GIÁO DỤC PHÁP LUẬT Ở HOA KỲ

TS. PHAN THỊ KIM NGĀN – Khoa Khoa học cơ bản trường ĐH Luật TP. HCM

Việc giáo dục pháp luật ở Hoa Kỳ có một số khác biệt với nước ta và một số các nước trong hệ thống luật lục địa. Có một điều đáng ngạc nhiên với nhiều người là giáo dục pháp luật ở Mỹ được khai sinh vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 và chỉ thực sự được thúc đẩy trong các thập kỷ vừa qua với các khóa học chi tiết và tổng hợp dành cho nhiều người và với số lượng lớn các trường luật như ngày nay mà theo con số thống kê mới nhất lên đến gần 200 trường. Giáo dục pháp luật đã phát triển mạnh mẽ từ những bước khởi đầu ở thế kỷ 20. Có hai đặc trưng trong giáo dục pháp luật ở Hoa Kỳ: đó là đào tạo một lớp luật sư thực hành và việc giáo dục thường xuyên các kỹ năng cho người hành nghề luật tại các cương vị. Trong bài báo này chúng ta sẽ đề cập đến vấn đề thứ nhất: đó là việc đào tạo trong các trường luật ở Hoa Kỳ.

1. Những bước phát triển trong quá trình giáo dục pháp luật ở Hoa Kỳ:

Trong các trường luật ở Hoa Kỳ, hệ thống chương trình 3 năm sau đại học với đội ngũ giảng viên chính quy theo chương trình gần như được chuẩn hóa và sử dụng phương pháp xử lý từng trường hợp cụ thể chỉ được hình thành dần dần và xuất hiện vào thế kỷ 20. Do quá trình chống lại sự thống trị của người Anh và bác bỏ tầng lớp quý tộc và sự đôc quyền, người Mỹ có ý thức xây dựng nhà nước theo nguyên tắc bình đẳng tiếp cận pháp luật, dẫn tới sự hoài nghi có tính dân chủ về các đặc quyền nghề nghiệp và các tổ chức chuyên môn. Vì vậy, vào những ngày đầu của nền cộng hòa, các bang không các đòi hỏi giáo dục chính quy hay các kỳ kiểm tra đối với luật sư mà chỉ cần vài năm học nghề ở một văn phòng luật sư. Những trường luật đầu tiên cung cấp nhiều luật sư hàng đầu của nền cộng hòa mới như trường luật Litchfield nổi tiếng ở vùng Tây Connecticut và một vài trường đại học luật liên kết với các trường William và Mary, Harvard và Columbia. Nhưng các trường này lúc đó cũng chỉ đòi hỏi có bằng trung học và chỉ một hai năm học luật. Giáo viên thường là các luật sư bán thời gian. Sinh viên nghe các bài giảng, đọc giáo trình tham khảo hay các bài bình luận về các chủ đề luật.

Vào những năm 1870, sự phát triển vượt bậc của khoa học tự nhiên, danh tiếng của các trường đại học lớn ở châu Âu (đặc biệt là ở Đức), nhu cầu cấp thiết về tuyển dụng người trong quản lý hoạt động công nghiệp và chính phủ tạo nên sự cần thiết ổn định nghề nghiệp một cách có tổ chức cho các chuyên gia đã dược đào tạo cơ bản. Các luật sư hàng đầu đã thành lập các Hội luật gia mới với mục tiêu đưa ra các yêu cầu mới về giáo dục và thi tuyển để được công nhận hành nghề luật và xây dựng một hệ thống kỷ luật nhằm loại bỏ tệ tham nhũng cũng như cho thôi việc các luật sư và quan tòa không đủ năng lực với động cơ nâng cao tiêu chuẩn giáo dục, năng lực hành nghề và đạo đức. Trường luật Harvard đi tiên phong với mô hình mới, trong đó đòi hỏi sinh viên phải được đào tạo ở bậc đại học và được cấp bằng, và dạy môn luật như một ngành khoa học. Mô hình Harvard dạy các kỹ năng tổng quát để có “tư duy như một luật sư”. Chương trình học kéo dài 3 năm với những khóa học nối tiếp nhau và kỳ thi thường kỳ cho mỗi khóa.Trường thuê các giáo viên toàn thời gian và thành lập khoa. Các giáo viên của trường là những người đầu tiên xuất bản sách về các vụ việc và dạy cho sinh viên theo cách xử lý từng trường hợp một bằng cách làm quen với các tài liêu cơ bản về các vụ việc, học một cách chủ động và phối hợp với nhau thông qua các cuộc trao đổi với giáo viên thay vì chỉ chủ động lắng nghe bài giảng. Chương trình các phiên tòa giả thiết (“moot courts”) cũng được sử dụng ở đây. Các sinh viên giỏi của mỗi lớp sẽ được chọn làm biên tập tập san Luật của Đại học Harvard ( Harvard Law Review), là nơi xuất bản công trình nghiên cứu của các giáo sư luật và các ghi chép cũng như nhận xét của sinh viên luật về các vụ kiện và sự phát triển luật pháp. Công việc này tạo cho sinh viên khả năng thích hợp với các công việc như thư ký cho các thẩm phán tòa tối cao, giáo viên luật hay làm việc trong các hãng luật lớn. Mô hình này dần dần được tất cả các trường áp dụng dù bị phê phán vì ít dạy các vấn đề liên quan đến thực hành nghề luật.

Sau năm 1920, chương trình theo trường phái luật hiện thực (Legal Realists) ra đời với quan điểm rằng nguyên nhân dẫn đến quyết định cuối cùng của quan tòa nằm trong những yếu tố thực tế xã hội nằm đằng sau những phán quyết đó, do đó luật phải được giảng dạy như một sản phẩm xã hội được sinh ra trong mâu thuẫn xã hội và phục vụ các quyền lợi và chính sách xã hội. Trường phái này thúc giục các học giả liên kết luật với các môn khoa học xã hội khác, tiến hành các nghiên cứu thực nghiệm về tòa án, về các cơ quan và quy trình xây dựng luật và dạy cho sinh viên cách lập luận có kết quả trên cơ sở chính sách xã hội. Chương trình này đã nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ của tổng thống Franklin D. Rooselvelt qua chương trình Chính sách mới, tạo cơ hội cho nhiều giáo sư luật tham gia những hoạt động của chính phủ và luật sư trong các cơ quan chính quyền mới. Sau này các giáo sư luật đã giới thiệu các khóa học mới trong lĩnh vực lập pháp như thuế, lao động, chứng khoán, chống độc quyền và luật công nghiệp. Sách về các vụ kiện nay còn được bổ sung thêm các tài liệu như các quy chế, quy định của các cơ quan hành chính, báo cáo của chính phủ và các nghiên cứu khoa học xã hội.

Các cao trào xã hội trong thập niên 60 và 70 của thế kỷ 20 mang lại nhiều thay đổi mới trong giáo dục pháp luật ở Hoa Kỳ. Trong các trường luật xuất hiện các môn học luật về quyền dân sự, luật môi trường, luật hành chính và điều lệ, vấn đề nghèo đói. Các văn phòng luật ở ngay trong trường học với các vụ việc đựơc xử lý có sinh viên tham gia chứng kiến, thông qua đó sinh viên không chỉ học cách tư duy như một luật sư mà còn có cơ hội đại diện cho các thân chủ khi vẫn còn ngồi trên ghế nhà trường với sự giám sát của các luật sư đang hành nghề và các giáo viên luật. Sự kết hợp với các ngành khoa học khác trong giảng dạy luật bắt đầu từ những năm 70 như kinh tế học, triết học về đạo đức và phân tích, lịch sử xã hội, nghiên cứu phụ nữ, khoa học chính trị, tâm lý học, tội phạm học, xã hội học, trong đó ảnh hưởng sâu rộng nhất là giữa luật và kinh tế học. Ngày nay trong đội ngũ giáo viên dạy luật mới, đặc biệt trong các trường danh tiếng, ngoài văn bằng về luật còn có thêm bằng về các khoa học xã hội khác.

Sự thay đổi lớn tiếp theo là chương trình dạy luật phát triển theo hướng nghiên cứu luật toàn cầu như các khóa học về lĩnh vực luật xuyên quốc gia, luật nhân quyền quốc tế, cũng như các lĩnh vực luật chuyên biệt như luật Trung Quốc, luật Nhật Bản và luật Hồi giáo. Sau hai thế kỷ phát triển cô lập, các trường luuật oqr mỹ đã mở cửa à học hỏi từ các sinh viên, các truyền thống và thực nghiệm về luật từ các quốc gia khác trên thế giới.

2. Việc công nhận một trường luật:

Giáo dục pháp luật ở Mỹ được giám sát bởi các tổ chức nghề nghiệp có tính chất nửa tư nhân thông qua quá trình công nhận những tiêu chuẩn của một trường luật đào tạo để cấp bằng thứ nhất về luật. Những tiêu chuẩn này là các yêu cầu về những vấn đề như chương trình giảng dạy, các công việc của khoa, về nhập học và sinh viên, thư viện và công nghệ thông tin, và các cơ sở vật chất khác. Các tiêu chuẩn được xem xét lại thường xuyên để đảm bảo sẽ tập trung vào những vấn đề cốt lõi của chất lượng giáo dục pháp luật. Cứ bảy năm một lần có Ủy ban xem xét lại các trường luật đã được công nhận. Có hai tổ chức đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nhận một trường luật đó là Hội luật gia Hoa Kỳ (the American Bar Association –ABA) và Hiệp hội các trường đại học luật ở Mỹ (the American Association of Law Schools –AALS).

Hội luật gia Hoa Kỳ là nhân tố chính trong việc hình thành nên những kim chỉ nam về đạo đức cho nghề luật thông qua việc ban hành Những qui định hình mẫu của ABA về hành vi nghề nghiệp (the ABA Model Rules for Professional Conduct). Hội luật gia Hoa Kỳ là hiệp hội nghề nghiệp tự nguyện lớn nhất thế giới bao gồm hơn 400.000 thành viên vào năm 2002. Năm 1921, ABA đã đưa ra bản quy định về tiêu chuẩn tối thiểu của giáo dục pháp luật và xuất bản một danh sách các trường luật tuân theo những tiêu chuẩn này. Các tiêu chuẩn nói trên được đưa ra bởi Hội đồng Bộ phận giáo dục pháp luật và công nhận luật sư của ABA (Council of the ABA Section of Legal Education and Admissions to the Bar). Hội đồng này gồm 21 thành viên có quyền bỏ phiếu với không quá 10 người là trưởng khoa hay giảng viên các trường luật. Các thành viên khác của Hội đồng gồm các thẩm phán, các luật sư, một sinh viên luật và ít nhất 3 thành viên khác không phải là luật sư hay nhân viên trường luật. Quy trình công nhận trường luật do Hội đồng đề ra nhằm đánh giá cẩn thận và toàn diện về một trường luật và sự tuân thủ các tiêu chuẩn công nhận trường luật. Hội đồng trước khi quyết định thông qua những tiêu chuẩn này đã thiết lập nên một quy trình mở rộng thu thập ý kiến và đề nghị sửa đổi chúng của các trưởng khoa, các khoa luật , các hiệu trưởng đại học, lãnh đạo các hội luật sư và các cơ quan tư pháp (the bar and judiciary), và những ai quan tâm đến giáo dục pháp luật. Sự tham gia phối hợp tích cực của các đại diện nói trên là một trong những thế mạnh của quy trình chứng nhận trường luật của ABA.

Một trường luật có thể xin ABA công nhận tạm thời sau 1 năm hoạt động. Trường được công nhận tạm thời có tất cả các quyền của một trường đại học luật được công nhận đầy đủ. Do đó, sinh viên tốt nghiệp của các trường này cũng được công nhận như sinh viên tốt nghiệp của các trường được công nhận hoàn toàn. Trường được công nhận tạm thời được duy trì tư cách đó trong ít nhất 3 năm và không quá 5 năm, đồng thời hoạt động của trường được giám sát chặt chẽ. Mỗi năm có một đoàn đánh giá đến thăm và sau mỗi lần như vậy sẽ có một báo cáo xác minh gửi lên Ủy ban chứng nhận và lên trường. Sau khi được công nhận hoàn toàn, trường đó phải được đánh giá toàn diện trong năm thứ ba sau khi được công nhận và cứ 7 năm sẽ có một cuộc đánh giá đầy đủ.

Hiện nay có tổng cộng 185 trường được công nhận bởi Hôi luật gia Hoa Kỳ để cấp bằng thứ nhất về chuyên ngành luật (J.D). Trong đó có 107 trường là cơ sở tư và 78 trường là cơ sở công được chính quyền bang hay địa phương tài trợ. Tuy nhiên kể cả cơ sở công cũng chủ yếu dựa vào học phí và đóng góp tư nhân trong việc hỗ trợ tài chính cần thiết cho các chương trình luật của trường. Các cơ quan tư pháp ở Mỹ đã xác định rằng những ai tốt nghiệp các trường luật do ABA công nhận đều có thể tham gia hội luật gia trong khu vực tài phán của mình.

Trong phần lớn các bang, nghề luật và việc thực hành pháp luật được sự giám sát của các tổ chức tư nhân khác cũng gọi là Hội luật gia. Có nhiều loại hội luật gia khác nhau như địa phương hay thành phố. Đó cũng là các tổ chức tư nhân tự nguyện. Các Hội luật gia bang cũng có thể đưa ra sự công nhận một trường luật. Ví dụ ở California một số các trường luật nhỏ hơn được công nhận bởi Hội luật gia bang nhưng không được công nhận bởi ABA hay AALS.

3. Tiêu chuẩn xét tuyển và các văn bằng về luật:

Việc được chấp nhận vào học các trường luật ở Mỹ có tỷ lệ cạnh tranh lớn. Để vào học trường luật, thí sinh phải có một bằng đại học chương trình 4 năm ở một trường nào đó với điểm học tập cao và một kỳ kiểm tra quốc gia được chuẩn hoa (the Law School Aptitude Test – LSAT). Chi phí học tập thường là 30.000 USD mỗi năm ở các trường luật tư, và từ 15.000 USD –20.000USD mỗi năm ở các trường công. Tuy nhiên sinh viên có thể được chính phủ cho vay trước để học nên nhiều sinh viên khi tốt nghiệp ra trường phải nghĩ đến khoản trả nợ 100.000 USD hay nhiều hơn thế. Không giống như ở các nước khác, các trường luật ở Mỹ thực hiện giáo dục pháp luật ở cấp sau đại học. Những sinh viên trường luật ở Mỹ thường có tuổi trung bình lớn hơn các sinh viên ở môt số nước khác như Việt nam chẳng hạn, khi đã có đủ kinh nghiệm làm việc, đôi khi lúc họ đã già. Chương trình học luật điển hình kéo dài 3 năm. Nhiều trường cũng đưa ra chương trình học bán thời gian hoặc học vào buổi tối, do đó để kết thúc chương trình phải kéo dài 4 năm hoặc hơn thế. Như vậy để nhận được bằng luật các sinh viên phải trải qua ít nhất là 7 năm đại học.

Văn bằng luật cơ bản ở Mỹ là Juris Doctorate hay “J.D”. Trước năm 1960 văn bằng này gọi chung là Bachelor of Laws hay LL.B. theo thuật ngữ tiếng anh. Thứ bậc cử nhân này không có lợi cho các luật sư làm việc cho chính phủ nên cấp bậc mới được chấp nhận để tránh nhược điểm trên và những người đạt văn bằng này được gọi lại là những người nhận J.D. Nhiều trường đưa ra một văn bằng cấp cao hơn khi hoàn thành thêm một năm chương trình chuyên ngành. Chương trình này cấp bằng Master of Law hay “LL.M.”. Việc học để có văn bằng cao hơn Master không phổ biến ở Mỹ. Chỉ trong một số ít trường đại học là có văn bằng tiến sĩ như vậy, và rất ít sinh viên theo đuổi văn bằng này thậm trí trong chính những trường nói trên.

4. Tiêu chuẩn hành nghề luật sư:

Sau khi hoàn thành 4 năm đại học, rồi 3 năm ở một trường luật được Hội Luật gia quốc gia (ABA) công nhận và cuối cùng đỗ một kỳ thi về luật (Bar examination), phần lớn sinh viên trở thành luật sư. Có khoảng 50-80% thí sinh đỗ kỳ thi về luật ở phần lớn các bang. Sinh viên luật ở Mỹ cần phải có kinh nghiệm làm việc trước khi tham gia kỳ thi luật sư. Thông thường họ có kỳ thi luật sư vào mùa hè năm họ tốt nghiệp. Nói chung họ đều được cho phép thực tập về luật (xuất hiện thước tòa) ở bang mà họ muốn được công nhận. Việc công nhận luật sư ở Mỹ phụ thuộc vào những đòi hỏi và kỳ thi khác nhau do các quy định độc lập đề ra ở mỗi bang trong tổng số 50 bang, quận Columbia, Khối thịnh vượng Puerto Rico và các khu vực tài phán khác. Hơn một nửa khu vực tài phán này yêu cầu người muốn hành nghề luật sư trong khu vực tài phán phải tốt nghiệp trường đại học được ABA công nhận. Những khu vực tài phán cho phép sinh viên tốt nghiệp các trường luật không được ABA công nhận được vào hội luật gia hầu hết đều dành ưu đãi này cho những sinh viên của các trường thuộc khu vực tài phán cụ thể của họ. Chỉ có bang Winscosin dành ưu tiên cho những ai tốt nghiệp hai trường luật trong bang đó được hành nghề luật sư mà không cần qua kỳ thi.

Hầu hết các khu vực tài phán cho phép một luật sư đã được thực tập một số năm nhất định (thường là 5 năm) và làm việc tốt trong khu vực tài phán của mình được công nhận thông qua đề cử mà không phải qua kỳ thi luật sư. Tuy nhiên, một số bang, như Florida hay California, yêu cầu một luật sư thậm trí đã được đề cử công nhận vẫn phải qua kỳ thi luật sư với nội dung chủ yếu nhằm vào các quy tắc thủ tục và đòi hỏi về đạo đức nghề nghiệp.

Kỳ thi điển hình để công nhận luật sư của bang thường kéo dài hai đến ba ngày và gồm ít nhất hai phần: phần thi khách quan (the Multistate Bar Examination) do Đại hội Quốc gia Giám khảo luật sư (the Natioal Conference of Bar Examiners – NCBE) soạn thảo nhằm kiểm tra những kiến thức cơ bản về những vấn đề như hợp đồng, tài sản, luật bồi thường, luật tố tụng và luật hiến pháp, và phần thi viết luận về những chủ đề do mỗi khu vực tài phán tự chọn. Ngày càng nhiều khu vực tài phán sử dụng thi viết Tiểu luận Hợp bang (Multistate Essay Examination) do NCBE soạn thảo. Hơn một nửa khu vực tài phán sử dụng bài Trắc nghiệm Thành tích (Multistate Performance Test- MPT) do NCBE soạn như một phần của thi viết luận. MPT kiểm tra kỹ năng luật sư cụ thể bằng cách đưa cho thí sinh một tình huống thực tế và những nguyên tắc pháp lý áp dụng cho tình huống đó, sau đó yêu cầu thí sinh đưa ra một văn kiện pháp lý (như di chúc, hợp đồng hay bài bào chữa…).

Tất cả các khu vực tài phán đều tiến hành thẩm tra tính cách khoẻ của những ai muốn hành nghề luật sư. Các luật sư ở Mỹ dù có khác biệt về chuyên môn, danh tính, thu nhập, khách hàng hay hoàn cảnh xuất thân nhưng tất cả cùng làm một nghề có tính thống nhất, được huấn luyện và đào tạo cơ bản chính thức như nhau. Họ đều được nhận làm thành viên của Hội luật gia của một hay nhiều hơn trong số 50 bang theo các qui định do các tòa án bang cao nhất đưa ra. Việc hành nghề của họ phải chịu sự kiểm soát của các hội luật gia, các tòa án bang và các trường luật. Các trường không chỉ giám sát những người theo làm nghề luật mà còn tác động cả đến cơ hội của họ sau khi tốt nghiệp. Các sinh viên tốt nghiệp với thứ hạng cao ở các trường danh tiếng sẽ được tuyển dụng làm các công việc có uy tín nhất và được trả lương cao nhất mhư trong các hãng luật ở các thành phố lớn. Trong khi đó các sinh viên tốt nghiệp thứ hạng thấp sẽ khó khăn khi kiếm việc làm như một luật sư.

5. Giảng dạy luật trong lớp đại học luật ở Mỹ:

Có hai điểm đặc biệt trong giảng dạy pháp luật ở Mỹ là: phương pháp Socrat trong truyền đạt kiến thức và hệ thống tình huống.

Phương pháp Socrat đòi hỏi một lớp học năng động với sự trao đổi các ý kiến, các câu hỏi và câu trả lời giữa các sinh viên và đòi hỏi sinh viên phải tham gia tích cực .Hệ thống tình huống đòi hỏi sinh viên đọc trước các vụ việc do các quan tòa viết ra. Cuốn sách đầu tiên về các vụ việc cho sinh viên học do hiệu trưởng trường đại học luật Harvard, ông Columbus Langdell, viết gồm bộ sưu tập các hợp đồng từ nửa cuối thế kỷ 19.

Phương pháp giảng theo tình huống và phương pháp Socrat được sử dụng chủ yếu ở năm thứ nhất. Ở những năm sau, khi sinh viên được coi là đã có đáng kể kỹ năng phân tích thì phương pháp tình huống không còn hiệu quả nữa. Ở năm thứ nhất các khóa học tương đối đông và học những lĩnh vực rộng. Những khóa sau các lớp học được chọn lọc và chia nhỏ hơn. Các khóa học được gọi là các seminar với số lượng thường là 20 người và đòi hỏi sinh viên nghiên cứu rất nhiều. Đặc trưng của các cuộc thảo luận trên lớp là hướng vào những kết quả nghiên cứu của chính sinh viên.

Đi thực tế (clinics) là một phần trong chương trình trường luật đạt tiêu chuẩn đã có cách đây chừng 30 năm. Các khóa này cho sinh viên các kinh nghiệm thực tế , thường là các phiên tòa, bằng cách cho họ tham gia các vụ án có thực dưới sự giám sát chặt chẽ của khoa. Sinh viên cũng được tạo cơ hội làm việc độc lập trong các văn phòng luật và các tòa án. Sự thay đổi thực chất có ý nghĩa nhất trong giáo dục ở Mỹ 30 năm qua là việc đưa đào tạo kỹ năng nâng cao vào các chương trình học thông qua các khóa giáo dục thực tế và giải quyết tình huống phức tạp.

Giáo dục pháp luật ở Mỹ có truyền thống đào tạo các sinh viên “suy nghĩ” như những luật sư và dạy luật về quyền hạn và nghĩa vụ cũng như luật tố tụng. Ngày nay các sinh viên luật ở Mỹ cũng được đào tạo tốt trong việc “hành động” như những luật sư. Việc đào tạo kỹ năng hiện nay tại các trường luật được ABA công nhận chịu ảnh hưởng lớn của Bản báo cáo Mac Crate 1992 (Legal Education and Professional Development – An Educational Continuum) về những kỹ năng và giá trị cơ bản để có thể đại diện thành công cho quyền lợi của khách hàng. Hầu hết các trường luật ở Mỹ đều kết luận rằng việc kết hợp tham gia giảng dạy của các giảng viên chính thức và các thẩm phán cũng như những người làm trong ngành tư pháp có kinh nghiệm là phù hợp nhất để đào tạo cả về bề rộng và chiều sâu những kỹ năng mà một luật sư mới được công nhận cần có.°

Tài liệu tham khảo:

1. The American Legal System, by Eldon H.Reiley – Professor of Law – University of San Francisco School of Law

2. The American Bar Association and Legal Education in the United States, by John A.Sebert – Electronic Journal of U.S.Department of State, Issues of Democracy, Volume 7 number 2, August 2002.

3. Legal Education in the U.S.:Origin ang Development, by Robert W.Gordon Electronic Journal of U.S.Department of State, Issues of Democracy, Volume 7 number 2, August 2002.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 2/2004

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: