụ án do toà án thu thập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại ( khoản 2 Điều 21 BLTTDS).

1.4. Vấn đề hoãn phiên toà sơ thẩm

* Về căn cứ hoãn phiên toà

Theo khoản 1 Điều 208 BLTTDS hội đồng xét xử sẽ hoãn phiên toà trong các trường hợp sau:

– Trong trường hợp thẩm phán, hội thẩm nhân dân, thư ký toà án, kiểm sát viên bị thay đổi hoặc không thể tiếp tục tham gia phiên toà mà không có người dự khuyết để thay thế ( Điều 51, 207);

– Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng ( Điều 199, 200, 201, 203);

– Trong trường hợp phải thay đổi người giám định, người phiên dịch ( khoản 2 Điều 72). Người phiên dịch vắng mặt mà không có người khác thay thế, trừ trường hợp đương sự vẫn yêu cầu tiến hành xét xử ( Điều 206);

– Người làm chứng vắng mặt trong trường hợp lời khai của họ là cần thiết tại phiên toà; người giám định vắng mặt, trong trường hợp cần xem xét kết luận giám định tại phiên toà.

– Khi cần thiết phải giám định lại, giám định bổ sung tại phiên toà.

* Về thời hạn hoãn phiên toà

Trước kia các pháp lệnh thủ tục không quy định về thời hạn hoãn phiên toà nên nếu phiên toà bị hoãn thời hạn giải quyết vụ án thường bị kéo dài. Khoản 1 Điều 208 BLTTDS quy định thời hạn hoãn phiên toà không quá ba mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên toà.

* Quyết định hoãn phiên toà

Trước kia các pháp lệnh thủ tục không quy định rõ việc hoãn phiên toà có được thực hiện bằng quyết định hay không, sau khi hoãn phiên toà toà án có phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử để xác định lại thời gian địa điểm mở phiên toà hay không dẫn đến việc áp dụng không thống nhất giữa các toà án. Để tránh việc hoãn phiên toà tuỳ tiện, BLTTDS quy định rõ việc hoãn phiên toà phải được thực hiện bằng quyết định, nội dung quyết định và thủ tục ra quyết định được quy định cụ thể tại Điều 208 BLTTDS. Quyết định hoãn phiên tòa phải được hội đồng xét xử thảo luận, thông qua theo đa số tại phòng nghị án và phải được lập thành văn bản.

Ngoài ra, BLTTDS còn quy định về nội quy phiên toà, bản án sơ thẩm, biên bản phiên toà, chuẩn bị khai mạc phiên toà.

2. Thủ tục tiến hành phiên toà

So với các pháp lệnh thủ tục trước kia, các quy định về thủ tục phiên toà sơ thẩm được quy định trong BLTTDS chi tiết, cụ thể hơn, gồm 27 điều, từ Điều 213 đến Điều 239. Hơn nữa, trình tự của mỗi bước cũng có nhiều thay đổi theo hướng mở rộng quyền dân chủ và quyền tự định đoạt của các đương sự, xác định rõ quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

2.1.Thủ tục khai mạc và bắt đầu phiên toà

Các pháp lệnh chỉ có một điều luật quy định về thủ tục bắt đầu phiên toà, BLTTDS có hẳn một mục về thủ tục bắt đầu phiên toà, gồm bốn điều luật. Nội dung các điều luật không có nhiều vấn đề mới so với các pháp lệnh nhưng chi tiết, cụ thể hơn. Điểm mới quan trọng của thủ tục này là bổ sung quy định về khai mạc phiên toà và thư ký toà án báo cáo với hội đồng xét xử về sự có mặt và vắng mặt của những người tham gia phiên toà đã được triệu tập. Trong thực tiễn xét xử những năm qua cho thấy, mặc dù các pháp lệnh không quy định nhưng khi tiến hành phiên toà sơ thẩm các toà án vẫn thực hiện các thủ tục trên. Việc quy định của BLTTDS nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, đảm bảo tính trang nghiêm của phiên toà đồng thời hội đồng xét xử chủ động giải quyết khi có người tham gia tố tụng vắng mặt.

2.2. Thủ tục hỏi tại phiên toà

Đây là thủ tục có nhiều thay đổi nhất. Ngay tên gọi cũng đổi từ “ thủ tục xét hỏi ” thành “ thủ tục hỏi tại phiên toà”. Cách gọi đó phản ánh đúng bản chất của thủ tục giải quyết vụ án dân sự khác với thủ tục giải quyết các vụ án hình sự. Đối với vụ án dân sự, mục đích của phần hỏi tại phiên toà là toà án hỏi để làm rõ yêu cầu, quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các bên chứ không phải là việc truy xét của nhà nước về một hành vi vi phạm pháp luật.

Trình tự của thủ tục hỏi cũng khác trước rất nhiều. Trước kia các pháp lệnh quyđịnh khi khởi kiện các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, toà án thu thập thêm khi cần thiết nhưng không có văn bản nào quy định trường hợp nào là cần thiết dẫn đến cách hiểu nghĩa vụ chứng minh trong vụ án dân sự là thuộc về toà án. Vì vậy, thủ tục xét hỏi tại phiên toà trong các pháp lệnh là toà án chủ động hỏi tất cả các vấn đề của nội dung vụ án, thậm chí theo một kế hoạch đã được định trước, không có phần để các đương sự tự trình bày v.v.. Còn theo BLTTDS, nghĩa vụ chứng minh là thuộc về các đương sự, quyền định đoạt của các đương sự được tôn trọng triệt để hơn nên thủ tục hỏi được bắt đầu bằng việc chủ toạ phiên toà hỏi các đương sự về việc có thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu hay không ( Điều 217). Để bảo đảm quyền lợi của đương sự và đảm bảo cho việc giải quyết vụ án đúng thời hạn, tại pjiên toà sơ thẩm hội đồng xét xử chỉ chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự, nếu thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu. Trong trường hợp có đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đã rút. Trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình thì bị đơn trở thành nguyên đơn và nguyên đơn trở thành bị đơn.Trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của mình thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người có nghĩa vụ đối với yêu cầu độc lập trở thành bị đơn.Việc xem xét rút yêu cầu và thay đổi địa vị tố tụngcủa các đương sự để tránh việc toà án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án, sau đó nếu bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu giải quyết yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập toà án lại phải thụ lý và tiến hành các công việc chuẩn bị xét xử, trong khi đó quan hệ pháp luật tranh chấp, chủ thể của các quan hệ đó không thay đổi. Vì vậy, quy định về thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự nhằm đảm bảo việc giải quyết tranh chấp nhanh chóng, tiết kiệm, hiệu quả. Theo quy định của các pháp lệnh trước kia, việc hoà giải tại phiên toà sơ thẩm không mang tính chất bắt buộc và nếu xét thấy có khả năng hoà giải hội đồng xét xử sẽ hoà giải tại phần thủ tục tranh luận. Khác với trước kia, theo BLTTDS tại phiên toà toà án không hoà giải mà trong phần hỏichủ toạ phiên toà hỏi các đương sự có thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không. Trong trường hợp các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thoả thuận cuả họ là tự nguyện, không trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội thì hội đồng xét xử ra quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự về việc giải quyết vụ án( Điều 220). Nếu các đương sự không thoả thuận được với nhau thì hội đồng xét xử sẽ nghe các đương sự trình bày. Điểm mới của BLTTDS so với các pháp lệnh trước kia là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thay mặt các đương sự trình bày yêu cầu và chứng cứ chứng minh cho yêu cầu, sau đó đương sự bổ sung ý kiến. Khi đến phần các đương sự được hỏi tại phiên toà người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể trình bày thay đương sự. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người am hiểu pháp luật, có kinh nghiệm tham gia tố tụng nên quy định này sẽ giúp cho chất lượng phiên toà và việc bảo vệ quyền lợi của đương sự được thực hiện tốt hơn đồng thời phát huy tối đa khả năng và vai trò của người bảo vệ quyền lợi của đương sự nói chung, luật sư nói riêng trong hoạt động tố tụng.

Sau khi nghe các đương sự trình bày xong, sẽ đến phần hỏi tại phiên toà. Về thứ tự người hỏi tại phiên toà cũng có sự thay đổi. Trước kia theo các pháp lệnh, sau khi hội đồng xét xử hỏi đến kiểm sát viên, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hỏi. Điều 222 BLTTDS quy định, chủ toạ phiên toà là người hỏi trước, sau đó đến hội thẩm nhân dân, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đương sự, những người tham gia tố tụng khác và kiểm sát viên là người hỏi sau cùng. Quy định này thể hiện chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước ta trong hoạt độngtư pháp theo xu hướng thực hiện dân chủ trong phiên toà dân sự, tránh sự can thiệp của viện kiểm sát vào việc giải quyết các tranh chấp dân sự. Về nội dung hỏi, khác với trước kia hội đồng xét xử không hỏi về toàn bộ nội dung vụ án, mà chỉ hỏi về những vấn đề mà đương sự trình bày chưa rõ hoặc có mâu thuẫn. Trong thủ tục này, khi cần thiết, hội đồng xét xử cho nghe băng ghi âm, đĩa ghi âm, xem băng ghi hình, đĩa ghi hình ( Điều 228). Đây là sự thể hiện việc ứng dụng công nghệ trong hoạt động xét xử.

2.3. Thủ tục tranh luận tại phiên toà

Tranh luận tại phiên toà là hoạt động trung tâm của phiên tòa. Ba pháp lệnh thủ tục trước kia chỉ quy định một điều luật về tranh luận tại phiên toà, còn BLTTDS đã dành hẳn một mục với bốn điều luật, từ Điều 232 đến Điều 235 quy định về hoạt động tranh luận tại phiên tòa. Điều đó thể hiện tầm quan trọng của hoạt động tranh luận trong việc tìm ra sự thật khách quan của vụ án và xu hướng đổi mới hoạt động tư pháp ở nước ta là mở rộng quyền tranh luận của đương sự, đề cao vai trò chủ động của đương sự trong việc tranh luận ở tại phiên tòa, bảo đảm cho đương sự bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của họ trước toà án v.v.. Các quy định của BLTTDS về tranh luận tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp được nêu trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2/1/2002 của Bộ chính trị là: “Muốn nâng cao chất lượng xét xử thì phải nâng cao chất lượng tranh tụng dân chủ tại phiên tòa”. Vì vậy, những quy định về tranh luận tại phiên toà cũng có nhiều thay đổi.

Các pháp lệnh trước kia không quy định căn cứ khi tranh luận. Để tránh việc các bên khi tham gia tranh luận chỉ dựa vào suy đoán cảm tính, tranh luận không có căn cứ Điều 233 BLTTDS quy định rõ khi phát biểu về đánh giá chứng cứ, đề xuất quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án các bên phải căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được và đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa cũng như kết quả việc hỏi tại phiên tòa;

Về trình tự tranh luận, các pháp lệnh trước kia các đương sự trình bày quan điểm của mình về đánh giá chứng cứ, hướng giải quyết vụ án trước, sau đó người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự sẽ trình bày bổ sung (nếu có). Đề vai trò của người bảo vệ quyền và lợi hợp pháp của họ trong tranh luận, bảo đảm quá trình tranh luận đạt kết quả, Điều 232 BLTTDS quy định khi phát biểu khi tranh luận người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nguyên đơn phát biểu trước, sau đó đương sự bổ sung ý kiến (theo thứ tự nguyên đơn, bị đơn, người có quyền, nghĩa vụ liên quan). Để đảm bảo cho đương sự và những đại diện của họ được thực hiện đầy đủ khả năng tranh luận, được tạo điều kiện tối đa cho họ được sử dụng tất cả các phương pháp chứng minh theo luật định để bảo vệ quyền và lợi hợp pháp của mình, BLTTDS không hạn chế thời gian tranh luận nhưnh chủ tọa phiên tòa chỉ có quyền cắt những ý kiến không có liên quan đến vụ án.

2.4. Nghị án và tuyên án

a, Nghị án

Nghị án là việc hội đồng xét xử xem xét, quyết định giải quyết vụ án trên cơ sở kết quả của việc hỏi và tranh luận tại phiên tòa. Các pháp lệnh thủ tục trước đây chỉ có một điều luật về nghị án với nội dung đơn giản và không cụ thể. Nghị án được BLTTDS quy định tại hai điều 236 và 237 với những nội dung trên tinh thần đổi mới hoạt động tư pháp đã được đề ra trong Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị là “Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của… nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục trong thời hạn pháp luật quy định”. Theo Điều 236 BLTTDS, việc nghị án được tiến hành tại phòng riêng, chỉ có các thành viên của hội đồng xét xử mới có quyền nghị án. Quy định này nhằm đảm bảo nguyên tắc nghị án bí mật, nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, tránh tình trạng thư ký toà án và kiểm sát viên cũng có mặt trong phòng nghị án khi nghị án. Để phát huy vai trò và trách nhiệm của hội thẩm nhân dân trong hoạt động tố tụng, thứ tự biểu quyết khi nghị án cũng được quy định cụ thể là hội thẩm nhân dân biểu quyết trước,thẩm phán biểu quyết sau cùng. Bên cạnh đó, để đảm bảo nguyên tắc xét xử liên tục, phát huy trách nhiệm của các thành viên hội đồng xét xử trong việc giải quyết vụ án, tránh việc tạm ngừng tuyên án kéo dài, BLTTDS còn quy định về thời gian nghị án tối đa không quá năm ngày làm việc, kể từ khi kết thúc tranh luận tại phiên tòa. Ngoài ra, một điểm mới về nghị án được quy định tại Điều 237 BLTTDS là qua nghị án, nếu xét thấy có tình tiết của vụ án chưa được xem xét, việc hỏi chưa đầy đủ hoặc cần xem xét thêm chứng cứ thì hội đồng xét xử quyết định trở lại việc hỏi và tranh luận. Quy định này nhằm mở rộng hơn nữa khả năng tranh tụng tại phiên toà, thể hiện tư duy mới, thể hiện tính dân chủ cao, tính thận trọng của việc xét xử, bảo đảm cho bản án được tuyên một cách khách quan, công bằng và toàn diện.[3] Tuy nhiên, quy định này dễ dẫn đến việc xét xử bị kéo dài, quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự không được bảo vệ kịp thời, không phát huy được trách nhiệm của các thành viên hội đồng xét xử trong việc giải quyết vụ án.

b, Tuyên án

Sau khi bản án đã được thông qua, hội đồng xét xử trở lại phòng xét xử để tuyên án. Theo Điều 239 BLTTDS thì thủ tục tuyên án có ba nội dung mới giúp cho việc tuyên án phù hợp với thực tế hơn. Khi tuyên án, mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy, trừ trường hợp đặc biệt như sức khoẻ yếu, bệnh tật v.v.. không thể đứng được được phép của chủ tọa phiên tòa có thể ngồi nghe tuyên án.Theo các pháp lệnh thủ tục trước kia thì chỉ có chủ toạ phiên toà mới được đọc bản án. BLTTDS quy định việc tuyên án có thể do chủ tọa phiên tòa hoặc một thành viên khác của hội đồng xét xử đứng đọc. Quy định này nhằm giải quyết tình huống bản án quá dài một người không thể đứng đọc hoặc đến ngaỳ tuyên án sức khoẻ của chủ toạ không tốt v.v.. Ngoài ra, BLTTDS còn quy định trong trường hợp có đương sự không biết tiếng Việt thì sau khi tuyên án, người phiên dịch phải dịch lại cho họ nghe toàn bộ bản án sang ngôn ngữ mà họ biết.

II. Một số kiến nghị nhầm hoàn thiện quy định của BLTTDS về phiên toà sơ thẩm dân sự

Bộ luật tố tụng dân sự được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 15/6/2004 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2005 là sự thống nhất ba pháp lệnh : PLTTGQCVADS, PLTTGQCVAKT, PLTTGQCTCLĐ. Bộ luật đã có nhiều quy định mới, tiến bộ, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong việc giải quyết các vụ án dân sự, phù hợp với chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta.Trong quy định về xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, BLTTDS đã khắc phục được nhiều hạn chế của các pháp lệnh thủ tục trước đây. Quyền tự định đoạt của các đương sự được tôn trọng và phát huy, nâng cao trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng. Đặc biệt, thủ tục tranh luận đã được quy định cụ thể và rõ ràng hơn, tạo một bước đột phá trong việc mở rộng quyền tranh tụng theo tinh thần cải cách tư pháp, qua đó phát huy tính tích cực, chủ động và trách nhiệm của những người tham gia tố tụng. Tuy vậy, BLTTDS còn có những bất cập nhất định. Trong phạm vi bài viết chúng tôi xin nêu một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của BLTTDS về phiên toà sơ thẩm dân sự.

1. BLTTDS quy định người đại diện hợp pháp của đương sự có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức đó, là người thay mặt đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự, vì vậy cần bổ sung vào Mục 1 Chương XIV quy định về sự có mặt của người đại diện tại phiên tòa sơ thẩm dân sự.

2. Theo ba pháp lệnh thủ tục trước kia, khi các đương sự vắng mặt lần thứ nhất dù có lý do chính đáng hay không, tòa án đều phải hoãn phiên toà. Thực tiễn xét xử những năm qua cho thấy, quy định này là một trong những nguyên nhân góp phần làm cho phiên toà sơ thẩm có thể bị hoãn nhiều lần. Khắc phục tình trạng đó, BLTTDS không quy định đối với các trường hợp nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt lần thứ nhất không có lý do chính đáng là căn cứ hoãn phiên toà nhưng lại không đưa ra khái niệm thế nào là có lý do chính đáng và cách giải quyết trong trường hợp này. Nếu không có sự hướng dẫn thống nhất sẽ dẫn đến việc áp dụng khác nhau giữa các thẩm phán và các toà án. Theo chúng tôi, tuỳ từng trường hợp toà án sẽ quyết định hoãn hoặc vẫn tiến hành phiên toà. Nếu họ đã có lời khai tại toà án, các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ tương đối đầy đủ thì phiên toà vẫn có thể tiến hành([4]).

Theo chúng tôi “lý do chính đáng” tại các điều 199, 200, 201, 203 của BLTTDS là những lý do bất khả kháng đối với đương sự như đương sự ốm nặng, đương sự phải đi công tác xa chưa về kịp, gia đình đương sự gặp thiên, tai hoả hoạn v.v..

Bên cạnh đó, theo khoản 4 Điều 230 trong trường hợp tại phiên toà khi cần thiết phải giám định lại, giám định bổ sung thì hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà. Nhưng hoãn phiên toà là việc chuyển thời điểm tiến hành phiên toà dân sự đã định sang thời điểm khác muộn hơn [5]. Như vậy, hội đồng xét xử chỉ hoãn phiên toà khi bắt đầu phiên toà tức là chưa xem xét giải quyết về mặt nội dung vụ án, còn khi đã xem xét giải quyết về mặt nội dung vụ án nhưng cần phải thu thập thêm chứng cứ mới có thể giải quyết được vụ án thì Hội đồng xét xử phải quyết định tạm ngừng phiên toà. Vì vậy, theo tôi đây không phải là căn cứ hoãn phiên toà mà là căn cứ tạm ngừng phiên toà.

3. “Phạm vi yêu cầu” (yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập) quy định tại Điều 218 là vấn đề còn gây nhiều tranh cãi, nên hiểu phạm vi yêu cầu bao gồm các loại yêu cầu hay phạm vi về giá trị của yêu cầu. Theo chúng tôi, về yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu là yêu cầu được nêu trong đơn khởi kiện chứ không phải là yêu cầu tại buổi hòa giải cuối cùng. Để bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự thì các đương sự phải được biết trước các yêu cầu của đương sự phía bên kia để chuẩn bị tài liệu, chứ cứ phản đối yêu cầu đó. Vì vậy, tại phiên toà đương sự được quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu nhưng không được vượt quá yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu. Không được vượt quá yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu là không được đưa thêm yêu cầu mới đồng thời không được tăng giá trị yêu cầu, có nghĩa không được gây bất lợi cho các đương sự khác.

4. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần có hướng dẫn cách giải quyết những vấn đề phát sinh từ việc thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự theo quy định của Điều 219, như tên vụ án, tư cách đương sự trong hồ sơ, quan hệ pháp luật tranh chấp v.v.. Theo chúng tôi, khi thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự thì tư cách đương sự trong hồ sơ, quan hệ pháp luật tranh chấp v.v.. sẽ thay đổi . Cho nên, BLTTDS cần quy định rõ kể từ thời điểm thay đổi địa vị tố tụng các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng thêo địa vị được thay đổi đồng thời trong biểu mẫu sổ thụ lý vụ án dân sự cần có thêm cột ghi chú tất cả những thay đổi đó.

5. Trong thủ tục hỏi tại phiên toà, khi cần thiết, hội đồng xét xử cho nghe băng ghi âm, đĩa ghi âm, xem băng ghi hình, đĩa ghi hình. Đây là sự thể hiện việc ứng dụng công nghệ trong hoạt động xét xử nhưng hiện tại không phải toà án nào cũng có thể thực hiện được quy định này. Do đó, đòi hỏi sự cần thiết phải tăng cường cơ sở vật chất cho các toà án.

1.1. 6. Điều 239 BLTTDS quy định trong trường hợp có đương sự không biết tiếng Việt thì sau khi tuyên án, người phiên dịch phải dịch lại cho họ nghe toàn bộ bản án sang ngôn ngữ mà họ biết. Nhưng hiểu thế nào là “sau khi tuyên án”. Theo chúng tôi, bản án của toà án là phán quyết nhân danh nhà nước giải quyết tranh chấp dân sự. Việc dịch bản án phải chính xác, vì vậy cần có thời gian để người phiên dịch dịch bản án sang tiếng nước ngoài. Khoảng thời gian đó vừa đủ cho người phiên dịch có thể thực hiện được công việc của mình đồng thời phải đảm bảo đủ thời gian cho đương sự thực hiện quyền kháng cáo. Theo chúng tôi, Điều 239 BLTTDS cần quy định theo hướng “trong trường hợp có đương sự không biết tiếng Việt thì chậm nhất sau năm ngày kể từ ngày tuyên án, toà án phải triệu tập đương sự không sử dụng được tiếng Việt đến nghe người phiên dịch dịch toàn bộ bản án sang ngôn ngữ mà họ biết ”. Pháp luật tố tụng dân sự một số nước về phiên toà sơ thẩm dân sự.

Xây pháp luật TTDS nói chung và các qui định pháp luật về phiên toà sơ thẩm dân sự nói riêng phù hợp với thực tiễn Việt nam, nhất là trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế và hội nhập quốc tế là một vấn đề không đơn giản. Mặc dù khi nghiên cứu pháp luật TTDS Việt nam qua các giai đoạn lịch sử trước đó và pháp luật hiện hành, chúng ta có thể kế thừa những qui định hợp lý đã từng tồn tại, nhưng ngày nay( nghề luật ngày càng trở nên mang tính quốc tế và trong thề giới hiện đại các luật gia không thể tự giới hạn trong việc chỉ nghiên cứu pháp luật của chính nước mình)[6]. Trong phạm vi chuyên đề, chúng tôi chỉ có thể giới thiệu một số nét cơ bản về phiên toà sơ thẩm dân sự một số nước trên thế giới nhằm so sánh và tham khảo.

1.4.1. Phiên toà sơ thẩm dân sự theo quy định của BLTTDS Thuỵ Điển[7]:

Pháp luật Việt Nam và Thuỵ Điển đều thuộc hệ thống pháp luật Civil law nhưng có nhiều điểm khác biệt. Các quy định về tố tụng dân sự được quy định trong Bộ luật năm 1734. Đây là Bộ luật quy định về Đất đai, dân sự và tố tụng dân sự, trong đó có cả các quy định về phiên toà sơ thẩm dân sự. Hệ thống toà án được chia thành 3 cấp: sơ thẩm, phúc thẩm, thượng thẩm. Toà sơ thẩm được thiết lập ở các địa phương, có chức năng xét xử cả hình sự và dân sự. Quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm được bắt đầu bằng việc hai bên trao đổi tài liệu viết cho nhau. Sau đó, bên nguyên đơn sẽ gửi đơn đến toà án. Toà án sẽ gặp gỡ hai bên để hoà giải. Phiên toà sơ thẩm dân sự được mở nếu sau phiên toà trù bị, các bên vẫn còn có tranh chấp và không hoà giải được. Phiên toà sơ thẩm được tiến hành trên những nguyên tắc cơ bản như nguyên tắc tự do đánh giá chứng cứ, nguyên tắc xét xử trực tiếp, liên tục, bằng lời nói, nguyên tắc xét xử công khai, trừ trường hợp liên quan đến bí mật riêng tư, liên quan đến người dưới 18 tuổi, một số vụ việc về gia đình… thì toà án xử kín nhưng vẫn phải tuyên án công khai. Thành phần tham gia xét xử sơ thẩm đối với các vụ việc về dân sự như tranh chấp về tài sản, thừa kế, bồi thường thiệt hại…không có bồi thẩm, có thể một thẩm phán hoặc ba thẩm phán ( đối với vụ án phức tạp) . Các vụ việc về hôn nhân gia đình, lao động, liên quan đến… vì cần phải xem xét đến yếu tố đạo đức, xã hội nên có bồi thẩm tham gia với thành phần là 1 thẩm phán và 3 bồi thẩm.

Khác với pháp luật Việt Nam, Viện công tố chỉ tham gia xét xử các vụ án hình sự chứ không tham gia vào vụ án dân sự.

– Nếu đương sự đã được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt không có lý do thì toà án vẫn mở phiên toà xét xử vắng mặt họ chứ không cần đến lần thứ hai như quy định của pháp luật Việt Nam.

– Về vấn đề tranh tụng tại phiên toà : không như pháp luật nước ta, ở Thuỵ Điển, thẩm phán chỉ lắng nghe ý kiến của người làm chứng, lập luận của các bên đương sự, có vấn đề gì không rõ, thẩm phán nêu một số câu hỏi để người làm chứng, đương sự trình bày. Sau khi nghe tất cả các bên tranh tụng thẩm phán sẽ đưa ra quyết định ai là người thắng kiện.

Điểm cần lưu ý

1.4.2. Phiên toà sơ thẩm dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng của Hoa Kỳ[8]

Theo pháp luật tố tụng dân sự Hoa Kỳ, thủ tục tố tụng dân sự khởi đầu với một văn bản viết lời buộc tội của nguyên đơn và hình thức bồi thường anh ta muốn, được gọi là “đơn kiện”. Sau đó toà án gửi trát đòi ra hầu toà, yêu cầu phải trả lời đơn kiện trong một khoảng thời gian nhất định sau khi nhận được nó.

Bị đơn phải thừa nhận hoặc phủ nhận từng lời cáo buộc và đưa ra những lý lẽ biện hộ. Anh ta cũng có thể đưa ra lời buộc tội chống lại nguyên đơn, một bị đơn khác hoặc một người vốn chưa được nêu tên trong vụ việc(điểm này có nét tương đồng với quy định của BLTTDS Việt Nam về quyền yêu cầu phản tố của bị đơn). Trong văn bản trả lời, anh ta còn có thể yêu cầu toà án bác bỏ vụ kiện do không có lời buộc tội xác đáng, do thiếu quyền hạn pháp lý đối với nội dung vụ kiện hoặc bản thân bị đơn. Anh ta cũng có thể cho rằng nguyên đơn đã khởi kiện tại một toà án không thích hợp hoặc bị đơn không được thông báo một cách hợp lệ về vụ việc sắp xảy ra.

Giai đoạn tiếp theo là một“quá trình điều tra”khái quát, thường là quá trình

trình này không liên quan đến toà án. Tuy nhiên, một bên tìm kiếm chứng cứ có thể yêu cầu toà án giúp đỡ để buộc bên đối lập không chịu hợp tác hoặc những người khác phải cung cấp thông tin. Tương tự như vậy, bên bị hạch sách chứng cứ một cách bất hợp lý có thể yêu cầu toà án bảo vệ.

Việc điều tra có thể bao gồm những câu hỏi dạng viết cần phải được trả lời sau khi đã tuyên thệ trước toà; yêu cầu cung cấp những tài liệu thích hợp; kiểm tra về thể lực và tâm thần nếu có đơn kiện về gây thương tổn; yêu cầu thừa nhận những điều không thuộc phạm vi tranh chấp. Trước khi xét xử, mỗi bên đều có thể đề nghị phán quyết ngay về bất kỳ vấn đề nào thiếu chứng cứ. Nếu vụ việc tiếp tục được xét xử, toà án có thể ra một lệnh tiền xét xử, xác định những vấn đề sẽ được quyết định trong xét xử và đưa ra các điều khoản khác để tiến hành.

Phiên toà thường được tiến hành công khai trước dân chúng tại một toà án chỉ với một thẩm phán, nếu các bên không đồng ý với điều này thì thành phần xét xử sẽ có thêm ban bồi thẩm gồm từ 6 đến 12 bồi thẩm viên được lựa chọn ngẫu nhiên. Các bên cũng có quyền đòi loại ra một số bồi thẩm viên nhất định. Thẩm phán điều hành quy trình xét xử và tuyên bố luật pháp được áp dụng. Sau những lời tuyên bố mở đầu, bên nguyên đơn, người có trách nhiệm dẫn chứng đưa ra bằng chứng của mình còn bị đơn phải trình bày lập luận của mình. Thẩm phán có thể bác bỏ tất cả hoặc bất kỳ lời cáo buộc nào tỏ ra không có sức thuyết phục. Sau đó, mỗi bên được phép trình bày một tuyên bố kết thúc và thẩm phán giải thích luật cho ban bồi thẩm nhưng ban bồi thẩm phải tự mình quyết định sự thật là gì và theo đó quyết định về vụ án. Cũng giống như pháp luật tố tụng Việt Nam , bản án được quyết định dựa trên đa số. Trong trường hợp không có ban bồi thẩm thì thẩm phán sẽ đưa ra phán quyết.

Kết luận

Hưởng ứng tinh thần chỉ đạo của Nghị quyết số 08/NQ-TW của Bộ chính trị, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 ra đời với nhiều quy định mới nhằm xây dựng một hệ thống pháp luật tố tụng dân sự hoàn thiện hơn, trong đó có quy định về phiên toà sơ thẩm dân sự. Song có thể nhận thấy rằng, trên thực tế, đây là điều không dễ dàng, nó đòi hỏi phải có thời gian và sự nỗ lực rất lớn.

Xét về mặt nghiên cứu lý luận thì phiên toà sơ thẩm dân sự không phải là vấn đề mới mẻ, nhưng xét trên phương diện thực tiễn thì đây là vấn đề còn nhiều điều cần phải bàn luận thêm.

Trong khoá luận này, tác giả tập trung phân tích, đánh giá những quy định của BLTTDS về các thủ tục cần tiến hành tại phiên toà sơ thẩm dân sự, từ việc chuẩn bị mở phiên toà cho đến khi nghị án và tuyên án, kể cả những việc phải tiến hành sau phiên toà sơ thẩm. Trong quá trình phân tích tác giả có nêu lên những tình huống và những hạn chế thiếu sót trên thực tiễn xét xử sơ thẩm, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng của phiên toà sơ thẩm và góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về phiên toà sơ thẩm dân sự; đó là các kiến nghị về việc giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật, vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ thẩm phán và hội thẩm nhân dân. Ngoài ra, người viết cũng đề cập đến một số quy định của pháp luật tố tụng dân sự nước ngoài về vấn đề nghiên cứu để tăng sự phong phú cho việc trình bày khoá luận.

Mặc dù đã rất cố gắng song do trình độ nghiên cứu còn hạn chế, sự tiếp xúc với thực tiễn chưa nhiều nên chắc chắn khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy rất mong nhận được sự đóng góp của các thày, cô giáo, các bạn và những người quan tâm đến đề tài này./.


[1] Báo cáo tổng kết công tác ngành Toà án năm 2000

[2] Báo cáo tổng kết công tác ngành Toà án năm 1999

[3] Tài liệu hội thảo “ BLTTDS- nhừng điểm mới và các vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành”- Học viện Tư pháp, Hà Nội, tháng 12/2004, tr 86

(1)Trong trường hợp người có yêu cầu vắng mặt lần thứ nhất không có lý do chính đáng, BLTTDS không quy định cụ thể.

[5] Từ điển giải thích thuật ngữ luật học LDS, LHN&GĐ, LTTDS – Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân năm1999, tr 197.

[6] Luật so sánh

[7] Về pháp luật tố tụng dân sự- Kỷ yếu Dự án VIE/ 95/017- Tăng cường năng lực xét xử tại Việt Nam, Hà Nội 5/2000, tr 30-35.

[8] Tạp chí Điện tử – Triển vọng kinh tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 9/1999.

Các bài viết cùng tác giả: http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/?s=%22B%C3%B9i+Th%E1%BB%8B+Huy%E1%BB%81n%22

SOURCE: CHƯA XÁC ĐỊNH

Advertisements

One Response

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: