GÓP PHẦN TÌM HIỂU KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

GS. BÙI NGỌC CHƯỞNG – PGS. MAI TRUNG HẬU – Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

1- Về các khái niệm thị trường, kinh tế thị trường, cơ chế thị trường. Thị trường là lĩnh vực trao đổi hàng hóa, đồng thời là một trong những hình thức biểu hiện quan hệ sản xuất của những người sản xuất hàng hóa, nên thị trường hoàn toàn có thể mang bản chất xã hội – kinh tế khác nhau, phụ thuộc vào tính chất của quan hệ sản xuất, trước hết vào chế độ sở hữu thống trị trong từng chế độ xã hội cụ thể.

Kinh tế thị trường (thực chất là tên gọi khác của kinh tế hàng hóa) là nền kinh tế dựa vào thị trường để vận động và phát triển. Từ thế kỷ XIX Ph. Ăng-ghen đã dùng phạm trù “kinh tế tiền tệ” để đối lập với kinh tế tự nhiên. Người viết: “Chính từ đó mà nền kinh tế tiền tệ, đang phát triển, đã thâm nhập, giống như một chất a-xít ăn mòn, vào lối sống cổ truyền của các cộng đồng nông thôn, dựa trên cơ sở nền kinh tế tự nhiên” (1). V.I. Lê-nin cũng dùng phạm trù kinh tế tiền tệ để nói về một trong hai đặc trưng cơ bản của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa “một là, chế độ đó dựa vào kinh tế tiền tệ, hai là,… dựa trên cơ sở mua và bán sức lao động” (2). Như vậy, kinh tế thị trường hay kinh tế tiền tệ là phương thức kinh tế đối lập với kinh tế tự nhiên, trong đó các sản phẩm xã hội được trao đổi thông qua vật trung gian là tiền tệ. Nó là một hệ thống kinh tế tồn tại khách quan trên một trình độ phát triển tương ứng của lực lượng sản xuất và trở thành một bộ phận quan trọng của quan hệ sản xuất tương ứng. Nó không phải là một kiểu tổ chức kinh tế do con người tạo ra bằng ý chí chủ quan của mình, mà hình thành một cách khách quan.

Cơ chế thị trường, hay cơ chế kinh tế thị trường không đồng nhất với kinh tế thị trường. Cơ chế kinh tế thị trường hay cơ chế thị trường là guồng máy vận hành của nền kinh tế thị trường. Cơ chế thị trường tuy phụ thuộc vào tính chất và yêu cầu khách quan của kinh tế thị trường, song nó bị chi phối bởi yếu tố chủ quan, do con người thiết lập nên trên cơ sở nắm bắt các quy luật phát triển khách quan. Nó phản ánh sự vận dụng của con người bằng việc tổ chức ra guồng máy kinh tế “tự do” hay có điều tiết của nhà nước theo yêu cầu vận động khách quan của nền kinh tế thị trường trong các giai đoạn phát triển khác nhau. Cơ chế thị trường vận động có sự tham gia của nhiều yếu tố, trong đó nổi bật nhất là quan hệ thị trường cung – cầu và giá cả. Bản chất sâu xa của cơ chế thị trường là cơ chế vận hành theo sự chi phối của quy luật giá trị. Tuy vậy, trong một nền kinh tế hàng hóa cụ thể, sự vận động chung còn tùy thuộc vào chế độ sở hữu thống trị, chịu sự tác động qua lại với các quy luật kinh tế đặc thù của phương thức sản xuất chủ đạo, hơn nữa còn chịu sự chi phối của quy luật kinh tế chủ đạo trong phương thức sản xuất đó.

2- Kinh tế thị trường không phải chỉ là sản phẩm của chế độ tư hữu. Trước đây, người ta vẫn nghĩ rằng kinh tế hàng hóa chỉ phát sinh và tồn tại trong điều kiện có sự phân công lao động xã hội và chế độ tư hữu. Nhưng nguyên nhân hình thành hàng hóa và trao đổi hàng hóa trong buổi đầu của lịch sử ra đời của nó lại chính là sở hữu công cộng tồn tại riêng rẽ nhau giữa các cộng đồng nguyên thủy khi đã có sự phân công, “chuyên môn hóa” sản xuất giữa các cộng đồng đó. C. Mác viết: “… sự trao đổi các sản phẩm phát sinh ở những điểm tiếp xúc giữa các gia tộc, thị tộc, cộng đồng khác nhau, vì ở thời kỳ đầu của nền văn minh thì không phải là những cá nhân riêng biệt, mà là các gia tộc, thị tộc, v.v.. mới tiếp xúc với nhau như những đơn vị độc lập”(3) và “… sự chuyển hóa sản phẩm thành hàng hóa là kết quả của sự trao đổi giữa các công xã khác nhau, chứ không phải giữa những thành viên của cùng một công xã”(4).

Ph. Ăng-ghen cũng viết: “Những bộ lạc du mục tách rời khỏi bộ phận còn lại của người dã man: đó là sự phân công xã hội lớn đầu tiên… Vì vậy mà lần đầu tiên, đã có thể có sự trao đổi đều đặn. ở các giai đoạn phát triển trước đây, chỉ có thể có những sự trao đổi ngẫu nhiên mà thôi; “…” Lúc đầu, sự trao đổi được tiến hành giữa các bộ lạc thông qua những tù trưởng thị tộc của mỗi bên; nhưng khi những đàn gia súc bắt đầu chuyển thành sở hữu riêng, thì sự trao đổi giữa cá nhân với nhau ngày càng chiếm ưu thế và cuối cùng trở thành hình thức trao đổi duy nhất. Nhưng vật phẩm chủ yếu mà các bộ lạc du mục trao đổi với những bộ lạc lân cận, là gia súc; gia súc đã trở thành hàng hóa dùng để đánh giá tất cả các hàng hóa khác… – tóm lại, gia súc đã nhận được chức năng tiền tệ…”(5), “… sự phân công lớn lần thứ hai đã diễn ra: thủ công nghiệp đã tách khỏi nông nghiệp… Vì nền sản xuất bị tách ra thành hai ngành chính, nông nghiệp và thủ công nghiệp, nên đã ra đời nền sản xuất trực tiếp nhằm trao đổi, – đó là nền sản xuất hàng hóa. Sản xuất hàng hóa xuất hiện thì đồng thời thương nghiệp cũng xuất hiện, không những trong nội bộ và ở biên giới của bộ lạc, mà cả với những nước ở hải ngoại nữa. Tuy nhiên, tất cả tình hình đó vẫn còn ở hình thái chưa phát triển; những kim loại quý bắt đầu trở thành thứ hàng hóa – tiền tệ phổ biến và chiếm ưu thế, nhưng người ta chưa đem đúc thành tiền, mà chỉ đem trao đổi theo trọng lượng”(6). Cũng theo Ph. Ăng-ghen: “Thời đại văn minh đã củng cố và phát triển tất cả những sự phân công đã có… và thời đại văn minh còn bổ sung vào đó một sự phân công thứ ba, một sự phân công chỉ đặc trưng cho nó, có một ý nghĩa quyết định: sự phân công này sản sinh ra một giai cấp không còn tham gia sản xuất nữa, mà chỉ làm công việc trao đổi sản phẩm, đó là những thương nhân” (7).

Những ý kiến nêu trên của C. Mác và Ph. Ăng-ghen, cho phép chúng ta khẳng định rằng: Kinh tế thị trường (kinh tế hàng hóa) không chỉ gắn với chế độ sở hữu tư nhân mà còn gắn với chế độ sở hữu công cộng thuộc các cộng đồng khác nhau như đã từng diễn ra trong lịch sử.

3- Kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa có nguồn gốc lịch sử từ nền kinh tế hàng hóa giản đơn trước đó, nhưng lại có sự khác biệt lớn: Kinh tế hàng hóa giản đơn vận động theo công thức H – T – H (bán hàng lấy tiền để mua hàng), còn nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa vận động theo công thức mà C. Mác đã nêu là T – H – T (lấy tiền mua hàng, bán hàng lấy được tiền nhiều hơn số tiền đã mua). Công thức này phản ánh bản chất của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa là bóc lột giá trị thặng dư của lao động làm thuê. Giá trị thặng dư biểu hiện trên bề mặt xã hội dưới hình thức lợi nhuận. Kinh tế hàng hóa giản đơn dưới sự tác động của quy luật giá trị dẫn đến phân hóa những người sản xuất hàng hóa nhỏ, hình thành mầm mống của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ sở hữu lớn của chủ nghĩa tư bản không chỉ chịu tác động của quy luật giá trị mà còn chịu tác động của quy luật giá trị thặng dư, là quy luật kinh tế cơ bản, hay tuyệt đối (theo C. Mác) và tồn tại trong hệ thống các quy luật kinh tế khác của chủ nghĩa tư bản.

4- Từ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tiến lên phương thức sản xuất mới xã hội chủ nghĩa nảy sinh tất yếu kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa tuy vẫn chịu tác động của quy luật giá trị (quy luật chung của kinh tế thị trường), nhưng đồng thời cũng chịu tác động của quy luật kinh tế cơ bản (quy luật quy định mục đích khách quan của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa là không ngừng phát triển sản xuất và nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội), và các quy luật kinh tế khác của xã hội xã hội chủ nghĩa.

Do có sự khác nhau về bản chất giữa kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa nên cơ chế thị trường của hai nền kinh tế này cũng khác nhau. Cơ chế thị trường tư bản chủ nghĩa là việc tổ chức guồng máy kinh tế sao cho sự vận hành của nó phù hợp với các quy luật kinh tế của chủ nghĩa tư bản, trong đó quy luật sản xuất ra giá trị thặng dư giữ vai trò quyết định, nhằm đem lại lợi nhuận ngày càng nhiều cho các nhà tư bản, các tập đoàn, các công ty xuyên quốc gia. Còn cơ chế thị trường xã hội chủ nghĩa là việc tổ chức guồng máy kinh tế sao cho sự vận hành của nó phù hợp với quy luật kinh tế cơ bản và các quy luật kinh tế khác của chủ nghĩa xã hội. Ở đây, Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản có vai trò rất quan trọng. Nhà nước định hướng nền kinh tế thị trường bằng những chính sách kinh tế vĩ mô và luật pháp, thực hiện các chương trình phát triển kinh tế – xã hội trên cơ sở vận dụng quy luật giá trị và quy luật phát triển có kế hoạch cân đối toàn bộ nền kinh tế quốc dân; đưa những tiến bộ khoa học – kỹ thuật hiện đại vào sản xuất, không ngừng nâng cao năng suất lao động, làm ra nhiều sản phẩm chất lượng cao, giá rẻ, có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Trên cơ sở đó, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa cho mỗi thành viên và cả cộng đồng, củng cố và phát triển vững chắc chế độ xã hội chủ nghĩa.

5- Đã có nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa thì tất nhiên cũng có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.

Nước ta đang ở giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với nền kinh tế bao gồm nhiều thành phần khác nhau. Đó là một thực tế khách quan. Do đó, Đảng và Nhà nước chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa gồm nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, gọi tắt là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đảng coi đó là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ ở nước ta. Đó là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế. Đây không chỉ là một định hướng nền kinh tế, mà hơn thế nữa còn là vấn đề chính trị, thể hiện lập trường chính trị đúng đắn, kiên định của Đảng ta, là cái phân biệt trước hết với nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Đúng như V.I. Lê-nin đã viết: “Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế… không có một lập trường chính trị đúng thì một giai cấp nhất định nào đó, không thể nào giữ vững được sự thống trị của mình, và do đó, cũng không thể hoàn thành được nhiệm vụ của mình trong lĩnh vực sản xuất” (8).

Các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta như Đại hội IX của Đảng chỉ rõ, bao gồm: Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể với những hình thức đa dạng, trong đó hợp tác xã là nòng cốt; kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Các thành phần kinh tế đó dựa trên những hình thức sở hữu khác nhau, thậm chí có lúc đối lập nhau về bản chất kinh tế – xã hội, vừa hợp tác cùng có lợi, vừa cạnh tranh phát triển trong một chỉnh thể, tạo thành những bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế, do đó cuộc đấu tranh “ai thắng ai” giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa vẫn diễn ra hằng ngày, hằng giờ nhưng có nhiều hình thức biểu hiện khác nhau. Nền kinh tế thị trường vận hành theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, thể hiện ở các nhân tố cơ bản về kinh tế, chính trị sau đây:

Về kinh tế: Trong các thành phần kinh tế hợp thành nền kinh tế quốc dân thống nhất, kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Có quan điểm cho rằng, nếu thừa nhận vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước thì không thực hiện được bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Quan niệm như thế là hoàn toàn không đúng. Nếu phủ nhận vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, về thực chất là phủ nhận cơ sở kinh tế, công cụ kinh tế, lực lượng kinh tế quan trọng của Nhà nước để thực hiện việc định hướng xã hội chủ nghĩa. Thừa nhận vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không có nghĩa là làm mất đi sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế mà ngược lại, Nhà nước thấy rõ vai trò động lực phát triển mạnh mẽ của việc hình thành luật chơi chung cho các thành phần kinh tế trên cơ sở tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh để bảo đảm tính hiệu quả chung về kinh tế – xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đang tìm cách hoàn thiện hệ thống pháp chế, xây dựng một hành lang pháp lý bình đẳng cho tất cả các thành phần kinh tế phát triển hết khả năng của mình trong sự hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Để củng cố và phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, Nhà nước cần chú trọng trước hết đến việc làm cho nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững, trong đó phải sớm khắc phục tình trạng kém hiệu quả của một bộ phận doanh nghiệp nhà nước bằng cách đẩy mạnh đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước. Các giải pháp cơ bản trước mắt là, kiên quyết xóa bỏ bộ chủ quản, để các doanh nghiệp nhà nước hoàn toàn tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về lỗ, lãi và đóng góp cho ngân sách nhà nước theo luật định. Các bộ chỉ thực hiện việc quản lý nhà nước theo pháp luật, không can thiệp vào công việc sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước. Xúc tiến mạnh mẽ việc cổ phần hóa nhiều doanh nghiệp nhà nước, thực hiện chế độ “đồng sở hữu”, “chế độ quản lý dân chủ” và chế độ “tham gia phân phối lợi nhuận” của tất cả các thành viên. Đối với các doanh nghiệp có tầm quan trọng đối với quốc kế, dân sinh, nhà nước có thể giữ lại không cổ phần hóa, cũng phải tiến hành đổi mới theo hướng dân chủ hóa. Việc bổ nhiệm các chức danh quản lý, đặc biệt là giám đốc doanh nghiệp, nên thông qua chế độ thi tuyển để chọn người có đạo đức, phẩm chất, có chuyên môn, nghiệp vụ giỏi (coi giám đốc cũng là một nghề) và kèm theo đó là phải có chế độ đãi ngộ nhân tài thật thỏa đáng. Thực hiện cơ chế để công nhân tham gia quản lý và giám sát hoạt động của doanh nghiệp, mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh, tài chính của doanh nghiệp phải được công khai hóa, minh bạch hóa.

Nói tóm lại, muốn đưa doanh nghiệp nhà nước phát triển mạnh mẽ, vấn đề then chốt là phải có một đội ngũ cán bộ quản lý giỏi, một đội ngũ công nhân lành nghề, chế độ quản lý dân chủ và có hiệu quả. Muốn vậy, phải củng cố tổ chức của Đảng trong doanh nghiệp, lựa chọn những cán bộ, đảng viên am hiểu về kinh tế để tăng cường đội ngũ cán bộ lãnh đạo của các tổ chức đảng.

Vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước là hai nhân tố chính trị căn bản bảo đảm sự thành công của đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Hai nhân tố này thể hiện tính tự giác, khắc phục tính tự phát của kinh tế thị trường và mặt trái của toàn cầu hóa kinh tế đang do chủ nghĩa tư bản chi phối, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, ra sức nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh và khả năng độc lập tự chủ của nền kinh tế, tham gia có hiệu quả vào phân công lao động quốc tế.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đề ra các chính sách kinh tế vĩ mô và thiết lập cơ chế thị trường sao cho các thành phần kinh tế khác nhau vận động theo cùng một hướng tạo thành một hợp lực thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển nhanh và bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Vì vậy, ai muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, muốn thay thế sự lãnh đạo của Đảng bằng chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập theo quan điểm dân chủ tư sản phương Tây, thực chất là phủ nhận con đường đúng đắn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.

6- Vấn đề là ở chỗ, phải củng cố và nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ then chốt xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy mạnh việc cải cách nền hành chính quốc gia, nhằm đáp ứng được yêu cầu phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Bước vào thế kỷ XXI, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ với những thành tựu của nó, đang và sẽ ảnh hưởng sâu rộng đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Để bắt kịp thời đại, Đảng và Nhà nước cần tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo và quản lý. Điều đó có nghĩa là phải tạo ra được một bước ngoặt chiến lược về ý thức, nhận thức đối với tri thức khoa học, công nghệ (theo nghĩa rộng), làm cho khoa học, công nghệ ngày càng phục vụ đắc lực hơn cho sự nghiệp cách mạng. Trước hết là sử dụng công nghệ thông tin vào công tác lãnh đạo và quản lý, qua đó Đảng và Nhà nước có thể lựa chọn được những phương án tối ưu cho công tác lãnh đạo và quản lý, xử lý kịp thời và đúng đắn những tình huống phức tạp trong kinh tế và chính trị.

Lãnh đạo và quản lý khoa học không thể tách rời lương tri (đạo đức). Như người ta thường nói “khoa học mà không có lương tri thì chỉ là sự tàn lụi của tâm hồn”. Do đó, trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cần đưa vấn đề củng cố nền tảng đạo đức cách mạng của Đảng, của cán bộ, đảng viên lên hàng đầu. Có quy chế bắt buộc cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng dưới sự theo dõi, giám sát của tổ chức đảng và của quần chúng. Trước hết, thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, kiên quyết bài trừ tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vốn đang là vấn đề bức xúc trong dư luận xã hội. Làm cho Đảng thật sự trong sạch và vững mạnh, xứng đáng là đại biểu cho lương tâm và trí tuệ của thời đại, củng cố vững chắc mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng nhân dân. Đó chính là sức mạnh vô địch của Đảng cầm quyền.

Đảng và Nhà nước quan tâm sử dụng đội ngũ chuyên gia cao cấp trong các lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế – tài chính để giúp Đảng trong công tác lãnh đạo và Nhà nước trong công tác quản lý. Có chính sách và cơ chế tuyển chọn nhân tài, đưa họ vào những cương vị xứng đáng, để họ đem hết tài năng phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong “xã hội thông tin”, giúp chúng ta rút ngắn khoảng cách với các nước có nền công nghiệp tiên tiến.

Đảng và Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc hình thành và phát triển đội ngũ những doanh nhân trẻ có đủ đức độ và tài năng trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và dịch vụ. Đây là lực lượng nòng cốt, làm cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nước ta đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Hết sức coi trọng việc xây dựng, phát triển giai cấp công nhân theo hướng hiện đại hóa, trí thức hóa; không ngừng nâng cao trình độ giác ngộ chính trị của họ, để họ làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình trong việc xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa.

Trong khi xây dựng những chính sách và cơ chế thông thoáng đối với các thành phần kinh tế, tranh thủ vốn đầu tư nước ngoài phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội bền vững, Nhà nước cần thực hiện chế độ kiểm kê, kiểm soát, thực hành tiết kiệm, sử dụng có hiệu quả từng đồng vốn đầu tư, kịp thời ngăn chặn và xử lý những hiện tượng tiêu cực trên thị trường trái với định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước kiến tạo nên một thị trường cạnh tranh lành mạnh, văn minh.


(1) C. Mác – Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t 21, tr 168

Xem: V.I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1976, t 3, tr 737

(3) C. Mác – Ph. Ăng-ghen: Sđd, 1993, t 23, tr 510-511

(4) C. Mác – Ph. Ăng-ghen: Sđd, 1994, t 25, phần I, tr 270

(5) C. Mác – Ph. Ăng-ghen: Sđd, 1995, t 21, tr 237-238

(6) C. Mác – Ph. Ăng-ghen: Sđd, t 21, tr 242 – 243

(7) C. Mác – Ph. Ăng-ghen: Sđd, t 21, tr 246

(8) V.I. Lê-nin: Sđd, t 42, tr 349-350

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SÔ 1 (122) NĂM 2007

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: