Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

Đổi mới hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã được triển khai thực hiện ở nước ta trên 10 năm. Thực chất của quá trình này là sự sắp xếp lại các DNNN, trong đó trọng tâm là tiến hành Cổ phần hoá (CPH) nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất-kinh doanh. Bên cạnh một số kết quả đã đạt được, vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra đối với các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu cũng như bản thân doanh nghiệp. Bài viết này sẽ đưa ra một số ý kiến xung quanh vấn đề CPH các DNNN ở Việt Nam.

Cải cách doanh nghiệp

Mục tiêu của mọi doanh nghiệp khi hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường là phải đạt hiệu quả kinh doanh. Mục tiêu cao nhất và không thay đổi đó là phát triển trên cơ sở có lợi nhuận cao, bảo toàn và tăng vốn kinh doanh, mang lại lợi ích cho chủ đầu tư và mọi người lao động trong doanh nghiệp (các nhà quản lý, người lao động trực tiếp) đồng thời đóng góp vào sự phát triển của cộng đồng, của xã hội. Điều này cũng có nghĩa là khi doanh nghiệp không đạt được những mục tiêu cơ bản trên thì phải xem xét đánh giá lại và cần có những thay đổi cần thiết. Trong nhiều trường hợp đó là một sự cải cách triệt để trong hoạt động kinh doanh để đảm bảo đạt được các mục tiêu đã định. Không làm được như vậy sự tồn tại của doanh nghiệp sẽ bị đe doạ. Trên thực tế do không nhận ra hay nhận ra nhưng không kịp cải cách, hoặc cải cách không đúng đã làm nhiều doanh nghiệp phá sản, bất kể đó là doanh nghiệp nhỏ hay các tập đoàn kinh tế lớn có phạm vi hoạt động toàn cầu, và cũng không loại trừ doanh nghiệp đó thuộc loại hình sở hữu nào. Như vậy, vấn đề cải cách doanh nghiệp luôn được đặt ra và cải cách là cần thiết để đạt được mục tiêu đã định..

Cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam.

Ở Việt Nam cải cách hay đổi mới DNNN là yêu cầu khách quan. Do những áp lực cạnh tranh, vì sự tồn tại và phát triển, và vì sự cần thiết phải thực hiện sứ mệnh của các DNNN mà phải tiến hành đổi mới, sắp xếp lại các doanh nghiệp này. Trong đó CPH là nội dung chính, là hướng cải cách chủ yếu.

Những thành tựu đạt được của quá trình CPH

Sau hơn 13 năm tiến hành đổi mới DNNN (bắt đầu từ năm 1992), đã có 2.996 doanh nghiệp được CPH (tính đến cuối năm 2005), bình quân khoảng trên 200 DN/năm. Đây là con số không nhỏ. Trong vài năm gần đây ngày càng nhiều DNNN được CPH và tốc độ của quá trình này được đẩy nhanh hơn. Riêng năm 2005 cả nước CPH được 724 doanh nghiệp. Nhìn lại quá trình qua có thể thấy chúng ta đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận.

* Số DNNN đã CPH chiếm khoảng 24% tổng số DN khi chưa tiến hành sắp xếp lại và CPH (khoảng 12.000 DN vào thời điểm trước năm 1995)

. Có trên 10% vốn của nhà nước trong các DNNN được CPH (khoảng 30.000 tỷ đồng)

* Hầu hết các doanh nghiệp thuộc loại nhỏ, yếu, hiệu quả kinh doanh thấp, sức cạnh tranh kém đã được đưa bớt ra khỏi hệ thống các DNNN. Như vậy có thêm điều kiện để củng cố các DNNN khác.

* Trong các doanh nghiệp đã CPH, 30% số các doanh nghiệp (trên 800 DN) được hoàn toàn độc lập tự chủ trong kinh doanh mà không còn sự chi phối trực tiếp nào của nhà nước (nhà nước không nắm giữ một cổ phần nào, toàn bộ thuộc về tập thể người lao động).

* Việc sắp xếp lại và CPH các DNNN đã hoàn thành trên 61 trong tổng số 64 tỉnh thành.

* Qua CPH, nhiều yếu kém cố hữu đã được giải quyết là: nợ xấu, tồn kho vật tư hàng hoá kém phẩm chất, các trang thiết bị và tài sản cũ nát…

* Với các doanh nghiệp đã CPH, bộ máy và phương pháp quản lý đã thích nghi, năng động và sát với thị trường hơn, phần nào làm tăng trách nhiệm của người lao động đối với doanh nghiệp, động lực lao động mới đang dần được tạo ra.

* Các biện pháp tiến hành CPH ngày càng được hoàn thiện hơn. Cơ chế định giá doanh nghiệp mới qua các tổ chức tư vấn độc lập (thay vì qua hội đồng định giá như trước đây) được áp dụng. Nhiều doanh nghiệp đã thực hiện đấu thầu giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.

Sau CPH, các doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả hơn trên hầu hết các mặt chủ yếu. Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, hiệu quả kinh tế của các DNNN sau CPH tăng lên rõ rệt. Kết quả khảo sát hơn 850 doanh nghiệp cổ phần (năm 2005) cho thấy: vốn điều lệ tăng bình quân 44%, doanh thu tăng gần 24%, lợi nhuận tăng 140%, nộp ngân sách tăng 25%, thu nhập người lao động tăng 12%. Cũng theo điều tra của Ban, có khoảng 87% số doanh nghiệp khẳng định kết quả hoạt động tài chính của doanh nghiệp cổ phần hoá tốt hơn hoặc tốt hơn rất nhiều so với trước CPH. Có thể nói đây là con số rất ý nghĩa đối với các doanh nghiệp, khẳng định CPH là một trong những biện pháp hữu ích nhất để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các DNNN. Một điều có ý nghĩa quan trọng nữa là, kết quả trên sẽ tạo niềm tin và động lực cho các DNNN khác tiến hành đổi mới hoạt động kinh doanh của mình một cách tích cực hơn.

Những vấn đề còn tồn tại

Bên cạnh những thành tựu đạt được như trên thì cũng còn nhiều vấn đề tồn tại đang đặt ra trong quá trình CPH:

Thứ nhất: Chúng ta đã CPH và sắp xếp lại được khá nhiều doanh nghiệp nhưng xét về chỉ tiêu vốn nhà nước đã CPH thì vẫn chưa tới 10%. Hơn nữa trong số các doanh nghiệp đã được CPH có tới 29% số doanh nghiệp ở đó nhà nước vẫn giữ một lượng cổ phần chi phối (từ 51% trở lên). Nhà nước đang còn nắm khoảng 46,5% vốn kinh doanh của các doanh nghiệp này. Như vậy, thực chất mới chỉ khoảng 8% vốn kinh doanh của các DNNN đã CPH thuộc về các chủ sở hữu khác-không phải nhà nước (phần lớn là những cổ đông vốn là người lao động trong doanh nghiệp). Con số này là quá ít. Vì nói đến CPH thì chỉ tiêu chủ yếu nhất là CPH vốn kinh doanh, do vậy có thể nói rằng CPH các DNNN được thực hiện rất chậm chạp, chưa nhiều.

Thứ hai: Xét về các DN đã CPH, trong khi về số lượng các doanh nghiệp là không nhỏ nhưng vốn của nhà nước trong các doanh nghiệp này lại quá ít,  điều này chứng tỏ chúng ta mới chỉ CPH được các DN nhỏ và rất nhỏ. Đó cũng là các doanh nghiệp chủ yếu do các địa phương quản lý. Trên thực tế các doanh nghiệp này không có vai trò đáng kể và không thể hiện được vai trò là những DNNN chủ đạo trong nền kinh tế. Và như vậy chúng ta mới thực hiện được phần dễ nhất trong toàn bộ khối lượng công việc phải làm.

Thứ ba: Về vai trò của Nhà nước. Đến nay, trong các doanh nghiệp đã được CPH thì Nhà nước đang còn nắm quá nhiều vốn. Điều này cho thấy sự chi phối, gây ảnh hưởng của nhà nước vẫn ở mức độ lớn (dưới các hình thức khác nhau, trực tiếp hay gián tiếp). Do vậy, trong nhiều doanh nghiệp đã CPH chưa thấy có những thay đổi căn bản về tổ chức và quản lý hoạt động kinh doanh theo mô hình mới của một công ty cổ phần thực thụ. Các doanh nghiệp này vẫn chưa có hay rất thiếu những cổ đông mới có quyền lực mạnh, các cổ đông chiến lược mới. Việc Nhà nước còn nắm các cổ phần chi phối trong nhiều doanh nghiệp đã CPH cũng cho thấy Nhà nước còn đầu tư dàn trải trên nhiều lĩnh vực và phạm vi hoạt động kinh doanh, chưa có sự tập trung vốn cần thiết vào các lĩnh vực, các ngành hay các doanh nghiệp trọng điểm mà ở đó cần có sự hiện diện của Nhà nước.

Thứ tư: Những bước tiếp theo của CPH. Như đã nêu ở trên, CPH chủ yếu chỉ thực hiện ở các DN nhỏ và rất nhỏ, và có rất ít doanh nghiệp lớn đã tiến hành CPH (như Vinamilk). Tới đây, theo kế hoạch của Chính phủ, lượng vốn trong các DNNN cần phải CPH khoảng trên 270.000 tỷ đồng. Đây là một lượng vốn rất lớn. Số vốn này đang nằm trong các doanh nghiệp lớn (các tổng công ty, các công ty lớn). Việc tiến hành CPH các doanh nghiệp này không hề đơn giản như đã từng làm trong thời gian qua vì vai trò, tầm quan trọng và phạm vi kinh doanh, phạm vi ảnh hưởng của các doanh nghiệp này rất lớn và phức tạp hơn nhiều. Rõ ràng để CPH thành công các doanh nghiệp này cần phải có những giải pháp thích hợp.

Thứ năm: Những cản trở đối với quá trình CPH các DNNN trong thời gian qua là: Vướng mắc nhiều về đất đai và sở hữu tài sản, chưa có chính sách và cơ chế rõ ràng, CPH còn khép kín, còn có sự phân biệt đối xử trước và sau CPH, chẳng hạn như vay vốn ngân hàng, những khó khăn về giải quyết số lao động dôi dư của các doanh nghiệp, thủ tục hành chính phức tạp và thời gian kéo dài… Đây là những vấn đề nằm ngoài khả năng của doanh nghiệp. Do vậy, nếu nhà nước không giải quyết triệt để các vấn đề này thì không thể đẩy nhanh tiến trình CPH được.

Thứ sáu: Vai trò của các doanh nghiệp. Dường như vấn đề CPH vẫn chưa phải là nhu cầu tự thân, nhu cầu nội tại của các DNNN, thậm chí còn là sự miễn cưỡng. Trong thực tế thực hiện, hầu hết các chương trình hay kế hoạch CPH đều là của các bộ, ngành, hay chính quyền địa phương, chưa có (hoặc nếu có thì cũng rất ít) doanh nghiệp chủ động đề xuất đưa tên mình vào chương trình hay kế hoạch đó. Điều này chỉ có thể lý giải là đối với các doanh nghiệp, CPH không hấp dẫn họ. Hầu hết các DNNN vẫn không muốn, hay né tránh, hoặc tìm cách né tránh thực hiện CPH vì muốn được an toàn hơn và không muốn mất đi lợi ích hay lợi thế đang có. Một trong những lợi thế đang mang lại quá nhiều lợi ích-lợi nhuận siêu ngạch đó là sự độc quyền hoặc những ưu đãi mà các doanh nghiệp vẫn nghĩ là chỉ DNNN mới có được. Ở đây, nhà nước và các DNNN chưa có cùng một suy nghĩ và hành động. Do vậy, nếu còn có sự khác nhau về thái độ và quyết tâm đối CPH, và khi các DNNN vẫn còn e ngại và nghi ngờ, chưa quyết tâm thì vẫn còn nhiều trở ngại cho quá trình CPH.

Đẩy nhanh quá trình CPH-một vài kiến nghị

Đẩy nhanh quá trình CPH các DNNN trong thời gian tới đang còn rất nhiều những thách thức. Giải pháp để vượt qua theo chúng tôi cần tập trung vào những vấn đề chính sau :

1.  Nhà nước phải có những biện pháp chiến lược mới cho quá trình CPH vì các DNNN là đối tượng CPH trong thời gian tới có những điểm khác với các doanh nghiệp đã được CPH trước đây. Trong đó, việc tạo ra được động lực của chính các DNNN này có ý nghĩa quyết định cho sự thành công. Đối với doanh nghiệp, lợi ích chính là động lực mạnh mẽ nhất. Để có được điều này, cần phải làm cho các doanh nghiệp có được và thấy được lợi ích thực sự (so với không thực hiện CPH). Do vậy cần:

* Xoá bỏ nhanh bao cấp dưới mọi hình thức để không còn chỗ dựa tạo đặc quyền, đặc lợi như trước đây và hiện vẫn còn ở mức độ khác nhau của các DNNN (lợi thế hay lợi ích kiểu này không còn nữa).

* Có ưu tiên và nghiên cứu đưa ra những biện pháp khuyến khích và hỗ trợ cần thiết và thiết thực cho các doanh nghiệp đã CPH.

Làm như vậy tức là thay cho việc duy trì những bao cấp khi đang còn là DNNN cần chuyển sang hỗ trợ các doanh nghiệp đã hoàn thành CPH, đặc biệt đối với các DNNN có thành tích và thực hiện tốt quá trình này. Đây cũng là một sự khuyến khích mới.

2. Thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của Nhà nước với vai trò chủ sở hữu, với những biện pháp quyết liệt hơn, khẩn trương hơn, có lộ trình cụ thể. Tiến hành mở nhanh những vùng, lĩnh vực kinh doanh đang còn độc quyền hay mang tính độc quyền, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác tham gia . Cùng với đó tập trung chỉ đạo thực hiện nhanh và kiên quyết việc CPH các DNNN lớn, chiếm giữ một lượng vốn lớn của Nhà nước, đang nắm nhiều lợi thế độc quyền nhưng chậm đổi mới. Đối với các doanh nghiệp này,  thực hiện CPH còn phải được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của ban lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp. Họ phải có trách nhiệm thực hiện những chủ trương đổi mới và cải cách, những chiến lược của chủ đầu tư-của Nhà nước. Chỉ có thực hiện thành công ở các doanh nghiệp này thì mới hoàn thành sự nghiệp CPH các DNNN.

3. Tổng điều tra đánh giá hiệu quả thực tế các doanh nghiệp sau CPH để rút ra những kinh nghiệm về thành công và chưa thành công của các doanh nghiệp. Qua đó làm cho mọi doanh nghiệp thấy được lợi ích rõ ràng, những bài học cụ thể từ CPH. Điều này sẽ có tác động làm thay đổi nhận thức, tạo những hiểu biết tốt hơn, từ đó tạo niềm tin và động lực từ bên trong của doanh nghiệp. Đồng thời có chiến lược hỗ trợ một cách có hiệu quả về đào tạo nâng cao năng lực trước, trong và sau CPH.

4. Nhanh chóng thực hiện những biện pháp giải quyết dứt điểm những vướng mắc hiện nay về vấn đề đất đai, tài sản và những vướng mắc về lao động (không để CPH làm thiệt hại đến người lao động trong doanh nghiệp). Đặc biệt cần sớm chấm dứt trên thực tế (không phải chỉ trên giấy tờ, văn bản) sự phân biệt đối xử đối với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, nhất là các DNNN đã CPH. Điều này rất quan trọng và sẽ là một nhân tố thúc đẩy doanh nghiệp tiến hành CPH có hiệu quả. Chúng ta cũng cần sớm hoàn thiện và tạo những điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp có thể áp dụng tốt trình tự tiến hành CPH và cơ chế định giá doanh nghiệp mới, không gặp khó khăn tiếp cận thị trường chứng khoán. Mở rộng hơn nữa đối tượng tham gia CPH để có những cổ đông mạnh, họ sẽ là một trong những tác nhân quan trọng nhất đảm bảo cho sự thành công trong kinh doanh của doanh nghiệp sau CPH.

(Nguồn: KTPT – MOI.GOV.VN)

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: