Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ VẤN ĐỀ ĐẠI DIỆN TRONG KÝ KẾT HỢP ĐỒNG KINH TẾ

THS. LÊ THỊ BÍCH THỌ –  ĐH Luật TP.HCM

Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (PLHĐKT) được Quốc hội thông qua ngày 29/9/1989 đã đánh dấu một bước phát triển mới của pháp luật về HĐKT ở nước ta. Có thể nói PLHĐKT đã hoàn thành sứ mạng của mình trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Tuy vậy, qua hơn 10 năm thực hiện, bên cạnh những thành công, PLHĐKT đã bộc lộ nhiều nhược điểm cũng như sự bất cập cần phải được nghiên cứu, hoàn thiện phù hợp với các đòi hỏi khách quan của cơ chế quản lý kinh tế mới.

Thực tiễn giải quyết tranh chấp về HĐKT đang có nhiều quan điểm khác nhau trong việc xác định đại diện ký kết HĐKT. Một trong các nguyên nhân của tình trạng này là do quy định về đại diện trong ký kết HĐKT còn nhiều bất cập. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ giới hạn nghiên cứu ở một vấn đề hiện đang có nhiều tranh cãi, đó là vấn đề đại diện trong ký kết HĐKT.

1. Vấn đề đại diện trong ký kết hợp đồng kinh tế theo quy định của pháp luật hiện hành:

Đại diện là một hoạt động phổ biến tất yếu trong các lĩnh vực có sự phân công lao động đối với sản xuất, phân phối hàng hóa và dịch vụ. Nhà sản xuất giao việc mua nguyên vật liệu cho một người được ủy quyền, một công ty giao cho nhân viên bán sản phẩm… Vì rất nhiều lý do, những người này thay vì phải tự mình thực hiện các giao dịch nhưng họ không thể hoặc không muốn trực tiếp thực hiện các hành vi đó. Vì vậy, họ sử dụng những “người giúp đỡ” thực hiện hành vi với bên thứ ba “vì họ”, “theo tài khoản của họ” như những “người được ủy quyền” hoặc “trong lợi ích của họ”. Thuật ngữ đại diện được sử dụng để chỉ những việc mà “người giúp việc” được phép làm và không được phép làm trong khoảng thời gian được thuê cũng như chức danh của họ. Theo quan niệm của thông luật, đại diện không chỉ giới hạn ở trường hợp một người nhận thay mặt cho một người khác mà còn cả các trường hợp mà ở đó, người đứng đầu phải chịu trách nhiệm về các hành vi vị phạm pháp luật do nhân viên của mình gây ra. Ở đây có sự phân biệt giữa các trường hợp người ủy quyền cho người khác thực hiện các hành vi thay mặt mình, nhân danh mình qua các hợp đồng trách nhiệm thuộc thẩm quyền của người đại diện.

Lý thuyết về sự phân biệt giữa đại diện theo ủy quyền và đại diện theo thẩm quyền được quy định bởi pháp luật là một trong những thành tựu nổi bật của học thuật pháp lý Đức cuối thế kỷ 19. Lý thuyết này đã được đưa vào BGB1 và sau đó được thừa nhận ở các nước theo hệ thống luật dân sự khác. Trên thực tế, không Bộ luật dân sự kế tiếp nào lại không đưa ra sự phân biệt giữa một đại diện thông qua hợp đồng và sự đại diện do thẩm quyền2.

Ở Việt Nam, quan điểm trên cũng được thể hiện trong các văn bản pháp luật về hợp đồng như Bộ luật dân sự, PLHĐKT. Tuy nhiên, cách tiếp cận vấn đề này của hai văn bản nói trên cũng khác nhau.

Vấn đề đại diện trong ký kết HĐKT được ghi nhận tại Điều 9 của PLHĐKT và Điều 5 trong Nghị định 17/HĐBT ngày 16/1/1990 của Hội đồng Bộ trưởng quy định chi tiết thi hành PLHĐKT, theo đó: Người ký hợp đồng là đại diện hợp pháp của pháp nhân hoặc người đứng tên đăng ký kinh doanh. Pháp nhân chỉ có thể tham gia và quan hệ HĐKT thông qua người đại diện của mình và người đại diện nhất thiết phải hành động nhân danh pháp nhân và vì pháp nhân. Đại diện hợp pháp của pháp nhân hoặc người đứng tên đăng ký kinh doanh có thể ủy quyền bằng văn bản cho người khác thay mình ký HĐKT. Theo quy định trên, những người có thẩm quyền ký kết HĐKT là đại diện hợp pháp hoặc đại diện theo ủy quyền của những người  đại diện hợp pháp.

Đại diện hợp pháp

Đại diện hợp pháp là người được pháp luật quy định hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định có thẩm quyền ký kết HĐKT. Người có thẩm quyền ký kết HĐKT là đại diện hợp pháp của pháp nhân hoặc người đứng tên đăng ký kinh doanh3 của Doanh nghiệp tư nhân. Đối với cá nhân ký kết HĐKT, theo Điều 42 PLHĐKT người ký hợp đồng phải là những người trực tiếp thực hiện công việc trong HĐKT. Đối với hộ kinh tế cá thể, người ký HĐKT là chủ hộ. Đại diện hợp pháp của phá nhân và người được bổ nhiệm hoặc được bầu vào chức vụ đứng đầu pháp nhân đó và đương giữ chức vụ đó. Sử dụng thuật ngữ đại diện hợp pháp để chỉ người có thẩm quyền ký kết hợp đồng theo pháp luật là chưa chính xác vì dù là đại diện theo pháp luật hay đại diện theo ủy quyền đều là đại diện hợp pháp. Việc xác định người đứng đầu hợp pháp của pháp nhân theo quy định trên là không đơn giản. Pháp nhân kinh tế có thể là doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tập thể, công ty… Đứng đầu pháp nhân có thể là giám đốc (Tổng giám đốc) đối với doanh nghiệp Nhà nước, là chủ tịch hội đồng quản trị đối với các công ty. Về vấn đề này BLDS quy định chặt chẽ hơn. Đại diện theo pháp luật của pháp nhân là người đứng đầu pháp nhân theo quy định của điều lệ pháp nhân hoặc quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền4. Theo đó đại diện theo pháp luật là người được pháp luật quy định hoặc ghi nhận khả năng được là đại diện bởi một sự kiện pháp lý đã được quy định là sự thống nhất của các thành viên ghi trong điều lệ của tổ chức đó. Nội dung này cũng được quy định trong Luật doanh nghiệp 19955.

Vấn đề đại diện theo luật được thừa nhận ở các nước theo hệ thống luật dân sự, song lại không được thừa nhận ở hệ thống thông luật. Theo luật Anh – Mỹ thì ngay cả cha mẹ cũng không là đại diện đương nhiên của người chưa thành niên trong các giao dịch pháp lý. Các hợp đồng được ký với người chưa thành niên đều không có giá trị trừ những hợp đồng “thiết yếu” cho người chưa thành niên. Sự đồng ý của cha mẹ cũng không có ý nghĩa trong việc tạo nên hiệu lực của hợp đồng.

Đại diện theo ủy quyền

Đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản. Điều 9 PLHĐKT quy định: Đại diện hợp pháp của pháp nhân hoặc người đứng tên đăng ký kinh doanh có thể ủy quyền bằng văn bản cho người khác thay mình ký hợp đồng kinh tế. Người được ủy quyền chỉ ký hợp đồng trong phạm vi được ủy quyền và không được ủy quyền lại cho người thứ ba. Từ quy định trên có thể nêu lên một số điểm như sau:

– Thứ nhất, Người được ủy quyền phải hành động “nhân danh”, “trên tài khoản” và “vì lợi ích” của người ủy quyền trong giao kết hợp đồng. Trách nhiệm trước bên thứ ba thuộc về người ủy quyền. Người được ủy quyền chỉ được ký hợp đồng trong phạm vi được ủy quyền và không ủy quyền lại cho người thứ ba, nói cách khác người được ủy quyền chỉ được phép hành động trong quyền hạn mà mình được giao. Trong trường hợp người được ủy quyền vượt quá thẩm quyền thì hợp đồng được ký kết sẽ không có hiệu lực. Khác với luật pháp của một số nước như Pháp, Thụy Điển, nếu người được ủy quyền vượt quá thẩm quyền mà người ủy quyền trao cho thì người được ủy quyền vẫn bị ràng buộc trong quan hệ đối với bên thứ ba, trừ trường hợp bên thứ ba này biết hoặc cần phải biết rằng người được ủy quyền đã vượt quá thẩm quyền.

– Thứ hai, Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản. Văn bản ủy quyền phải ghi rõ họ tên, chức vụ của người ủy quyền, người được ủy quyền, số chứng minh nhân dân của người được ủy quyền, nội dung và thời hạn ủy quyền, ghi rõ số, ngày, tháng, năm của giấy ủy quyền vào bản hợp đồng kinh tế, đồng thời kèm theo văn bản ủy quyền vào HĐKT. HĐKT được ký kết bởi những người không phải là đại diện hợp pháp của pháp nhân, không phải là người được ủy quyền hoặc được ủy quyền nhưng vượt quá thẩm quyền và nội dung ký hợp đồng không nằm trong phạm vi ủy quyền đó sẽ vô hiệu toàn bộ.

2. Những vướng mắc khi thực hiện quy định về đại diện trong ký kết hợp đồng kinh tế:

Về hình thức pháp lý của việc ủy quyền

PLHĐKT mới chỉ đề cập đến một loại hình thức ủy quyền không thường xuyên mà chưa làm rõ hình thức của ủy quyền thường xuyên là loại ủy quyền thường gặp. Khái niệm văn bản ở đây cũng được hiểu rất hạn hẹp: phải là văn bản có đầy đủ các nội dung được pháp luật quy định. Thực tế áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này có một số vấn đề cần được làm rõ:

– Một là, trong trường hợp người ký HĐKT không phải là người đứng đầu của doanh nghiệp mà là người phó được phân công phụ trách kinh doanh ký kết hợp đồng hoặc những thành viên khác của pháp nhân không có văn bản ủy quyền riêng kèm theo hợp đồng. Thẩm quyền ký kết hợp đồng của những người này trên thực tế đã được xác định tại văn bản phân công, phân cấp hoặc điều lệ của doanh nghiệp. Các văn bản trên có được coi là văn bản ủy quyền thường xuyên để ký kết HĐKT không? Việc áp dụng trên thực tế đối với vấn đề này là không thống nhất tùy thuộc vào sự vận dụng của cơ quan giải quyết tranh chấp. Có ý kiến không coi văn bản phân công là văn bản ủy quyền thường xuyên vì:

+ Trái với quy định về ủy quyền;

+ Bản phân công không được ghi trong văn bản HĐKT;

+ Sẽ hạn chế được tình trạng khi thấy có lợi thì xuất trình bản phân công nội bộ còn không thì thôi.

Ý kiến khác lại thừa nhận vì cho rằng thông qua việc phân công trách nhiệm, người đại diện hợp pháp đã biểu thị sự trao quyền cho người được phân công thực hiện một loại công việc thường xuyên, lâu dài.

Chúng tôi cho rằng ý kiến thứ hai chỉ hợp lý trong trường hợp bản phân công trên được công bố công khai trên phương tiện mà các chủ thể khác có nghĩa vụ phải biết. Trong trường hợp sự phân công được thể hiện trong điều lệ hoạt động của pháp nhân và được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền thì bản phân công đó phải được hiểu là văn bản ủy quyền thướng xuyên và không nhất thiết phải kèm theo hợp đồng, song pháp luật cũng cần quy định rõ là ngay khi ký hợp đồng, các bên phải nêu rõ trong hợp đồng tư cách của người ký kết.

– Hai là, thực tế có nhiều hợp đồng được ký bởi một thành viên của pháp nhân không có ủy quyền, nhưng trên thực tế hợp đồng đã được thực hiện và người đại diện theo pháp luật không có ý kiến phản đối thì có coi hợp đồng này không có hiệu lực pháp lý không? Theo chúng tôi, trong trường hợp này cần phải xác địn yếu tố chủ quan của người đại diện hợp pháp. Đó là việc người này có biết hoặc có buộc phải biết việc ký kết hợp đồng nói trên không? Nếu đại diện hợp pháp của pháp nhân biết hoặc buộc phải biết tức là đã có sự mặc nhiên thừa nhận của họ về việc ủy quyền thì đó là điều kiện làm cho hợp đồng có hiệu lực pháp lý.

– Ba là, văn bản hợp đồng do các đối tượng như trên ký và được đóng dấu của cơ quan. Trường hợp này, chúng tôi cho rằng cần xem việc đóng dấu của pháp nhân vào văn bản hợp đồng là đã thừa nhận có sự ủy quyền, bởi lẽ về nguyên tắc, việc xác định ai được ký tên, đóng dấu cho loại văn bản nào là thuộc về sự phân công trong nội bộ, nhưng con dấu lại thể hiện mối quan hệ với bên ngoài. Người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm thực hiện hợp đồng mà không được lấy lý do không có văn bản ủy quyền để vô hiệu hợp đồng, trừ trường hợp có sự cố ý làm trái của người ký hợp đồng.

Về thời hạn xác định ủy quyền

Việc xác định ủy quyền sau khi HĐKT đã được ký kết: về nguyên tắc, việc ủy quyền đòi hỏi phải được xác định trước khi ký HĐKT và văn bản ủy quyền phải được đính kèm theo HĐKT. Tuy nhiên trên thực tế, nhiều HĐKT do phó giám đốc doanh nghiệp ký, không có sự ủy quyền của giám đốc nhưng sau đó được giám đốc doanh nghiệp phê chuẩn bằng một văn bản ủy quyền cho phó giám đốc đối với HĐKT đã ký. Vậy việc phê chuẩn này có được chấp nhận không? Vấn đề này cũng có nhiều cách hiểu khác nhau. Cách hiểu thứ nhất cho rằng pháp luật có tính nguyên tắc của nó. Do vậy, hành vi xác lập ủy quyền trong trường hợp nêu trên là trái luật nên không được thừa nhận. Việc xuất trình giấy ủy quyền phải được thực hiện trước khi ký kết HĐKT và phải được ghi trong văn bản HĐKT như luật định. Có cách hiểu khác cho rằng việc phê chuẩn này là hợp pháp vì đó là sự thể hiện ý chí của người được đại diện. Việc xác lập ủy quyền sau khi ký kết hợp đồng kinh tế cần được coi là có giá trị pháp lý. Lại cũng có quan điểm cho rằng trong trường hợp này cần phân biệt sự xác lập ủy quyền trước và sau tố tụng: Theo quan điểm này nếu sự phê chuẩn được thực hiện trước khi phát sinh tranh chấp đối với hợp đồng thì sự phê chuẩn đó là hợp lệ. Văn bản phê chuẩn được coi là văn bản bổ sung kèm theo văn bản HĐKT đã ký. Nếu sự phê chuẩn được thực hiện sau khi đã phát sinh tranh chấp, đã khởi kiện thì sự phê chuẩn không được thừa nhận vì lúc này việc phê chuẩn được hiểu như một cách hợp thức hóa để trốn tránh trách nhiệm.

Chúng tôi cho rằng nên xử lý vấn đề nêu trên theo quan điểm thứ ba. Có như vậy mới tạo điều kiện cho các đơn vị giao kết thực hiện một cách có hiệu quả HĐKT đã ký.

Về người được ủy quyền: PLHĐKT không quy định cụ thể ai có quyền và ai không có quyền đại diện theo ủy quyền mà chỉ quy định rất chung là: người đại diện hợp pháp của pháp nhân hoặc cá nhân đứng tên đăng ký kinh doanh có thể ủy quyền cho người khác ký thay. Vấn đề đặt ra là: có phải tất cả mọi người ai cũng có thể được ủy quyền để ký HĐKT hay không? BLDS đã đề cập đến vấn đề này tại khoản 2 Điều 152 như sau: người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sư thì không được làm người đại diện theo ủy quyền. Trong lĩnh vực HĐKT, vấn đề này cần được quy định bằng cách chỉ rõ giới hạn các chủ thể không được đại diện theo ủy quyền. Người không là thành viên trong pháp nhân, người không chuyên về lĩnh vực nào đó có được ủy quyền không? Cần phải hạn chế đối tượng được ủy quyền để tránh những thiệt hại trong việc ký kết HĐKT.

Về việc ủy quyền ký kết HĐKT đối với các chi nhánh của pháp nhân: Việc ủy quyền ký kết hợo đồng đối với các đơn vị có tư cách pháp nhân không đầy đủ cũng là một vấn đề đáng quan tâm. Điều này liên quan đến các đơn vị thành viên của các công ty, tổng công ty, các doanh nghiệp Nhà nước có quy mô lớn, các chi nhánh của pháp nhân. Các chủ thể này muốn ký kết HĐKT phải được các công ty, tổng công ty, doanh nghiệp Nhà nước nói trên ủy quyền. Điều này cần được quy định trong điều lệ của các doanh nghiệp.

Thực tế trong thời gian gần đây, việc các chi nhánh của pháp nhân ký kết hợp đồng nhằm mục đích kinh doanh nhưng không có ủy quyền của người có thẩm quyền, hoặc có ủy quyền nhưng người ủy quyền lại để cho người được ủy quyền chịu trách nhiệm trực tiếp về những hậu quả xảy ra. Hiện tượng này khá phổ biến và là một trong những vấn đề vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ án kinh tế tại các tòa án địa phương. Từ tình hình đó, Tòa án nhân dân tối cao đã có công văn số 11/KHXX ngày 23/1/1996 hướng dẫn như sau:

a) Nếu chi nhánh được sự ủy quyền hợp pháp của người đứng đầu pháp nhân kí hợp đồng có mục đích sản xuất, kinh doanh thì đó là hợp đồng kinh tế hợp pháp, khi xảy ra tranh chấp thì Tòa án giải quyết theo thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế.

b) Nếu chi nhánh nhân danh pháp nhân kí hợp đồng mà không được ủy quyền hợp pháp của người đứng đầu pháp nhân, thì hợp đồng đó là vô hiệu theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 8 PLHĐKT, và khi xảy ra tranh chấp thì Tòa án giải quyết theo thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế.

c) Nếu chi nhánh không nhân danh pháp nhân mà tự mình giao kết hợp đồng thì đó chỉ là hợp đồng dân sự. Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này do Tòa án giải quyết theo thủ tục giải quyết các vụ án dân sự.

Qui định tại điểm c trên đây, theo chúng tôi có thể sẽ làm nảy sinh những bất hợp lí như sau

+ Chi nhánh của pháp nhân là một tổ chức có tư cách pháp nhân không đầy đủ hoặc không có tư cách pháp nhân. Chi nhánh là một đơn vị thành viên của pháp nhân, vì vậy không thể nhân danh mình kí kết hợp đồng được, nếu có thì người kí hợp đồng chỉ có thể nhân danh cá nhân mình mà thôi.

+ Theo qui định của pháp luật, chi nhánh không là chủ thể của quan hệ hợp đồng kinh tế, cũng không là chủ thể của hợp đồng dân sự nên hợp đồng mà chi nhánh kí không thể coi là hợp đồng dân sự của chi nhánh đó như hướng dẫn của công văn 11/KHXX được.

+ Chi nhánh của pháp nhân thông thường là đơn vị hạch toán báo sổ, tài sản của chi nhánh là tài sản của pháp nhân. Nếu coi chi nhánh là chủ thể của hợp đồng dân sự như qui định tại công văn 11/KHXX của Tòa án nhân dân tối cao thì ai sẽ chịu trách nhiệm tài sản trong trường hợp chi nhánh vi phạm hợp đồng, gây thiệt hại cho bên kia?

Bên cạnh đó, một vấn đề bức xúc có liên quan đến việc ủy quyền trong ký kết hợp đồng kinh tế của chi nhánh hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ bảo hiểm. Theo quy định của pháp luật hiện hành, các trường hợp ký kết gián tiếp (bằng tài liệu giao dịch) phải được thực hiện bởi chính đại diện hợp pháp của pháp nhân. Thực tế các giao dịch trong lĩnh vực dịch vụ là hoạt động thường xuyên, liên tục, lặp đi lặp lại những nội dung như nhau với các chủ thể khác nhau đòi hỏi người ký với một khối lượng lớn. Vì vậy, thông thường các chi nhánh hoạt động trong lĩnh vực này (như hoạt động dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm…) thường ký kết hợp đồng bằng tài liệu giao dịch bởi những người được ủy quyền. Đòi hỏi nêu trên của pháp luật tạo nên sự bất hợp lý trong thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về ủy quyền.

Từ những trình bày trên về đại diện trong ký kết HĐKT có một số vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra cần được xem xét:

– Một là, xác định đại diện đương nhiên ký kết hợp đồng. Do chủ thể của quan hệ HĐKT chủ yếu là các tổ chức, nên việc xác định người đại diện của chủ thể là rất quan trọng. Pháp luật quy định đối với doanh nghiệp là công ty nếu trong trường hợp điều lệ công ty không quy định gì khác thì đại diện theo pháp luật của công ty là giám đốc. Xuất phát từ quy định này cho thấy đại diện hợp pháp của pháp nhân không phải chỉ là người do pháp luật quy định mà còn có thể là người được các pháp nhân lựa chọn theo nguyên tắc tự do lựa chọn của các chủ thể. Vì vậy, có thể hiểu quan hệ đại diện ở đây thực chất là quan hệ ủy quyền. Người đại diện là người được pháp nhân ủy quyền để thực thi các nhiệm vụ được giao thay mặt pháp nhân.

– Hai là, hình thức thể hiện sự ủy quyền không nên chỉ giới hạn ở các văn bản ủy quyền mà phải hiểu một cách rộng hơn, đó là các hình thức khác tương ứng với các hợp đồng (văn bản, bằng miệng hoặc các tài liệu khác thể hiện ý chí đích thực của các bên). Lâu nay chúng ta chỉ quan tâm đến hình thức thể hiện mà không chú ý đến ý chí đích thực của người ủy quyền, vì vậy đã thường xuyên xảy ra tình trạng: nếu thấy bất lợi thì yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu do ký kết không đúng thẩm quyền. Theo chúng tôi, cần căn cứ vào ý chí thực của các bên trong khi ký kết, hoặc ngay cả đối với các hợp đồng đã được ký kết và đã được thực hiện để xác định theo hướng thừa nhận có ủy quyền.

– Ba là, cần có quy định rõ trách nhiệm của người được ủy quyền trong trường hợp người này ký kết hợp đồng không nhân danh người ủy quyền, không vì lợi ích của người ủy quyền.

– Bốn là, không nên lấy việc phân định các cách thức ký kết HĐKT làm cơ sở để loại trừ ủy quyền trong ký kết gián tiếp như hiện nay.

– Năm là, cần có quy chế đại diện cho các đơn vị thành viên của pháp nhân (chi nhánh).

– Sáu là, cần sử dụng thuật ngữ pháp lý thống nhất, thay cho khái niệm “đại diện hợp pháp” là “đại diện theo pháp luật” và “đại diện theo ủy quyền”.

Tài liệu tham khảo:

1 Burgerliche Gesetzbuch: Bộ luật dân sự Đức

2 Zweigert&Kotz: Introductointo comperrative Law.

3 Điều 9 pháp lệng hợpđồng kinh tế và điều 5,6 Nghị định 17/HĐBT ngày 16/1/1990

4 Điều 150 Bộ luật dân sự

5 Khoản 1, Điều 41 Luật Doang nghiệp: Trường hợp điều lệ công ty không quy định Chủ tịch Hội đồng thàng viên là người đại diện theo pháp luật, thì giám đốc(Tổng giám đốc) là người đại diện theo pháp luật của tổng công ty

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 2/2001

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: